CHA OLIER VÀ CÔNG CUỘC CANH TÂN GIÁO XỨ

CHA OLIER VÀ CÔNG CUỘC CANH TÂN GIÁO XỨ

 cha-olier

Đề tài trên gợi cho chúng ta một số câu hỏi :

- Cha Olier đã làm gì trong việc canh tân giáo xứ  đáng để chúng ta học hỏi ?

- Ngài sống cách chúng ta 4 thế kỷ, lại là người Pháp, vậy những gì Ngài làm lúc đó có còn hợp thời không, có thích hợp với não trạng người Việt nam ta không  ?

Chúng ta có thể lý giải như sau :

- Lịch sử là bài học luôn tái diễn : “Nihil novi sub sole”. Người xưa thường nói : “Ôn cố tri tân”. Bài học của ngày xưa vẫn có những khía cạnh thích hợp với bất cứ thời đại nào, kể cả hiện nay, trong mọi lãnh vực.

- Nhu cầu đổi mới canh tân luôn bức bách, nhất là thời đại kỹ thuật số hiện nay, việc “update” luôn là việc phải có, nếu không muốn tụt hậu. Giáo Hội thường bị lên án là “chậm tiến”, “cổ hũ”, “lỗi thời”. Tâm hồn mục tử đòi các linh mục phải luôn có thái độ xem – xét – làm, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, nhằm đem lại sự hữu hiệu nhất trong công tác mục vụ giáo xứ của chúng ta. Chúng ta có thể xuyên qua những việc cha Olier đã làm, để nhận ra những động cơ thúc bách ngài từ tâm hồn đến cuộc sống, khiến ngài tìm ra những phương thế để canh tân mục vụ, để rồi chính chúng ta cũng sẽ tìm ra những cách thế cho việc mục vụ của thời đại chúng ta. 

Bài này được chia làm ba phần, trước hết, lui dòng lịch sử về thời cha Olier, xem ngài đã canh tân giáo xứ Xuân Bích như thế nào, xét những động lực nào đã thúc đẩy ngài ; và chúng ta có thể làm gì trong việc mục vụ giáo xứ mà mỗi người đang đảm nhận.

I

XEM

Cha Olier canh tân giáo xứ Xuân Bích

Giáo xứ Xuân Bích vào thời cha Olier rất rộng (nay chia thành 7 giáo xứ), nằm kế cận đan viện Saint Germain ở quận VI Paris,  là nơi tập họp những nhóm dân chúng rất phức tạp và hỗn loạn : phóng đãng, rối đạo, vô thần, dị đoan… Trong tập Hồi Ký, cha Olier đã vẽ một bức tranh đen tối về giáo xứ này. Theo ngài, nó không những là nơi đồi tệ nhất của Paris, mà còn của cả nước Pháp ! Ngài viết cho một Giám Mục : “Trình bày với Đức Cha về vùng ngoại ô của đan viện Saint Germain là, bỗng nhiên, trình bày với Đức Cha về tất cả những quái vật của trụy lạc phải hủy diệt một lúc”.

Cha sở giáo xứ Xuân Bích bấy giờ là Julien de Fiesque mỏi mệt và thất vọng về giáo xứ này, đã đề nghị  cha Olier thay thế ngài. Sau khi tham khảo ý kiến các bậc đạo đức, cha nhận lời. Nhiều người tưởng rằng, khi nhận làm cha sở như vậy, cha Olier sẽ không thể tiếp tục những dự tính lập chủng viện, đào tạo linh mục, vốn là việc cha đang theo đuổi… Nhưng cha lại nghĩ khác hẳn. Khi nhận xứ, ngài nói : « Nhà xứ Xuân Bích tôi sắp đến, nói lên rõ ràng ơn gọi của tôi và cách thế Chúa muốn tôi phục vụ Người trong hàng giáo sĩ… Ngay khi người ta đề nghị tôi về giáo xứ này, một giáo xứ lộn xộn nhất của Paris, Thiên Chúa đã tỏ cho tôi biết rằng giáo xứ này sẽ được canh tân, do lòng nhân ái của Người và do nhiệt tình tông đồ của các anh em linh mục cộng tác viên, đến nỗi tất cả các giáo xứ trong thủ đô sẽ được canh tân theo gương mẫu giáo xứ chúng ta, và giáo xứ chúng ta sẽ là mẫu mực không những ở Paris, mà còn trong cả nước Pháp. Chúc tụng Thiên Chúa đã ban cho chúng ta được dẫn đầu công việc lớn lao như thế, xin Người ban cho chúng ta ơn tương xứng và ơn trung thành với những dự định của lòng nhân ái Người».

Nếu không biết rõ cha Olier, khi nghe những lời này, người ta có thể cho ngài là ngông cuồng, kiêu căng. Thật ra chỉ là do lòng nhiệt huyết tông đồ cháy bừng của ngài thôi. Lửa nhiệt huyết ấy, ngài đã thắp lên nơi giáo xứ Xuân Bích, biến đổi nó từ một giáo xứ sa đọa nhất Paris trở thành một giáo xứ sống động, đời sống đạo đức vươn cao và lan rộng.

 

nha-tho-st-sulpice-xua

Trong khoảng thời gian 10 năm làm cha sở giáo xứ Xuân Bích (1642-1652), cha Olier đã thực hiện những sáng kiến mục vụ như sau :

Chia khu vực mục vụ                                                                                       

Giáo Xứ Xuân Bích thời ấy rộng mênh mông, dân chúng đông đúc và hỗn tạp. Cha chia Giáo Xứ thành 8 khu, mỗi khu là một cộng đoàn nhỏ, các linh mục phối hợp chặt chẽ với nhau, cùng quan sát, tìm hiểu về tình trạng cụ thể của mỗi người, mỗi gia đình, mỗi nhóm, và đề ra những cách thế cụ thể, tốt đẹp nhất, để canh tân đời sống của mỗi người, mỗi gia đình, hầu dẫn dắt họ vào con đường thánh thiện của người kitô hữu.

Dạy giáo lý  Tin Mừng 

Thấy rằng rất đông dân chúng thiếu hiểu biết về giáo lý, cha Olier đã lo sao để mỗi người, mỗi gia đình có thể được học giáo lý Tin Mừng của Chúa Kitô. Cha chia giáo xứ thành 12 vùng giáo lý, giao cho một nhóm 3, 4 linh mục phụ trách : không những các ngài chỉ truyền bá giáo lý, mà còn đi từng gia đình, tìm những người thất học, sợ học, để khuyên nhủ, thuyết phục họ đến vui hưởng giáo lý. Cha Olier khuyên các cha đón tiếp người ta với lòng nhân từ hiền dịu của một người mẹ tốt lành, theo gương Chúa Giêsu, lấy đời sống của mình làm gương mẫu. Ngài còn liên hệ với các trường học trong địa hạt của giáo xứ, sắp xếp cho các cha đến dạy giáo lý cho các em theo lớp.    

Tài liệu Giáo Lý

Tài liệu hoặc vừa quá thiếu thốn, vừa quá cổ hủ. Cha Olier khuyến khích các linh mục soạn những tài liệu thích hợp với mỗi trình độ, mỗi hoàn cảnh. Các ngài bắt tay thực hiện, trước hết, bằng hệ thống tờ bướm, với những hình vẽ linh hoạt…

Cha Olier cũng đích thân soạn mấy cuốn quan trọng này : “Giáo Lý cho trẻ em của xứ Xuân Bích”, “Giáo lý kitô giáo cho đời sống nội tâm”, “Ngày sống kitô hữu”…

Quan tâm giới trẻ

Ngài nhấn mạnh với các cha phải để ý đến giới trẻ để giáo dục các em. Ngài viết : “Tôi đã bắt đầu hiể̀u rằng Thánh ý của Chúa chúng ta muốn canh tân Giáo Hội của Người, và muốn chúng ta chăm sóc cách đặc biệt giới trẻ, để giúp chúng biết các nguyên tắc căn bản của Kitô giáo, bằng cách cho các chủng sinh đi dạy dỗ chúng”. Ở đây, ta thấy tư tưởng của cha Olier thật tân tiến : Nhận biết giới trẻ là tương lai của xã hội và Giáo Hội, nhận biết rằng giới trẻ (các chủng sinh) có thể thu hút và giúp đỡ giới trẻ (thanh thiếu niên) cách hữu hiệu hơn.

Quan tâm người nghèo

Đầy tinh thần Phúc Âm, cha Olier còn để ý đặc biệt đến những người bần cùng, người giúp việc, người “thiếu mọi điều kiện”…, và ngài tổ chức cho họ các khóa giáo lý đặc biệt, nhằm giúp họ hiểu biết những điều căn bản về Tin Mừng, để biết sống kết hợp sâu xa với Chúa.

Cải tổ phụng vụ và phụng tự

Khi cha Olier đến nhận xứ Xuân Bích, thì tình trạng phụng tự và phụng vụ tại đây rất lôi thôi : nhà thờ nhơ nhớp, ảnh tượng sứt mẻ, đồ lễ nhếch nhác, giáo dân tham dự thưa thớt, thiếu bầu khí cộng đoàn, đạo đức, sốt mến. Tất cả cần phải được canh tân. Và cha Olier đã bắt tay ngay vào việc : cho quét dọn, tu sửa lại nhà thờ, ảnh tượng, nhà mặc áo, bàn thờ, thay mới áo lễ, chén lễ, và các phụ tùng ; nhất là cha chú tâm tổ chức lễ nghi cho trang nghiêm, các cuộc kiệu trọng thể và sốt sắng ; một cách rất đặc biệt, ngài đã lo liệu cho việc giảng dạy được đúng đắn, sâu xa, đạo đức, giúp dân Chúa thấu hiểu rõ rệt chiều sâu của Kinh Thánh và của các Giáo Phụ. Sử liệu ghi lại rằng lòng đạo đức sốt sắng của các linh mục và của giáo xứ Xuân Bích lan ra khắp nơi, tới các vùng ngoại ô, thúc đẩy sự thánh thiện của mọi người.

Tôn thờ Thánh Thể và tôn kính Đức Mẹ

Nhưng phương thế chính yếu cha Olier đã dùng để canh tân giáo xứ Xuân Bích và thông truyền lòng đạo đức cho giáo dân, chính là sự tôn thờ nhiệm tích Thánh Thể cực thánh và lòng tôn kính Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa.

Trước hết, cha Olier đau lòng, thấy người ta thờ ơ với thánh lễ, rước lễ, ngài khám phá ra do người ta thiếu lòng tin vào sự hiện diện đích thật của Chúa Kitô trong nhiệm tích này. Cho nên, khi dạy giáo lý, ngài cố gắng cắt nghĩa cho mạch lạc ; khi giảng thuyết, ngài hăng say khích lệ. Ngài yêu cầu các linh mục đem hết lòng nhiệt thành chuẩn bị cho trẻ rước lễ lần đầu. Ngài lập phong trào tôn sùng Thánh Thể. Ngài tổ chức cho cộng đoàn linh mục giáo xứ những giờ chầu chung. Mọi người mặc phẩm phục trọng thể, cùng quỳ gối thờ lạy lâu giờ trước Thánh Thể, cầu nguyện cho giáo xứ trở lại. Phong trào thờ lạy Thánh Thể ngày càng bành trướng mạnh mẽ. Nhiều người quyền quý sang giàu cũng đến chầu với dân chúng nghèo khó. 

Song song với việc tôn thờ Thánh Thể, và để dẫn đến việc thờ lạy Thánh Thể, cha Olier đã cổ võ việc cầu nguyện và tôn kính Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa. Những lý do chính ngài nêu ra là vì Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu, cũng là Mẹ mỗi kitô hữu, Mẹ yêu thương mỗi người như  yêu mến Chúa Giêsu, Mẹ hằng muốn dẫn dắt chúng ta đến với Chúa Giêsu, để tôn nhận Ngài là Chúa chúng ta.

Hội bác ái nâng đỡ người nghèo khó

Cha Olier xác tín sâu xa rằng chỉ có một Chúa Kitô duy nhất hiện diện trong Thánh Thể và nơi mỗi người, đặc biệt nơi người nghèo khó. Vì thế sau khi nhận xứ, cùng lúc lo canh tân phụng vụ, nhất là việc cử hành thánh lễ và tôn thờ Thánh Thể, cha còn để ý lo cho những người nghèo. Cùng vài linh mục, cha Olier ngày ngày rảo qua từng nhà từng xóm, tìm những người nghèo khổ đói rách nhất để giúp đỡ họ. Cha còn tế nhị để ý đến những “người nghèo hổ ngươi”, là những người vì địa vị, không dám ăn mày công khai, để kín đáo giúp đỡ họ. Thời đó, không những có nhiều người thiếu ăn thiếu mặc, mà còn không có chỗ trú thân nữa ! Trên lãnh thổ giáo xứ, mỗi ngày có cả ngàn người đến xin cơm ăn nơi cha Olier. Nguyên con số những người hành khất cũng đã tám chín trăm người !

Trước đó, cha Vinhsơn Phaolô đã lập một hội từ thiện ở giáo xứ Xuân Bích, nhưng hội đã tan rã từ lâu ! Cha Olier bắt tay gầy dựng lại : Ngài tụ tập các bà đạo đức tốt lành, giảng dạy cho họ về tầm quan trọng của đức bác ái kitô giáo. Không có bác ái, người kitô hữu chỉ là bèo bọt, giống như tiếng vang không hồn của thanh la, chũm chọe. Nhiều bà đạo đức đã gia nhập hội và hăng hái phục vụ với ngài. Khi thấy số người nghèo khó quá đông, các bà lo sợ, nản chí. Nhưng cha Olier vẫn tin tưởng, bình tĩnh khích lệ các bà : “Đối với những ai tin tưởng nơi Thiên Chúa, quỹ của Người không bao giờ thiếu hụt !” Ngài không ngại mưa gió, tuyết lạnh đến gõ cửa triều đình cũng như những nơi quyền quý, nhân danh tình yêu Chúa Kitô đối với người nghèo khó để xin giúp đỡ. Nhiều người hỏi ngài tại sao làm được những việc khó khăn như thế, ngài chỉ bình thản trả lời : “Tôi cũng chẳng biết ! Tôi chỉ tin rằng đức bác ái ban cho chúng ta rất nhiều sức mạnh”, và ngài đã luôn luôn thành công.

Do chiến tranh giữa các lãnh chúa, số người nghèo lại càng tăng thêm. Một hôm, trong lúc đi thăm viếng các bệnh nhân bần cùng, tình cờ cha Olier gặp một thiếu nữ ăn xin khổ cực từ vùng quê tới. Cô trốn lên Paris, mong tránh khỏi tay bọn lính tráng tàn bạo. Xúc động vì tình trạng quá cực khổ của cô, hiểu những tệ đoan nặng nề của xã hội, được Chúa soi sáng, ngài đã quyết định lập một nhà trú ẩn cho những thiếu nữ gặp nguy khốn. Thấy dự tính lớn lao và tốn kém, khó có thể thành công được, nhiều người can ngăn ngài. Nhưng, vẫn bình thản và dịu hiền, ngài trả lời : “Ngân quỹ của Chúa Giêsu Kitô không thể thiếu hụt cho những ai tin tưởng nơi Người ! Chúng ta cứ bắt đầu, rồi Chúa sẽ giúp chúng ta !” Thế là cơ sở được thành hình. Nhà trú ẩn của cha Olier đã giúp hơn hai trăm thiếu nữ bần cùng bất hạnh có nơi nương náu.

Chấn chỉnh phong hóa

Khi cha Olier chưa nhận giáo xứ Xuân Bích, tại đây đã lan tràn nhiều tệ đoan xã hội : trộm cắp, đĩ điếm, cờ bạc, rượu chè, mê tín dị đoan, pháp thuật, tà thuyết, lạc đạo, cộng thêm tục đấu kiếm tay đôi (duel) gây hận thù, khiến nhiều gia đình tan nát. Cha Olier bắt tay vào việc chấn chỉnh phong hóa. Cha dùng tòa giảng để kêu gọi mọi người bỏ những tệ đoan xã hội, ngài tìm gặp, đối thoại, và khuyên nhủ người ta. Cha không ngại tiếp xúc với các cô gái điếm để kêu gọi họ hoàn lương, cũng như vận động với chính quyền để ngăn chặn tệ nạn xã hội này.

II

XÉT

Động cơ hướng dẫn cha Olier trong việc mục vụ

Điểm qua những việc cha Olier đã làm, thật sự chẳng có mấy việc là to tát, đó là những việc mà các linh mục chúng ta hiện nay đang làm, có khi còn làm nhiều hơn chăng ! Nhưng vào thời đại của ngài thì đó là những nỗ lực đáng kể, vì hồi đó, các linh mục không sống gương mẫu lắm đâu, bết bát là đàng khác : trí thức kém cỏi, luân lý thấp kém, mục vụ xoàng xĩnh, kiếm tìm bổng lộc để hưởng thụ. Chúng ta không dừng lại ở những việc bên ngoài cha Olier đã làm, mà phải xét những động lực sâu xa bên trong đã thúc đẩy cha canh tân giáo xứ. Thiết tưởng đó là điều giúp ích cho ta khi nhìn vào cha Olier.

Thật ra, lúc đầu cha cũng chỉ là một linh mục tầm thường, nhưng nhờ ơn Chúa và nỗ lực cá nhân, cha đã hoán cải thành một linh mục thánh thiện , gương mẫu, nhiệt thành với sứ mạng mục tử, đồng thời là một nhà đào tạo linh mục.                                  

Nhu cầu bức bách canh tân hàng giáo sĩ

Cha Olier thâm tín rằng muốn canh tân Giáo Hội, thì phải canh tân hàng giáo sĩ trước ; muốn Giáo Hội thánh thiện thì phải có các linh mục thánh thiện. Điều ấy thúc bách cha đêm ngày. Linh mục là cái đầu máy, có mạnh thì mới kéo nổi cả đoàn tàu. Người ta thường nói : “Hễ linh mục thánh thiện thì giáo dân đạo đức ; linh mục đạo đức thì giáo dân tốt ; linh mục tốt thì giáo dân thường ; linh mục thường thì giáo dân xấu ; than ôi, nếu linh mục xấu thì giáo dân sẽ như thế nào?” 

Trong tập Hồi ký, cha ghi nhận : “Nhiều người chúng tôi qui tụ nhau lại từ ít năm nay, sau khi đã hoạt động tại các địa điểm truyền giáo và giáo xứ, nhận thấy rằng người ta làm việc uổng công, nếu trước tiên không thanh tẩy nguồn thánh hóa họ là các linh mục” (Ms. 14, 71).

Cha còn thêm : “Bây giờ, chúng ta sắp đến xứ Xuân Bích, Thiên Chúa đã cho tôi biết rằng ơn gọi của tôi là làm sống động lại lòng đạo đức kitô giáo, với ba phương tiện sau đây : thứ nhất là dạy dỗ và thánh hoá dân chúng, thứ hai là thánh hoá các linh mục, và thứ ba là đào tạo hàng giáo sĩ trẻ”.  

Vì thế, cha đã bắt đầu việc canh tân giáo xứ bằng cách canh tân đời sống các linh mục cộng tác viên, tổ chức cho họ đời sống cộng đoàn huynh đệ, để đời sống này phản ánh qua thừa tác vụ của họ.

Gương sáng đời sống cộng đoàn

Vì giáo xứ rộng mênh mông, giáo dân vừa đông vừa hỗn tạp với nhiều thói hư tật xấu từ lâu đời, nên cha Olier thấy cần phải có nhiều linh mục cộng tác viên. Ngài lên tiếng kêu gọi các bạn hữu và linh mục thiện chí xa gần. Ngài bắt đầu với một cộng đoàn nhỏ là 8 anh em linh mục. Thế rồi, mấy tháng sau, cộng đoàn linh mục của ngài lên tới 18, 30, rồi 50 anh em !

Ngài xác tín mạnh mẽ rằng, không phải bằng lời nói, nhưng bằng gương sáng mà các linh mục làm cho người ta nhận biết Chúa và sửa đổi đời sống. Ngài viết : “Chúa đã tỏ cho tôi biết rằng chúng ta điều khiển, không phải bằng ra lệnh, nhưng bằng gương sáng”. Một việc điển hình, đó là hàng ngày, các linh mục của cộng đoàn cha Olier, trong trang phục trọng thể, quì gối thờ lạy Thánh Thể Chúa với giáo dân, khiến cho lòng sốt sắng của họ dâng cao.

Một gương sáng khác là tình huynh đệ linh mục. Cha Olier thường nói với các linh mục về sự tốt đẹp, ích lợi của đời sống cộng đoàn như : tình tương thân tương ái, sự hiệp nhất trong kinh nguyện, trong mục vụ, trong việc tông đồ. Mỗi tuần, anh em họp nhau để chia sẻ mọi sự, và cùng tìm cách giúp bổn đạo nên thánh cách hữu hiệu hơn. Chính đời sống hiệp nhất, huynh đệ, cộng đoàn đó đã là động cơ thúc đẩy mọi người cùng nỗ lực canh tân giáo xứ.

Lòng gắn bó giáo xứ

Trong thư gửi cho một người con thiêng liêng, cha Olier đã viết : “Để tìm sự sáng danh cho Thiên Chúa, chúng tôi đã kết hôn với nhà thờ Saint-Sulpice, mà chúng tôi rất khiêm nhường xin con vui lòng giúp chúng tôi bằng những lời cầu nguyện của con”. Vậy đó, cha Olier không ngần ngại ví sự giao kết của ngài với giáo xứ Xuân Bích như một cuộc hôn nhân. Tâm hồn mục tử của ngài tỏ lộ trong sự trao hiến mà ngài thể hiện nơi bản thân, với một tình yêu trọn vẹn, nói được là ban mình để cho người ta ăn như chính Đức Kitô Chúa chiên lành đã ban mình làm của ăn. Ngài viết : “Tôi cảm thấy là tôi không có gì mà không thuộc về Giáo Hội như là của có thể hữu ích để nuôi những người nghèo trong xứ. Nếu tôi không được phúc đổ máu mình ra vì nó, thì ít ra tôi sẽ là một bánh thánh sống động dùng để nuôi nó” (B.Pitaud, Tiểu sử cha J.J.Olier, tr.85). 

Không lạ gì một tâm hồn gắn bó với giáo dân như thế, ắt sẽ nhận ra những gì cần phải làm cho họ để họ “được sống dồi dào” ; cũng như một người đang yêu sẽ nhận ra những gì làm ích cho người yêu, để không từ nan gì, kể cả “tiêu hao mạng sống”.

Tấm lòng gắn bó với giáo dân mời gọi cha Olier và các linh mục cống hiến tất cả thời giờ và sức lực, tâm hồn và thể xác, vào điều mà cha gọi là “sự ân cần mục vụ”. Các tín hữu trở thành chủ nhân của thời giờ, của cải và toàn thể con người linh mục. Ngài dứt khoát coi mình là đầy tớ của họ, và tự tuyên bố có bổn phận phải vâng lời họ, nghĩa là phải thoả mãn mọi nhu cầu thiêng liêng của họ. (B.Pitaud, sđd, tr.92).

 Lòng tôn trọng giáo dân

Cha Olier xác tín việc mục vụ chỉ hữu hiệu khi xuất phát từ lòng tôn trọng giáo dân, theo hình ảnh trong Tin Mừng : mục tử tìm được chiên lạc thì vác lên vai đưa về ràn ; theo gương Chúa Kitô tôn trọng mọi người, dù là đứa con nít hay người tội lỗi. Trong việc mục vụ của mình, cha Olier luôn tôn trọng người tín hữu, đối xử với họ như anh em, con cái. Người nghèo không mặc cảm khi xin ăn nơi cha ; hối nhân không sợ hãi khi thú tội với cha. Có một cô gái điếm lúc đầu đã tỏ ra cáu kỉnh với cha, nhưng rồi đã đổi thái độ. Ta biết được điều đó nhờ một đoạn văn rất đẹp trong Hồi ký của cha kể về cuộc gặp gỡ này, như thể tái diễn cuộc đối thoại giữa Chúa Kitô và người phụ nữ xứ Samaria : “Đúng là một chân dung đích thực của người phụ nữ xứ Samaria đã bị khuất phục bởi một ít lời mà Chúa chúng ta đã khấng nói ra qua miệng tôi, chị đã thấy mình hoàn toàn yên hàn khỏi sự cáu kỉnh lúc ban đầu”. Với sự đơn giản thường ngày, cha Olier không ngần ngại so sánh mình với Chúa Kitô : “Để nên giống Ngài hơn, tôi đi nói chuyện với người con gái đó ; mệt vì đoạn đường tôi đã đi và cũng vì rất cần ăn và uống điều mà tôi đã không đói cho bằng đói linh hồn chị ta”.  (B.Pitaud, sđd tr. 98).

Sự tiếp xúc với giáo dân cũng là một động cơ đưa đến những sáng kiến tông đồ mục vụ. Ngài không chỉ bằng lòng với việc điều hành giáo xứ mình từ ngôi nhà xứ thôi, nhưng còn tiêu hao chính bản thân, và không ngần ngại đi tới cả những khu vực nghèo khốn nhất để gặp gỡ người dân, lắng nghe họ. Sự hiện diện tông đồ bên cạnh giáo dân mà ngài đòi hỏi các linh mục của mình, chính ngài cũng sống nữa. Ngài không chờ người ta đến tại nhà thờ, mà đi thăm họ tại nhà riêng. Ngài mạnh dạn gặp gỡ và đối thoại với những anh em Tin Lành, tuy không được nhiều kết quả.

Tâm hồn mục tử của cha Olier còn được một động cơ nữa thúc đẩy, đó là lòng từ hậu sâu sắc đến độ mang lấy nỗi khốn khổ của kẻ tội lỗi vào chính bản thân mình. Cha viết : “Nếu các linh mục tiếp xúc với tội nhân và luận giải với họ, các ngài phải coi mình như là mang lấy tội lỗi của họ trước mặt Thiên Chúa, phải tự thấy mình buộc phải đền tội cho họ, như là của lễ đền tội thiên hạ, xét vì là chi thể của Chúa chúng ta là Giêsu Kitô, và cùng làm nên một linh mục với Ngài, Đấng đã mang lấy tội lỗi của tất cả trần gian. Như vậy, linh mục với lòng khiêm nhường thẳm sâu phải tiếp xúc với tội nhân với sự dịu dàng lớn lao trong khi mời gọi họ ăn năn thống hối tội lỗi của họ, uốn lòng Thiên Chúa về phía họ, rồi cùng kêu cầu và mời gọi Ngài tỏ lòng cảm thương và nhân từ trên họ cả hai” (B.Pitaud, sđd, tr. 104).

Lòng nhiệt thành tông đồ

 

toa-giai-toi

Cha Olier đã đề ra hai châm ngôn sống rất được nhắc đến. Đó là : “SỐNG HẾT MÌNH CHO THIÊN CHÚA TRONG ĐỨC GIÊSU KITÔ” và “BUÔNG MÌNH CHO CHÚA THÁNH THẦN”. Chúng là kết tinh của những suy tư, thao thức và kinh nghiệm cha đã trải qua trong đời linh mục, là động cơ cho mọi hoạt động mục vụ của cha. 

Đọc tiểu sử, ta thấy cha đã cố gắng sống hết mình cho Thiên Chúa trong mọi công việc, từ việc mục vụ tại giáo xứ Xuân Bích đến việc đào tạo các linh mục. Ngài luôn tìm thánh ý Chúa và làm theo một cách cao độ. Tinh thần tông đồ được ngài thao thức, cũng đặt trên tiêu chí làm vinh danh cho Thiên Chúa. Một điều ít ai biết, là suýt nữa ngài đã đặt chân đến Việt nam cộng tác với cha Đắc Lộ trong công cuộc truyền giáo (1).

Cha Olier gắn bó với Chúa Giêsu một cách mật thiết trong việc cầu nguyện (hai tiếng đồng hồ mỗi ngày, chưa kể việc thường xuyên ở trong sự trầm mặc với Chúa), trong việc đọc lectio divina (nửa tiếng ban sáng, nửa tiếng ban chiều), trong việc khao khát tông đồ, như chứng từ sau đây :

Trong Hồi ký, cha đã tiết lộ cho biết sự bí mật của niềm khao khát tông đồ mãnh liệt nung nấu ngài lúc đó : chính Chúa Giêsu Kitô ở trong con tim ngài như “một bánh thánh cháy bừng” , như “một con trẻ bằng lửa”. Sự thông hiệp với Chúa Kitô đó cho phép ngài sống sứ vụ mình trong sự phó thác cho Thánh Thần của Chúa Giêsu. Vì thế mà những lời ngài phát biểu trong bài giảng hoặc trong bí tích sám hối đối với ngài như là được chính Chúa Kitô và Thánh Thần Người ban cho. Đấy không phải là lời của ngài, nhưng là lời của “con trẻ bằng lửa” sống trong ngài. Và vì hơn nữa, ngay khi ngài vừa ngưng lại một lúc việc thực hành sứ vụ, lời cầu nguyện tự động nảy sinh trong ngài, trong sự chiêm ngắm Chúa Kitô Đấng ngự trong ngài và hoàn thành công việc của Người qua ngài”. (B.Pitaud, sđd, tr. 71).

Ngài đã soạn ra lời kinh “Lạy Chúa Giêsu sống trong Mẹ Maria, xin ngự đến và sống trong các tôi tớ Chúa…”. Đó là lời nài xin tha thiết Chúa Giêsu đến sống trong tâm hồn và đời sống của môn đệ Chúa, một sự kết hiệp mật thiết không thể thiếu giữa Chúa và linh mục.

Đối với Chúa Thánh Thần, cha Olier đã học biết buông mình cho sự hướng dẫn của Ngài. Chính Chúa Thánh Thần đã đốt lên trong tâm hồn cha ngọn lửa sốt mến, để cha miệt mài với việc canh tân, đổi mới giáo xứ Xuân Bích, cha xác tín rằng : “Tất cả sẽ xuôi chảy hơn, nếu tôi phó mình cho Chúa Thánh Thần, và khi không phải đầy lòng mà tôi nói ra, nhưng là hầu như chỉ buông mình cho Thánh Thần nói qua miệng tôi” ; và “Để cho Chúa Thánh Thần hành động và không đặt ra một cản trở nào cả, đó là điều duy nhất phải làm”.

Tóm lại, với ngần ấy nguyên động thúc đẩy, cha Olier đã có thể có được những sáng kiến mục vụ độc đáo, thích hợp và sự hăng say để canh tân xứ Xuân Bích một cách có hiệu quả. Ngài mời gọi chúng ta nhìn vào chính mình, với con tim đức ái, suy nghĩ xem chúng ta phải làm gì trong tư cách mục tử cho đàn chiên Chúa đã trao phó cho chúng ta, để “chúng được sống và sống dồi dào” ?

 III

LÀM

Canh tân mục vụ cho thời nay

Thao thức mục vụ, đó là điều mà mỗi mục tử hẳn luôn canh cánh bên lòng, như thánh Phaolô (trong năm nay, chúng ta đặc biệt nhìn ngắm và bắt chước thánh nhân) : Ngài cầu nguyện đêm ngày cho đoàn chiên, có khi mất ăn mất ngủ vì họ, lo sợ sự chia rẽ phá tan đoàn chiên ; ngài đi thăm để chỉnh đốn, khích lệ họ; ngồi tù, ngài viết thư mục vụ để dạy dỗ họ, cắt đặt những mục tử để chăm sóc đoàn chiên ; ngài nêu gương sáng cho họ…

Mục vụ là một lãnh vực bao la, đa dạng và dị biệt. Mỗi người phải tùy theo hoàn cảnh cụ thể của xứ đạo : môi trường sống, tâm thức giáo dân, mức độ trưởng thành thiêng liêng và vật chất của họ mà tìm ra những cách thế thích hợp. 

Nhưng dù nghĩ gì, làm gì, thì tựu trung, vị mục tử cần lưu ý những điểm sau đây khi làm việc mục vụ :

Canh tân chính mình

Nỗ lực này phải được các linh mục ý thức luôn, bởi vì canh tân chính mình là điều kiện tiên quyết cho việc canh tân giáo dân. Nhu cầu cuộc sống luôn thay đổi, việc mục vụ cũng phải được canh tân theo đà tiến của xã hội, hợp với tâm thức của người thời đại. Công đồng Vatican II đã khởi xướng công cuộc canh tân toàn diện Giáo Hội. Trở lại với tư tưởng của cha Olier, muốn canh tân Giáo Hội, nhất thiết phải canh tân hàng giáo sĩ trước tiên. Cho nên nếu muốn một giáo xứ sinh động, ắt các linh mục phải nỗ lực canh tân rất nhiều, khởi đi từ chính bản thân, từ sự “đổi mới tư duy”.

Thánh hóa bản thân

Việc canh tân lại phải đặt trên nền tảng sự thánh thiện của linh mục, xét như là tác nhân cộng tác chặt chẽ với Thiên Chúa trong công việc thánh hóa đoàn dân. Linh mục làm gì đi nữa, nếu không xuất phát từ lòng đạo đức thánh thiện, thì sẽ không có sức thuyết phục. Một khi được ướp nồng bởi nhân đức và sự thánh thiện kitô giáo, linh mục sẽ như bông hồng tỏa hương thơm (Hữu xạ tự nhiên hương). Lời một bài hát ca ngơi thiên chức Linh mục : “Linh mục là chính Chúa trong kiếp người, Linh muc điểm tiếp nối đất với trời, Linh mục là muối ướp cho trần ai, là tinh hoa của Gíao Hội, ngọn hải đăng thắp trên dương trần…”.Chúng ta thấy ảnh hưởng của cha Vianney trên giáo xứ Ars.

Sống hai châm ngôn của cha Olier :

Sự thánh thiện được minh định khi linh mục ý thức mình đang cố gắng “sống hết mình cho Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô”, và khi hoàn toàn “buông mình cho Chúa Thánh Thần” để được hướng dẫn trong mọi công việc. Được vậy, chúng ta không sợ lầm đường. Linh mục là người hướng đạo dân Chúa, nếu “mù dắt mù, cả hai sẽ lăn cù xuống hố” ! Sắc lệnh Presbyterorum ordinis số 13 và Chỉ nam linh mục số 21e khẳng định rằng : linh mục nên thánh chính trong khi thi hành việc mục vụ (2).

Nhiệt tâm gắn bó với giáo xứ và các linh hồn

Linh mục hãy coi giáo xứ được ký thác cho mình như là “bạn tình”, điều ấy mời gọi linh mục sống hết mình, gắn bó hết tình với giáo xứ và giáo dân. Cha Olier gọi đó là “sự ân cần mục vụ”. Lòng nhiệt tâm với các linh hồn sẽ giúp ngài vượt qua những khó khăn chủ quan hay khách quan để cống hiến thời giờ, sức lực, tinh thần, tâm hồn, thể xác cho giáo xứ và giáo dân : “Yêu đến chết cho người mình yêu” như Chúa Giêsu. Những dấu chỉ cho biết sự ân cần mục vụ, đó là thái độ cởi mở, nét mặt tươi vui, lời nói lịch sự, phong cách điềm đạm, lòng tôn trọng giáo dân…, thay vì thái độ cứng cỏi, khuôn mặt lầm lì, lời nói lạnh lùng. Những dấu chỉ bên ngoài biểu lộ một tâm hồn đầy tình yêu Chúa và tình yêu người hay không.

Không tìm mình trong những việc mục vụ mình làm được

Một điều mà linh mục phải hết sức cẩn thận đề phòng, đó là thay vì tìm vinh danh Chúa và các linh hồn, thì mình lại đang tìm vinh danh chính mình trong việc mục vụ. Chính vì thế mà cha Olier luôn tâm niệm : “sống hết mình cho Thiên Chúa. 

Còn nhiều nữa, thật như vậy, những nguyên tắc chỉ đạo về mục vụ cho linh mục. Thỉnh thoảng, nên đọc những tài liệu căn bản như sau để nhắc nhở mình :

-     Sắc lệnh về chức vụ và đời sống linh mục của công đồng Vatican II ;

-     Chỉ nam linh mục do bộ Truyền Giáo ban hành ngày 1.10.1989 ;

Bộ Giáo luật 1983.

Ngoài ra, xin mời vào thăm trang blog Xuân Bích ở địa chỉ sau :

http://xuanbichvietnam.wordpress.com

ở đây có nhiều bài viết khả dĩ giúp chúng ta sống thiên chức linh mục, việc thường huấn (formation permanente), việc tự đào tạo mình, không chỉ trong lãnh vực mục vụ mà nhiều lãnh vực khác nữa.

Nguyện xin cha Olier cầu bầu cùng Chúa cho các linh mục luôn sống xứng đáng với thiên chức mục tử cao quí mà Chúa và Giáo Hội đã trao ban cho họ.

 

Lm. Anphong Nguyễn Hữu Long, p.s.s.

Lễ Mẹ dâng mình trong đền thờ 21.11.2008

 

—————————–

(1)  “Tháng 02 năm 1653, ngài gặp cha Alexandre de Rhodes, tông đồ tại Viễn Đông, và đề nghị cùng theo cha sang Bắc Việt (Tonkin). Nhưng cha De Rhodes là một người thực tế. Cha thấy rõ sức khỏe của vị Bề trên Xuân Bích không thể kham nổi cuộc hành trình nên đã khéo léo từ chối những dịch vụ của ngài” (B.Pitaud, Tiểu sử cha Olier, tr. 145).

(2) Thành tâm và kiên nhẫn thi hành chức vụ của mình trong tinh thần Chúa Kitô là phương pháp riêng giúp các linh mục đạt tới sự thánh thiện” (PO. 13) ;

“Đối với linh mục, con đường được gọi là vương đạo (voie royale) dẫn đến sự thánh thiện là ở ngay tại việc thi hành thừa tác vụ. Các hoạt động của thừa tác vụ chính là những phương thế bình thường để thánh hóa bản thân người mục tử, nhưng với điều kiện là các ngài sống kết hiệp sâu đậm với Đức Kitô , hành động và xử thế trong đức tin và đức mến, và không xao lãng những phương thế thông thường mà mỗi kitô hữu đều tôn trọng. Sự thống nhất cuộc sống trong sự kết hiệp với Đức Kitô  này sẽ bảo đảm cho sự quân bình và hài hòa giữa đời sống nội tâm và đời sống tông đồ” (Chỉ nam linh mục 21e)

 

 

 

 nha-tho-ss

About these ads
%d bloggers like this: