VIỆC HUẤN LUYỆN TÂM LÝ TÌNH CẢM CHO CÁC CHỦNG SINH

Hội Linh mục Xuân Bích

Đã nhiều năm qua, với sự hợp tác của các Hội đồng tỉnh, Hội đồng quản trị hội Xuân Bích đã suy nghĩ nhiều về việc huấn luyện chủng sinh trên bình diện tâm lý-tình cảm. Đây là một vấn đề quan trọng trong việc đào tạo các ứng viên tác vụ linh mục, không chỉ vì họ phải cam kết sống đời độc thân linh mục trong tự do và khôn ngoan, mà vì họ cần phải trưởng thành để đảm trách công việc mục vụ, và còn phải quan hệ với mọi người với tư cách mục tử. Việc giáo dục này đã được cứu xét theo những tầm nhìn rộng lớn hơn của khoa sư phạm Hội, vốn chủ trương đào tạo một cách toàn diện và thống nhất từ bên trong (xem Hiến pháp, điều 14, số 5).

Tài liệu này trình bày những kết luận chủ yếu của nỗ lực suy tư trên. Các tỉnh hội đã có nhiều đóng góp khác nhau vì văn hóa khác biệt nhau. Những xác tín và những áp dụng thực hành chung đã được Hội đồng quản trị thu thập và giữ lại.

Hội đồng đã giữ lại những điểm sau đây :

I. Những chỉ dẫn của Giáo Hội và những xác tín nền tảng ;

II. Một vài nhận xét ; những vấn đề hiện nay.

III. Những tiêu chuẩn nhận định.

IV. Những phương hướng cho việc đào tạo.

V. Việc đào tạo các nhà đào tạo.

I. Những chỉ dẫn của Giáo Hội và những xác tín nền tảng

1.1. Những chỉ dẫn của Giáo Hội nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc đào tạo nhân bản cho các ứng viên tác vụ linh mục ; việc huấn luyện về tâm lý-tình cảm là một chiều kích chủ yếu của việc đào tạo ấy. Tông huấn Pastores dabo vobis khẳng định : « Không đào tạo nhân bản cho thích đáng thì toàn bộ việc đào tạo sẽ thiếu nền tảng cần thiết » (số 43). Linh mục phải có khả năng « đảm nhiệm những trọng trách mục vụ » ; linh mục cũng phải tạo được quan hệ đầy tính nhân bản với mọi người. Việc đào tạo để trưởng thành về tình cảm « nằm trong bối cảnh ấy như một yếu tố quan trọng và quyết định, là kết quả đúng đắn của việc giáo dục để có được tình yêu đích thực và có trách nhiệm » (PDV, nt). Vì thế, nghiên cứu việc đào tạo tâm lý-tình cảm không chỉ vì việc cam kết sống đời độc thân, mà còn vì yếu tố rộng lớn hơn, là phẩm chất mục vụ của linh mục trong các quan hệ với mọi người.

1.2. Việc huấn luyện tâm lý-tình cảm bao hàm việc giáo dục về giới tính. Giới tính không phải là toàn bộ tình cảm, – vì tình cảm còn bao gồm những cấu tố khác -, nhưng nó là một chiều kích của bản thân con người. Việc giáo dục này không chỉ giúp chế ngự giới tính mà còn đưa nó vào con người toàn diện, và dẫn nó đến một tình yêu đích thực. Sự trưởng thành về giới tính ấy bao gồm khả năng yêu thương, với thái độ đón nhận và dâng hiến, trung thành với những gì mình cam kết với người khác, nhưng cũng bao gồm khả năng chấp nhận được người khác yêu thương. Đức Gioan-Phaolô II nhận xét : « Sự trưởng thành tình cảm đòi hỏi con người ý thức rằng tình yêu phải đặt ở vị trí trung tâm của đời sống của mình ». Ngài xác định đó là « một tình yêu chi phối toàn bộ con người », « Việc giáo dục giới tính hiểu cho đúng đắn là phải làm sao lãnh hội được chân lý ấy của tình yêu ». (PDV số 44). Việc đào tạo tâm lý-tình cảm như thế vừa làm cho con người trưởng thành và quân bình, vừa giúp họ hiểu về giới tính một cách đúng đắn và sâu xa theo các chiều kích nhân bản và theo ý nghĩa kitô giáo của nó.

1.3. Việc huấn luyện tâm lý-tình cảm cho các ứng viên tác vụ linh mục phải dẫn đến sự hiểu biết cá nhân – không chỉ mang tính thuần lý mà còn được nội tâm hóa – về sự độc thân linh mục và về đức khiết tịnh trọn vẹn được bao hàm trong sự độc thân ấy. Sự độc thân của linh mục sẽ được hiểu và cứu xét không phải như một bó buộc hay một điều kiện phải có để được truyền chức, không mang tính phủ nhận giá trị giới tính con người, cũng không phủ nhận tình thương: nó tạo nên một hình thức – hay một phong cách – yêu thương huy động mọi khả năng đón nhận và dâng hiến trong tương quan cá nhân với Đức Kitô, và trong đức bác ái mục vụ đối với mọi người, nam cũng như nữ, đang hiệp thông với tình yêu của Đức Kitô, là Mục Tử và Hôn Phu của Giáo Hội. Hiểu và sống như thế, sự độc thân sẽ hòa hợp sâu xa với chức linh mục thừa tác.

1.4. Sự quân bình và chân thật trong việc cam kết ấy đòi hỏi con người phải được giáo dục và có những nỗ lực cá nhân. Đức Gioan-Phaolô II ghi nhận : « Đặc sủng sống độc thân vẫn giữ lại nguyên vẹn những khuynh hướng tình cảm và những xung động của bản năng » (PDV, số 44). Để duy trì một quan hệ mục vụ, để hoàn toàn thuộc về Đức Kitô và về Giáo Hội, để cam kết sống đời độc thân một cách có suy nghĩ « vì Đức Kitô và vì Tin Mừng », cần có khả năng vượt qua những ước muốn và thỏa mãn cá nhân. Khả năng này đòi hỏi sự khổ hạnh, những hành động từ bỏ vì tình yêu Đức Kitô, đời sống tâm linh cá nhân mạnh mẽ, tương quan với mọi người nam cũng như nữ trong đơn sơ và đầy tôn trọng, những tình bằng hữu chân thành, và thường xuyên hoán cải trong tâm hồn và đời sống.

1.5. Với mục đích đào tạo ấy, Đức Giáo Hoàng đã chấp thuận nhiều thỉnh nguyện liên quan đến sự cam kết sống độc thân của các nghị phụ tham dự Thượng hội đồng năm 1990 :

- « Các giám mục cũng như các giám đốc, các cha linh hướng trong các chủng viện cần phải thiết lập những nguyên tắc, đưa ra những tiêu chuẩn, cung cấp những giúp đỡ thích hợp để nhận định vấn đề này » (PDV, số 50). Việc suy tư của hội Xuân Bích nằm trong đường hướng nghiên cứu ấy (1).

- Chủng sinh phải đạt được mức độ trưởng thành về tâm lý và giới tính đầy đủ, « phải được một cha linh hướng hướng dẫn, vị này phải giúp đỡ chủng sinh đi đến một quyết định chín chắn và tự do trong việc cam kết sống độc thân » (PDV, nt). Đó là khía cạnh được nhấn mạnh trong vai trò căn bản của vị linh hướng theo truyền thống của hội Xuân Bích.

II. Một vài nhận xét

2.1. Trong việc huấn luyện tâm lý-tình cảm, cần phải lưu ý đến nền văn hóa của các ứng viên : cảm thức về giới tính là một cấu tố có ý nghĩa của một nền văn hóa (tương quan tình cảm, khả năng sinh sản quan trọng thế nào…). Hơn nữa, bối cảnh văn hóa đã chuyển biến (ý nghĩa của giới tính trong thế giới hiện đại, sự tiến hóa trong cấu trúc gia đình…).

2.2. Trên quan điểm giáo dục tình cảm và giới tính và trong tương quan với việc cam kết sống độc thân, hoàn cảnh hiện nay bao gồm những nhân tố tích cực và tiêu cực mà các nhà giáo dục phải lưu tâm, đồng thời biết nhận định những thách đố và những lời kêu gọi (x. PDV số 10 và 44).

2.3 Những nhà giáo dục cảm thấy một số khó khăn :

- Họ gặp khá thường xuyên tình trạng thiếu trưởng thành về tình cảm, những yếu đuối và mất quân bình về tình cảm nơi một số ứng viên, dẫn đến tình trạng bất lực về gia đình, ít nhất một phần nào.

- Tương đối khá nhiều trường hợp các ứng viên đã có những kinh nghiệm giới tính trước khi vào chủng viện (những kinh nghiệm khác giới tính và đôi khi đồng giới tính).

- Sự hiểu biết về giới tính còn thiếu sót, ít nhất khi mới bắt đầu được đào tạo : họ đặt nặng việc thỏa mãn hơn việc cam kết và trách nhiệm.

2.4. Những yếu tố tiêu cực ấy không át đi những giá trị tích cực: sự chân thành và chất phác trong tương quan nam nữ, chỗ đứng của tình cảm trong tương quan với Thiên Chúa v.v.

2.5. Việc đào tạo các ứng viên tác vụ linh mục luôn luôn là việc huấn luyện bản thân ; nó phải đào tạo, giáo dục và phúc âm hóa con người toàn diện, cả mặt tình cảm vốn bị chi phối bởi văn hóa và “lịch sử cá biệt nữa. Như thế, đồng thời với văn hóa, nhà giáo dục còn phải lưu tâm đến gia đình, các môi trường giáo dục, các biến cố trong đời sống cá nhân, cách sống thời niên thiếu nữa.

III. Những tiêu chuẩn nhận định

3.1. Nhận định và đào tạo

Không thể hoàn toàn tách rời nhận định và đào tạo. Thông thường, chính trong bầu khí sư phạm thuận lợi cho sự phát triển nhân cách, người ta mới có thể nhận định đúng nhất một ơn gọi, đặc biệt nhận định khả năng chọn lựa sống đời độc thân vì những giá trị Tin Mừng và mục vụ, kế đến là khả năng sống đời độc thân ấy một cách quân bình và hạnh phúc như mọi người.

3.2. Nhận định, một công việc phức tạp

Vả lại, nhận định là một công việc phức tạp : Nếu các nhà giáo dục phải đích thân nhận định theo các khả năng và thiên hướng thấy được, họ cũng phải giúp các ứng viên tự nhận định việc Thiên Chúa kêu gọi mình. Rõ ràng là cần phải nhận định không chỉ về khả năng sống đời độc thân và phẩm chất của việc cam kết sống như thế, mà còn về sự trưởng thành hay ít nhất sự quân bình giúp ứng viên có khả năng đám đương những trách nhiệm mục vụ và tạo được tương quan mục vụ với mọi người.

3.3. Sự trưởng thành và những động lực

Khi nhận định về đời sống độc thân, về những từ bỏ và hình thức yêu thương mà đời sống ấy bao hàm, cần đặc biệt lưu tâm đến những yếu tố sau :

a/ Sự trưởng thành và quân bình tình cảm cần thiết để chọn lựa hình thức sống và yêu như thế một cách cá nhân, có suy nghĩ, cân nhắc và khôn ngoan : Sự hiểu biết có được về giới tính, về tình yêu nhân bản, về đời sống vợ chồng, khả năng chế ngự và điều hợp những năng lực giới tính, khả năng hiểu biết và chấp nhận chính mình, khả năng ổn định tình cảm và khả năng tương quan với phụ nữ một cách vừa đơn sơ vừa tế nhị, vừa kín đáo mà vừa tôn trọng họ. Cần phải lưu tâm đến nhân cách toàn diện, đến sự liên kết và cởi mở đối với tha nhân, đến phẩm chất đời sống tâm linh và chiều hướng tông đồ, đến khả năng từ bỏ để thực hiện những giá trị tích cực.

b/ Những động lực thúc đẩy họ chọn lựa tình trạng sống ấy : quyết tâm sống độc thân và từ bỏ đời sống hôn nhân vì Đức Kitô và vì Tin Mừng, ước muốn hiến đời mình cho Đức Kitô và cho công việc tông đồ. Sự gắn bó với Đức Kitô như thế cần phải thể hiện ra rõ ràng, không chỉ bằng ước muốn trở thành linh mục cho dẫu vì muốn làm tông đồ, mà bằng việc chấp nhận sống đời độc thân như một điều kiện cần thiết. Các động lực thúc đẩy rất là phức tạp, thường là mơ hồ lúc ban đầu. Có những động lực phát sinh theo hoàn cảnh, thường là vô thức, có liên quan với những nhu cầu tình cảm, kể cả khi tuyên xưng những giá trị Tin Mừng và giá trị tông đồ. Ít nhất là sau khi ứng viên được đào tạo một thời gian, điều quan trọng là phải nhận định xem những động lực nào của họ nổi trội hơn : muốn sống Tin Mừng và làm tông đồ hay muốn đạt được những điều ít nhiều mang tính ích kỷ (muốn mình được đánh giá cao, e ngại phải sống theo kiểu nào đó…), và trong thực tế những động lực nào là động lực quyết định ?

3.4. Những giai đoạn nhận định

Thông thường, muốn nhận định ơn gọi thì phải có thời gian. Nhận định về các tiêu chuẩn liên quan đến tình cảm cũng vậy. Sự phát triển để đi đến trưởng thành được thực hiện một cách tiệm tiến. Chính những động lực cũng thay đổi, được thanh luyện, trở nên sâu xa và bộc lộ rõ ràng hơn.

Việc nhận định này cần phải trải qua nhiều giai đoạn :

a/ Thông thường, trước khi nhận một ứng viên vào chủng viện, cần phải xem xét các khả năng và động lực của người ấy. Người ấy cần phải trưởng thành đầy đủ về tình cảm, nghĩa là cần có sự ổn định và phản ứng phù hợp trước mọi hoàn cảnh và mọi người. Việc xem xét ơn gọi như thế đòi hỏi một thời gian nào đó, với sự đồng hành tâm linh. Để việc xem xét ấy được đầy đủ, có thể cho ứng viên tiếp xúc với cha giám đốc chủng viện hoặc với các giới chức trong giáo phận. Có thể mời một ban tư vấn về kết nạp chủng sinh phát biểu ý kiến. Chứng từ của cha xứ, của các linh mục khác, của các giáo dân quen biết với ứng viên, nói chung, rất hữu ích. Có thể bổ sung tiến trình xem xét này bằng những trắc nghiệm thích hợp với nền văn hóa.

b/ Năm dự bị hoặc thời kỳ dự bị (spiritual year, preparatory year)

Sau Thượng hội đồng giám mục năm 1990, tông huấn Pastores dabo vobis đã khuyên các chủng viện nên tổ chức một thời gian chuẩn bị trước khi nhận các ứng viên vào tiến trình đào tạo chuyên biệt tác vụ linh mục. Phần lớn các Giáo Hội đều tổ chức như thế. Các linh mục Xuân Bích thực hiện việc giáo dục theo cách tổ chức này, và các chủng viện Xuân Bích đều tổ chức tương tự như vậy. Tổ chức giáo dục như thế thường nhằm hai mục đích : đưa ứng viên vào đời sống tâm linh và nhận định ơn gọi của ứng viên chính xác hơn. Trong thời gian này, cần phải lưu ý đến sự trưởng thành về tình cảm, đến cơ hội dấn thân vào con đường độc thân linh mục. Cần phải giới thiệu nhiều ơn gọi khác nhau, ơn gọi linh mục, ơn gọi tu sĩ, và cả ơn gọi hôn nhân nữa. Thời gian này, việc linh hướng đóng vai trò quan trọng.

c/ Ở đại chủng viện :

Việc xác minh sự quân bình tình cảm, việc nhận định khả năng sống độc thân và các động lực thúc đẩy được thực hiện ở tòa ngoài (for externe) và tòa trong (for interne).

1. Nhận định của tòa ngoài :

- Đời sống cộng đoàn giữa các chủng sinh và các nhà giáo dục là một trong những phương tiện quan trọng cho việc huấn luyện trưởng thành về mặt tình cảm. Nó cũng giúp các nhà giáo dục hiểu biết các ứng viên và xác minh được nơi họ – qua đời sống hàng ngày và qua toàn bộ các tương quan – khả năng đón nhận người khác, khả năng ra khỏi chính mình và thế giới của mình, khả năng vượt khỏi những thị hiếu cá nhân, khả năng tương giao với những thành viên khác nhau trong cộng đoàn. Phầm chất trong việc quan hệ với quyền bính, trong sự trung thực, thẳng thắn, cũng như trong sự vâng lời và kính trọng, nói lên sự trưởng thành về tình cảm.

