NHỮNG TIÊU CHÍ PHÂN ĐỊNH (I)

Bernard Pitaud, pss*

Dĩ nhiên, tôi hiểu rõ tại sao người ta yêu cầu tôi bàn về vấn đề này. Nhưng trong lãnh vực này cũng như trong biết bao nhiêu lãnh vực khác, kinh nghiệm không luôn luôn mang lại sự chắc chắn mà người ta nghĩ ; trái lại, nó có thể gia tăng sự phức tạp ; dù sao, nó giúp cho nắm bắt tốt hơn tính phức tạp của thực tại.

Ở đây, vấn đề là những tiêu chí khả năng/tư cách (aptitude) cho thừa tác vụ linh mục. vấn đề này trở nên mấu chốt hơn trong những thời kỳ khủng hoảng, thay đổi, khi các thể chế mong manh hơn, khi các quỹ đạo cá nhân trở nên biến chuyển hơn, khó dự kiến hơn. Một trong những đặc điểm của những năm tháng mà chúng ta sống – khi nhấn mạnh nó người ta chỉ lập lại một điều tầm thường – đó là khó khăn dấn thân và đồng thời đứng vững trong những gì mà chúng ta gọi là lòng trung tín. Một kinh nghiệm mới mẻ, một sự thất bại, một vấn đề, có thể đặt lại vấn đề những gì mà dường như đã ổn định vững chắc ; chắc chắn một phần bởi vì cái tình cảm ngày nay có khuynh hướng chiếm một chỗ ưu thế hơn. Như thế, mỗi thế hệ có những sự mong manh của nó. Thế hệ của tôi được gắn chặt vào qũy đạo của nó và gắn kết với những thể chế mà người ta nhận xét rằng nó không nhận thấy kịp thời những thay đổi và nó đã chịu những rạn nứt đau thương. Các thế hệ hiện nay thì nhạy cảm hơn nhiều với những gì thay đổi và có khả năng thích nghi hơn nhiều ; nhưng khi tính nhạy cảm quá mãnh liệt, thì nó cũng có thể mang lại những đoạn tuyệt.

Dĩ nhiên, những gì tôi nói đó là có tính biếm họa. Nếu tôi muốn làm cho tinh tế hơn những gì thậm chí không phải là phần đầu của một bài phân tích, thì đúng hơn tôi sẽ nói rằng thế hệ của tôi đã không biết rõ rằng nó đã là mong manh, vậy mà nó là như thế, đang khi mà những thế hệ hiện nay có thể biết rằng chúng mong manh, và đó là một cơ hội ; chúng có thể biết rằng chúng mong manh nhưng không vì thế mà mất phẩm giá, vì ý thức về tính mong manh, về tính tổn thương, đã trở nên một giá trị, trong chừng mực mà nó không làm tê liệt, nhưng là xây dựng nền tảng cho một óc hiện thực mà cho phép hành động bằng cách chấp nhận những giới hạn của nó, (và) cũng mang lại một ý nghĩa lớn lao hơn về sự thương lượng và cũng cho phép một cuộc sống huynh đệ đích thực nơi mà các khuôn mặt trở nên ít mờ đục hơn.

Nhìn nhận những sự mong manh và tin tưởng.

Tôi nói rõ : những thế hệ hiện nay biết rằng chúng mong manh. Vì hiển nhiên, mỗi người sẽ theo cách thức mà mình thực hành công việc này trên bản thân, mà hệ tại việc nhận ra và chấp chận những mong manh của riêng mình. Khoảng cách đối với chính mình này là thiết yếu. Chính trong không gian được tạo ra bởi khoảng cách này  mà có thể được thực hiện những quyết định đích thực, đích thực là bởi vì khiêm tốn, điều không ngăn cản chúng nên sâu sắc ; thậm chí chính sự khiêm tốn của chúng mà cho phép chúng nên sâu sắc ; vì người nào đã ý thức về sự mong manh của mình và chấp nhận nó thì biết rằng mình phải và mình có thể dựa vào một người khác. Người ấy giống như Giacóp bị què chân đã cầu xin sự chúc lành của Thiên Chúa và bây giờ có thể bước đi nương tượng vào Người. Lòng trung tín sẽ không còn là hoa trái của sức mạnh mà người ta chỉ tìm thấy nơi chính mình từ những khả năng nhân loại của mình, nhưng nó sẽ là tiếng vọng của một cuộc đối thoại với Đấng mà người ấy đã hiến dâng cuộc sống của mình và là Đấng đang tuyên bố : ngươi có thể tiến tới, vì Ta ở với ngươi.

Dĩ nhiên, người ta hiểu ngay rằng một thái độ khác được liên kết với thái độ mà tôi vừa mô tả : sự tin tưởng. Không thể tiến tới, không thể mạo hiểm cuộc sống mình nếu người ta không tin vào một người khác. Cho dầu sự dấn thân cam kết như thế nào, người ta vẫn không bao giờ (bước đi) một mình, (vì) luôn có một sự hỗ tương. Lòng trung tín của Thiên Chúa mà không thiếu cho chúng ta là nền tảng của sự trung tín của chúng ta, nó hàm ý lòng trung tín này ; chúng ta có thể tin vào khả năng tự canh tân của chúng ta trong tình yêu, bởi vì tình yêu của Thiên Chúa không ngừng đổi mới chúng ta. Vả lại, vấn đề không hệ tại ở một thứ tin tưởng ngây thơ : nếu tôi thiếu, thì Thiên Chúa sẽ lấp đầy, điều có thể biện minh tất cả những sự thiếu khôn ngoan hay những nguy cơ phi lý ; lòng tin tưởng không miễn chuẩn cho sự khai thác hợp lý những gì là khả thể ; nhưng nó biết rằng chính cái khả thể này luôn luôn được trải qua bởi tính mong manh và nó chỉ có thể tự thể hiện trong sự tiếp nhận của một sự hiện diện, của một tha thể tính (altérité), mà xây dựng nền tảng cho nó như là khả thể. Theo nghĩa này, Thiên Chúa không đến lấp đầy những chỗ thiếu hụt nơi con người của chúng ta, và chúng ta không cần phải quay lại chống Người trong sự thất vọng về những thất bại của chúng ta ; Người đến nói với chúng ta : hãy chọn những gì là có thể, tức là những gì tương ứng với những khả năng của ngươi, với những gì mà ngươi đã được tạo thành ; và hãy biết rằng trong cái khả thể này Ta sẽ không quên ngươi, cho dầu  xảy ra là ngươi không thành công như ngươi muốn.

Sự tin tưởng đối với Thiên Chúa luôn được trung gian bởi những sự tin tưởng đối với những con người. Những chọn lựa mà chúng ta xác quyết, những quyết định mà chúng ta đảm nhận, là hoa trái của những cuộc đối thoại với những người mà chúng ta lượng giá điều gì tốt và đích thực cho chúng ta. Trong trường hợp thừa tác vụ linh mục, trong trường hợp của đời sống tu trì, có những người đã lãnh nhận sứ mệnh vì điều đó và với họ mà cuộc đối thoại sẽ xác định hơn. Ở đây, sự tin tưởng là thiết yếu, vì nó có nghĩa rằng dự phóng mà chúng ta muốn vận dụng nơi chúng ta không thuộc về chúng ta ; nó là của chúng ta, thế nhưng chúng ta không phải là những sở hữu chủ của nó, nó được ghi khắc trong kế đồ của Thiên Chúa, muốn thực hiện dự phóng này mà không quan tâm đến những gì được nói với chúng ta sẽ là mâu thuẫn với bản chất của chính dự phóng : sự phục vụ Nước Thiên Chúa.

Để giới hạn, những gì tôi vừa nói hẳn sẽ có thể đủ. Chúng tôi xin lưu ý đến hai tiêu chí này : tiêu chí về sự nhìn nhận và chấp nhận những mong manh với hệ quả của nó, việc làm nổi bật cái khả thể mà thực ra không gì khác hơn là vị thế của những khả năng ; và tiêu chí về sự tin tưởng mà đưa chúng ta đến sự kiện rằng những khả năng chỉ trở nên những khả năng cho việc phục vụ Nước Thiên Chúa nếu người ta chấp nhận tự bỏ đi quyền sở hữu chúng. Hai điểm này chẳng phải là lối diễn tả về một sự tự do thiêng liêng đích thực mà có lẽ là tiêu chí chủ yếu của một ơn gọi, với điều kiện là kết hợp nó lại dưới những cách thức khác nhau ?

(còn nữa)

————————————–

(*) Cha Bernard Pitaud là linh mục Xuân Bích. Vào thời điểm 2001, ngài làm giám đốc Viện Đào Tạo các Nhà giáo dục hàng Giáo sĩ. Hiện nay, ngài là Bề trên giám tỉnh Xuân Bích tỉnh Pháp (chú thích của người dịch).

Nguồn : PITAUD, Bernard, « Des critères de discernement », trong  Théologie de la vocation, Colloque de l’Institut Catholique de Paris (février 2001), Revue Jeunes et Vocations, 3e trimestre, số 102, tr 99-106.

Xem tiếp phần II.

 

About these ads
%d bloggers like this: