GIỚI THIỆU THÔNG ĐIỆP VERITATIS SPLENDOR

Jean-Louis Bruguès

Có lẽ việc chờ đợi lâu dài trước khi thông điệp “Chân Lý Rạng Ngời” (“Veritatis Splendor “(VS)) ra đời đã làm cho việc đón nhận nó càng khó khăn hơn.

Một sự chờ đợi rất lâu.

Thông điệp được loan báo từ năm 1987. Tông thư « Spiritus Dominus » ra đời ngày 01 tháng 08 cùng năm đó, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 200 ngày mất của thánh Alphonse-Marie de Liguori, bổn mạng của các thần học gia luân lý, đã tiên liệu rằng, sắp đến, một thông điệp sẽ bàn về « những vấn nạn liên quan đến chính những nền tảng của thần học luân lý cách sâu rộng hơn » (VS 5). Thực ra, có thể có lý để cho rằng Đức Giáo Hoàng đã suy nghĩ điều đó từ rất lâu, từ lúc xuất hiện điều mà người ta gọi là « sự bất đồng » của một số thần học gia.

Sự bất đồng này đã có từ khi thông điệp « Humanae Vitae » ra đời (1968). Nó bắt đầu mặc lấy hình thức phê bình công khai chống lại những chuẩn mực đặc thù được chứa đựng trong văn kiện của Huấn quyền. Quả thật, các thần học gia nhưng cũng nhiều Kitô hữu không hiểu và khó chấp nhận việc các phương tiện ngừa thai máy móc và hóa học lại bị Humanae Vitae tuyên bố là bất hợp pháp. Sự đối lập còn tăng rộng sau khi tuyên ngôn « Persona Humana » ra đời vào năm 1975 và nó đặt lại vấn đề các ý niệm « bản tính con người » và « luật bản nhiên », là những nền tảng truyền thống của luân lý Công giáo. Cuối cùng nó biến thành phê bình chỉ trích ra mặt Huấn Quyền về vấn đề luân lý và cách thức vận hành của nó, sau khi Tông Huấn « Familiaris Consortio » của Đức Gioan Phaolô II ra đời vào năm 1980.

Đã có một sự khủng hoảng. Quyền Giáo Huấn của Giáo Hội coi đó là sâu rộng. « Sự bất đồng, được hình thành do những phản đối có chủ ý và do những luận chiến, được diễn tả bằng việc sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội, là trái với sự truyền thông của Giáo Hội và với sự hiểu biết đúng đắn về cơ cấu phẩm trật của Dân Thiên Chúa » (VS 113). Bổn phận của Huấn Quyền là bày tỏ ý kiến và thực thi quyền phân định của mình.

Được loan báo đều đặn như là sắp đến và rồi liên tục bị trì hoãn, sự ra đời của VS đã khơi lên những chất vấn lập đi lập lại. Sự chờ đợi có lúc bị nhiễu tạp, khi người ta nghĩ rằng văn kiện đang được chuẩn bị sắp bàn đến đời sống con người dưới mọi khía cạnh của nó và những đe dọa đang đè nặng lên nó nơi các xã hội đương đại.

Thế nhưng, đó không phải là chủ định của thông điệp. Nó « muốn trình bày, liên quan đến những vấn đề đang được tranh luận, những lý do của việc giảng dạy luân lý cắm rễ sâu nơi Thánh Kinh và nơi Truyền Thống sống động của các Tông đồ, bằng cách đồng thời làm sáng tỏ những giả định sẵn và những hậu quả của những phản đối nhắm đến việc giảng dạy này như là đối tượng » (VS 5).

Để làm điều đó, thông điệp muốn nhắc lại và giải thích những chân lý nền tảng của học thuyết luân lý Công giáo. Chắc chắn, từ ban đầu, Giáo Hội đã đề nghi một giáo huấn luân lý được khai triển nhiều về nhiều khía cạnh của đời sống con người (x.VS 4). Đây là lúc đề nghị một suy tư toàn bộ về luân lý căn bản. Đâu là ý nghĩa sâu xa về cuộc sống của con người ? Người ta gọi thiện và ác là gì ? Đâu là những tiêu chuẩn thực tiễn cho phép đánh giá giá trị luân lý của các hành vi nhân linh ? Có tồn tại chăng một chân lý trong luân lý ? Đây là lần đầu tiên trong lịch sử của mình mà Huấn Quyền can thiệp vào lãnh vực này (VS 115).

Sự phân chia các vai.

Để biện minh cho sự ra đời chậm trễ của nó, thông điệp đưa ra một lý do : nó phải chờ đợi sự ra đời của sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo (GLGHCG), vì nó luôn dựa vào sách Giáo Lý (GL) này của Giáo Hội. Sách GLGHCG được xuất bản vào thàng 12/1992. VS được ban bố ít là một năm sau đó, ngày 6/8/1993. Dưới triều của ĐGH Gioan Phaolô II, các « văn bản lớn » ra đời theo nhịp trung bình cứ một năm rưỡi một văn bản. Thông điệp VS như là một trong những văn bản lớn này.

Có một kiểu phân vai giữa thông điệp và sách GLGHCG. Sách GL muốn đưa ra một trình bày đầy đủ, có hệ thống và có tổ chức về đức tin của Giáo Hội. Trong phần luân lý của nó có tựa đề « Đời sống trong Chúa Kitô », nó loan báo và liến kết các khái niệm căn bản của đời sống luân lý Kitô giáo. Đó là : sự tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, ơn gọi của con người đến hạnh phúc ; tự do, các hành vi và các đam mê, lương tâm, các nhân đức, tội lỗi, những giá trị của đời sống xã hội, lề luật, ân sủng, vai trò của Giáo Hội, các giới răn của Thiên Chúa. Sách GL nhắm thời gian lâu dài. Nó không thể bàn về những vấn đề thời sự như thế, vì nó sẽ trôi qua. Theo nghĩa đó, sách GL sẽ có nguy cơ lỗi thời nhanh chóng. Các soạn giả đã ý thức được điều đó. Họ thông qua một cung giọng bình tâm thanh thản và từ chối rơi vào những cuộc cãi cọ luôn luôn sôi động giữa các trường phái thần học đa dạng, thậm chí những trào lưu triết học.

Thông điệp thì luôn trả lời cho những bận tâm đương thời. VS luôn quy chiếu về sách GLGHCG (x. VS 5, 12, 13, 16, 42, 78, 100), dành riêng cho mình phân tích hoàn cảnh mới được tạo nên do cuộc tranh luận chung và hệ thống của gia sản luân lý. Nó xem xét các quan niệm nhân chủng học mà đưa tới việc :

+ Tách rời giữa tự do của con người và chân lý luân lý ;

+ Chối bỏ luật bản nhiên (loi naturelle) và do đó, chối bỏ tính phổ quát và trường tồn của các chuẩn mực luân lý ;

+ Đặt vấn đề vai trò của Quyền Giáo Huấn, như thể Huấn Quyền chỉ bằng lòng « khuyến khích các lương tâm » mà không thể đưa ra những chuẩn mực cụ thể chính xác ;

+ Xóa bỏ các giới răn của Thiên Chúa, như thể chúng không còn có thể soi sáng các chọn lựa hằng ngày của con người và xã hội, điều đó dẫn tới việc chia cách mối liện hệ nối kết luân lý với đức tin (x.VS 4).

Cách chung, có thể nói rằng thông điệp đưa các triết thuyết như chủ quan chủ nghĩa, tương đối chủ nghĩa, thiết định chủ nghĩa, thực dụng chủ nghĩa và vụ lợi chủ nghĩa qua sự sàng lọc của học thuyết Công giáo (x.VS 112).

Vì thế, nếu có một mối hỗ tương chắc chắn giữa sách GL và thông điệp, thì cũng không được bỏ qua gia sản trực tiếp mà VS tìm thấy nơi những văn kiện khác của Huấn quyền, đặc biệt nơi những bản văn của Công đồng Vatican II. Nó thậm chí được trình bày như là sự nối dài của Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng (x. VS 2, 3, 13, 28, 29, 30, 31, 36, 38, 39, 42, 48, 50, 52, 53, 54, 55, 62, 63, 71, 73, 80, 86, 92, 97), đề nghị một nền nhân chủng học căn bản, dù theo cách không đầy đủ, và đã chất vấn câu hỏi, hôm nay trở nên nóng bỏng, về quyền tự trị của các thực tại trần thế, do đó, về lý trí của lương tâm luân lý. VS trích Hiến chế tín lý « Dei Verbum » (VS 5, 27, 28, 29, 66, 68), Tuyên ngôn về Tự do tôn giáo « Dignitatis Humanae » (VS 31, 34, 64, 82), Sắc lệnh đào tạo linh mục « Optatam Totius » (Vs 7, 29) và sau cùng Hiến chế về Giáo Hội « Lumen Gentium » xác định rõ trách nhiệm của các Giám mục về vấn đề luân lý (VS 3, 87, 109, 114).

Những cổng vào đa dạng.

Thông điệp cho thấy một sự thống nhất trong chừng mực nó bàn về một chủ đề duy nhất : luân lý căn bản, hay đúng hơn, thần học luân lý căn bản. Đoạn Tin Mừng (TM) về chàng thanh niên trẻ giàu có (Mt 19, 16…) cung cấp chỉ dẫn xuyên suốt ba chương của bản văn. VS có thể được trình bày như là một chú giải và là một sự kéo dài câu trả lời của Chúa Giêsu cho câu hỏi căn bản mà chàng thanh niên đặt ra : « tôi phải làm gì để có sự sống đời đời ? ».

Xin độc giả đừng nản chí bởi khía cạnh hàng loạt của bản văn, sự chính xác và phong phú của bộ máy kỹ thuật mà nó nại đến, đặc biệt nơi chương II, hay là sự chặt chẽ logic không thể chê vào đâu được của những khai triển thường trừu tượng. Trong tòa nhà có vẻ bề ngoài nhẵn bóng này, làm thế nào để len lỏi vào ?

Trên thực tế, các lối vào là đa dạng. Những người nhận thì khác nhau ; càng khác nhau nữa là những thể loại văn chương được dùng.

Chắc chắn, cũng như mọi thông điệp, VS nói với các Giám Mục đầu tiên. Tuy nhiên, nó đặc biệt nhấn mạnh trách nhiệm của các vị mục tử về vấn đề luân lý : « Với tư cách là những Giám Mục, , chúng ta có nghĩa vụ phải canh chừng để Lời Thiên Chúa được giảng dạy cách trung thành. Thưa anh em trong hàng Giám mục, thừa tác vụ mục tử của chúng ta phải chăm lo cho việc chuyển giao trung thành giáo huấn luân lý này và có những biện pháp thích hợp để các tín hữu được gìn giữ khỏi mọi học thuyết hay mọi lý thuyết trái với giáo huấn này. (…) Với tư cách là các Giám mục, mỗi chúng ta có bổn phận nặng nề chăm chú sao cho“học thuyết lành mạnh” (1 Tm 1, 10) của đức tin và luân lý được dạy dỗ trong các giáo phận của chúng ta  » (số 116).

Theo cách hoàn toàn cổ điển, khi Huấn Quyền bày tỏ ý kiến về vấn đề luân lý, nó không chỉ nói với các tín hữu nhưng còn cho hết mọi người thiện chí. Là chuyên gia trong lãnh vực luân lý, « Giáo Hội biết rằng vấn đề luân lý nối kết mọi người cách sâu xa, ngay cả những ai không biết CK và Tin Mừng của Ngài, thậm chí cả Thiên Chúa » (VS 3).

Tuy nhiên, vì thông qua một thể loại văn chương khác nhau trong mỗi chương, thông điệp nhắm đến những công chúng khác nhau :

Chương I được trình bày như là một suy niệm chiều sâu, thanh thản và rất hay về đoạn TM chàng thanh niên giàu có. Dễ dàng tiếp cận, hoàn toàn mang dấu ấn của ngòi bút của Đức Giáo Hoàng, bài suy niệm này hẳn lôi kéo được sự chú ý của nhiều người. Do đó, chúng tôi khuyên độc giả bắt đầu bằng chương này.

Chương II theo một thể loại văn chương cảnh báo. Nó trình bày, rồi tranh luận những lý thuyết mới có thể làm tổn hại một sự hiểu biết đúng đắn về học thuyết luân lý Công giáo. Nó cho thấy không phải là cao điểm của bản văn (có nhiều), nhưng là trọng tâm. Mức độ chuyên môn cao cho thấy rằng nó sẽ được hiểu tốt hơn bởi các thần học gia và các triết gia.

Chương III kết cấu lỏng hơn, theo giọng văn khuyến khích. Nó đưa ra lời kêu gọi hợp tác của công quyền, các thần học gia luân lý và các Giám Mục. Tuy nhiên, trong mức độ mà nó nhắc lại rằng hình ảnh tử vì đạo vẫn là khuôn mẫu tuyệt vời của người Kitô hữu.

Bài suy niệm.

Chương đầu tiên này không khơi dậy phản đối. Thông điệp có lý nhắc lại rằng đoạn TM về chàng thanh niên giàu có, chủ yếu nơi Matthêu, không loai bỏ đối chiều với Marco và Luca, tạo nên cái nền hữu ích để lắng nghe lại cách sống động giáo huấn luân lý của Chúa Giêsu (x.VS 6). Quả thế, nó cho thấy một nơi quan trọng của luân lý Kitô giáo.

Từ đoạn TM này, có thể rút ra 5 khẳng định hay 5 bài học soi sáng con người hôm nay :

a. Mối liên hệ được thiết lập bởi chàng thanh niên giữa sự thiện luân lý và sự hoàn tất cuộc sống. Khác với Kant, chàng thanh niên không giới hạn câu hỏi vào « tôi phải làm gì ? » hay thậm chí « tôi phải làm gì tốt lành ? ». Anh ta hỏi « tôi phải làm gì tốt lành để được sự sống đời đời ? ». Anh ta nhận ra tự sâu thẳm của mình như là sự khao khát sự sống vô tận, hay nỗi nhớ về thế giới bên kia. Anh ta hiểu rằng các hành vi và thái độ của mình không dấn thân chỉ hiện tại ; chúng có âm vang vừa huyền bí vừa vô tận. Chúng xác định tương lai cách không thể vãn hồi.