- Sự quân bình tình cảm cũng được biểu lộ khi các ứng viên sống bên ngoài chủng viện, trong các hoạt động tông đồ, trong các kỳ nghỉ hè và trong các thực tập mục vụ. Các linh mục lãnh nhận các chủng sinh thường cho ta những chứng từ của họ sau khi hỏi ý kiến cộng đồng kitô hữu. Nhờ đó, chủng viện cũng có thể biết rõ hơn phẩm chất các tương quan của những chủng sinh trong gia đình, trong đời sống xã hội hoặc trong các hoạt động tông đồ. Những thái độ độc đoán, kiêu kỳ hoặc hạ mình quá đáng đều là những dấu hiệu cho thấy những khiếm khuyết về tình cảm, cũng như cách ứng xử hàm hồ khi tương quan với phụ nữ và thiếu nữ.

- Những thẩm định đều đặn của hội đồng chủng viện giúp các nhà giáo dục “theo dõi” các chủng sinh và nêu lên những khó khăn và những vấn đề có thể phát sinh, cũng như cho thấy sự tiến bộ, phẩm chất các tương quan với quyền bính và các tương quan huynh đệ. Tất cả các nhà giáo dục cần phải quan tâm đến những khía cạnh của đời sống tình cảm của các ứng viên trong một bầu khí tin cẩn. Cũng đừng bỏ qua không xét đến tính hay gân hấn.

- Sự đồng hành cá nhân bên ngoài chủng viện (việc giám hộ, chức năng cố vấn) giúp ta hiểu biết ứng viên sâu xa hơn và cũng giúp người này tự biết mình. Những phương cách tự thẩm định (self-evaluation) khác nhau, và việc đối chiếu giữa ý thức về mình với hình ảnh mình trong xã hội của cùng một ứng viên cũng có tác dụng như thế.

- Sự trưởng thành tình cảm cũng được biểu hiện trong phẩm chất đời sống cầu nguyện : một số việc sùng kính mang màu sắc tình cảm có thể là một hình thức tìm kiếm những bù trừ về tình cảm trong chiều kích tôn giáo. Đời sống trí thức của các chủng sinh cũng là một dấu chỉ cho thấy sự quân bình tình cảm của họ. Chẳng hạn : suy nghĩ một cách cứng ngắc, có sự mất quân bình giữa việc muốn có một trí tuệ nổi bật và sự nghèo nàn trong những quan hệ nhân bản… Đó là những dấu chỉ cho thấy sự thiếu trưởng thành về tình cảm.

2. Nhận định của tòa trong :

Vị linh hướng riêng của mỗi ứng viên đóng vai trò chủ chốt trong việc nhận định này, cũng như trong việc giúp cho con linh hướng của mình biết con người thật của mình trước mặt Thiên Chúa. Nhờ đó, khi đạt được mức trưởng thành cao nhất, người ấy tự lượng được khả năng cam kết của mình trong việc từ bỏ đời sống hôn nhân, cũng như mức độ vì Tin Mừng trong những động lực của mình. Qua những lần bàn việc linh hướng chân thành với ứng viên, vị linh hướng cần nắm vững lịch sử cuộc đời họ, tương quan giữa họ với cha mẹ và toàn thể gia đình họ, đời sống tình cảm của họ đối với người khác phái, cũng như những phản ứng gây hấn của họ. Cũng cần biết chất lượng đời sống cầu nguyện cùng những khát vọng tâm linh và tông đồ của họ.

Vị linh hướng cần giúp ứng viên tự mình nhận định lời kêu gọi của Thiên Chúa và quyết định đời sống mình một cách tự do trong đức tin. Nếu nhận thấy ứng viên thiếu khả năng sống đời độc thân hoặc cứ bảo lưu những động lực không thích đáng, thì vị linh hướng phải khuyên người ấy về một con đường khác hơn là làm linh mục, đồng thời giúp người ấy hiểu và thực hiện lời khuyên ấy.

3.5. Những tiêu chuẩn hữu ích

Cũng nên có những tiêu chuẩn chính xác hơn. Có thể sử dụng những tiêu chuẩn này theo hai cách :

- những tiêu chuẩn mang tính tổng quát ứng với những dấu chỉ chính yếu của sự quân bình và trưởng thành trong lãnh vực tình cảm.

- những tiêu chuẩn mang tính thực hành và chính xác liên quan đến cách ứng xử.

Tuy nhiên, những tiêu chuẩn loại sau được hiểu và áp dụng để nhận định toàn bộ con người và sự tiến triển nhân cách.

a/ Những tiêu chuẩn đầu tiên là những dấu chỉ cho thấy sự quân bình và trưởng thành trên bình diện tình cảm và giới tính : khả năng làm chủ cảm tính, khả năng tương quan với những người rất khác biệt nhau, sự đúng đắn trong thái độ đối với phụ nữ, những tình bạn chân thật và thân thiện. Ngược lại, sự bất ổn, thiếu khả năng ra khỏi thế giới của mình hoặc khỏi phạm vi tương quan nhỏ hẹp của mình, tính cứng nhắc, thiếu cảm thông, thiếu ngay thẳng là những triệu chứng cho thấy sự thiếu trưởng thành hay có khó khăn trong các tương quan nhân bản.

b/ Loại tiêu chuẩn thứ hai liên quan đến cách ứng xử khi gặp những hoàn cảnh đặc thù và những khó khăn trong lãnh vực phái tính.

1. Đó là trường hợp ngày nay khá phổ biến của các ứng viên đã có những kinh nghiệm giới tính với người khác phái, những kinh nghiệm tình cờ hoặc kéo dài được kinh qua trước khi có quyết định hướng đến chức linh mục hoặc trong thời kỳ đào tạo. Cần phải lưu tâm đến ý nghĩa tâm lý cũng như luân lý và tâm linh của những kinh nghiệm ấy. Chúng có thể cho biết những khó khăn sâu xa hơn. Chúng có thể đã ghi dấu ấn trên nhân cách. Những kinh nghiệm trải qua nhiều lần trong thời kỳ đào tạo thường cho thấy một nhân cách không ổn định hoặc sự thiếu mạnh mẽ trong việc cam kết sống đời linh mục và độc thân. Nói chung, gặp những trường hợp này, nên khôn ngoan hướng họ đến một bậc sống khác. Nếu những khiềm khuyết ấy không có những biểu hiện nghiêm trọng, có thể thẩm định rằng cần thiết phải thử thách họ một thời gian dài – ít nhất ba năm – nếu không mắc những khiếm khuyết trầm trọng thì mới có thể tiến đến cam kết cuối cùng.

2. Trường hợp kinh nghiệm giới tính với người đồng phái, nên phân biệt xu hướng được thể hiện thành hành động giới tính đồng giới và xu hướng không được thể hiện thành hành động. Trường hợp đầu, không nói đến cách hành xử phải giải thích phức tạp hơn của những thanh niên – sự khôn ngoan buộc Hội đồng chủng viện hoặc cha linh hướng phải tế nhị và cương quyết loại ứng viên ra khỏi con đường hướng đến chức linh mục. Trường hợp thứ hai, sự giải thích tế nhị hơn: liệu đó có phải là tình trạng thiếu trưởng thành về giới tính, một xu hướng không độc chiếm mà chủ thể có thể kiềm chế được, hoặc xu hướng giới tính với người đồng phái do cấu trúc tạo nên các nhu cầu khó kiềm chế và trong tương lai có nguy cơ dẫn đến những ứng xử không đừng được chăng ? Xu hướng này thường được xem là không thể đảo ngược. Thường rất cần sự hợp tác của một nhà tâm lý học am hiểu những vấn đề đó. Có thể nên quyết định theo sự chẩn đoán của ông. Cần phải hết sức thận trọng. Vấn đề được đặt ra là việc khước từ hôn nhân có ý nghĩa gì và tương lai ra sao ? Xu hướng giới tính đồng phái nếu được kiềm chế suốt thời gian đào tạo vẫn có thể bộc lộ và hiện hành sau đó. Vả lại, trong một số trường hợp, người ấy sẽ gặp khó khăn trong công việc mục vụ khi phải đón tiếp mọi người với tất cả lòng tôn trọng sự thực và tha tính của họ.

3. Tật loạn dâm hậu môn hoặc hành dâm với trẻ em là những vấn đề đặc biệt nghiêm trọng trên bình diện xã hội và luật pháp, mà trước hết là bình diện luân lý ; nó là dấu chỉ căn bản cho thấy người ấy không nên tiến đến tác vụ linh mục (2).

4. Thủ dâm, tức tự kích thích tình dục, là một vấn đề luân lý, nhưng ở một người trưởng thành, nó còn là vấn đề tâm lý nữa. Nói chung, thủ dâm thường xuyên là một triệu chứng thiếu trưởng thành về tình cảm. Không nên dứt khoát cho là có tội hoặc không có tội, nhưng nên hướng dẫn đương sự ra khỏi chính mình khi đón tiếp và phục vụ tha nhân. Nếu việc thủ dâm cứ tái diễn mãi, dù đã có sự giúp đỡ về tâm lý và tinh thần thích hợp, thì không nên khuyên họ hướng đến tác vụ linh mục. Trong chiếu hướng ấy, tập “Những phương hướng giáo dục đời sống độc thân linh mục” nói trên ghi nhận rằng “hành vi tự kích thích vẫn là một trở ngại cho bậc sống đang là mục tiêu cho việc giáo dục trong chủng viện” (số 63).

3.6. Qui tắc khôn ngoan

Đừng quên rằng nhận định về việc Thiên Chúa mời gọi sống tác vụ linh mục và về việc cam kết sống độc thân là vì lợi ích của ứng viên và của Giáo Hội. Trong viễn cảnh ấy, những chỉ dẫn của Giáo Hội đã luôn luôn khuyên các nhà giáo dục phải hết sức thận trọng, để chỉ tiến cử cho việc truyền chức và hướng dẫn đến chức linh mục những ứng viên biểu hiện những dấu hiệu tích cực của ơn gọi. Trong trường hợp vẫn còn phải nghi ngờ, thì « buộc phải quyết định theo cách chắc chắn nhất » (Ratio fundamentalis, số 41). Nếu cần thiết phải quyết định theo chiều hướng này thì không được trì hoãn : « Chọn lựa sau cùng phải được thực hiện đúng lúc thuận lợi và ngay khi có thể » (RF, số 40).

IV. Những phương hướng cho việc đào tạo

4.1. Trong bối cảnh giáo dục tình cảm cách tích cực, vấn đề nhận định được đặt ra thật là đúng đắn ; vả lại, việc giáo dục này là một phần sự giáo dục con người toàn diện. Chúng ta đã đề cập đến những mục đích của công việc giáo dục này, bây giờ chúng ta nên bàn tới một số phương tiện giáo dục.

4.2. Toàn bộ việc đào tạo, chất lượng các tương quan giáo dục, bầu khí tín nhiệm và thành thật, sẽ ngày qua ngày bảo đảm cho việc giáo dục tình cảm ấy hơn bất kỳ phương tiện cá biệt nào : tập yêu thương trong chân lý theo cách yêu thương của Đức Kitô là hoa quả trước tiên của nền giáo dục toàn diện ấy, trong đó việc đào tạo tâm linh sẽ hướng mọi chiều kích của con người theo sự chỉ đạo của Thần Khí.

4.3. Trong số những phương tiện sư phạm cá biệt, việc đào tạo này đòi hỏi phải giảng giải một cách hệ thống về giới tính, ý nghĩa nhân bản và kitô giáo của giới tính, đời sống hôn nhân và đời sống độc thân, đức khiết tịnh như phẩm chất của tình yêu giúp cho mọi tương quan nên tốt đẹp. Cần trình bày thật rõ ràng chủ đề ấy trong những hội thảo tâm linh dưới ánh sáng đức tin, đồng thời quan tâm đến những khó khăn thực tế và những phương tiện cụ thể để sống đời độc thân linh mục trong tinh thần yêu thương đầy tính mục tử của Đức Kitô.

Trong lãnh vực giáo dực tình cảm này, cần phải hiểu và nhập tâm những kiến thức tổng quát. Những kiến thức ấy phải được bổ sung bằng việc đối thoại cá nhân, đặc biệt khi bàn việc linh hướng, và nếu có thể, trong những dịp hội thảo hay nghiên cứu chuyên đề với một chuyên viên am tường những vấn đề liên quan đến đời sống độc thân linh mục.

4.4. Đời sống cộng đoàn là một môi trường quan trọng để huấn luyện tình cảm cũng như để nhận định sự trưởng thành. Nó hình thành từ những tương quan hàng ngày giữa những chủng sinh không chọn lựa nhau và khác nhau về tính khí, giáo dục, văn hóa ; điều này đòi hỏi họ phải thích nghi, phải làm chủ các phản ứng tình cảm, phải thắng vượt những sở thích của mình. Tình bạn cần được kết nối trong một bầu khí huynh đệ cùng chung lý tưởng. Tương quan thành thật và tín nhiệm với những người đại diện quyền bính cũng góp phần vào việc huấn luyện tình cảm.

4.5. Hoạt động mục vụ tạo nên những cơ hội gặp gỡ rất đa dạng : gặp gỡ phụ nữ, quan hệ với những người khác nhau về tuổi tác, văn hóa, địa vị xã hội. Chủng sinh cần tập lắng nghe họ, hiểu biết họ, làm việc với họ. Thực tập mục vụ cũng là những cơ hội huấn luyện tâm lý-tình cảm, nhờ những dịp cộng tác kéo dài, những trách nhiệm phải đảm nhận. Những cơ hội ấy giúp các chủng sinh tự biết mình, mà cũng giúp họ khám phá một cách cụ thể ý nghĩa của đời sống linh mục, tác vụ linh mục, các tương quan mục vụ và các điều kiện sống của linh mục. Những kỳ nghỉ hè sống với gia đình cũng góp phần không nhỏ vào việc huấn luyện tình cảm, nhất là khi chúng trở thành đề tài bàn luận với cha linh hướng.

4.6. Hiểu biết cách đúng đắn và chấp nhận mình cách thanh thản là đặc trưng của sự trưởng thành thật sự về tình cảm. Những thẩm định đều đặn – của các nhà giáo dục hoặc tình cờ của những chủng sinh khác, hoặc bởi chính đương sự – không chỉ là những phương tiện để nhận định ; chúng cũng có giá trị huấn luyện. Chúng góp phần thẩm định khách quan các khả năng, các thiên hướng của người ấy, chúng xác định những tiến bộ đã thực hiện được và những tiến bộ cần được thực hiện. Chúng tạo điều kiện thuận lợi để phát triển tương quan trách nhiệm với các nhà giáo dục. Trong một cuộc đối thoại riêng tư có mục đích giáo dục, phương cách mà vị bề trên dùng để trình bày cho chủng sinh những nhận định ấy là một phương thế quan trọng để đào tạo ý thức về bản thân và để huấn luyện tình cảm cho chủng sinh ấy.

4.7. Cuối cùng, việc huấn luyện tâm lý-tình cảm luôn mang tính cá nhân : nó liên quan đến tâm tư thầm kín của con người được ghi lại bởi một câu chuyện đời người luôn luôn độc nhất. Nó cũng phải được thật sự cá thể hóa và nội tâm hóa. Trong chiều hướng này, linh hướng là một phương tiện ưu việt để đào tạo, nhờ người chủng sinh cởi mở tín nhiệm, biết bộc lộ những điều sâu kín trong đời sống nội tâm của mình, cũng như nhờ vị linh hướng đưa ra những hướng dẫn, biết đối thoại và lắng nghe, biết tiếp đón niềm nở, không e dè, với tư cách cha linh hướng, rõ ràng là một người hướng dẫn chứ không phải một quan tòa. Sự giúp đỡ tâm linh này tự nó có một chiều kích tâm lý, nó làm cho đời sống tâm linh có khả năng tháp nhập và hướng những sức mạnh mãnh liệt, cả tình cảm nữa, vào một tương quan cá nhân với Đức Kitô, trong tình yêu con thảo và đức bác ái mục vụ. Việc đào tạo này liên quan đến toàn thể con người, đến lịch sử, đến những phản ứng và khát vọng của người ấy để sẵn sàng dấn thân trọn vẹn theo Đức Kitô.

4.8. Trong trường hợp có những rối loạn tâm lý, có những khó khăn khó giải thích trên bình diện tâm lý, thì nên hoặc can nhờ đến sự giúp đỡ của một nhà tâm lý hoặc một bác sĩ tâm lý trị liệu có tài năng và chuyên môn. Bình thường ông sẽ giúp giải quyết một xung đột nội tâm nào đó để đạt được sự tự do cần thiết. Thông thường, vị linh hướng là người phù hợp nhất để chuẩn bị cuộc gặp gỡ ấy và đưa sự giúp đỡ trị liệu ấy vào viễn cảnh đào tạo con người toàn diện.

4.9. Tác động sư phạm ấy làm cho việc huấn luyện tâm lý-tình cảm trở nên bảo đảm trong khuôn khổ của một cơ chế có trật tự rõ ràng và trong một cộng đoàn giáo dục có bầu khí tín nhiệm và chân thành. Chứng từ của các nhà giáo dục, cá tính sáng ngời của họ – dù giới hạn nhưng thấm đẫm sự phong phú tình cảm của đời sống linh mục quân bình và trong sáng -, sự sẵn sàng giúp đỡ của họ, việc lắng nghe và nói năng đầy tính nhân bản và mục vụ của họ, những điều ấy còn ích lợi cho việc huấn luyện tâm lý-tình cảm của chủng sinh hơn cả những giáo huấn và chỉ dẫn của họ.

V. Việc đào tạo các nhà giáo dục

5.1. Để huấn luyện tâm lý-tình cảm cho các mục tử chân chính – có khả năng sống khiết tịnh trong đời sống độc thân linh mục một cách quân bình và hạnh phúc – đòi hỏi phải có những nhà giáo dục tuyệt hảo được chuẩn bị cho sứ mạng của họ trên bình diện tâm lý, tâm linh và sư phạm.

5.2. Chính nhà giáo dục phải có sự quân bình tình cảm, nhờ đó ông có khả năng tiếp đón từng ứng viên một cách độc đáo theo cá tính, lịch sử và những khát vọng của ông. Ông phải ý thức những vấn đề riêng của ông để không phóng chiếu những vấn đề ấy lên những người được ủy thác cho ông. Điều quan trọng là ông phải rõ ràng với chính ông, với những ước muốn và những xung đột của ông. Ông cũng phải canh tân và đào sâu ý nghĩa của đời sống độc thân linh mục và của đức khiết tịnh mà đời sống ấy đòi hỏi, và những điều kiện để quân bình về nhân bản và tâm linh trong bậc sống ấy và trongcông việc mục vụ. Ông phải canh tân và đào sâu ý nghĩa ấy cho chính ông cũng như cho những người mà ông đào tạo – có thể trong nhóm những nhà giáo dục – qua kinh nghiệm và sự suy nghĩ của ông.

5.3. Sự đào tạo nên các nhà giáo dục có khả năng chu toàn tác vụ linh mục đòi hỏi sự hiểu biết nghiêm túc về tâm lý học tình cảm, sự phát triển tình cảm, cả những khó khăn mà các linh mục gặp phải, và những điều kiện giúp trung tín và quân bình.

Muốn thực hành tốt hơn « ngh » giáo dục ấy, cần phải suy tư từ kinh nghiệm, tiếp tục suy tư theo ê-kíp các nhà đào tạo với sự thận trọng cần thiết.

5.4. « Nghệ thuật » nhận định và đào tạo ấy được luyện tập và phát triển không phải nhờ đọc sách cho bằng nhờ kinh nghiệm – được thực chứng, được suy tư khi cầu nguyện riêng tự, được tái diễn nhờ sự giúp đỡ của một bậc thầy về tâm linh, và nếu có thể, của một nhà tâm lý học thành thạo trong khuôn khổ của các khóa học chuyên ngành – hoặc nhờ năng liên lạc với một trung tâm đào tạo chuyên ngành. Nhờ sự hướng dẫn tâm linh và nhờ sự linh hoạt của một nhóm hoặc một cộng đoàn chuyên giáo dục, môi trường « cô tịch » (Solitude) của hội Xuân Bích là một môi trường ưu việt thuận lợi cho việc giáo dục tình cảm và thực tập đức khiết tịnh. Những học viện hoặc những trung tâm chuyên ngành có thể đào tạo mặt này chuyên sâu hơn bằng việc suy tư liên tục có hướng dẫn về những hành trình tâm linh hoặc bằng những cuộc đối thoại.

5.5. Kinh nghiệm cá nhân về linh hướng với tư cách là « người được hướng dẫn », và cả việc thẩm định giá trị trong hội đồng chủng viện cũng là những nhân tố quan trọng trong việc đào tạo thường xuyên các nhà giáo dục, về việc nhận định các khả năng sống độc thân và tương quan mục vụ, và về việc huấn luyện tâm lý-tình cảm cho các ứng viên. Như thế việc nhận thức và giải thích các vấn đề tình cảm trở nên tinh tế hơn và những phương tiện đào tạo được am hiểu nhiều hơn.

5.6. Một câu hỏi có thể được đặt ra là có cần đào tạo tâm lý một cách hệ thống hơn để giúp các nhà giáo dục chuẩn bị sâu sát hơn công việc phục vụ ấy không ? Nhờ vậy, họ có thể nhận định và đánh giá chính xác hơn các khả năng của các ứng viên trên bình diện cảm tính, đồng thời nhận thức đúng hơn những khuyết điểm và những bất hòa tâm lý có liên quan đến những động lực vô thức hoặc tiềm thức. Họ có thể giúp đỡ hữu hiệu để giải quyết những vấn đề thuộc bình diện ấy trước khi nhờ đến một nhà tâm lý trị liệu. Các cố vấn được đào tạo như thế có thể can thiệp một cách hữu ích mà không cần phải thuộc nhóm các nhà giáo dục. Nếu không nhận được một sự đào tạo chuyên sâu như thế, thì để chuẩn bị nhận thức những khó khăn như thế, thường là không rõ ràng, các nhà giáo dục cần được đào tạo một cách thích nghi và hội nhập vào kinh nghiệm tâm linh cá nhân, tại trường của các bậc thầy về truyền thống tâm linh.

Kết luận

Những suy nghĩ tổng quát này được đưa ra cho tất cả các thành viên của Hội Xuân Bích. Chúng sẽ được điều chỉnh và xác định tùy hoàn cảnh các Tỉnh hội, với sự quan tâm đến nền văn hóa và những vấn đề riêng của mỗi Tỉnh hội, và cũng tùy tình hình mỗi miền nơi những suy nghĩ ấy được thực hiện.

Hơn nữa, những định hướng này sẽ được áp dụng cho toàn bộ việc đào tạo, theo những chỉ dẫn của Giáo Hội, của Giáo quyền Rôma, được diễn tả đặc biệt trong Tông huấn hậu Thượng hội đồng Giám mục « Pastores dabo vobis », những tài liệu của Bộ Giáo dục Công giáo, và của các tòa giám mục khác nhau. Sứ mạng của các nhà giáo dục – cũng như của các linh mục Xuân Bích trong sự trung thành hoàn toàn với truyền thống sư phạm được mô tả trong hiến pháp của Hội – là đào tạo các linh mục, « các mục tử theo tâm tình của Thiên Chúa », để phục vụ các Giáo Hội và công cuộc phúc âm hóa thế giới mà các Giáo Hội ấy có trách nhiệm thực hiện.

Công trình đặc biệt tế nhị này – là đào tạo tâm hồn người mục tử tràn đầy tình yêu Đức Kitô – chúng ta không quên phó thác cho Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ các linh mục, và cho sự hướng dẫn của Thánh Thần, là Đấng giáo dục họ như một người Mẹ.

*************

(1) Ghi chú : Tông huấn hậu Thượng hội đồng giám mục Pastores dabo vobis trình bày rõ ràng giáo huấn của Giáo Hội, tông huấn có tham chiếu nhiều tài liệu khác về cùng chủ đề ấy như Ratio Fundamentalis số 48, và Những phương hướng giáo dục đời sống độc thân linh mục, tài liệu này do Bộ Giáo dục công giáo xuất bản năm 1944, đặc biệt có nhiều nhận xét và gợi ý.

(2) Tuy nhiên, cho ứng viên hay thỉnh sinh rời khỏi chủng viện chưa đủ. Ý thức trách nhiệm đối với xã hội cũng đòi buộc những người biết tình trạng của người ấy phải hướng người ấy đến việc điều trị và giúp người ấy hiểu rằng trong mọi trường hợp, không nên tìm một chỗ làm hoặc một nghề nghiệp cho phép mình tiếp xúc một cách đều đặn và lâu dài với trẻ em.

Tài liệu tham khảo

Ở đây, chúng ta chỉ nói đến những tài liệu liên quan đến việc huấn luyện tâm lý-tình cảm :

- Sắc lệnh « Optatam totius », số 10-11

- Thông điệp « Sacerdotalis coelibatus » của ĐGH Phaolô VI, ngàøy 24.6.1967

- Tông huấn « Pastores dabo vobis » của ĐGH Gioan-Phaolô II, ngày 25.3.1992

- « Ratio fundamentalis », bộ Giáo dục Công giáo, 1970 và 1985

- « Orientations sur l’éducation au célibat sacerdotal », 1974

- « Orientations éducatives sur l’amour humain », 1983

- « Déclaration sur certaines questions concernant l’Ethique sexuelle », bộ Giáo lý Đức Tin, 1975

- « Directives sur la formation dans les instituts religieux », Bộ các Hội đời sống tận hiến và Tu đoàn tông đồ, 1990

Ba tài liệu nên lưu tâm :

- « Documenti (196901989). Formazione dei Sacerdoti nel mondo d’oggi », (tiếng Ý) Liberia Editrice Vaticana, 1990, 971 p. (Sưu tập đầy đủ nhất các tài liệu từ 1969 đến 1989, trước khi có tông huấn Pastores dabo vobis)

- « Norms for priestly formation. A compendium of official documents on training candidates for the priesthood ». (Anh ngữ). Edit. : United States Catholic Conference, 1312 Massachussetts Avenue N.W. Washington D.C. 2005, USA, 1982, 337 p (Tuyển tập này gồm các tài liệu có trước 1982).

- « La formacion sacerdotal. Documentos ». (tiếng Tân ban nha) Edit. DEVYM & OSLAM. Phát hành : Officina de Pressa y Publicaciones CELAM, calle 78 no 11-17, Apartado 51086, Bogota, Colombia, 468 p. (Tuyển tập gồm các tài liệu có trước 1982).

Hai tuyển tập sau cùng trên đây có bản mục lục phân tích, được khai triển cách riêng trong phần thứ hai.

Mỗi Tỉnh hội có thể bổ túc phần thư mục này. Ta cũng nên lưu ý nghiên cứu dưới đây bằng Pháp ngữ, ấn hành tại Canada :

- « La formation humaine intégrale des candidats au ptresbytérat », do André BOYER, Anthony MANCINI, Terrence PRENDERGAST, Jean-Marc ROBILLARD, dưới sự hướng dẫn của Jeannine GUINDON, 143 p., Éditions Paulines et Médiaspaul, 1993.

Hội Linh mục Xuân Bích

 

About these ads
%d bloggers like this: