HUẤN THỊ DIGNITAS PERSONAE VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LUÂN LÝ SINH HỌC (PHẦN II)

PHẦN THỨ HAI : NHỮNG VẤN ĐỀ MỚI MẺ LIÊN QUAN ĐẾN SỰ SINH SẢN

11. Dưới ánh sáng của các nguyên tắc được đề cập trên đây, chứng tỏ cần thiết bây giờ phải xem xét một số vấn đề liên quan đến sự sinh sản, những vấn đề đã xuất hiện rõ trong suốt những năm theo sau sự ra đời của Huấn thị Donum Vitae.

Những kỹ thuật trợ giúp cho sự sinh sản

12. Liên quan đến việc chữa trị chứng vô sinh, các công nghệ kỹ thuật y khoa mới phải tôn trong ba giá trị căn bản : a) quyền sống và quyền toàn vẹn thể lý của mọi hữu thể nhân linh từ lúc thụ thai cho đến cái chết tự nhiên ; b) sự duy nhất của hôn nhân mà bao hàm sự tôn trọng lẫn nhau quyền của các phối ngẫu trở nên các bậc cha mẹ chỉ xuyên qua nhau (19) ; c) những giá trị đặc thù nhân bản của giới tính, mà « đòi hỏi rằng sự sinh sản của một nhân vị phải được theo đuổi như là hoa trái của hành vi phối ngẫu đặc thù của tình yêu của vợ chồng » (20). Các kỹ thuật mà xuất hiện như là một sự trợ giúp cho việc sinh sản « không cần phải loại bỏ bởi vì nhân tạo. Những kỹ thuật như thế, chúng chứng tỏ những khả năng của nghệ thuật y khoa. Nhưng chúng cần phải được lượng giá về mặt luân lý qua việc quy chiếu đến phẩm giả của nhân vị, được kêu gọi thực hiên ơn gọi thần linh của nó là trao ban tình yêu và sự sống » (21).

Dưới ánh sáng của tiêu chuẩn này, cần phải loại trừ tất cả những kỹ thuật thụ tinh dị ngẫu (22) và những kỹ thuật thụ tinh nhân tạo đồng ngẫu (23) mà thay thế cho hành vi vợ chồng. Trái lại, được phép những kỹ thuật như là trợ giúp cho hành vi vợ chồng và cho sự sinh sản của họ. Huấn thị Donum vitae diễn tả bằng những từ ngữ này : « Vị y sĩ nhằm phục vụ con người và việc sinh sản của con người : ông không có quyền tùy ý sử dụng họ cũng không quyết định thay cho họ. Sự can thiệp y khoa là tôn trọng phẩm giá của các nhân vị khi nó nhắm giúp đỡ hành vi vợ chồng, để tạo điều kiện dễ dàng cho việc thực hiện nó, tức là để cho phép nó đạt đến mục đích một khi nó đã được thực hiện cách bình thường » (24). Liên quan đến việc thụ tinh nhân tạo đồng ngẫu, huấn thị khẳng định : « sự thụ tinh nhân tạo đồng ngẫu ở bên trong hôn nhân không thể được thừa nhận, trừ phi trong trường hợp phương tiện kỹ thuật không thể thay thế cho hành vi vợ chồng, nhưng  xuất hiện như là một sự tạo điều kiện dễ dàng và là một sự trợ giúp để hành vi này đạt tới mục đích tự nhiên của nó » (25).

13. Những kỹ thuật nhắm loại bỏ những trở ngại cho việc sinh sản tự nhiên, như là việc chữa trị hocmon chứng vô sinh do tuyến sinh dục, việc chữa trị giải phẫu tử cung, việc khai thông các vòi tử cung hay khôi phục vi phẫu độ tiếp nhận của chúng, tự chúng là hợp pháp. Chúng có thể được xem như là những trị liệu pháp đích thực, trong chừng mực, một khi đã giải quyết vấn đề nguồn gốc của sự vô sinh, vợ chồng có thể thực hiện những hành vi hôn nhân trong mục đích sinh sản, mà vị y sĩ không can thiệp trực tiếp vào hành vi vợ chồng như thế. Không có kỹ thuật nào trong các kỹ thuật này được thay thế cho hành vi vợ chồng, mà vẫn là hành vi xứng đáng duy nhất của việc sinh sản có trách nhiệm.

Để đáp lại cho ước muốn của nhiều đôi vợ chồng vô sinh muốn có con, cũng nền khích lệ, thăng tiến và tạo điều kiện dễ dàng, bằng những biện pháp pháp chế thích hợp, thủ tục nhận nuôi nhiều trẻ mồ côi mà cần đến một mái ấm gia đình cho sự tăng trưởng con người thích đáng của chúng.

Cuối cùng, cần phải lưu ý rằng những nghiên cứu và đầu tư nhằm ngăn ngừa việc vô sinh xứng đáng được khích lệ.  Một phần đáng kể các trường hợp vô sinh đến trình diện ngày nay với y sĩ, nơi người nữ cũng như nơi người nam, trên thực tế hẳn có thể tránh khỏi, nếu nhân đức trong sạch được sống trung thành hơn, nếu các chủ thể chấp nhận một lối sống lành mạnh hơn, và nếu các nhân tố rủi ro ở các cấp bậc nghề nghiệp, cấp dưỡng, dược lý và sinh thái được loại bỏ.

Thụ thai trong ống nghiệm và việc hủy bỏ cách chủ ý các phôi

14. Huấn thị Donum vitae đã từng nhận xét rằng việc thụ tinh trong ống nghiệm bao gồm việc loại bỏ cách chủ ý một số phôi nhất định (26). Một số nghĩ rằng điều đó là do phần kỹ thuật còn chưa hoàn hảo. Trái lại, kinh nghiệm đã cho thấy rằng, trên thực tế, tất cả các kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm được diễn ra như thể phôi người chỉ là một đống tế bào được sử dụng, chọn lọc hay loại bỏ.

Chắc chắn, khoảng một phần ba phụ nữ nại đến việc sinh sản nhân tạo đạt đến việc có con. Thế nhưng, lưu tâm đến mối tương quan giữa con số toàn thể các phôi được sản sinh và các phôi thực sự sinh ra, thì con số phôi bị hy sinh vẫn là rất cao (27). Những việc mất phôi này được các chuyên viên kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm chấp nhận như là cái giá phải trả để đạt được những kết quả quyết định. Thật đáng bận tâm khi thấy rằng trong lãnh vực này, việc nghiên cứu dường như không mang một mối quan tâm thực sự đối với quyền sống của mỗi phôi, nhưng nhất là nhắm đạt được những kết quả tốt nhất xét theo tỉ lệ phần trăm các trẻ sinh ra so với các phụ nữ bắt đầu việc chữa trị.

15. Người ta thường phản đối rằng những tổn thất phôi này trong nhiều trường hợp diễn ra cách không chủ ý hay thậm chí ngược với ý muốn của các bậc cha mẹ và các y sĩ. Người ta khẳng định rằng nó hệ tại những rủi ro không khác biệt lắm với những rủi ro gắn liền với tiến trình tự nhiên của việc sinh sản và rằng muốn sinh ra sự sống mà không chấp nhận rủi ro nào thì trên thực tiễn sẽ có nghĩa là tránh truyền lại nó. Chắc chắn, tất cả những tổn thất phôi nơi việc sinh sản trong ống nghiệm không được gắn liền kiểu như thế với ý muốn của các bên liên hệ. Nhưng nó tỏ ra rằng, trong nhiều trường hợp, người ta thấy trước và muốn bỏ đi, hủy hoại hay làm tổn thất phôi.

Các phôi được sản sinh trong ống nghiệm mà cho thấy những khuyết tật đều bị loại bỏ cách có hệ thống. Càng ngày càng có nhiều vơ chồng không bị vô sinh nại đến những kỹ thuật sinh sản nhân tạo với mục đích duy nhất là  tiến hành việc chọn lọc di truyền các con cái của họ. Việc thực hành hiện nay từ nay nơi nhiều nước là kích thích việc rụng trứng để đạt được nhiều noãn bào có thể được thụ tinh. Một số phôi đạt được như thế được truyền vào trong tử cung, đang khi mà những phôi khác lại được đông lạnh để dùng cho những can thiệp sinh sản có thể trong tương lai. Mục đích của việc truyền nhiều như thế là ít ra để bảo đảm, trong chừng mực có thể, việc cấy được một phôi. Để đạt đến mục tiêu này, người ta cấy một số phôi lớn hơn số con cái mong muốn, đang khi thấy trước rằng một số phôi sẽ tổn thất và trong mọi trường hợp, người ta sẽ tránh việc nhiều bào thai. Như thế, trong thực tế, kỹ thuật truyền phôi bao gồm việc đối xử thuần túy dụng cụ các phôi. Không phải nghĩa vụ nghề nghiệp chung, cũng chẳng phải các thẩm quyền y tế thừa nhận, trong bất cứ lãnh vực nào khác của y khoa, một kỹ thuật bao gồm một tỉ lệ tổng thể cao như thế của những thất bại hay tổn thất. Các kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm thực ra được chấp nhận, vì chúng giả thiết trước rằng ở đây phôi không xứng đáng một sự tôn trọng trọn vẹn trong chừng mực nó ở thế cạnh tranh với một ước muốn mà nó phải làm thỏa mãn.

Thực tại buồn bã này, thường bị lờ đi, là hoàn toàn đáng tiếc, vì « thậm chí các kỹ thuật sinh sản nhân tạo, mà dường như là để phục vụ sự sống và là những thực hành bao hàm khá thường ý hướng này, trên thực tế mở cửa cho những tấn công mới nhắm vào sự sống » (28).

16. Giáo Hội cũng xem như là không thể chấp nhận được ở bình diện luân lý việc chia cắt sự sinh sản ra khỏi bối cảnh nhân vị toàn vẹn của hành vi vợ chồng (29) : việc sinh sản của con người là một hành vi nhân vị của cặp nam-nữ không công nhận bất cứ hình thức đại diện thay thế nào. Việc chấp nhận lặng lẽ tỉ lệ phá thai rất cao mà các kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm bao hàm chứng minh cách hùng hồn rằng việc thay thế hành vi vợ chồng bởi một thủ tục kỹ thuật – ngoài việc không tuân theo sự tôn trong phải có đối với việc sinh sản, việc này không được giảm trừ thành chỉ còn chiều kích sản xuất – đóng góp vào việc làm yếu đi ý thức tôn trọng phải có đối với mọi hữu thể nhân linh. Trái lại, việc nhìn nhận sự tôn trọng này được làm cho dễ dàng bởi tính mật thiết của đôi bạn được đánh động bởi tình yêu vợ chồng.

Giáo Hội nhìn nhận tính hợp pháp của ước muốn có con cái, và hiểu những đau khổ của các phối ngẫu đang gặp thử thách do những vấn đề son sẻ. Thế nhưng, ước muốn này không thể đi trước phẩm giá của sự sống con người, đến độ thay thế nó. Ước muốn có một đứa con không thể biện minh cho « sự sản xuất » của nó, cũng như ước muốn không mang thai không thể biện minh cho việc bỏ hay hủy hoại nó.

Trên thực thế, người ta có cảm tưởng rằng một số nhà nghiên cứu, thiếu hoàn toàn quy chiếu luân lý và (họ) ý thức về tiềm năng gắn liền với sự tiến bộ kỹ thuật, nhượng bộ cho lý lẽ của duy những ước muốn chủ quan (30) và cho áp lực tài chính, đặc biệt rất mạnh trong lãnh vực này. Đối diện với việc dụng cụ hóa hữu thể nhân linh ở giai đoạn phôi, cần phải tái khẳng định rằng « tình yêu của Thiên Chúa không phân biệt giữa hữu thể nhân linh vừa được cưu mang và vẫn còn ở trong dạ mẹ, và đứa trẻ, hay thiếu niên, hay là người đã chín chắn hay người già. Ngài không phân biệt, vì nơi mỗi người trong họ Ngài thấy dấu vệt của hình ảnh và giống như Ngài […] Đó là lý do tại sao Huấn Quyền của Giáo Hội liên lỉ tuyên bố đặc tính linh thánh và bất khả xâm phạm của mỗi sự sống con người, từ khi thụ thai cho đến kết thúc tự nhiên của nó » (31).

Kỹ thuật bơm tinh trùng vào trứng (Injection intracytoplasmique de spermatozoïdes ( ICSI) )

17. Trong số những kỹ thuật thụ tinh nhân tạo được phát triển gần đây, việc bơm tinh trùng vào trứng (32) đã dần dần mang một tầm quan trọng to lớn. Nó đã trở nên kỹ thuật được sử dụng nhiều nhất, do tính hiệu quả lớn hơn của nó, và bởi vì nó cũng cho phép vượt qua những hình thức vô sinh nam khác nhau (33).

Như việc thụ tinh trong ống nghiệm, mà nó là một biến thể, ICSI là một kỹ thuật bất hợp pháp nội tại, vì nó thực hiện một sự chia cắt hoàn toàn giữa việc sinh sản và hành vi vợ chồng. Trên thực tế, ICSI cũng được « thực hiện bên ngoài thân thể của cặp phối ngẫu, bởi những cử chỉ của những đệ tam nhân mà khả năng của họ và hành vi kỹ thuật quyết định sự thành công của sự can thiệp : nó phó mặc sự sống và căn tính của phôi cho quyền lực của các y sĩ và các nhà sinh học, và thiết lập một sự thống trị của kỹ thuật trên nguồn gốc và số phận của nhân vị. Một mối tương quan thống trị như thế tự nó là trái với phẩm giá và sự bình đẳng chung cho cha mẹ và con cái. Việc thụ thai trong ống nghiệm là kết quả của hành động kỹ thuật chi phối sự thụ tinh ; nó không được đạt được cách hiệu quả, cũng không tích cực được muốn, như là sự diễn tả và là hoa trái của một hành vi đặc thù của sự kết hợp vợ chồng » (34).

Kỹ thuật làm đông lạnh phôi (La congélation des embryons)

18. Một trong những phương pháp được dùng để cải tiến tỉ lệ thành công của các kỹ thuật sinh sản trong ống nghiệm là việc nhân tăng con số chữa trị liên tiếp. Để không lập lại việc lấy ra các noãn bào nơi phụ nữ, người ta thực hiện việc lấy duy nhất nhiều noãn bào mà người ta thụ tinh trong ống nghiệm, và người ta bảo toàn đông lạnh một phần quan trọng các phôi đạt được như thế (35), nhằm đề phòng trước vòng chữa trị thứ hai, trong trường hợp lần thử thứ nhất thất bại, hay đối với những trường hợp mà cha mẹ mong muốn một bào thai khác. Đôi khi, người ta cũng tiến hành làm đông lạnh các phôi được dự định cho lần truyền đầu tiên, vì sự kích thích hocmon chu kỳ nữ giới sản xuất ra những hiệu quả mà dẫn đến việc chờ đợi sự bình thường hóa các điều kiện sinh lý trước khi tiến hành truyền các phôi vào trong tử cung.

Việc bảo quản lạnh là không tương thích với sự tôn trọng phải có đối với các phôi người : nó giả thiết trước việc sản xuất nó trong ống nghiệm, và đặt chúng vào những nguy tử trầm trọng hay những biến chất sự toàn vẹn thể lý của chúng, cũng như cho thấy tỉ lệ phần trăm cao không sống sót sau kỹ thuật đông lạnh và làm tan đông lạnh. Ít ra cách tạm thời, nó tước chúng khỏi sự đón tiếp của người mẹ và khỏi sự phát triển trong thời gian mang thai và đặt chúng trong một hoàn cảnh có nguy cơ tổn hại và bị biến cải về sau (36).

Đa số các phôi không được sử dụng vẫn là « những trẻ mồ côi ». Các cha mẹ không yêu cầu chúng, và đôi khi người ta làm mất dấu vết của các cha mẹ này. Điều đó giải thích sự tồn tại của các nhà băng của hàng triệu phôi đông lạnh trong hầu như tất cả các nước mà việc thụ tinh trong ống nghiệm được thực hành.

19. Liên quan đến nhiều phôi đông lạnh đang tồn tại rồi, người ta tự hỏi phải làm gì với chúng. Một số người tự đặt câu hỏi này mà không nắm bắt tầm quan trọng luân lý của nó, họ được thúc đẩy duy nhất bởi sự cần thiết tôn trọng luật đòi hỏi thanh toán, sau một khoảng thời gian nào đó, những trung tâm bảo toàn đông lạnh các phôi này, đang khi chờ đợi đổ cho đầy chúng một lần nữa. Một số khác trái lại ý thức về sự bất công nghiêm trọng phạm phải, tự hỏi làm thế nào đáp lại nghĩa vụ sửa chữa những bất công này.

Những đề nghị sử dụng các phôi này cho việc nghiên cứu hay dự định chúng cho những mục đích chữa trị rõ ràng là không thể chấp nhận được, bởi vì người ta sử dụng chúng như là một « chất liệu sinh học » đơn giản, điều này ngụ ý hủy hoại chúng. Việc đề nghị làm tan đông lạnh các phôi này và, không phục hoạt chúng, sử dụng chúng cho việc nghiên cứu như thể đó chỉ là những xác chết, cũng không thể chấp nhận vì vấn đề không thể vượt qua được theo quan điểm cộng tác vào điều xấu và gây gương xấu (37).

Cũng thế, việc đề nghị đặt những phôi này dùng cho các cặp vợ chồng son sẻ, như là « liệu pháp cho sự son sẻ » không thể chấp nhận được theo quan điểm luân lý cũng vì chính những lý do như những lý do làm cho bất chính việc sinh sản nhân tạo dị ngẫu cũng như tất cả hình thức làm mẹ thay (38). Vả lại, việc thực hành này hẳn bao hàm nhiều vấn đề khác trên bình diện y khoa, tâm lý và pháp lý.

Để đem lại cơ hội sinh ra cho các hữu thể nhân linh nếu không sẽ buộc phải bị hủy hoại, một hình thức « nhận con nuôi trước khi sinh »  cũng đã được đề nghị. Giải pháp này, đáng được ca ngợi trong những ý hướng của nó để sự sống con người được tôn trọng và bảo vệ, lại cho thấy nhiều vấn đề không khác với những vấn đề đã được liệt kê trên đây rồi.

Chung cục, cần phải công nhận rằng hằng nghìn phôi trong tình trạng bị bỏ rơi thể hiện một hoàn cảnh bất công mà thực ra lại có thể sửa chưa được. Chính vì thế Đức Gioan Phaolô II đã đưa ra « một tiếng gọi với lương tâm của các vị hữu trách của thế giới khoa học và cách đặc biệt đối với các y sĩ để việc sản xuất phôi người được dừng lại, bằng cách quan tâm đến sự kiện rằng người ta không nhận thấy được bất kỳ kết cục chính đáng về mặt luân lý nào đối với số phận nhân linh của hàng ngàn và hàng ngàn phôi « đông lạnh », mà luôn luôn đang là và vẫn là những người giữ những quyền chủ yếu, và bởi thế cần phải bảo vệ về măt luật pháp như là những nhân vị » (39).

Kỹ thuật làm đông lạnh các noãn bào (La congélation d’ovocytes )

20. Trong mục đích giải quyết những vấn đề luân lý nghiêm trọng được đặt ra bởi việc bảo toàn đông lanh các phôi, người ta đã đề nghị làm đông lạnh các noãn bào, trong khuôn khổ các kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (40). Một khi được lấy ra một số noãn bào nhất định nhằm dự phòng cho nhiều vòng sinh sản nhân tạo, người ta thụ tinh duy nhất những noãn bào sẽ được truyền vào tử cung của người mẹ ; những noãn bào khác do đó được đông lạnh để dùng thụ tinh và truyền khi có thể trong trường hợp thất bại cho lần thử đầu tiên.

Về điểm này, nên làm rõ rằng việc bảo toàn đông lạnh các noãn bào nhằm tiến hành việc sinh sản nhân tạo phải được xem như là không thể chấp nhận được về mặt luân lý.

Kỹ thuật giảm trừ phôi (La réduction embryonnaire )

21. Một số kỹ thuật được dùng trong việc sinh sản nhân tạo, đặc biệt việc truyền nhiều phôi trong tử cung của người mẹ đã gây ra một sự gia tăng rõ ràng tỉ lệ phần trăm của nhiều bào thai. Trong đường hướng này, người ta xem xét kỹ thuật được gọi là « giảm trừ phôi » mà hệ tại việc can thiệp để giảm trừ số phôi hay bào thai hiện diện trong tử cung, bằng cách tiến hành loại chúng trực tiếp. Quyết định loại bỏ các hữu thể nhân linh như thế, mà trước đó người ta đã rất mong muốn, biểu lộ một sự nghịch lý, và nó thường là nguyên nhân cho các bậc cha mẹ về một sự đau khổ và một cảm giác tội lỗi mà có thể kéo dài nhiều năm.

Từ quan điểm luân lý, việc giảm trừ phôi là một sự phá thai chủ ý chọn lọc. Quả thế, nó hệ tại việc loại bỏ có chủ ý và trực tiếp một hay nhiều hữu thể nhân linh vô tội trong giai đoạn ban đầu của cuộc sống của chúng. Như thế, nó luôn luôn tạo nên một sự hỗn độn luân lý nghiêm trọng (41). Phán đoán luân lý này vẫn có giá trị ngay cả trong giả thiết còn phải chứng minh từng trường hợp, mà kỹ thuật này sẽ được thực hành trong khuôn khổ quản lý y tế việc mang nhiều bào thai, để tránh những rủi ro cho sự sống của bà mẹ cũng như cho sự sống của những đứa con sắp sinh.

Những lý luận được trình bày để biện minh cho việc giảm trừ phôi theo quan điểm luân lý thường quy chiếu đến những sự tương tự với các thảm họa thiên nhiên hay những hoàn cảnh cấp bách trong đó, bất chấp thiện chí của mọi người, không thể cứu tất cả các bên liên hệ. Những cái tương tự này không thể xây dựng, bằng bất cứ cách nào, một phán đoán luân lý nhằm bênh vực cho một thực hành phá thai trực tiếp. Trong trường hợp khác, người ta quy chiếu đến những nguyên tắc luân lý, như là những nguyên tắc chọn cái ít xấu hơn hay hành vi song hiệu, mà không thể được áp dụng trong bối cảnh này. Quả thế, không bao giờ  là hợp pháp để thực hiện một hành vi bất chính tự nội, cho dầu để nhắm đến một cứu cánh tốt : mục đích không biện minh cho phương tiện.

Chẩn đoán tiền cấy (Le diagnostic préimplantatoire)

22. Việc chẩn đoán tiền cấy ghép là một hình thức chẩn đoán trước khi sinh ra, gắn liền với những kỹ thuật thụ tinh nhân tạo. Nó bao gồm việc chẩn đoán di truyền các phôi đạt được trong ống nghiệm, trước khi truyền nó vào tử cung. Kỹ thuật này được dùng với mục đích có được sự chắc chắn là chỉ chuyền cho bà mẹ những phôi không có khuyết tật hay là những phôi của một giới tính đã xác định hay có một số phẩm chất.

Đang khi mà trong những hình thức chẩn đoán trước khi sinh, giai đoạn chẩn đoán được tách rời với giai đoạn có thể loại trừ bào thai và trong khoảng cách này, các cặp vợ chồng vẫn có tự do đón nhận con cái bệnh tật, thì sự chẩn đoán tiền cấy ghép thông thường đi trước việc loại bỏ phôi « bị nghi ngờ » là có những khuyết tật di truyền hay nhiễm sắc thể, hay là phôi mang một giới tính không được ao ước hay có những phẩm chất không được mong muốn. Việc chẩn đoán này – luôn nối kết với việc thụ tinh nhân tạo mà đã là bất hợp pháp tự nội – trên thực tế nhắm một sự chọn lọc phẩm chất với hậu quả hủy hoại các phôi, điều này được thể hiện bằng một hình thức thực hành phá thai sớm. Việc chẩn đoán tiền cấy bởi thế là sự diễn tả cái não trạng ưu sinh này « mà chấp nhận phá thai có chọn lọc để ngăn cản sự ra đời của những đứa trẻ bị ảnh hưởng bởi những loại dị thường khác nhau. Một não trạng như thế là ô nhục và luôn luôn đáng chê trách, bởi vì nó muốn đo lường giá trị của một mạng sống con người chỉ theo những tham số « bình thường tính » và của sự sung sướng thể lý, như thế đang mở ra  con đường cho sự hợp pháp hóa việc giết trẻ sơ sinh và cái chết êm dịu » (42).

Khi đối xử phôi người như chỉ là một « chất liệu phòng thí nghiệm », người ta thực hiện một sự làm hỏng hay phân biệt liên quan đến ý niệm phẩm giá con người. Phẩm giá, cách bình đẳng, thuộc về mỗi hữu thể nhân linh và không lệ thuộc vào kế hoạch của cha mẹ, điều kiện xã hội hay giáo dục văn hóa, cũng không thuộc về giai đoạn tăng trưởng thể lý. Nếu, vào những thời khác, dù chấp nhận chung chung quan niệm cũng như những đòi hỏi của phẩm giá con người, người ta đã thực hành sự phân biệt vì những động cơ chủng tộc, tôn giáo hay cương vị xã hội, thì ngày nay người ta can dự vào một sự phân biệt bất công và không kém nghiêm trọng hơn mà dẫn đến việc không nhìn nhận quy chế luân lý và pháp lý của các hữu thể nhân linh bị ảnh hưởng của các bênh tật nghiêm trọng hay tật nguyền : người ta đi đến chỗ quên rằng những bệnh nhân và những người bị tật nguyền không hình thành nên một thứ phạm trù tách riêng ; bệnh tật hay tật nguyền thuộc về thân phận nhân sinh và liên quan đến mọi người cách cá nhân, thậm chí khi người ta không có kinh nghiệm trực tiếp về chúng. Một sự phân biệt như thế là phi luân lý và do đó phải được xem như là không thể chấp nhận được về mặt pháp lý ; cũng thế, người ta phải loại trừ những rào chắn văn hóa, kinh tế và xã hội, mà làm xói mòn sự nhìn nhận trọn vẹn và việc bảo vệ những người bị tật nguyền và bệnh tật.

 

Những hình thức ngừa thai mới : ngăn chặn mang thai và loại bỏ phôi thai (interception et contragestion)

23. Bên cạnh những phương pháp ngừa thai nói riêng mà ngăn cản việc thụ thai sau một hành vi tính dục, có những phương tiện kỹ thuật can thiệp sau việc thụ tinh, trước hay sau việc cấy phôi đã được hình thành trong tử cung. Những kỹ thuật này được gọi là kỹ thuật ngăn chặn mang thai (interceptives) khi chúng can thiệp trước khi cấy phôi trong tử cung của người mẹ, và kỹ thuật loại bỏ phôi thai (contragestives) nếu chúng gây ra việc loại bỏ phôi vừa mới cấy.

Để khuyến khích việc truyền bá các phương tiện ngăn chặn mang thai (43), đôi khi người ta khẳng định rằng cơ chế hoạt động của chúng đã không được biết đến cách đầy đủ. Chắc chắn, người ta vẫn còn chưa có được một sự hiểu biết toàn bộ về cơ chế hoạt động của các tác nhân khác nhau được dùng đến. Nhưng những nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng hiệu quả ngăn chặn cấy là thực sự có, cho dầu điều đó không có nghĩa rằng các phương tiện ngăn chặn mang thai gây ra một việc phá thai mỗi lần người ta nại đến chúng, bởi vì một quan hệ tính dục không luôn luôn tạo ra một sự thụ tinh. Tuy nhiên, nên ghi nhận rằng, nơi người nào muốn ngăn chặn việc cấy phôi có thể được mang thai về sau và vì thế yêu cầu hay đòi hỏi những tác nhân như thế, thì ý hướng phá thai nói chung đã có rồi.

Khi người ta nhận thấy một sự chậm trễ kinh nguyệt, thì đôi khi người ta nại đến việc loại bỏ phôi thai (44), nói chung được thực hành giữa một đến hai tuần sau khi nhận thấy cái gọi là sự chậm trễ. Mục tiêu được tuyên bố là tái lập một lần nữa kinh nguyệt, nhưng trên thực tế, nó hệ tại việc phá phôi thai vừa thực hiện việc cấy ghép của nó trong tử cung.

Như chúng ta biết, phá thai là « sự giết người có chủ ý và trực tiếp, dù là cách nào mà nó được thực hiện, một hữu thể nhân linh trong giai đoạn ban đầu của cuộc sống của nó, nằm giữa việc thụ thai và sinh ra » (45). Vì thế, việc sử dụng các phương tiện ngăn chặn mang thai và phá bỏ phôi thai nằm vào loại tội phá thai và vẫn là một hành vi phi luân lý nghiêm trọng. Vả lại, người ta chuốc lấy những hệ quả hình phạt nghiêm trọng, theo giáo luật (46).

 

(còn nữa)

 

————————

 

14. JEAN-PAUL II, Thông điệp Veritatis splendor, số. 45 : AAS 85 (1993), 1169 ; La Documentation catholique 92 (1993), tr. 916-917. 

15. BENOIT XVI, Diễn văn cho các tham dự viện của Hội nghị quốc tế được tổ chức nhân dịp Đại Hôi Đồng củ Hàn Lâm Viện Giáo Hoàng về Sự Sống « Phôi người trong giai đoạn tiền cấy » (27/02/2006) : AAS 98 (2006), 264 ; L’Osservatore Romano. Edition hebdomadaire en langue française, số. 10/2006, tr. 2. 

16. Bộ Giáo Lý Đức Tin, Huấn Thị Donum vitae, Dẫn nhập, 3 : AAS 80 (1988), 75 ; La Documentation catholique 84 (1987), tr. 351.

17. JEAN-PAUL II, Tông huấn hậu Thượng Hội Đồng Familiaris consortio về những nhiệm vụ của gia đình kitô hữu trong thế giới hôm nay (22/11/1981), số. 19: AAS 74 (1982), 101-102; La Documentation catholique 79 (1982), tr. 7.

18. x. Tuyên ngôn Dignitatis humanae, số. 14.

19. Xem. Bộ Giáo Lý Đức Tin, Huấn thị Donum vitae, II, A, 1 : AAS 80 (1988), 87 ; La Documentation catholique 84 (1987), tr. 355.

20. Ibid., II, B, 4: l.c., 92 ; La Documentation catholique 84 (1987), tr. 357.

21. Ibid., Dẫn nhập, 3: l.c., 75 ; La Documentation catholique 84 (1987), tr. 351.

22. Dưới cách gọi thụ tinh hay sinh sản nhân tạo dị ngẫu (hétérologue), người ta chỉ rõ « những kỹ thuật nhằm đạt được cách nhân tạo một sự thụ thai con người từ những giao tử ít ra đến từ một người hiến tặng khác với vợ chồng được kết hôn » (ibid., II : l.c., 86 ; La Documentation catholique 84 [1987], tr. 355). 

23. Qua việc thụ tinh hay sinh sản nhân tạo đồng ngẫu (homologue), người ta chỉ rõ « những kỹ thuật nhằm đạt được cách nhân tạo một sự thụ thai con người từ những giao tử của hai vợ chồng đã kết hôn» (ibid.).

24. Ibid., II, B, 7: l.c., 96 ; x. PIE XII, Diễn văn cho các tham dự viên Hội nghị quốc tế các ý sĩ Công giáo lần IV (29/09/1949) : AAS 41 (1949), 560.

25. Bộ Giáo Lý Đức Tin, Huấn thị Donum vitae, II, B, 6 : l. c., 94, ; La Documentation catholique 84 (1987), tr. 358.

26. X. Ibid., II : l.c., 86 ; La Documentation catholique 84 (1987), tr. 355.

27. Hiện nay, thậm chí nơi các trungtâm thụ tinh nhân tạo lớn nhất, số phôi bị hy sinh có thể là trên 80%. 

28. JEAN-PAUL II, Thông điệp Evangelium vitæ, n. 14 : AAS 87 (1995), 416 ; La Documentation catholique 92 (1995), tr. 357.

29. Xem. PIE XII, Diễn văn cho các tham dự viên ở Hội nghị thế giới tại Naples về sự sinh sản và vô sinh của con người (19/05/1956) : AAS 48 (1956), 470 ; PAUL VI, Thông điệp Humanae vitae, n. 12 : AAS 60 (1968), 488-489 ; La Documentation catholique 65 (1968), col. 1447 ; Bộ giáo lý đức tin, Huấn thị Donum vitae, II, B, 4-5 : AAS 80 (1988), 90-94 ; La Documentation catholique 84 (1987), tr. 356-358

30. Càng ngày càng có nhiều người, không còn liên kết với liên hệ hôn nhân, nại đến những kỹ thuật thụ tinh nhân tạo với mục đích có con. Những thực hành như thế làm yếu đi thể chế hôn nhân và làm nảy sinh những đứa con trong những bối cảnh không thuận tiện cho sự tăng trưởng nhân linh tròn đầy của chúng.

31. BENOIT XVI, Diễn văn cho các tham dự viên của Hội nghị quốc tế do Viện hàn Lâm Giáo hoàng về Sự Sống tổ chức với chủ đề « Phôi người trong giai đoạn tiền cấy » (27 /02/2006) : AAS 98 (2006), 264 ; L’Osservatore Romano. Edition hebdomadaire en langue française, n. 10/2006, tr. 2.

32. Kỹ thuật bơm tinh trùng vào trứng (ICSI), hầu như giống với những hình thức thụ tinh trong ống nghiệm khác, khác biệt với chúng, vì sự thụ tinh không xảy ra cách tự động trong ống nghiệm, nhưng là qua việc bơm tinh trùng duy nhất được chọn lọc trước đó vào trong tế bào chất noãn bào, hay đôi khi qua việc bơm các nguyên tố chưa thành thục của dòng chủng hệ nam.

33. Về vấn đề này, người ta bao hiệu rằng các chuyên gia tranh cãi về một số nguy cơ mà ICSI có thể bao hàm đối với sức khỏe của đứa con được cưu mang.

34. Bộ giáo lý đức tin, Huấn Donum vitae, II B, 5 : AAS 80 (1988), 93 ; La Documentation catholique 84 (1987), p. 358.

35. Việc làm đông lạnh phôi là một kỹ thuật đông lạnh ở nhiệt độ rất thấp với mục đích đạt được sự bảo quản lâu dài của chúng.

36. X. Bộ giáo lý đức tin, Huấn Donum vitae, I, 6 : AAS 80 (1988), 84-85 ; La Documentation catholique 84 (1987), tr. 354-355.

37. Xem các số 34-35 của Huấn thị này.

38. X. Bộ giáo lý đức tin, Huấn Donum vitae, II, A, 1-3 : l.c., 87-89 ; La Documentation catholique 84 (1987), tr. 355-356.

39. JEAN-PAUL II, Diễn văn cho các tham dự viên của Hội nghị chuyên đề về «Evangelium vitae et droit» và Hội thảo quốc tế Giáo luật lần thứ (24/05/1996), n. 6 : AAS 88 (1996), 943-944 ; L’Osservatore Romano. Edition hebdomadaire en langue française, n. 25/1996, p. 3.

40. Việc bảo quản đông lạnh các noãn bò cũng được dự định trong những bối cảnh khác mà không được chú ý ở đây. Dưới thuật ngữ noãn bào, người ta chỉ tế bào mầm củngười nữ, không được thụ tinh nhờ tinh trùng.

41. X. Hiến chế Gaudium et Spes, số 51; Jean-Paul II, Thông điệp Evangelium Vitae, số 62 : AAS 87 (1995), 472 ; La Documentation catholique 92 (1995), tr. 382-383.

42. Jean-Paul II, thông điệp Evangelium vitæ, số. 63 : AAS 87 (1995), 473 ; La Documentation catholique 92 (1995), tr. 383.

43. Các phương tiện ngăn chặn mang thai nổi tiếng nhất là vòng tránh thai (DIU : :dispositif intra-utérin), và « viên thuốc ngày hôm sau ».

44. Những phương tiện loại bỏ phôi thai chính yêu là viên thuốc RU 486 hay Mifépristone,  prostaglandines và  méthotrexate.

45. JEAN-PAUL II, Thông điệp Evangelium vitæ, số. 58 : AAS 87 (1995), 467 ; La Documentation catholique 92 (1995), tr. 381.

46. X. Giáo luật, khoản 1398 và CCEO, khoản. 1450 § 2 ; cũng đối chiếu Giáo luật, các khoản 1323-1324. Ủy ban Toà Thánh về việc Giải thích Giáo Luật Đích thực tuyên bố rằng khái niệm phá thai theo nghĩa hình luật được hiểu như là « giết chết một bào thai dù bằng cách nào và khi nào kể tử lúc thụ thai » (Trả lời cho những nghi ngờ của ngày 23/05/1988: AAS 80 [1988], 1818).

 

 Xem tiếp các phần Dẫn NhậpI, II, IIIKết Luận