b. Chỉ TC mới có thể trả lời cho câu hỏi về điều thiện vì Ngài là Đấng Thiện Hảo (x.VS 9). Chàng thanh niên đến gần Chúa Giêsu ; Chúa Giêsu đang khi cho anh ta thấy bản chất và ơn gọi nhân linh của anh ta, đã dạy chân lý trong tất cả sự rạng ngời của nó. Quả thật, con người tự khám phá vào lúc Thiên Chúa tự mạc khải chính mình (x.VS 10). Theo nghĩa này, phương pháp tiến triển của luân lý không phải là tự trị, về bản chất nó là tôn giáo. Chỉ mình Thiên Chúa là Đấng Thiện Hảo ; sự thiện luân lý hệ tại yêu mến Ngài, thuộc về Ngài và vâng phục luật Ngài.

c. Những giới răn hình thành nên điều kiện tiên quyết cho tất cả đời sống luân lý, cổng vào trong đức ái. Chúng tạo nên giai đoạn đầu tiên của con đường tự do của con người. Chúa Giêsu bắt đầu bằng việc đưa chàng thanh niên trở về với các giới răn của Thiên Chúa và do đó nốii kết giữa chúng tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân. Các giới răn cho thấy các điều kiện tối thiểu của việc tôn trọng người khác : người ta không thể làm điều thiện cho tha nhân nếu không bắt đầu bằng việc tôn trọng các thiện ích của họ. Không thể bỏ qua các giới răn. Chắc chắn, các mối phúc môt tả những năng hướng căn bản của đời sống Kitô hữu, nhưng chúng không trùng khớp với các giới răn và do đó, không thể thay thế cho các giới răn (x.VS 16 ; chú thích 1).

d. Sự hoàn thiện không đưa ra một chọn lựa cho con người, nhưng là một sự cần thiết của tất cả hữu thể của nó. Được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, con người không thể ngừng khát khao nối kết với Ngài và bắt chước Ngài. Lời kêu gọi là triệt để, nó nói với tất cả mọi người. Vì không ai đã thấy Thiên Chúa (xem Ga 6, 46 ; 1Tm 6, 16) nên chỉ có thể bắt chước Ngài bằng cách bước theo Con của Ngài (làm « như » Ngài), bằng cách không chỉ gắn bó với giáo huấn của Ngài nhưng với chính con người của Ngài, đồng hình đồng dạng với Ngài, trở nên chi thể của Thân Thể Ngài là Giáo Hội (x.VS 19-21).

e. Trường hoàn thiện thật sự chỉ có thể cho người đón nhận ân sủng mà Thiên Chúa ban cho mọi người (x.VS 24). Viễn ảnh của sự hoàn thiện có thể làm cho sợ ; người ta có thể cho nó là khó khăn, là dành riêng cho một vài người ưu đãi, là bất khả, tắt một lời : « sự hoàn thiện không thuộc về thế gian này » như người ta thường nghe nói. Nếu CK truyền cho chúng ta bắt chước Chúa Cha là Đấng hoàn thiện, thì điều đó là có thể thực hiện. Khi đặt chúng ta dưới chế độ của luật mới, Luật của Thánh Thần của Ngài, Ngài thông truyền cho ta sức mạnh thực thi chân lý trong đời sống luân lý của chúng ta, biến đổi cuộc sống của chúng ta, cho dù bị đánh dấu bởi tội lỗi, thành lời ca tụng vinh quang Thiên Chúa.

Người ta thường trách cứ các văn kiện của Huấn Quyền bàn về những vấn đề luân lý là chỉ đề nghị một phương pháp lý trí và chỉ dựa vào luật bản nhiên. Đây không phải là nơi để bàn luận phản đối này. Thông điệp sẽ đề cập thật dài vấn đề luật bản nhiên trong chương tiếp theo, tuy nhiên nó muốn phòng ngừa trước phản đối này. Bài suy niệm TM theo đuổi một mục tiêu kép : một mặt, nó cung cấp sợi chỉ xuyên suốt cho toàn bộ bản văn ; mặt khác, nó chứng tỏ cho thấy sự cắm rễ sâu của giáo huấn của Huấn Quyền trong Kinh Thánh. Mỗi một tiết lớn sẽ được đi truớc bằng một tham chiếu Kinh Thánh.

Sự cảnh báo.

Chương II là chương chuyên môn nhất, nhiều người dường như khó tiếp cận nó. Thế nhưng nó chiếm một vị trí trung tâm trong thông điệp. Nó được định hướng bởi một mối bận tâm kép : dạy những gì phù hợp với học thuyết lành mạnh (Tt 2,1) và không rập mình theo khuôn mẫu thế gian (Rm 12, 2), Giáo Hội đề nghị việc phân định của mình về một số khuynh hướng của thần học luân lý hiện hành. Chắc chắn Huấn Quyền dấn thân bằng tất cả uy quyền của mình.

Công đồng Vatican II đã mời gọi các chuyên gia cố gắng « hoàn thiện thần học luân lý cách chăm chú đặc biệt » (Optatam totius 16), kêu gọi các thần học gia « …tìm kiếm cách thức thích ứng nhất để thông truyền học thuyết cho con người của thời đại mình » (GS 62). Lời kêu gọi này đã được lắng nghe bởi người này hay nguời kia. Không khó để cho thấy rằng, đặc biệt từ 15 năm vừa qua, môn luân lý và thần học luân lý đã được canh tân sâu xa. Thông điệp vui mừng vì điều đó và đã bày tỏ lòng biết ơn đối với những ai đã mang lại « những suy tư thú vị và hữu ích » (x.VS 29).

Trong sự tràn ngập những nghiên cứu, và không thể tránh khỏi, một phần gia sản luân lý mà Giáo Hội tích góp chậm rãi suốt dòng thế kỷ, có nguy cơ bị xao lãng, nếu không nói là bị quên. Huấn Quyền vì thế cảm thấy bó buộc can thiệp bằng việc hoàn thành công trình phân định của mình. Nó trình bày các nguyên tắc cho phép phán đoán những gì trái với học thuyết lành mạnh của Giáo Hội nơi một số lý thuyết mới được dựng nên. Giáo Hội hôm nay muốn ban lại câu trả lời của Thầy (x.VS 30).

Tất cả những vấn đề luân lý nổi lên gần đây nơi các xã hội hiện đại đều xoay quanh khái niệm tự do của con người. Bối cảnh trở nên nghịch lý. Một mặt, một số trào lưu đã đề cao tự do đến nỗi biến nó thành một thứ tuyệt đối, điều dẫn đến đặt lưong tâm cá nhân thành thẩm phán tối cao của các giá trị luân lý (x.VS 32). Mặt khác, cách sử dụng nào đó các khoa học nhân văn đưa đến hình ảnh của con người hoàn toàn bị chi phối bởi văn hóa và thời đại của mình đến nỗi tự do bị chối bỏ trên thực tế (x.VS 33).

Do đó, cần phải xác định những gì người ta hiểu về tự do con người và chứng minh mối liên hệ liên kết nó với chân lý.

Thông điệp xem xét 4 vấn đề chính yếu.

a.Tự do và lề luật.

Mạc khải cho thấy rằng quyền quyết định lành dữ thuộc về chỉ mình TC. Tự do của con người luôn được « đặt vào » mối tương quan với cây hiểu biết của sách Sáng Thế. Nó không rút ra từ chính mình nguồn gốc cũng như cách vận hành của nó.

Thông điệp chú ý đến lý thuyết luân lý đầu tiên, từ khoảng 20 năm nay, đã có sự thành công chắc chắn nơi các nhà thần học, những cũng nơi các triết gia, người Đức và nhất là những người anglo-saxons.

Lý thuyết này đòi hỏi quyền tự trị của lương tâm luân lý. « Một số người đã đi đến chỗ biến nó thành lý thuyết về sự tối thượng của lý trí trong lãnh vực các chuẩn mực luân lý dựa vào hạnh kiểm sống ngay thẳng trong thế giới này : những chuẩn mực này tạo nên lãnh vực của một nền luân lý thuần túy « nhân loại », nghĩa là chúng sẽ là sự diễn đạt một luật mà con người tự quyền ban cho mình và chỉ có nguồn mạch của nó duy chỉ nơi lý trí của con người » (VS 36).

Chắc chắn thông điệp đồng ý rằng có một sự tự trị đúng đắn của hoạt động lý trí. Thiên Chúa đã để con người tự quyết định lấy (Dieu a laissé l’homme à son propre conseil (Hc 15, 14)). Ngài giao phó cho nó làm chủ thế giới. Nhưng trên thực tế, lý trí xác định và áp dụng luật luân lý. Nó múc lấy thẩm quyền của mình nơi chính chân lý của lề luật của Thiên Chúa (nguồn mạch duy nhất của luân lý tính (x.VS 40). Do đó, lương tâm không thể tạo ra những chuẩn mực và những giá trị luân lý mà nó cần đến. Chỉ có quyền tự trị đích thực trong sự mở ra với lề luật luân lý, tức là với tha nhân.

Thế nhưng, không thể nói về luật dị trị (hétéronomie) như thể đòi lương tâm vâng phục một luật bên ngoài nó và cuối cùng tha hóa nó. Lý trí tham dự vào sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa (théonomie participée) bởi sự hiện diện của luật bản nhiên nơi chính nó. Thông điệp trình bày thật dài những gì phải hiểu như là « luật bản nhiên ».

Thông điệp đề nghị một định nghĩa cổ điển (x.VS 43-45) và bác bỏ những cáo buộc « duy vật lý » (physicisme) hay « tự nhiên chủ nghĩa » (naturalisme) chống lại học thuyết Công giáo từ lâu. Cách mới mẻ hơn, nó chú tâm đặc biệt làm rõ vị trí của thân xác và « ngôn ngữ » của nó. Luật bản nhiên cho phép hiểu rằng thân xác không chỉ là chất liệu cần thiết, sự nâng đỡ không thể thiếu của tự do con người : nó là nguồn ý nghĩa cho tự do. Do đó, bằng cách duy trì học thuyết về luật bản nhiên, Giáo Hội bảo vệ sự duy nhất sau xa của nhân vị và giữ gìn nó chống lại mọi sự khai thác thân xác làm tổn thương nó (x.VS 50).

Sau cùng, luật bản nhiên ngụ ý tính phổ quát của nhân loại và của những giới luật luân lý. Trở nên rất nhạy cảm với sự thay đổi của các nền văn hóa và với những thay đổi của lịch sử, con người hiện đại nghi ngờ về tính bất biến của luật bản nhiên. Nó nhận thức rõ sự biến đổi, nhưng nó không nắm bắt đựoc sự trường tồn. Thế nhưng, con người không được định nghĩa chỉ là như một hữu thể văn hóa hay lịch sử. Có tồn tại nơi nó « điều gì đó siêu vượt các nền văn hóa. Cái « điều gì đó » này rõ ràng là bản tính con người : bản tính này là thước đo của nền văn hóa và là điều kiện để con người không là tù nhân của bất kỳ nền văn hóa nào của nó, nhưng để nó khẳng định phẩm giá nhân vị của mình trong một cuộc sống phù hợp với chân lý sâu xa của hữu thể của mình » (x.VS 53).

b. Lương tâm và chân lý.

Thuyết quyền tự trị giao phó cho lương tâm không chỉ khả năng hiểu, giải thích, áp dụng những chuẩn mực luân lý tổng quát, những gì được thừa nhận bởi hết mọi người, nhưng còn phán xét chúng. Lương tâm không còn lãnh nhận nữa những giá trị luân lý, nó tạo ra chúng đến độ một người theo lương tâm có thể tự cho mình sự miên chuẩn một số bó buộc. Chẳng hạn, nó trở nên thịnh hành hợp pháp hóa « những giải pháp « mục vụ » trái với giáo huấn của Huấn Quyền, và biện minh cho một lối giải thích « sáng tạo », theo đó lương tâm luân lý hoàn toàn không bị bó buộc, trong mọi trường hợp, bởi một giới luật cấm đặc thù » (x.VS 56).

Cũng như đã làm đối với luật bản nhiên, thông điệp đề nghị một khảo luận nhỏ về lương tâm luân lý của Kitô giáo.

Lương tâm không khép kín nơi chính mình ; nó không phải là phản ánh của duy chủ quan tính. Nó tự nhiên (naturellement) mở ra với siêu việt. Kinh Thánh mô tả lương tâm như là chứng tá nội tâm của lòng trung tín hay sự bất trung với luật của Thiên Chúa, được ghi khắc trong tâm hồn. Khi con người suy nghĩ cân nhắc trong lương tâm mình, nó không bằng lòng đối thoại với chính mình ; nó không nói một mình ; nó lắng nghe chứng tá của Thiên Chúa. Đang khi luật diễn tả chuẩn mực phổ quát và khách quan của luân lý tính, lương tâm nhân vị đóng vai trò của một chuẩn mực tức thời (x.VS 60). Như là chứng tá về chân lý phổ quát, lương tâm tuyên bố phán đoán nhìn nhận sự ngay thẳng của hành động hay trái lại tố giác sự xấu xa của nó.

Bởi vì nó có thể sai lầm, thực tâm hay ác ý, lương tâm cần được đào tạo và soi sáng liên lỉ. « Thẩm quyền của Giáo Hội về những vấn đề luân lý do đó không làm tổn thương gì tự do lương tâm của các Kitô hữu : một mặt, tự do lương tâm không bao giờ là một tự do thoát « khỏi » chân lý, nhưng nó luôn luôn và chỉ ở « trong » chân lý ; và, mặt khác, Huấn Quyền không cung cấp cho lương tâm kitô hữu những chân lý xa lạ với nó, nhưng trái lại, nó cho thấy những chân lý mà lương tâm kitô hữu hẳn đã có khi biểu lộ chúng từ hành vi đầu tiên của đức tin » (VS 64).

c. Sự chọn lựa căn bản và những ứng xử cụ thể.

Lý thuyết thứ hai được xem xét, cũng rất thịnh hành trong giới đại học anglo-saxons và còn ít được biết đến ở Pháp : lý thuyết chọn lựa căn bản (l’option fondamentale).

Lý thuyết này đề nghị xem xét lại triệt để tương quan giữa người với các hành vi của nó, bằng cách phân biệt hai cấp độ của luân lý tính. Mỗi hữu thể con người được hưởng sự tự do căn bản cho phép nó định hướng theo ý muốn đến sự thiện hay sự dữ. Sự chọn lựa tổng quát này mang danh xưng chọn lựa căn bản. Trái lại, nơi những quyết định đặc thù và những chọn lựa cụ thể của cuộc sống thường ngày, chủ thể sẽ tự quyết định theo như những gì nó thấy « đúng » (juste, right) hay « sai » (faux/wrong). Cấp độ thứ hai này được gọi là tiền luân lý. Chẳng hạn, đối với người Kitô hữu, dù hoàn toàn bảo tồn sự chọn lựa căn bản tốt, như sự trung tín với tiếng gọi của Chúa Kitô và với những đòi hỏi của Bí tích Rửa Tội, thì họ có thể chọn lựa vi phạm những chuẩn mực đặc thù khách quan mà không hề phạm tội. Chọn lựa căn bản tương đối hóa mọi chọn lựa đặc thù. Sẽ không có chuẩn mực luân lý đặc thù tuyệt đối.

Thông điệp không phủ nhận diễn ngữ « chọn lựa căn bản », vì nó có thể giúp ích. Nhưng khi dựa vào Kinh Thánh và sự duy nhất của nhân vị, thông điệp cho thấy rằng các hành vi đặc thù biến đổi sâu xa nhân vị và cũng dấn thân tương lai của nó. VS nhắc lại rằng các giới luật « phủ định » cấm một số hành vi hay những hành xử cụ thể, như là xấu tự nội, không thừa nhận bất kỳ luật trừ hợp pháp nào : « nó không để bất kỳ chỗ nào có thể chấp nhận về mặt luân lý để « tạo ra » một xác định trái ngược nào » (VS 67). Bám vào lý thuyết này sẽ đi đến chỗ thừa nhận rằng có thể trung thành với Thiên Chúa và làm những hành vi cụ thể trái với luật luân lý của Ngài.

Thực ra, con người đánh mất chính mình trong mỗi tội trọng.

d. Hành vi luân lý.

« Mối tương quan giữa tự do con người và Luật Thiên Chúa, thể hiện cách sâu xa và sống động nơi lương tâm luân lý, được biểu lộ và cụ thể hóa nơi các hành vi nhân linh » (VS 71). Những hành vi này dấn thân toàn bộ tự do của con người. Nó rút ra sự tốt lành hay xấu xa của chúng không phải chỉ từ ý hướng của chủ thể, tốt hay xấu, nhưng từ sự phù hợp của chúng hay không luân lý tính khách quan do lề luật đưa ra. Là tốt hành vi tôn trọng và thăng tiến sự thiện của con người. Bởi vì chúng được hướng về Thiên Chúa hay không, các hành vi do đó cho thấy một đặc tính cứu cánh.

Như thế, thông điệp tố giác những chọn giải pháp sai lầm được ca ngợi bởi « thuyết hệ quả » (conséquentialisme : lượng giá chỉ các hậu quả được chờ đợi của hành vi) và « thuyết tương xứng » (proportionnalisme : cân bằng các hệ quả). Nếu các lý thuyết này nhận được nhiều tán thành nơi những người đương thời của chúng ta, đó là bởi vì chúng gần giống với não trạng khoa học và kỹ thuật của các xã hội của chúng ta (x.VS 76). Bất chấp điều đó, học thuyết Kitô giáo không thể chấp nhận chúng bởi vì chúng đi đến chỗ biện minh cho những chọn lựa và những hành xử trái với luật của Thiên Chúa.

Không hợp pháp nếu làm điều dữ để được điều thiện. Có những hành vi xấu tự nội. Đối tượng của chúng không thể phù hợp với Thiên Chúa bởi vì nó trái ngược tận căn với thiện ích của nhân vị, hình ảnh của Thiên Chúa (x.VS 80). Kinh Thánh, Truyền Thống và các văn kiện của Huấn Quyền gần đây nhất cung cấp nhiều ví dụ. Nếu đối tượng là xấu, thì ý định tốt nhất thế giới cũng không đủ để hoán đổi nó thành thiện. Có thể thấy, ý niệm các hành vi xấu tự nội nằm trong sự liên tục hoàn hảo với nhãn quan toàn diện về con người mà VS bảo vệ (VS 83).

Khích lệ.

Cảnh báo thôi thì không đủ. Cần phải « trước tiên làm xuất hiện ánh rạng ngời có sức lôi cuốn của chân lý này là chính Chúa Kitô. Nơi Ngài, Đấng là Chân Lý (x. Ga 14, 6), con người có thể hiểu trọn vẹn và sống hoàn thiện ơn gọi tự do của mình trong sự vâng phục Luật Thiên Chúa, qua những hành vi tốt lành » (VS 83). Nhiệm vụ thật bao la. Nó giả thiết một sự canh tân sâu xa thần học và mục vụ của GH. « Thật… cấp bách rằng các Kitô hữu tái khám phá sự mới mẻ của đức tin của mình và sức mạnh mà nó mang lại cho những phán đoán liên hệ đến nền văn hóa đang thống lãnh và lan tràn» (VS 88).

Chương III của thông điệp trình bày một khí cạnh hỗn hợp. Văn phong của nó yếu hơn văn phong của hai chưong trước. Lược đồ khó xác định.

Thông điệp mời gọi các Kitô hữu trở về nguồn nơi các chứng tá tử vì đạo và nói theo khuôn mẫu của họ (VS 90-93).

Học thuyết luân lý của Kitô giáo là men canh tân luân lý trong tất cả các xã hội. Nó bảo vệ có hiệu quả phẩm giá con người, nó bảo toàn tấm áo xã hội và nghệ thuật sống chung (VS 97). Do đó, thông điệp mời công quyền vất bỏ chủ nghĩa toàn trị độc tài dưới mọi hình thức (VS 99), chiến đấu chống tham nhũng (VS 98), đừng vi phạm nhân quyền căn bản với bất cứ viện cớ nào (VS 97).

Các ý thức hệ đã sụp đổ. Một nguy hiểm mới đang nổi lên : nguy hiểm của liên minh giữa lý tưởng dân chủ và thuyết tương đối luân lý. Không gọi tên đích danh, thông điệp cảnh báo chống lại lý thuyết luân lý đang thịnh hành nơi các xã hội Tây Phương, « luân lý thủ tục » (éthique procédurale). Các chuẩn mực luân lý không thể là kết quả của một quyết đinh đa số, luôn luôn tạm thời, luôn có thể xét lại (x.VS 101 ; 113).

Các cá nhân và xã hội luôn giữ mình khỏi mọi thái độ Pharisiêu. Họ được nhắc nhớ rằng nếu con người là yếu đuối – nhưng sự yếu đuối không phải là một tiêu chuẩn của chân lý luân lý (VS 104) – , luôn hướng chiều về tội lỗi, thì ân sủng của Thiên Chúa, hợp tác với tự do, cứu con người và ban cho nó sức mạnh vâng phục Luật Thiên Chúa. Các giới luật không vượt quá khả năng của con nguời vì con người đựoc tái sinh dưới hoạt động của Chúa Thánh Thần.

Thông điệp đòi hỏi sự phục vụ của các thần học gia luân lý. Giáo Hội cần họ, nhưng các xã hội thời nay cũng cần họ, vì họ chiếm một vị trí chiến lược thật sự giữa lòng văn hóa đương đại.

Cuối cùng, thông điệp nhắc nhở cho các Giám Mục bổn phận mục tử và gìn giữ sự chính thống của họ, nhất là đối với các cơ chế Công giáo (x.VS 114 ; 116).

Sự nghiêm khắc và lòng thương xót.

Lời của Giáo Hội là đòi hỏi. Nhưng Giáo Hội không phải là chủ nhân của chân lý. Giáo Hội nhận chân lý từ Chúa Kitô chịu đóng đinh, Chân Lý tự hiến và trao ban sự sống. Giáo Hội phải dạy chân lý lúc thuận tiện cũng như không thuận tiện. Chắc chắn thông điệp khơi lên những rối ren. Phải chăng Đức Giáo Hoàng hy vọng rằng với việc xuất bản thông điệp thì sẽ đủ làm tiêu tan sự bất đồng hay đối lập của người này hay người kia ?

Thế nhưng đó là một sự phê bình mà thông điệp thấy trước. Nghiêm khắc không có nghĩa là nhiệm nhặt. Vai trò của người mẹ trước tiên không phải là âu yếm nhưng là giáo dục con cái về tự do. Bất chấp những vẻ bề ngoài, luân lý Kitô giáo đơn giản đến kinh ngạc : bước theo Chúa Kitô là đủ, từng bước duới tác động của Chúa Thánh Thần (x.VS 119). Thông điệp hiểu được sự yếu đuối của con nguời. Giáo Hội biết rằng chẳng bao giờ có tội lỗi nào xóa bỏ lòng thương xót của TC : khuyết điểm phải chăng nó không chiếu sáng tình yêu của Thiên Chúa ? Như thế Giáo Hội phó thác đời sống luân lý của mọi người, tín hữu và những ai thiện chí, cho nguời Mẹ tuyệt vời, Đức Maria, « Ngai Tòa của Đấng Khôn Ngoan » và là « Mẹ giàu lòng thương xót ».

 

Lm Phêrô Võ Xuân Tiến chuyển ngữ.

Jean-Paul II, La Splendeur de la Vérité (lettre encyclique Veritatis Splendor 6 août 1993), présentation : Jean-Louis Bruguès, guide de lecture : Georges Cottier – Albert Chapelle, Mame/Plon, 1993.

 

 

 

 

 

 

 

Đức Cha Bruguès là thần học gia luân lý danh tiếng người Pháp. Ngài nguyên là Giám mục của giáo phận Angers. Hiện nay, ngài được Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI bổ nhiệm làm thư ký của Bộ Giáo Dục Công Giáo.

 

 

About these ads
%d bloggers like this: