SỰ HIỆN HỮU CỦA NGƯỜI KITÔ HỮU, MỘT HIỆN HỮU « ĐƯỢC KÊU GỌI » ? (I)

Lm. Laurent VILLEMIN, giáo sư tại Học viện Công giáo Paris

« Dựa vào điều gì mà sự hiện hữu của người kitô hữu có thể được gọi là một hiện hữu « được kêu gọi » ? » Đó là nhan đề nơi bản cuối cùng của chương trình mà quý vị đang có trong tay. Nơi một trong những bản trước đây, quý vị hẳn đã đọc thấy : « Dựa vào điều gì mà đời sống giáo dân có thể được gọi là một hiện hữu « được kêu gọi » ? » Đối với tôi, sự thay đổi nhan đề cho thấy những sự tiến triển và, cách nào đó, sự lờ mờ đã đánh dấu thần học về giáo dân. Tùy theo nền thần học giáo dân mà người ta khai triển, tôi muốn cho thấy rằng, kết quả là sẽ có một lối sử dụng đặc biệt thuật ngữ « ơn gọi ». Tôi xin tiến hành trong ba phần, tương ứng với ba khuôn mẫu thần học của sứ mệnh của giáo dân mà người ta từng khám phá vào thế kỷ XX. Hệ thống kiểu mẫu (typologie) được khai triển bởi các nhà thần học này, nhất là J. Grootaers [1], mượn cấu trúc của nó nơi bài thuyết trình của Đức Hồng y Feltin vào năm 1950 về một nửa thế kỷ sứ vụ tông đồ. Người ta phân biệt ba thời kỳ :

I. Thời kỳ gọi là « những việc làm » (œuvres) ;

II. Thời kỳ thần học giáo dân ;

III. Thời kỳ từ Công đồng Vatican II đến hôm nay.

Đối với mỗi một giai đoạn này, chúng tôi sẽ thử xác định ngắn gọn thần học giáo dân đang nổi bật và tiếp đến việc sử dụng thuật ngữ « ơn gọi » tương ứng với nó. Mọi hệ thống kiểu mẫu chắc chắn đều là giảm trừ, dù nó rất gợi ý !

I. Thời kỳ những việc làm.

A. Thần học giáo dân hiện hành.

Thời kỳ đầu tiên này lên đến thế kỷ XIX. Dù ở trong một nền thần học rất giáo sĩ, nhưng nó đánh dấu một sự thức tỉnh giáo dân không thể chối cãi. Ở đây chỉ cần trích dẫn một vài tên tuổi cũng đủ, như Ozanam, Louis Veuillet, Montalembert, Léon Harmel…Kiểu mẫu hành động của các giáo dân này khá khác nhau nhưng những tên tuổi này không nên che khuất rằng, cách chung chung, thời kỳ này có nền tảng những gì mà người ta gọi là « những việc làm », nghĩa là những thể chế kiểu truyền thống dựa trên nền tảng giáo xứ. Thần học giáo dân thời này cho rằng chính hàng giáo phẩm là người nắm giữ sứ mệnh và giáo dân có thể, trong trường hợp tốt nhất, tham gia, cộng tác vào sứ mệnh này. Giáo dân là thừa tác viên dụng cụ của hàng giáo phẩm. Nền thần học này nhắm bảo vệ Giáo Hội khỏi những nguy hại của thế kỷ và vun trồng một nền văn hóa phản ứng lại văn hóa đang thịnh hành (contre-culture). Thời kỳ này cũng được gọi là thời kỳ « phòng giữ » (préservation) và « bảo tồn » (conservation).

B. Ơn gọi

Hai yếu tố chính yếu cần được nêu lên ở đây.

Trước tiên, trước thời kỳ này, sự hiện hữu của người kitô hữu đã được xem như là được kêu gọi. Quả thật, việc chỉ rõ mọi đời sống kitô hữu như là một sự hiện hữu được kêu gọi, như là một ơn gọi, ít nhất có trước thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Trong bài chú giải Mt 22, thánh Tôma đã bảo vệ luận đề này bằng cách trích dẫn dựa vào thánh Gioan Kim Khẩu : « Hãy đi khắp các nẻo đường…những nẻo đường là tất cả nghề nghiệp của thế gian này, như triết gia, binh lính…Ngài nói « Hãy đi khắp các nẻo đường… » để kêu gọi những người thuộc mọi hoàn cảnh đến với đức tin [2]. »

Và vả lại Y. Congar nhận xét : « Đặc biệt đáng chú ý những tu sĩ rao giảng, thậm chí những nhà tu đức và những nhà thần bí đã trình bày ý tưởng ơn gọi này cho mỗi người, trong hoàn cảnh của nó, và ý tưởng về sự thánh thiện trong bổn phận bậc sống được thực hiện « nhân danh Thiên Chúa », tức là trong sự vâng phục yêu thương thánh ý của Ngài. Đặc biệt, người ta nhận thấy nơi Eckhart và nơi Tauler, cùng chính ý tưởng mà chúng tôi trình bày : Khi hoán cải trở về với Thiên Chúa, con người một lần nữa lãnh nhận từ Người cái thế giới, mà được dâng lại cho Người như là bổn phận và phục vụ. Ở đây Tauler minh nhiên nói về ơn kêu gọi hay ơn gọi (ruof) của Thiên Chúa [3]. Thật đã thích hợp để nhắc lại sự kiện lớn này mà đối chọi với việc dùng thuật ngữ « ơn gọi »  cho giáo dân vào đầu thế kỷ XX.

Vào thời này, thật khó để tìm ra những bản văn liên quan đến vấn đề ơn gọi riêng của giáo dân, hay thậm chí những cách dùng phạm trù ơn gọi cho những người không phải là linh mục hay tu sĩ. Một sự nghiên cứu có hệ thống Documantation catholique từ năm 1919 đến 1929 cho thấy rằng, trong các bảng thống kê, nó luôn luôn hệ tại ơn gọi linh mục và những bản văn bàn về giáo dân không bao giờ nói về ơn gọi.

Trái lại, đây là những gì người ta tìm thấy về sứ mạng của giáo dân trong môt bức thư mùa chay vào năm 1920 của Đức Cha Landrieux, giám mục Dijon : « Các giáo dân có vai trò của họ trong giáo xứ. Càng quan trọng bao nhiêu việc cha sở giữ cương vị của mình, người đứng đầu, vì ngài là mục tử giữa lòng Giáo Hội, là lãnh đạo đại gia đình, thì ngài càng phải khôn ngoan tin tưởng dành cho các tín hữu sứ mệnh của họ bấy nhiêu. Họ phải hợp tác, cộng tác như những thành viên của cộng đoàn. (…) Có lẽ chúng ta nên trách cứ chúng ta cách nào đó về điểm này. Chúng ta đã không luôn luôn biết làm cho họ lưu tâm đến công việc của chúng ta, cũng chẳng làm cho họ hiểu rằng những lợi ích tôn giáo của họ chỉ làm một với những lợi ích của chúng ta. (…) Cha sở cầm lái luôn luôn, và những sự tận tâm phụ giúp cho ngài đều là phụ thuộc, như trong gia đình, về đạo làm con [4]. »

Bằng một cách khác, trong cuộc hội thảo của cha J. Leclercq, có nhan đề « Về vai trò của linh mục và giáo dân nơi những việc làm » [5], người ta nhận thấy đặc tính phụ thuộc của giáo dân nhưng cũng thấy sự hội nhập mặc nhiên của họ trong một nền thần học về ơn kêu gọi : « Là linh mục, đó là một sự nghiệp, thậm chí còn hơn cả một sự nghiệp, đó là một bậc sống ; đối với linh mục, thiên chức linh mục của ngài tương ứng với những gì mà đối với giáo dân là nghề nghiệp và tổ ấm của họ. » Bởi thế, nếu người ta không nhận thấy sự đề cập minh nhiên đến một ơn gọi, thì dường như sự hiện hữu của người giáo dân đã được hiểu như là một sự hiện hữu được kêu gọi.

(còn tiếp)

————————-

[1] J. Grootaers, “Le laïc au sein de l’Eglise communion“, Pro Mundi Vita, 106, 1986/3, p. 9.

[2] Catena Aurea, in Mattheum XXII, 6-9, Marietti, p. 319-320.

[3] Y. Congar, Jalons pour une théologie du laïcat, Paris, Cerf, 1953, p. 600.

[4] DC, 1920/3, 287.

[5] DC, 1926/15, 542.

 

Nguồn : VILLEMIN, Laurent, « L’existence chrétienne, une existence “appelée” ? », trong  Théologie de la vocation, Colloque de l’Institut Catholique de Paris (février 2001), Revue Jeunes et Vocations, 3e trimestre, số 102, tr.51-57. 

Xem phần II ở đây và phần III ở đây.

 

About these ads
%d bloggers like this: