CHA OLIER: TỪ HOÁN CẢI ĐẾN SỨ MẠNG

TỪ HOÁN CẢI ĐẾN SỨ MẠNG

 

Cha Jean-Jacques Olier (1608-1657) và công cuộc đào tạo linh mục địa phận

100_0175

 

Cách đây đúng một năm, cũng vào dịp lễ Mẹ dâng mình vào Đền Thánh, Cha Lawrence B. Terrien, nguyên Bề Trên Tổng Quyền Hội Linh Mục Xuân Bích, đã có những lời chia sẻ thật chân tình và sâu sắc liên quan đến biến cố mừng kỷ niệm lần thứ 400 ngày chào đời của Cha Jean-Jacques Olier, vị sáng lập của Hội. Ngài nói : « Việc cử hành sinh nhật của một người là cơ hội không chỉ để hồi tưởng lại những biến cố đã qua, mà còn là dịp để gợi nhớ những gì là thiết yếu nhất trong cuộc đời của người đó, là dịp để cất lời tạ ơn Thiên Chúa về tất cả những gì Người đã thực hiện trong suốt cuộc đời của người đó, và trong trường hợp một đấng sáng lập khả kính như Cha Jean Jacques Olier, thì mừng sinh nhật của ngài còn là cơ hội để chúng ta suy tư sâu xa hơn về những giá trị mà ngài đã muốn khắc ghi trong tâm hồn và đời sống của các linh mục, đồng thời cũng là lúc để xem xét lại phương cách đưa gia sản đó vào trong hoàn cảnh thực tế của xã hội chúng ta hôm nay. »

Trong bầu khí huynh đệ của buổi họp mặt gia đình này, những gợi ý trên đây mang một ý nghĩa thật đặc biệt. Chúng thúc đẩy chúng ta thêm một lần nữa nhìn lại đoàn sủng mà Chúa đã ban cho Hội Thánh qua người con bé nhỏ của Người để canh tân hàng giáo sĩ địa phận, đồng thời chúng ta cũng được đặt trước câu hỏi liệu xem một đường lối sư phạm đề ra cách đây đã gần bốn thế kỷ có còn phù hợp với hoàn cảnh hiện nay của Giáo Hội Việt nam hay không, hoặc phải đào sâu linh đạo ấy theo phương hướng nào ngõ hầu có thể đem lại những kết quả thiêng liêng dồi dào hơn cho việc đào tạo linh mục cũng như cho đời sống và sứ vụ của giáo sĩ nói chung trong những năm đầu của thiên niên kỷ thứ 21 này. Dĩ nhiên chúng ta không có tham vọng đào sâu hết mọi vấn đề đặt ra. Ở đây chỉ xin được đơn sơ trình bày ba điểm cụ thể : trước hết là một thoáng nhìn về toàn cảnh Giáo Hội Pháp ở thế kỷ thứ 17 trên đó làm nổi lên lộ trình hoán cải thiêng liêng của cha Olier, suối nguồn của tất cả công trình canh tân của ngài; kế đến là bước quay về với truyền thống đào tạo và canh tân linh mục triều mà Chúa đã khơi dậy qua cha Olier; và sau cùng là vài suy tư kết luận về việc áp dụng linh đạo Xuân Bích vào trong công cuộc đào tạo linh mục hiện nay với những thách đố và triển vọng đang mở ra trước mắt chúng ta.

 

A. Điểm xuất phát : một tâm hồn hoán cải

Để hiểu con người và ơn gọi của cha Olier, trước hết chúng ta cần có cái nhìn khái quát về bối cảnh Giáo Hội Pháp vào thế kỷ 17, một bối cảnh có thể nói là bi đát nếu nhìn từ góc độ hàng giáo sĩ địa phận. Thật vậy, khi J.-J Olier chào đời ngày 20 tháng 9 năm 1608 tại phố Marais ở Paris thì Công đồng Trentô (1545-1563) kết thúc đã 45 năm thế mà cả nước Pháp vẫn chưa có chủng viện nào mở cửa.

Trái với hoàn cảnh của nước Pháp hiện nay, hồi đó có nhiều linh mục nhưng lại quá khan hiếm ơn gọi, vì thế cha Olier mới đưa ra một tiêu chuẩn thời danh : « Phải bước vào đời linh mục qua cửa ơn gọi » (1). Tại sao ? Không bước qua cửa ơn gọi thì qua cửa nào ? Thưa, rất nhiều cửa ! Thật vậy, đa số người trẻ thời đó trở thành linh mục chỉ vì khao khát có việc làm hoặc chỉ để kiếm tiền, kiếm chức, chứ không cần biết mình có ơn gọi hay không. Thiếu nguyên động (motivation) thiêng liêng như thế, đời sống của đa số linh mục dĩ nhiên rất tẻ nhạt. Ngoài công tác mục vụ, không thiếu những linh mục và giám mục còn sốt sắng kiêm thêm những chức vụ của triều đình hoặc của các tòa bộ kinh tế chính trị khác. Hệ thống « bổng lộc » (commende) cũng do đó mà mặc sức tung hoành. Sự lạm dụng đạt mức phi mã đến đỗi tác giả Le Brun có thể khẳng định « người của Giáo Hội được định nghĩa không phải theo chức thánh đã lãnh nhận nhưng chỉ dựa trên sự kiện người ấy đã nhận được bổng lộc nào hoặc chức vụ gì về hành chánh mà thôi » (2).

Trong hoàn cảnh đó, cậu Olier cũng được gia đình định sẵn một sự nghiệp trong hàng giáo sĩ. Bố của cậu, ông Jacques Olier, là cố vấn trong Tối Cao Pháp Viện và là giám sát của vua Louis XIII nên gia đình rất khá giả. Hơn nữa, tuy tâm lý có phần mong manh và tính tình dễ nghiêng chiều về kiêu căng tự mãn, cậu Olier lại bộc lộ một trí thông minh hơn người nên hẳn là phù hợp với « nghề » giáo sĩ, và rồi một ngày đẹp trời nào đó có thể sẽ trở thành tuyên úy của nhà vua, chức vụ sẽ mở ra cánh cửa làm giám mục ! Vì thế mới 12 tuổi, gia đình cho Olier cắt tóc (tonsuré), và từ đó có thể bắt đầu tích góp bổng lộc. Với tiền của và thần thế, cậu được bổ nhiệm làm viện phụ của đan viện Bazainville thuộc địa phận Chartres, viện phụ của đan viện Biển Đức Clison thuộc địa phận Nantes, làm Bề trên của tu viện Pébrac thuộc địa phận Saint-Flour và kiêm thêm viện phụ của đan viện Madeleine de Pouancé ở Angers. Dĩ nhiên với tuổi đời còn quá nhỏ Olier không thể chu toàn các trọng trách trên vì thế gia đình phải nhờ một linh mục khác thay mặt để điều hành công việc và chia cho vị này một số lợi tức nào đó, còn phần thu nhập chính vẫn thuộc về đại gia Olier. Về việc trở thành giáo sĩ thì vì thời đó không có chủng viện nên những ai muốn làm linh mục trước hết phải có tài chánh, rồi phải theo học chương trình triết học thần học ở các trường ngoài đời trước khi đến trình diện với giám mục để lãnh chức thánh. Cậu Olier cũng không ngoại lệ : học triết học từ năm 1625 ở Harcourt rồi thần học tại Sorbonne (Paris) từ năm 1627. Nhưng chính trong thời gian này chàng trai Olier lại bắt đầu một hành trình khác quan trọng hơn và sẽ kéo dài cho đến suốt đời, đó là hành trình hoán cải nội tâm.

Thật vậy, vào một ngày đẹp trời năm 1629, khi còn là sinh viên thần học, Olier tham dự một hội chợ ở Saint Germain-Paris cùng với mấy người bạn. Khi ra khỏi một quán rượu, họ giáp mặt với một phụ nữ chưa hề quen biết. Người này thốt lên : « Chao ôi ! Thưa quý ngài, quý ngài làm cho tôi đau buồn lắm ! Từ lâu lắm rồi tôi đã cầu nguyện để quý ngài được ơn hoán cải. Chúng ta đã có quá nhiều linh mục thế tục rồi !» (3). Phụ nữ ấy tên là Marie Rousseau. Câu nói đó đã đánh động Olier cách mãnh liệt. Lần đầu tiên, chàng bắt đầu nghĩ lại về hướng đi của đời mình và quyết không đeo đuổi « nghề » giáo sĩ nữa, trái lại một sức thu hút vô hình nào đó hình như đang bắt đầu nhen nhúm trong tâm hồn chàng. Đó là ơn hoán cải khởi đầu. Và người đầu tiên thất vọng trước quyết định này là bà Marie Dolu d’Ivoy, mẹ của Olier ! Nhưng Thiên Chúa vẫn tiếp tục hành trình của Người. Năm 1631, tuy đã học xong chương trình nhưng còn quá trẻ nên Olier chưa thể chịu chức linh mục. Với mảnh bằng tú tài thần học, chàng quyết định sang Roma có lẽ để học thêm tiếng Do thái hầu sau này có thể tiến xa hơn trên đường học vấn. Đến nơi đột nhiên Olier phải bệnh đau mắt và mất dần thị giác, không thể học hành gì. Chàng bèn đi bộ đến Loreto để làm cuộc hành hương xin ơn Đức Mẹ. Tại đây cùng với ơn sáng mắt phần xác cậu đã được sáng luôn cả mắt phần hồn và bắt đầu say mê cầu nguyện cũng như lao mình vào công cuộc truyền giáo : đó là giai đoạn hoán cải thứ hai.

Năm 1631, được tin bố mất, Olier trở về Paris. Sau đó chàng tham dự một cuộc tĩnh tâm với thánh Vinh Sơn Phaolô để chuẩn bị lãnh chức linh mục vào năm 1633. Dưới sự dẫn dắt của vị linh hướng đầu tiên này, cha Olier đã khởi đầu tác vụ thánh bằng những tháng ngày miệt mài rao giảng Tin Mừng cho người nghèo tại những vùng quê nước Pháp. Cũng trong thời gian này, thừa sai Olier lại may mắn gặp được Mẹ Agnès de Langeac, làm cha linh hướng cho Mẹ và ngược lại Mẹ Agnes cũng là người dạy cho cha Olier đi vào đời nguyện cầu sâu xa đến nỗi sau này cha đã đưa hẳn chiêm niệm vào trong chương trình đào tạo linh mục địa phận. Dưới sự dẫn dắt của cha linh hướng thứ hai là Charles de Condren, thừa sai Olier càng ngày càng cảm nghiệm sâu xa hơn hoạt động của Chúa Thánh Thần trong tâm hồn những ai biết buông mình cho Người. Năm 1642, ngài viết : « Để cho Thánh Thần Thiên Chúa hành động và không đặt ra một cản trở nào cả, đó là điều duy nhất phải làm ». Đó là giai đoạn hoán cải thứ ba trong đời vị sáng lập Xuân Bích. Thế nhưng giữa tháng 10 năm 1639 và Phục Sinh năm 1641, cha Olier lại phải chạm trán với một khủng hoảng thiêng liêng nặng nề khác khiến ngài suy sụp tinh thần đến cực độ. Cha Olier cảm thấy mọi người và ngay cả Thiên Chúa đều bỏ rơi mình. Giảng thì không biết nói gì. Cầu nguyện thì khô khan nguội lạnh. Sau một thời gian, cha nhận ra mình đã quá cậy dựa vào mình đồng thời cũng khám phá ra rằng mình không thể tự mình thay đổi điều gì. Từ đó với ý thức sâu xa về tính kiêu căng (superbe) của cái tôi thế tục, cha đã « buông mình cho Chúa Thánh Thần ». Đó là lần hoán cải mang tính quyết định nhất, và cũng từ đó các công trình tông đồ mới có thể thoát thai và lớn lên.

 

      B. Cội nguồn của một truyền thống

1. Một thoáng lịch sử. Thật vậy, vào ngày 29 tháng12 năm 1641, công trình đầu tiên là tổ ấm Vaugirard hình thành với ba « sulpiciens » tiên khởi : cha Caulet, cha du Ferrier và cha Olier. Từ đó càng ngày càng có nhiều linh mục và thanh niên đến tìm hiểu và gia nhập. Đến tháng 8 năm 1642 có thể nói chủng viện Xuân Bích đầu tiên đã thành hình. Tháng 6 năm sau, Đức Cha Henri de Sourdis, Tổng Giám Mục Bordeaux, đã đến tìm hiểu Saint-Sulpice để thiết lập một chủng viện tương tự ở địa phận ngài. Ngày 13 tháng 03 năm 1651, nhân Tổng Công Nghị Giáo sĩ Pháp, cha Olier có dịp trình bày « Dự án thiết lập chủng viện » trước mặt các giám mục. Dự án xác định Hội Xuân Bích không phải là một « hội dòng » hay « tu hội » như các cộng đoàn tu trì khác, chẳng hạn các Eudistes, Oratoriens, v.v… Hội chỉ có một bề trên và 12 phụ tá để biểu trưng nhóm Mười Hai xưa kia. Những vị này được sai đến các giáo phận có yêu cầu thành lập chủng viện để làm việc. Sau khi chủng viện đã lập xong và địa phận có đủ người đảm trách việc đào tạo thì các vị ấy lại rút về nhà mẹ chuẩn bị cho sứ vụ mới. Dĩ nhiên ngoài nhóm Mười Hai còn có các linh mục khác phụ giúp việc đào tạo. Thoạt đầu cộng đoàn này được các Giám mục gọi là « Hội linh mục của hàng giáo sĩ Pháp» (4). Tên gọi này thật chính xác theo tinh thần của cha Olier vì ngài không muốn có bất cứ sự phân biệt nào giữa linh mục Xuân Bích và hàng giáo sĩ địa phận.

Chủng viện đầu tiên được các linh mục Xuân Bích thành lập ngoài Paris theo yêu cầu của giám mục địa phương là Chủng viện Nantes (1649). Tiếp đó là các chủng viện ở Viviers (1650), Saint-Flour (1651), Magnac (1651), Le Puy (1652), Clermont (1656), Amiens (1657). Nhưng khi có quá nhiều chủng viện được thành lập và các linh mục Xuân Bích không thể giao việc đào tạo lại cho hàng giáo sĩ giáo phận thì vấn đề nhân sự của Hội được đặt ra cách cấp thiết. Từ đó, về mặt nhân sự Hội đành phải tổ chức như một số tu hội khác, tuy vẫn giữ nét độc sáng về tinh thần và đường lối của cha Olier.

2. Thần học về chức linh mục. Nét độc sáng của truyền thống Xuân Bích trước hết bắt ngưồn từ một quan điểm thần học về chức tư tế do cha Olier đặt nền móng. Trước hết, từ vựng được dùng thường xuyên trong các tác phẩm của ngài là « religion » (5). Khi dùng từ này, tác giả có ý diễn tả chân lý : linh mục là « người tế tự » (le religieux) của Đức Kitô ở mức độ tuyệt hảo nhất, nghĩa là thay mặt cho Đấng Phục Sinh, Thượng Tế duy nhất đang dâng mình cho Đức Chúa Cha trên trời, để dâng hiến tế thờ phượng và tạ ơn ở dưới đất, nhân danh toàn thể Giáo Hội và nhân loại, đặc biệt qua hy tế Tạ Ơn. Nhờ Thánh Thần hiện diện cách đặc biệt trong con người của linh mục, Đức Kitô không ngừng thực thi chức tư tế của Người. Chính trong nghĩa này (và chỉ trong nghĩa này mà thôi) mà ta có thể nói, theo một nghĩa nào đó, người linh mục là « nguồn » (source), là « máng » chuyển thông ơn thánh hóa cho dân Chúa trong Chúa Thánh Thần. Từ đó ta mới hiểu đúng trực giác căn bản của đấng sáng lập Xuân Bích : muốn canh tân dân Chúa, trước hết phải canh tân các « nguồn » chuyển thông ơn thánh hóa cho dân Chúa (6), tức hàng giáo sĩ địa phận, mà muốn canh tân hàng giáo sĩ địa phận, trước hết hãy canh tân đời sống thiêng liêng của các ngài. Quan điểm thần học này rõ ràng mang tính quy về Thiên Chúa Ba Ngôi (théocentrique-trinitaire) và quy-kitô (christocentrique) rất sâu đậm, một quan điểm được tóm gọn trong châm ngôn : « Vivere summe Deo in Christo Jesu ». Tuy nhiên cha Olier luôn nhìn các đặc ân này của chức linh mục dưới khía cạnh tâm lý và chức năng chứ không mang nghĩa hữu thể học. Dầu thánh mà các ứng sinh linh mục lãnh nhận trong ngày thụ phong chuẩn bị cho họ thực thi tác vụ thánh chứ không « thần hóa » họ khiến họ được nâng cao hơn so với anh chị em tín hữu khác. Cha Olier phân biệt rạch ròi nhưng không khoét sâu hố ngăn cách giữa chức tư tế thừa tác và chức tư tế cộng đồng. Nếu cha có nói đến một sự thần hóa nào đó dành cho tâm hồn của linh mục thì cũng chỉ hiểu theo nghĩa luân lý chứ không theo nghĩa hữu thể.

Dĩ nhiên ảnh hưởng to lớn của cha Charles Condren và Hồng y Bérulle trên thần học của cha Olier là điều không thể chối cải, nhất là trong việc chiêm ngắm tác vụ linh mục theo ba viễn tượng : vinh quang Thiên Chúa, thánh hóa Giáo Hội và hy tế tạ ơn, nhưng cội nguồn sâu xa nhất của thần học của cha Olier về chức tư tế thừa tác vẫn là Lời Chúa, nhất là Phúc âm Gioan và các thư Phaolô. Theo Stanilaw Nowak, chính nét độc sáng của thần học này đã làm cho cha Olier được mệnh danh là « tiến sĩ về chức linh mục » (« docteur du sacerdoce ») trong Trường phái tu đức Pháp (7).

3. Áp dụng thực hành. Xuất phát từ quan điểm thần học trên, đường lối sư phạm Xuân Bích mang năm đặc tính cốt yếu (8), đó là : 1/ phục vụ giáo sĩ địa phận, 2/ vun trồng tinh thần tông đồ, 3/ xây dựng cộng đoàn giáo dục, 4/ luôn thực hành tập thể tính, 5/ và nhấn mạnh đào tạo thiêng liêng.

a. Phục vụ giáo sĩ địa phận

Xuất phát từ kinh nghiệm hoán cải và đối diện trước thực trạng khá bi đát của Giáo Hội thời đó, cha Olier xác tín rằng « dân của Chúa chỉ có thể được canh tân qua con đường thánh thiện của hàng giáo sĩ địa phận » (9). Đó là xác tín căn bản làm nên nền tảng của truyền thống Xuân Bích : « Được hiến dâng cho Chúa Giêsu Kitô, Linh mục Tối cao, được sinh ra từ sứ mệnh tông đồ của cha Jean-Jacques Olier, vị sáng lập của mình, Hội Linh Mục Xuân Bích là Hội các linh mục địa phận, có ơn gọi phục vụ những ai được thánh hiến cho tác vụ linh mục. » (10). Cha Adrien Bourdoise, một trong những linh mục Xuân Bích đầu tiên, xác tín : « Điều làm nên những tu sĩ Phan sinh hoặc tu sĩ dòng Tên tốt chính là tập viện của các dòng tu ấy…Nguyên nhân khiến giáo hội không có nhưng linh mục ở giáo xứ tốt là vì không có những tập viện cho những ứng sinh linh mục » (11).

b. Vun trồng tinh thần tông đồ

Tiếp đến, như lộ trình thiêng liêng của cha Olier cho thấy, tinh thần thừa sai tông đồ đã in đậm dấu ấn ngay từ đầu cuộc hoán cải của Cha và không ngừng phát triển trong các công trình Xuân Bích. Với niềm xác tín sâu xa, Cha Olier khẳng định : « Nếu trong chủng viện có ba người tông đồ đầy lòng khiêm tốn, hòa nhã kiên nhẫn, nhiệt thành, bác ái và ý thức về sự nghèo khó, với sự hiểu biết và khôn ngoan cần thiết cho công trình này của Thiên Chúa, thì họ sẽ đủ để thánh hóa toàn địa phận. » (12). Trong cuốn Tự thuật, ngài còn thêm : « Canh tân Hội Thánh bằng cách đào tạo cho được nhiều linh mục có tinh thần Giáo Hội để sau đó ra đi phụng sự Thiên Chúa, đến bất cứ nơi nào Người muốn gọi họ (13).

c. Xây dựng cộng đoàn giáo dục

Đặc tính thứ ba của đường lối sư phạm Xuân Bích là ra sức xây dựng chủng viện thành một « cộng đoàn giáo dục » (communauté éducatrice). Khi những chủng sinh đầu tiên đến gõ cửa chủng viện ở Vaugirard họ nhận ra đây đã sẵn có một cộng đoàn linh mục sống chung như họ và mời gọi họ cùng sống chung với các vị làm thành một cộng đoàn đào tạo. Không có hai kiểu sống, một cho thầy và một cho trò, cũng chẳng có hai lề luật, chỉ có một cộng đoàn duy nhất gồm nhà đào tạo và người được đào tạo, tức những người muốn sống tận căn những đòi buộc của ơn gọi kitô hữu và ơn gọi linh mục, đặc biệt là sống tình bác ái, giản dị và tự do thiêng thiêng (14).

d. Luôn thực hành tập thể tính

Đặc tính thứ tư của truyền thống là tính tập thể (collégialité). Các nhà đào tạo ở chủng viện và ngay cả các thành viên Xuân Bích ở trong cùng một nhà xứ đều làm việc chung với nhau, đặc biệt qua « hội đồng » (conseil). Chính đặc tính truyền thống này quyết định hiệu quả của một nền đào tạo đa diện, duy trì một đường lối sư phạm thống nhất và tạo sức mạnh thiêng liêng về chứng tá tông đồ. Cha Tronson, một trong những cột trụ của thế hệ Xuân Bích đầu tiên đã khẳng định : « Cần thiết phải xem sự hiệp nhất giữa các nhà đào tạo trong chủng viện như viên đá góc của tòa nhà » (15). Cũng chính trong viễn tượng này mà cha Olier đã quan niệm việc canh tân Giáo Hội nhất là công cuộc thánh hóa hàng giáo sĩ phải được xây trên nền móng vững chắc là sứ vụ « nền tảng » của giám mục. Với cảm nghiệm đức tin sâu xa và phần nào chịu ảnh hưởng của thần học của Pseudo-Denis, cha Olier xác tín giám mục là « tông đồ và là máng ơn thiêng thông truyền sự sống của Thiên Chúa qua và trong các linh mục, một sự sống mà không có nó thì tất cả đều úa tàn, không nhiệt tình, không sức mạnh » (16).

e. Nhấn mạnh đào tạo thiêng liêng

Sau cùng và cũng là điểm then chốt nhất trong công trình canh tân hàng giáo sĩ địa phận của cha Olier : muốn thánh hóa dân Chúa, tức đoàn dân « mặc lấy Đức Kitô, được dẫn dắt và đổi mới không ngừng bởi Thánh Thần » (17), linh mục trước tiên phải là kitô hữu trọn vẹn nhờ bí tích Thánh tẩy, vững mạnh nhờ bí tích Thêm sức và được nuôi dưỡng bằng bí tích Thánh Thể. Hơn nữa nhờ bí tích Truyền chức, linh mục còn « là người tiếp nối cuộc đời của Đức Giêsu Kitô trong tư cách thủ lãnh, là người trong đó Chúa Giêsu Kitô tiếp tục sống để thông ban Thánh Thần, thông ban sức mạnh và nhân đức cho mỗi một người theo bậc sống họ được mời gọi chu toàn » (18). Tiếp đến, để trở thành những tay thợ hiệu quả trong công cuộc canh tân dân Chúa, các linh mục không  những chỉ là người chuyển thông Lời Chúa và các Bí tích, tác vụ « thánh hóa » còn đòi buộc chứng từ của đời sống thánh thiện nơi bản thân mỗi người. Chính trong nghĩa đó mà đối với cha Olier, « linh mục là những người mang Chúa Giêsu trong mình như các bí tích cưu mang Chúa vậy » (19).

Để đạt được lý tưởng cao cả ấy, Cha Olier áp dụng cho các ứng sinh linh mục chính những phương thế mà bản thân ngài đã sống. Đây cũng chính là « bốn cột trụ » xây dựng cung thánh trong tâm hồn chủng sinh và linh mục, đó là : Thánh Kinh, Thánh Thể, nguyện ngắm và linh hướng.

·        Trước hết là Thánh Kinh hay « Lectio divina ». Cha Olier là giáo sư Kinh Thánh, đặc biệt chuyên về các thư Phaolô và các tác phẩm của Gioan. Ngài phụ trách mục « conférence de l’Écriture » mỗi ngày, nhưng việc lectio này dĩ nhiên không thiên về chú giải cho bằng thần học tu đức, tức Lời Chúa được đón nhận và nhất là được sống. Cha Olier cũng xin các chủng viện Xuân Bích luôn đặt sách Thánh Kinh trang trọng trong nhà nguyện và rất khuyến khích chủng sinh cũng như linh mục lui tới với Lời Chúa như lui tới với Thánh Thể.

·        Kế đến là Thánh Thể. Chỉ cần tìm hiểu ý nghĩa của lời kinh « O Jésus vivant en Marie» thì đủ để thấy nét đặc thù của quan niệm thần học và tu đức nơi cha Olier về Thánh Thể, đó là để cho chính Đức Giêsu đến ở trong tâm hồn cũng như đời sống của chủng sinh và linh mục bằng các nhân đức, sức mạnh, ước muốn và Thần Khí của chính Ngài. Lời kinh cũng cho thấy lòng sùng kính Đức Trinh Nữ Maria của cha Olier luôn gắn liền với tình yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể.

·        Thứ đến là nguyện ngắm. Trong cuốn « Giáo lý kitô giáo cho đời nội tâm » (1656) và cuốn « Dẫn vào đời sống và các nhân đức kitô giáo » (1657), cha Olier đã trình bày ba giai đoạn của việc cầu nguyện như kinh nghiệm riêng của chính bản thân ngài (20). Giai đoạn đầu tiên : « Chúa Giêsu trước mặt », đồng nghĩa với tôn thờ và chiêm ngắm việc làm, cử chỉ, lời nói, tâm tình của Chúa ; giai đoạn hai : « Chúa Giêsu trong tim », đồng nghĩa với hiệp thông, nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu, đi vào trong chính sự tôn thờ của Người dâng lên Chúa Cha ; giai đoạn ba : « Chúa Giêsu trên tay », đồng nghĩa với cộng tác, tức mở rộng việc kết hiệp với Chúa Giêsu ra suốt cả ngày sống.

·        Phương thế sau cùng là linh hướng. Tất cả ba phương thế trên đều giả thiết một sự ngoan ngoãn dễ bảo với Chúa Thánh Thần nơi ứng sinh linh mục trong suốt cả cuộc đời chứ không phải chỉ trong giai đoạn đào tạo. Điều này được trợ giúp cách đặc biệt của người linh hướng. Từ nguyên lý nền tảng này, tất các linh mục Xuân Bích đều được đào tạo trong giai đoạn huấn luyện (đặc biệt ở thời kỳ « Solitude », tức một dạng « Nhà tập ») để trở thành cha linh hướng trong chủng viện.

Sợi chỉ hồng xuyên suốt cả bốn phương thế trên dĩ nhiên không ai khác hơn là Thánh Thần của Đức Kitô. Đời sống thiêng liêng là tham gia vào ơn huệ của Thánh Thần chứ không chỉ là nỗ lực của con người. Như thế, xuất phát từ quan điểm thần học vừa trình bày trên, việc đào tạo đời sống thiêng liêng theo Cha Olier mang đậm cả chiều kích Ba Ngôi lẫn quy kitô. Đó cũng là một trong những điểm canh tân nổi bật của Trường phái tu đức Pháp.

Sau cùng, sở dĩ lòng sùng kính Đức Nữ Trinh Maria trở thành gia sản quý báu trong truyền thống Xuân Bích cũng là vì nó đã ghi đậm dấu ấn trên tâm hồn và cuộc đời của vị sáng lập. Cả đời ngài hầu như không bao giờ vắng bóng người Mẹ thiêng liêng trinh khiết này. Các tập « Mémoires » là bằng chứng hùng hồn về điều đó. Theo tài liệu của É. Levesque về lịch sử của Phụng vụ Xuân Bích cổ xưa (21) thì hai ngày lễ « Đức Mẹ Dâng Mình trong Đền Thánh » (21/11), tức ngày lễ trọng, Bổn Mạng của Hội Xuân Bích, và lễ kính « Đời sống nội tâm của Đức Nữ Đồng Trinh » (22) có nguồn gốc lên tới những ngày đầu tiên của chủng viện Xuân Bích do chính cha Olier lập (23). Ngoài ra, để ghi nhớ bao ơn lành Mẹ ban trong suốt cả đời đầy sóng gió của mình, nhất là ơn Đức Mẹ ở Loreto đã cho sáng mắt, cha Olier đã đặt toàn bộ đời mình cũng như của Hội Xuân Bích và các chủng viện trong tình yêu từ mẫu của Mẹ qua Logo Xuân Bích gồm hai mẫu tự A (Auspice) và M (Maria) lồng vào nhau để nói lên ước nguyện tha thiết của ngài và của các môn sinh là đặt tất cả đời sống linh mục « dưới sự phù trợ của Đức Maria » 

 

C. Hôm nay và ngày mai

Sau khi tìm hiểu đường lối đào tạo và thăng tiến linh mục do cha Olier đề xướng, nhiều câu hỏi chắc chắn được đặt ra. Phải chăng đường lối đào tạo và thăng tiến linh mục do cha Olier đề ra cách đây gần 400 năm nay đã « lổi thời » ? Nếu câu trả lời « không » thì phải đào sâu linh đạo ấy theo phương hướng nào ngõ hầu có thể đem lại những kết quả thiêng liêng dồi dào hơn cho việc đào tạo linh mục cũng như cho đời sống và sứ vụ của giáo sĩ nói chung hôm nay và ngày mai ? Trả lời những câu hỏi này không dễ. Hơn nữa, lượng giá công trình do cha Olier gầy dựng theo đoàn sủng đã lãnh nhận là điều chắc chắn chúng ta không thể làm, nhất là trong khuôn khổ nhỏ bé của buổi chia sẻ này. Chúng ta chỉ có thể suy tư đôi chút về một vài nét nổi bật của công trình đó liên quan đến việc đào tạo linh mục trong hoàn cảnh xã hội ngày nay, dựa vào chỉ dẫn của một vài tài liệu then chốt của Giáo Hội trong lãnh vực này sau Công đồng Vatican II. Chúng tôi xin chọn hai tài liệu để đối chiếu so sánh, đó là Tông huấn Pastores dabo vobis được Đức Gioan-Phaolô II ban hành (25/03/1992) bàn về « việc đào tạo linh mục trong hoàn cảnh hiện nay » và bản văn của Đại Hội lần thứ VII của Liên Hội Đồng Giám mục Á châu (FABC) họp tại Thái Lan từ ngày 03-12/01/2000.

1. Chắc ai trong chúng ta cũng đã biết rằng một trong những điểm son của Tông huấn Pastores dabo vobis là đã đưa ra một đường lối đào tạo linh mục « trọn gói » gồm cả bốn chiều kích : nhân bản (số 43-44), thiêng liêng (số 45-50), trí thức (số 51-56) và mục vụ (số 57-59). Thoạt nhìn qua chúng ta dễ có cảm tưởng rằng trực giác về đào tạo linh mục của Cha Olier quá nghiêng về đào tạo đời sống thiêng liêng nên đã không đề ra một chương trình huấn luyện ứng sinh linh mục đầy đủ, nếu không muốn nói là thiếu sót. Tuy nhiên nếu nghiên cứu nhận xét này kỹ hơn chúng ta lại thấy đây là cơ hội giúp đào sâu hơn kho tàng quý báu mà Cha Olier đã để lại. Điều cần lưu ý trước tiên là đặc sủng nào cũng phát sinh từ hoàn cảnh và nhu cầu cụ thể của Giáo Hội của một thời đại nhất định. Việc bảo tồn và thích nghi đặc sủng đó với hoàn cảnh và nhu cầu của các thời đại khác là công việc của các môn sinh dưới sự dìu dắt của Chúa Thánh Thần. Hơn nữa, cha Olier không phải là nhà xã hội học cũng chẳng phải là nhà tâm lý hay nhà trí thức trình bày các vấn đề theo hệ thống. Đặc sủng Chúa ban cho ngài nằm ở chỗ khác. Ngài sống từng ngày theo sự dẫn dắt của Thánh Thần.

Thử đưa ra ví dụ về đào tạo mục vụ. Khi bước chân vào chủng viện xuân bích đầu tiên ở Paris, các ứng sinh biết mình đang gặp những tông đồ đã dày dạn trong mục vụ hơn là những giáo sư thông thái và một chương trình đào tạo mục vụ như chúng ta có ngày nay. Họ được mời gọi dạy giáo lý, tập hát, chuẩn bị cho giáo dân nhận các bí tích, đi thăm viếng bệnh nhân và người nghèo, v.v… Những chỉ dẫn trong tập « Chương trình sống tại nhà Xuân Bích » về những hoạt động mục vụ này cho thấy rõ cha Olier rất quan tâm đến chiều kích mục vụ trong việc đào tạo ứng sinh linh mục dù đó không phải là đặc trưng của chủng viện sơ khởi này. Lý do thực tế là vì nhà này trước hết có ra là để cho các linh mục, sau đó mới có những ứng sinh hoặc các người chuẩn bị chịu phép cắt tóc hoặc đã cắt tóc rồi mà chưa được đào tạo gì.

Về chỗ đứng của đào tạo tri thức trong đường lối sư phạm của Cha Olier cũng thế. Dĩ nhiên sống trong bối Giáo hội quá thiếu hụt về mảng thiêng liêng, cha Olier đã không nhấn mạnh nhiều tới việc đào tạo tri thức. Tuy nhiên quan điểm của ngài về các khoa học nói chung bộc lộ một đánh giá rất có chiều sâu và vững chắc về khía cạnh đào tạo quan yếu này. Trong một bài ca ngợi thánh Francois de Sales, cha Olier viết : « Cần biết rõ là có ba thứ khoa học. Khoa học đầu tiên là khoa học thuần túy nhân loại, khoa học thứ hai là khoa học thuần túy thần thiêng, và khoa học cuối cùng phối hợp cả tri thức nhân loại lẫn thần linh. Loại tri thức thứ ba đó chính là ‘tri thức của kitô hữu’ như Đức Khôn ngoan đã nói : ‘Dedit illi scientiam sanctorum’ [Đã ban cho ngài (người đức nghĩa) một khoa học thánh] (Kn 10,10)…. Khoa học này không phải là tri thức như Adam đắc thủ, nhưng vừa là khoa học của tự nhiên, vừa là khoa học của ân sủng và đức hạnh kitô giáo mà con người chỉ đạt được với nỗ lực » (24). Theo cha Olier, muốn đạt khoa học ấy cần nỗ lực hoạt động với tất cả tâm trí và dưới sự dẫn dắt của Thánh Thần với ba dự kiện căn bản : khiêm nhường, hoán cải và nhiệt tâm. Riêng về đào tạo nhân bản, nếu Tông huấn Pastores dabo vobis nhận định rằng « không có đào tạo nhân bản thỏa đáng thì việc đào tạo linh mục trong toàn bộ sẽ bị thiếu hụt mất nền tảng cần thiết » (số 43), thì điều hiển nhiên là ai trong chúng ta cũng thừa nhận rằng chiều kích đào tạo này bàn bạc trong cả ba chiều kích kia, nhất là chiều kích thiêng liêng. Thật vậy, người nào để cho Chúa Thánh Thần tự do hoạt động thực sự người đó sẽ sống rất « người » nhờ ơn hoán cải mỗi ngày. Hơn ai cả, các thánh đã chứng minh điều đó bằng chính đời sống cụ thể của các ngài.

2. Cùng với Tông huấn Pastores dabo vobis, tài liệu thứ hai liên quan đến mô hình người linh mục Á Châu hôm nay là tài liệu của Đại Hội lần thứ VII của Liên Hội Đồng Giám mục Á châu năm 2000, trong đó các giám mục Á châu đã đề nghị một hình ảnh sống động của người linh mục Á châu với ba đường nét cơ bản. Trước hết, giữa một xã hội tục hóa, linh mục phải là con người của mầu nhiệm, của sự thiêng thánh (a man of mystery/of the sacred). Thứ đến, giữa một thế giới không ngừng bị xâu xé, linh mục phải là con người của đối thoại (a man of dialogue). Sau cùng, giữa một thế giới đông đảo người nghèo về mọi phương diện, linh mục phải là người của khiêm nhường phục vụ (a man of humble service). Chỉ cần một cái nhìn thoáng qua về năm đặc tính cốt yếu của đường lối đào tạo mục tử do cha Olier để lại chúng ta cũng có thể thấy được phần nào tính năng động hiện thực của đặc sủng ấy trong bối cảnh xã hội và Giáo Hội của Châu Á và Việt Nam hôm nay.

Hãy trưng dẫn một ví dụ : vào thời đó, nghĩa là cách đây đã gần 400 năm, cha Olier đã xếp đặt một « năm Tu đức » cho các ứng sinh, điều mà bản Ratio institutionis sacerdotalis của các Đại Chủng Viện Việt Nam đang đề nghị và nếu được sẽ áp dụng trong thời gian tới sau khi được Hội Đồng Giám Mục Việt Nam chấp thuận và đệ trình Tòa Thánh để xin phê chuẩn. Thật vậy, năm đầu tiên ở nhà Vaugirard được gọi là « Năm tập » với những chỉ dẫn cụ thể do chính Cha Olier soan thảo : « Trong suốt năm này, các người đào tạo sẽ dạy cho ứng sinh về đời sống kitô hữu, áp dụng các chủ đề thiêng liêng vào việc luyện tập các nhân đức cách cụ thể để bù lại những thiếu sót về phương diện quan yếu này nơi các ứng sinh chưa được đào tạo thích đáng. Các nhà đào tạo cũng giúp ứng sinh đặt đời mình dưới sự dẫn dắt của một mình Chúa là Đấng duy nhất điều khiển tâm hồn theo tình yêu vô biên của Người » (25). Tắt một lời, đây là thời tập cho ứng sinh sống từ bỏ, khiêm nhường, thanh tẩy con người cũ, khai thông ơn đã lãnh nhận trong bí tích Thanh tẩy mà mọi kitô hữu đều lãnh nhận. Thật là một năm « tu đức » đúng nghĩa để đào tạo chủng sinh thành những linh mục say mê Thiên Chúa và con người.

Để kết luận chúng ta có thể tin rằng, đoàn sủng mà Đấng sáng lập Hội Xuân Bích nhận được và cống hiến cho Giáo Hội vẫn tiềm tàng những chỉ dẫn quý báu cho cuộc canh tân không ngừng về đào tạo chủng sinh và thăng tiến đời linh mục địa phận hôm nay và ngày mai. Những giá trị ngài để lại mời gọi chúng ta cọng tác để làm trổ sinh bông hạt chín vàng mỗi ngày mỗi hơn trong cuộc sống. Ở đây xin được nêu bật hai giá trị đặc biệt trong gia sản cha Olier để lại có thể ảnh hưởng trên đời sống chúng ta nhiều nhất, đó là lòng sám hối liên lỉ và địa vị ưu tiên của đời nguuyện cầu. Một lần nữa xin được phép trích lại lời chia sẻ của Cha Terrien, nguyên Bề Trên Tổng Quyền Xuân Bích, cách đây đúng một năm : « Mỗi khi tôi giảng tĩnh tâm cho các linh mục, tôi đều kể câu chuyện về hành trình thiêng liêng của cha Olier, bởi vì theo tôi, câu chuyện này dạy chúng ta nhiều điều. Trước hết đó là việc cha Olier đã nói với chúng ta về một chuỗi những cuộc hoán cải trở về trong đời ngài.[...] Kế đến là những khủng hoảng trong đời của ngài. Làm sao một người chân thành tìm kiếm sự thiện và trung tín với đời sống thiêng liêng như thế mà lại phải chạm trán với những cuộc khủng hoảng lớn lao như thế ? Theo tôi tất cả chúng ta phải biết rằng chuyện đó cũng có thể xảy đến cho chúng ta vào bất cứ lúc nào trong cuộc sống. Dĩ nhiên chúng ta cần cầu nguyện và xin ơn bền vững kiên trung cũng như phải tìm kiếm những cách thế để tiếp tục con đường thánh thiện, qua việc linh hướng, lãnh nhận bí tích giao hòa sám hối thường xuyên và nhất là bằng đời cầu nguyện ».

Nói cách khác, tính ưu việt của đời sống thiêng liêng giữa các chiều kích đào tạo mà cha Olier không ngừng khai triển sẽ là một nguồn cảm hứng không bao giờ cạn kiệt cho đời sống và sứ vụ của các mục tử. Thật vậy, nếu trong Tông huấn Pastores dabo vobis, các Nghị Phụ đã khẳng định rằng « thiếu đào tạo thiêng liêng thì việc đào tạo mục vụ sẽ không có nền tảng, và rằng đào tạo thiêng liêng chính là ‘yếu tố quan trọng nhất trong nền giáo dục linh mục’ » (số 45) thì quả thật trực giác của Cha Olier về chuyện đào tạo « cái tâm » của người linh mục mà chúng ta vừa điểm qua những nét chính yếu trên đây, đã và đang là một hồng ân ơn cao quý Chúa ban cho Hội Thánh hôm qua, hôm nay cũng như mọi ngày./.

 

Lm. Giuse Hồ Thứ

Lễ Đức Mẹ Dâng Mình Vào Đền Thờ 21/11/2008

 

——————

(1) Cf. Bernard Pitaud, Petite vie de Jean-Jacques Olier, Paris, Desclée de Brower,1996, tr. 14 : « Il faut entrer par la porte de la vocation ». Công thức thời danh này được tìm thấy trong chương cuối, phần I của tác phẩm « Traité des Saints Ordres » của cha J.-J. Olier. Xem thêm Bulletin de Saint-Sulpice, no 10 (1984), tr.16-24.      

(2) J. Le Brun, « Le prêtre sous l’Ancien Régime », trong Christus số 50 (1966), tr. 256. Dẫn theo Gilles Chaillot, « Critère pour la formation spirituelle des pasteurs. La tradition pédagogique héritée de M. Olier », trong Bulletin de Saint-Sulpice, no   4 (1978), tr.16.      

(3) Cf. Gilles Chaillot, Prier à Saint-Sulpice avec Jean-Jacques Olier, Paris, Desclée de Brower, 1995, p. 21.

(4) Compagnie des Prêtres du Clergé de France.

(5) Theo ý chúng tôi, từ này được hiểu theo nghĩa « thờ phượng », « tế lễ », hơn là « tôn giáo ».

(6) Divers écrits, 1, 71 : Il fallait travailler « auparavant à purifier la source de leur sanctification qui sont les prêtres ». Dẫn theo Gilles Chaillot, « Critère pour la formation spirituelle des pasteurs. La tradition pédagogique héritée de M. Olier », trong Bulletin de Saint-Sulpice, no   4 (1978), tr.18.    

(7) Phần này chúng tôi dựa vào bản tóm lược luận án thần học của Stanilaw Nowak, trình bày  tại Đại học Công Giáo Paris năm 1971, với nhan đề : “La conception du sacerdoce dans l’École francaise pendant la première moitié du XVIIe  siècle”, trong Bulletin de Saint-Sulpice số 10 (1984), tr. 25-60. 

(8) Cf. Society of St.Sulpice, St. Sulpice:a tradition of priest of priestly formation. The Associated Sulpicians of The U.S.,2000. Dẫn theo “Xuân Bích: một truyền thống đào tạo linh mục”, site http://xuanbichvietnam.wordpress.com.

(9) Divers écrits,1, 69 : « Réforme des peuples par la sanctification du clergé ». Dẫn theo Gilles Chaillot, « Critère pour la formation spirituelle des pasteurs. La tradition pédagogique héritée de M. Olier », trong Bulletin de Saint-Sulpice, no   4 (1978), tr.15.      

(10) Hiến Pháp Xuân Bích, số 1. Dĩ nhiên trong Hội Thánh vẫn có những hội dòng xem việc phục vụ giáo sĩ địa phận như là một trong những sứ mệnh của mình, chẳng hạn như các cha Spiritains, các cha Eudistes, v.v… nhưng đặc sủng cha Olier nhận được và truyền lại cho môn sinh vẫn có nét đặc thù, vì ngoài sứ mệnh đó ra Hội chẳng còn gì khác.

(11) Bernard Pitaud, Petite vie de Jean-Jacques Olier, Paris, DDB, 1996, trang 74.

(12) J.-J. Olier, « Dự thảo 1651 », trong Projet de l’établissement d’un séminaire, tr. 228-229. Dẫn theo “Xuân Bích: một truyền thống đào tạo linh mục”, site http://xuanbichvietnam.wordpress.com.

(13) Mémoires 3, 83. Chính do niềm khao khát này mà một vài tháng sau khi cha Olier lìa đời, ngày 29/07/1657, bốn linh mục xuân bích Pháp đầu tiên do chính ngài sai đi truyền giáo đã cặp bến Québec (Canada). Năm 1929, các linh mục Xuân Bích đã đặt chân đến Việt Nam và au đó chủng viện theo tinh thần Xuân Bích đầu tiên được thành lập ở Liẽu Giai ngày 01/09/1933.

(14) Chỉ cần nêu lên một chi tiết : căn nhà khó bé nhỏ đầu tiên ở Vaugirard đã từng được Đức Hồng y Richelieu hứa đổi cho một ngôi nhà khác nhưng ba nhà tiên phong đã từ chối vì sợ không phù hợp với đức khó nghèo. Tuy thế trong chủng viện đầu tiên này, mỗi chủng sinh đều có phòng riêng để cầu nguyện và học hành, khác với các chủng viện do thánh Charles Borromée thiết lập với những phòng ngủ tập thể và nhiều phòng chung để tiện tiếp cận chủng sinh. Cha Olier không bao giờ khuyên các cha giáo chủng viện đến bất ngờ trong các nơi chủng sinh tập trung để bắt lổi họ về  kỷ luật. Cũng thế trong chủng viện Xuân Bích không có cha giám luật.

(15) M. Tronson, Lettre à M. Eyraud, oct., 24, 1689. Dẫn theo “Xuân Bích: một truyền thống đào tạo linh mục”, site http://xuanbichvietnam.wordpress.com

(16) Divers écrits 1, 84.

(17) Mémoires 1, 321 và 322. Dẫn theo G. Chaillot, op., cit., tr. 18.

(18) Cf. G. Chaillot, op., cit., p. 18.

(19) « porteurs de Jésus ….comme des sacrements qui le portent ».

(20) Jésus devant les yeux, Jésus dans le coeur, Jésus dans les mains.

(21) « Anciens offices propres de Saint-Sulpice ».

(22) « La Vie intérieure de la Sainte Vierge », được đề nghị kính nhớ vào ngày 22/10 hằng năm.

(23) Xem khảo cứu công phu của cha G. Chaillot, « Aux sources des liturgies mariales propres à Saint-Sulpice : L’expé rience personnelle de J.-J. Olier », trong Bulletin de Saint-Sulpice, no 29 (2003), tr. 223-259.      

(24) Dẫn theo “Une science humaine et divine tout ensemble”, texte inédit de J.-J. Olier, trong Bulletin de Saint-Sulpice, no 12 (1986), tr. 13-15.

(25) Ecrits divers, I, 139. Dẫn theo Michel Dupuis, « Quel rôle M. Olier donnait-il à la formation pastorale ? », trong Bulletin de Saint-Sulpice, no  2 (1976), tr.72.      

 

 100_0238

 

About these ads
%d bloggers like this: