HUẤN THỊ DIGNITAS PERSONAE VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LUÂN LÝ SINH HỌC (PHẦN III)

PHẦN THỨ BA: NHỮNG ĐỀ NGHỊ ĐIỀU TRỊ MỚI BAO GỒM VIỆC CẢI BIẾN PHÔI VÀ GIA SẢN DI TRUYỀN CỦA CON NGƯỜI.

 24. Trong suốt những năm vừa qua, những kiến thức thủ đắc được đã mở ra những viễn ảnh điều trị mới mẻ cho y học tái tạo (médecine régénérative) (là khoa học mà mục tiêu của nó là sửa chữa các mô hay các bộ phận của thân thể bị biến đổi về mặt di truyền, bị hư hỏng do bệnh tật hay tao nạn…chú thích của người dịch) và cho việc chữa trị các bệnh tật di truyền. Trái với trường hợp của các tế bào gốc trưởng thành, việc nghiên cứu các tế bào gốc phôi thai và những áp dụng điều trị có thể trong tương lai của chúng, đặc biệt, đã khơi lên một mối quan tâm lớn lao, cho dầu những tế bào này đã không cung cấp, cho đến ngày hôm nay, những bằng chứng về tính hiệu quả của chúng trong lãnh vực lâm sàng. Từ giây phút mà một số người cho rằng những kết quả điều trị mà có thể được đạt tới nhờ những tế bào gốc phôi thai có thể biện minh cho những hình thức cải biến (manipulation) và hủy hoại phôi người khác nhau, thì trong lãnh vực liệu pháp gien, từ kỹ thuật nhân bản vô tính (clonage) và từ việc sử dụng các tế bào gốc của con người, đã nổi lên cả một loạt những vấn nạn mà đòi hỏi một sự phân định luân lý chăm chú.

 

Kỹ thuật liệu pháp gien (La thérapie génique)

 

25. Qua thuật ngữ liệu pháp gien, cách chung người ta muốn chỉ rõ việc ứng dụng cho con người những kỹ thuật ứng dụng di truyền với mục đích điều trị, tức là nhằm chữa trị các bệnh di truyền, cho dầu người ta từ ít lâu nay muốn áp dụng liệu pháp gien trong khuôn khổ của việc chữa trị các bệnh tật không di truyền, và đặc biệt là bệnh ung thư.

Về mặt lý thuyết, có thể áp dụng liệu pháp gien ở hai cấp độ : cấp độ của các tế bào bản thể (cellules somatiques) và cấp độ các tế bào mầm (cellules germinales). Liệu pháp gien bản thể muốn loại bỏ hay giảm trừ các khuyết tật di truyền hiện diện ở cấp độ của các tế bào bản thể, tức là những tế bào không sinh sản bao gồm các mô và các bộ phận của thân xác. Trong trường hợp này, nó hệ tại những can thiệp nhắm đến những khu vực xác định của các tế bào, với những hệ quả được giới hạn cho chỉ một mình cá nhân chữa trị. Trái lại, liệu pháp gien mầm nhắm sửa chữa những khuyết tật di truyền nơi các tế bào thuộc dòng chủng hệ (lignée germinale), để những hệ quả điều trị đạt được nơi chủ thế có thể được truyền cho hậu duệ về sau của mình. Những can thiệp liệu pháp gien bản thể cũng như thuộc mầm này, có thể được thực hiện trên bào thai trước khi sinh – khi đó người ta sẽ nói về liệu pháp gien nơi tử cung (in utero) – hay sau khi sinh, trên đứa trẻ hay trên người trưởng thành.

26. Phán đoán luân lý về kỹ thuật liệu pháp gien phải quan tâm đến những phân biệt này. Những can thiệp trên tế bào bản thể với những mục đích hoàn toàn điều trị, trên nguyên tắc, là hợp pháp về mặt luân lý. Những kỹ thuật này muốn tái lập việc tạo hình dáng di truyền bình thường của chủ thể hay đền bù những thiệt hại được gây ra do những dị thường di truyền hay do những chứng bệnh khác nối kết với chúng. Vì liệu pháp gien có thể bao hàm những nguy cơ quan trọng đối với bênh nhân, nên cần phải tuân thủ nguyên tắc chung nghĩa vụ học theo đó việc vận dụng một sự can thiệp điều trị nhất thiết phải bảo đảm trước rằng bệnh nhân không có những nguy cơ – thái quá hay không tương xứng liên quan đến tính trầm trọng của căn bệnh và người ta muốn chăm sóc – cho sức khỏe hay cho sự toàn vẹn thân xác của mình. Sự đồng thuận rõ ràng của bệnh nhận hay của người đại diện hợp pháp của người bệnh cũng cần được đòi hỏi. Phán đoán luân lý về liệu pháp gien mầm, trái lại, là khác biệt. Mọi biến đổi gien được thực hiện nơi các tế bào mầm của một nhân vị hẳn sẽ được truyền cho hậu duệ của nó. Vì những nguy cơ gắn với mọi lạm dụng di truyền là quan trọng và ít được kiểm soát, nên về mặt luân lý, trong tình trạng hiện nay của việc nghiên cứu, không thể chấp nhận hành động liều lĩnh mà những tổn hại tiềm tàng gắn với sự can thiệp gien có thể được truyền cho con cái. Trong giả thuyết áp dụng liệu pháp gien cho phôi, cần phải thêm rằng người ta chỉ co thể thực hiện điều đó trong khuôn khổ kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, điều mà đặt nó trước những phản đối về mặt luân lý liên quan đến những tiến hành này. Vì những lý do này, người ta cần khẳng định rằng trong tình trạng hiện nay của sự việc, liệu pháp gien mầm, dưới mọi hình thức của nó là bất hợp pháp về mặt luân lý.

27. Giả thiết về những mục đích ứng dụng kỹ thuật trong lãnh vực di truyền, (những mục đích mà) khác với kỹ thuật ứng dụng điều trị, xứng đáng được chú ý cách đặc biệt. Một số nhà nghiên cứu đề nghị sử dụng những kỹ thuật ứng dụng di truyền để thực hiện những cải biến với mục đích gọi là cải tiến hay củng cố khả năng di truyền (la dotation génétique). Một số đề nghị trong đường hướng này tỏ rõ một loại không thỏa mãn hay thậm chí từ chối giá trị của hữu thể nhân linh như là thụ tạo và là nhân vị giới hạn. Ngoài những khó khăn vận dụng một kỹ thuật như thế, với tất cả những nguy cơ hiện thực và tiềm tàng gắn liền với nó, rõ ràng những cải biến như thế tạo điều kiện dễ dàng cho một não trạng ưu sinh và đưa vào một sự lên án gián tiếp của xã hội đối với những người không có một số phẩm chất đặc thù. Vả lại, chúng nhấn mạnh đến những phẩm chất được ưa thích bởi các nền văn hóa và xã hội nhất định, những phẩm chất mà chính chúng không tạo nên những gì đặc thù cho con người. Điều đó trái ngược với chân lý nền tảng của sự bình đẳng giữa tất cả các hữu thể nhân linh, được diễn tả bằng nguyên tắc công bằng, mà việc vi phạm nó dần dà, cuối cùng rồi cũng sẽ làm cho sự chung sống hòa bình giữa các cá nhân gặp nguy hiểm. Vả lại, người ta tự nhủ ai sẽ là người xác định trong số những biến đổi này, những biến đổi nào là tích cực và những biến đổi nào thì không, và đâu là những giới hạn của những việc nghiên cứu các nhân đối với cái cho là cải tiến, bởi vì không có thể đáp ứng cho mọi ước muốn của mỗi người. Câu trả lời cho những câu hỏi này dù sao đi nữa sẽ được trả lời dựa trên những tiêu chí trừu tượng và có thể tranh cãi. Tất cả những điều đó đưa đến kết luận rằng một viễn ảnh can thiệp như thế cuối cùng sớm hay muộn cũng sẽ làm hại cho công ích, bằng cách làm cho ý muốn của một số người thắng thế trên tự do của những người khác. Sau cùng, nên nêu rõ rằng, trong cám dỗ muốn tạo ra một loại người mới, một chiều kích ý thức hệ theo đó con người có tham vọng thay thế Đấng Tạo Hóa , được biểu lộ.

Khi khẳng định trên bình diện luân lý đặc tính không thể chấp nhận được của loại can thiệp này mà ngụ ý một sự thống trị bất công của người đối với người, Giáo Hội cũng nhắc lại sự cần thiết trở về vớiviễn ảnh săn sóc con người và giáo dục tiếp nhận sự sống con người trong sự giới hạn lịch sử cụ thể của nó.

Kỹ thuật nhân bản vô tính (Le clonage humain)

28. Qua kỹ thuật nhân bản vô tính, người ta chỉ việc sản xuất vô tính và vô giao toàn thể cơ thể người để sản xuất ra một hay nhiều « bản sao » về thực chất giống với nguyên bản (progéniteur) độc nhất (47) theo quan điểm di truyền. Việc sinh sản vô tính được đề nghị với hai mục tiêu căn bản : mục tiêu sản xuất (reproductif), tức là nhắm đạt được sự ra đời của một đứa con được sinh sản vô tính, và mục tiêu kia là điều trị (thérapeutique) hay nghiên cứu. Sinh sản vô tính sản xuất về mặt lý thuyết là có thể đáp lại một số nhu cầu đặc thù như việc kiểm soát sự tiến hóa của con người, sự chọn lọc các hữu thể nhân linh với những phẩm chất siêu đẳng, việc chọn lọc trước giới tính của đứa trẻ sắp sinh ra, việc sản sinh ra một đứa trẻ mà là « bản sao » của một người khác, việc sản sinh ra một đứa trẻ cho một đôi vợ chồng đau khổ vì son sẻ mà không có những giải pháp chữa trị khác. Trái lại, việc nhân bản vô tính điều trị được đề nghị như là phương tiện sản sinh ra những tế bào gốc phôi thai có một gia sản di truyền được xác định trước, để vượt qua vấn đề vất bỏ (bất tương thích di truyền miễn dịch (immuno-incompatibilité)) (do không có cùng gia sản di truyền giữa tế bào phôi và người được chữa trị, chú thích của người dịch); bởi thế, nó gắn liến với vấn đề sử dụng các tế bào gốc phôi thai.

Những toan tính sinh sản vô tính đã khơi lên một mối bận tâm to lớn trên toàn thế giới. Nhiều cơ quan ở bình diện quốc gia và quốc tế đã bày tỏ những phán đoán tiêu cực đối với việc nhân bản vô tính và, trong đa số các nước, đã bị cấm.

Nhân bản vô tính là bất hợp pháp tự nội trong chừng mực mà, khi đẩy đến cực độ đặc tính tiêu cực của phán đoán luân lý liên quan đến những kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, ở bình diện luân lý, nó muốn mang lại nguồn gốc cho một hữu thể nhân linh mới không hề có liên hệ nào với hành vi trao ban hỗ tương giữa vợ chồng và, cách tận căn hơn, không có liên hệ nào với giới tính. Hoàn cảnh này khơi lên những lạm dụng và cải biến mà gây hại nghiêm trọng cho phẩm giá nhân vị (48).

29. Nếu nhân bản vô tính có mục đích sản xuất, thì người ta sẽ áp đặt cho chủ thể nhân bản vô tính một gia sản di truyền đã được đặt định rồi, thực tế bằng cách làm cho nó phục tùng – như đã nói – một hình thức nô lệ sinh học mà nó có thể khó thoát khỏi đó. Sự kiện một người tự cho mình cái quyền quyết định cách tùy tiện những đặc tính di truyền của một người khác, là một xúc phạm nghiêm trọng đối với phẩm giá của người ấy và đối với sự bình đẳng căn bản giữa những con người.

Nét độc đáo của mỗi người xuất phát từ mối tương quan đặc biệt giữa Thiên Chúa và con người từ những khoảnh khắc đầu tiên của cuộc sống của nó. Điều này bó buộc phải tôn trọng tính độc đáo (singularité) và tính toàn vẹn của nó, bao hàm cả ở bình diện sinh học và di truyền. Mỗi người trong chúng ta gặp gỡ nơi người khác một hữu thể nhân linh mà mang ơn cuộc sống và những tính tình của riêng nó đối với tình yêu của Thiên Chúa, mà tình yêu duy nhất giữa vợ chồng là một sự trung gian phù hợp với kế đồ của Đấng Tạo Hóa và là Cha trên trời.

30. Cái gọi là nhân bản vô tính điều trị còn nghiêm trọng hơn ở bình diện luân lý. Tạo nên những phôi với mục đích loại bỏ nó, là hoàn toàn không tương thích với phẩm giá nhân vị, cho dầu ý hướng là trợ giúp các bệnh nhân, vì điều đó biến cuộc sống của một hữu thể nhân linh, ngay cả ở giai đoạn phôi thai của nó, không gì hơn là thành một phương tiện để sử dụng và để phá hủy. Thật phi luân lý nghiêm trọng để hy sinh một mạng sống người với mục đích điều trị.

Những phản đối luân lý được nhiều người khơi lên chống lại việc nhân bản vô tính điều trị và chống lại việc sử dụng phôi người được sản xuất trong ống nghiệm, đã dẫn các khoa học gia đến chỗ nghiên cứu những kỹ thuật mới, được giới thiệu như là có khả năng sản xuất các tế bào gốc kiểu phôi, mà tuy nhiên điều đó không giả thiết trước việc phá hủy các phôi người đích thực (49). Những đề nghị này đã khơi lên nhiều nghi vấn ở cấp độ khoa học và luân lý, nhất là những gì liên quan đến quy chế hữu thể học của « sản phẩm » đạt được như thế. Bao lâu những nghi ngại này không được làm sáng tỏ, thì người ta cần phải quan tâm đến những gì mà thông điệp Evangelium vitae đã khẳng định : « vấn đề can hệ là quan trọng đến nỗi, từ quan điểm bó buộc luân lý, chỉ duy xác suất (probabilité) đối diện với một nhân vị cũng đủ làm cho chính đáng việc cấm đoán rõ ràng nhất mọi can thiệp dẫn đến việc hủy bỏ phôi người » (50).

Việc sử dụng điều trị các tế bào gốc

31. Các tế bào gốc là những tế bào không phân hóa có hai đặc điểm căn bản : a) khả năng vững bền tự nhân tăng mà không bị phân hóa ; b) khả năng sinh ra những tế bào nguyên bản chuyển tiếp, mà những tế bào gốc phân hóa nhất phát xuất từ đó, chẳng hạn, các tế bào gốc thần kinh, cơ, máu.

Từ khi được chứng thực về mặt thực nghiệm rằng các tế bào gốc, khi được ghép vào một mô bị hư hỏng, có khuynh hướng làm cho dễ dàng việc tái tạo lại các tế bào và việc tái sinh lại mô này, thì những viễn ảnh mới được mở ra cho khoa y học tái tạo, khơi lên một mối quan tâm lớn lao trong số các nhà nghiên cứu của toàn thế giới. Các nguồn cội của các tế bào gốc được xác định nơi con người cho đến nay là : phôi ở những giai đoạn đầu tiên của sự phát triển của nó, bào thai, máu của dây rốn, những mô khác nhau nơi người trưởng thành (tủy xương, dây rốn, não, trung mô của các cơ quan khác…) và nước ối. Lúc đầu, những công trình nghiên cứu đặc biệt dựa trên các tế bào gốc phôi vì người ta đã nghĩ rằng những tế bào gốc phôi là những tế bào duy nhất sở hữu một tiềm năng nhân tăng và phân hóa lớn lao. Thế nhưng, nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng các tế bào gốc trưởng thành, chúng cũng có một khả năng thay đổi to lớn. Cho dầu những tế bào này dường như không có cùng khả năng làm mới và cùng độ mềm dẻo như các tế bào phôi, nhưng những nghiên cứu và những cuộc thử nghiệm có giá trị khoa học cao lại có khuynh hướng cho chúng những kết quả lâm sàng tích cực hơn, những gì không phải là trường hợp của các tế bào phôi. Các hình thức điều trị đang thịnh hành hiện nay dự kiến việc sử dụng các tế bào gốc trưởng thành ; về phương diện này, nhiều con đường nghiên cứu đang mở ra những chân trời mới mẻ và hứa hẹn đã được thúc đẩy.

32. Liên quan đến phán đoán luân lý, cần phải xem xét các phương pháp lấy các tế bào gốc cũng như những nguy cơ do việc sử dụng lâm sàng hay thực nghiệm của chúng.

Liên quan đến các phương pháp được sử dụng để thu tập các tế bào gốc, cần phải quan tâm đến nguồn gốc của chúng. Các phương pháp không mang lại những hư hoại nghiêm trọng cho chủ thể được lấy tế bào gốc là hợp pháp. Điều kiện này, cách thông thường, được chứng thực nơi những trường hợp sau : lấy a) mô của một cơ thể trưởng thành, b) máu của dây rốn vào lúc sinh, c) các mô bào thai chết cái chết tự nhiên. Trái lại, lấy các tế bào gốc của một phôi người còn sống chắc chắn gây ra việc hủy diệt nó và do đó, nó là bất hợp pháp cách nghiêm trọng. Trong trường hợp này, « cho dù các kết quả ích lợi điều trị thế nào, thì việc nghiên cứu không còn được nhằm phục vụ nhân loại cách đích thực. Quả thế, nó hủy bỏ các mạng sống của con người mà có một phẩm giá bình đẳng đối với các nhân vị khác và với chính các nhà nghiên cứu. Chính lịch sử đã kết án trong quá khứ và sẽ còn kết án trong tương lai một loại khoa học như thế, không chỉ bởi vì nó bị tước đi khỏi ánh sáng của Thiên Chúa, nhưng còn bởi vì nó bị tước đi khỏi nhân tính » (51).

Việc sử dụng các tế bào gốc phôi hay các tế bào gốc phân hóa phát xuất từ đó, có thể được cung cấp bởi các nhà nghiên cứu khác, và do việc hủy diệt các phôi, hay sẵn có nơi thương mại, đặt ra những vấn đề nghiêm chỉnh từ quan điểm cộng tác vào điều xấu và điều gây gương xấu (52).

Không có những phản đối luân lý liên quan đến việc sử dụng lâm sàng các tế bào gốc đạt được nhờ các cách thế hợp pháp. Tuy nhiên, cần phải tôn trọng các tiêu chí nghĩa vụ y học thông thường. Về phương diện này, nên tiến hành với nhiều chính xác và khôn ngoan, bằng cách giảm thiểu tối đa những nguy cơ có thể đối với các bệnh nhân, bằng cách tạo điều kiện cho cuộc tranh luận giữa các khoa học gia và cung cấp một thông tin đầy đủ cho đại chúng.

Sự thúc đẩy và sự ủng hộ cho việc nghiên cứu các tế bào gốc trưởng thành cần được khích lệ, vì nó không bao hàm những vấn đề luân lý (53).

Những toan tính lai tạo (les tentatives d’hybridation)

33. Thời gian gần đây, những noãn bào động vật đã được dùng cho việc tái lập chương trình các nhân tế bào bản thể của con người. Phương pháp này, nói chung được gọi là phương pháp nhân bản lai tạo, có mục đích lấy các tế bào gốc phôi trên các phôi được sản xuất, mà không cần phải nại đến việc sử dụng các noãn bào người.

Các phương pháp như thế, từ quan điểm luân lý, là một sự xúc phạm đến phẩm giá của hữu thể nhân linh, vì sự pha trộn các yếu tố di truyền người và súc vật có thể làm hại cho căn tính đặc thù của con người. Việc sử dụng có thể các tế bào gốc, được lấy ra từ những phôi này, như thế sẽ bao hàm những nguy cơ bổ sung thêm còn chưa được biết đến đối với sức khỏe, do sự hiện diện của chất liệu di truyền súc vật trong tế bào chất của chúng. Đặt để một hữu thể nhân linh một cách ý thức trước những nguy cơ này là không thể chấp nhận được về mặt luân lý và nghĩa vụ học.

Việc sử dụng « chất liệu sinh học » người có nguồn gốc bất hợp pháp

34. Đối với việc nghiên cứu khoa học và đối với việc sản xuất các vắcxin hay những sản phẩm khác , thỉnh thoảng người ta dùng những dòng tế bào (lignées de cellules), mà là sản phẩm can thiệp bất hợp pháp chống lại sự sống và sự toàn vẹn thể lý của hữu thể nhân linh. Mối liên hệ với hành vi bất công có thể là trực tiếp hay gián tiếp, vì nói chung nó hệ tại những tế bào được tái tạo cách dễ dàng và nhiều. « Chất liệu » này đôi khi được thương mại hóa hay được phân phối miễn phí ở những trung tâm nghiên cứu bởi các tổ chức công được luật pháp cho phép. Tất cả điều đó khơi lên những vấn đề luân lý khác nhau về vấn đề cộng tác vào điều xấu và điều tai tiếng. Bởi thế, nên loan báo những nguyên tắc chung mà từ đó, các thủ thuật viên có một lương tâm ngay thẳng, có thể phán đoán và giải quyết những hoàn cảnh mà họ có thể được bao hàm trong suốt hoạt động chuyên ngành của họ.

Trước tiên, cần phải nhớ rằng chính phán đoán luân lý về việc phá thai « cũng được áp dụng cho các hình thức can thiệp gần đây trên phôi người mà, cho dù đang theo đuổi những mục đích hợp pháp tự tại, thế nào cũng bao gồm việc giết chúng. Đó là trường hợp thí nghiệm trên các phôi, mà càng ngày càng được lan rộng trong lãnh vực nghiên cứu y sinh học, và được thừa nhận về mặt pháp lý trong một số Nhà Nước […]. Việc sử dụng các phôi hay các bào thai người như những đồ vật thí nghiệm tạo nên một tội ác chống lại phẩm giá hữu thể nhân linh của chúng, có quyền được tôn trọng bình đẳng với quyền phải có đối với đứa bé đã sinh ra và với tất cả mọi người » (54). Những hình thức thí nghiệm này luôn tạo ra một sự hỗn độn luân lý nghiêm trọng (55).

35. Một trường hợp khác cần được lưu ý là khi các nhà nghiên cứu sử dụng « chất liệu sinh học » có nguồn gốc bất hợp pháp, sản phẩm ở bên ngoài trung tâm nghiên cứu của họ hay ở trong thương mại. Huấn thị Donum Vitae đã trình bày nguyên tắc chung phải tuân giữ trong trường hợp này : « Các thây phôi hay các bào thai người, bị phá có chủ ý hay không, cần phải được tôn trọng như là những thi hài của những hữu thể nhân linh khác. Đặc biệt, chúng không thể là đối tượng của việc cắt xẻo hay mổ xác nếu cái chết của chúng đã không được ghi nhận, và không có sự ưng thuận của các bậc cha mẹ hay của người mẹ. Vả lại, cần phải bảo vệ đòi hỏi luân lý loại bỏ mọi tiếp tay với việc phá thai chủ ý, cũng như mọi nguy cơ gây gương xấu » (56).

Về vấn đề này, vẫn chưa đủ cái tiêu chuẩn độc lập được một số ủy ban luân lý đưa ra, tức là khẳng định theo đó việc sử dụng « chất liệu sinh học » có nguồn gốc bất hợp pháp là hợp pháp về mặt luân lý với điều kiện, một mặt, có một sự tách rời rõ ràng giữa những người sản xuất nó, cho đông lạnh và cho giết chết các phôi và mặt khác, những nhà nghiên cứu phát triển những kinh nghiệm khoa học. Tiêu chuẩn độc lập không đủ để tránh một sự mâu thuẫn trong thái độ của người nói là không chấp thuận sự bất công do những người khác phạm phải, nhưng đồng thời lại chấp nhận cho công việc của mình « chất liệu sinh học » mà những người khác đạt được qua con đường bất công. Khi những gì là bất hợp pháp được thông qua bởi các luật lệ chi phối hệ thống y tế và khoa học, thì người ta tự tách ly khỏi những khía cạnh bất công của hệ thống này, để không cho cảm tưởng về một sự bao dung nào đó hay về một sự chấp thuận chiến thuật các hành vi bất công nghiêm trọng (57). Thực ra, điều đó hẳn đóng góp vào việc tạo điều kiện cho sự dửng dưng hay sự tán thành mà những hành vi này được nhận thấy nơi một số giới y khoa và chính trị.

Đôi khi người ta phản bác rằng những nhận xét trước đây dường như giả thiết rằng những nhà nghiên cứu có lương tâm ngay lành có nghĩa vụ đối lập cách chủ động với mọi hành vi bất hợp pháp được thực hiện trong lãnh vực y khoa, như thế đang mở rộng trách nhiệm luân lý của họ cách thái quá.

Nghĩa vụ tránh cộng tác vào điều xấu và điều gây tiêng xấu thực ra chạm đến các hoạt động chuyên ngành hiện hành của họ, mà họ cần phải định hướng cách ngay thẳng và qua đó họ được kêu gọi làm chứng cho giá trị của sự sống, bằng cách đối lập với những luật lệ bất công nghiêm trọng. Vì thế, cần phải làm rõ rằng nghĩa vụ từ chối « chất liệu sinh học » này – cho dầu trong sự vắng mặt mọi liên hệ chặt chẽ của các nhà nghiên cứu với những hành vi của các nhà kỹ thuật của việc sinh sản nhân tạo hay của những người đã thực hành việc phá thai, và đồng thời trong sự vắng mặt của một thỏa thuận trước với những trung tâm sinh sản nhân tạo – phát xuất từ nghĩa vụ tự phân ly, trong việc thực thi hoạt động nghiên cứu của mình, khỏi một khuôn khổ pháp chế bất công nghiêm trọngkhẳng định cách rõ ràng giá trị của sự sống con người. Do đó, tiêu chí độc lập trên đây là cần thiết, nhưng nó có thể không đủ theo quan điểm luân lý.

Trong khuôn khổ chung này, dĩ nhiên có những trách nhiệm khác biệt và những lý do nghiêm trọng mà có thể được giữ tương xứng về mặt luân lý để biện minh cho việc sử dụng « chất liệu sinh học » này. Chẳng hạn, đối mặt với nguy cơ cho sức khỏe của các đứa con, các cha mẹ có thể cho phép sử dụng một thứ vắcxin cho việc chuẩn bị mà người ta đã dùng từ những dòng tế bào có nguồn gốc bất hợp pháp, trong khi vẫn giữ không hề hấn gì bổn phận của mọi người diễn tả việc không đồng ý của họ về vấn đề này và bổn phận yêu cầu các hệ thống y tế để cho họ sử dụng các loại vắcxin khác. Mặt khác, người ta cần lưu tâm sự kiện rằng trong những doanh nghiệp mà sử dụng các dòng tế bào có nguồn gốc bất hợp pháp, trách nhiệm của những người quyết định hướng sản xuất không phải cùng trách nhiệm như những người không có quyền quyết định nào.

Trong bối cảnh nhu cầu cấp bách động viên các lương tâm ủng hộ sự sống, cần phải nhắc cho các chuyên viên y tế rằng « ngày nay, trách nhiệm của họ càng gia tăng ; nó múc lấy gợi hứng sâu xa nhất và tìm thấy sự ủng hộ của nó cách mạnh mẽ nhất chỉ trong chiều kích luân lý của các nghề nghiệp y tế, chiều kích nội tại đối với chúng và ngừoi ta không thể xao nhãng, như lời thề Hippocrate cổ đại đã nhìn nhận, luôn luôn hiện thực, yêu cầu mọi y sĩ dấn thân tôn trọng tuyệt đối sự sống con người và đặc tính linh thánh của nó » (58).

 

(còn nữa)

————————–

47. Trong tình trạng hiểu biết hiện nay, các kỹ thuật được vận dụng để thực hiện nhân bản vô tính gồm có hai : kỹ thuật phân đôi và kỹ thuật truyền nhân. Kỹ thuật phân đôi hệ tại việc tách rời nhân tạo các tế bào hay nhóm tế bào từ một phôi, trong suốt các giai đoạn đầu tiên của sự phát triển của nó, và trong việc truyền liên tiếp các tế bào này vào trong tử cung với mục đích đạt được, cách nhân tạo, những phôi tương tự. Việc truyền nhân, hay nói đúng ra, nhân bản vô tính, hệ tại  việc đưa nhân lấy từ một tế bào phôi hay bản thể vào trong một noãn bào được lấy bỏ nhãn cầu trước, được theo sau bởi việc kích hoạt cho noãn bào này mà, hệ quả là đưa đến việc tự phát triển như là một phôi.

48. X. Bộ giáo lý đức tin, Huấn thị Donum Vitae, I, 6 : AAS 80 (1988), 84 ; La Documentation catholique 84 (1987), tr. 354 ; JEAN-PAUL II, Diễn văn cho các Thành viên của Ngoại giao đoàn bên cạnh Tòa Thánh (10/01/2005), số. 5: AAS 97 (2005), 153 ; La Documentation catholique 102 (2005), tr. 113.

49. Các kỹ thuật mới thuộc thể loại này chẳng hạn là : sự trinh sản (parthénogenèse) được áp dụng cho con người, sự truyền một nhân được thay đổi (Altered Nuclear Transfer : ANT) và những kỹ thuật tái lập chương trình noãn bào ( l’OAR -Oocyte Assisted Reprogramming).

50. JEAN-PAUL II, Thông điệp Evangelium vitæ, số. 60 : AAS 87 (1995), 469 ; La Documentation catholique 92 (1995), tr. 382.

51. BENOIT XVI, Diễn văn cho các tham dự viên Hội nghị quốc tế được tổ chức bởi Viện Hàn Lầm Tòa Thánh về Sự Sống với chủ đề « Các tế bào gốc : tương lai nào cho liệu pháp ? », (16 septembre 2006): AAS 98 (2006), 694 ; L’Osservatore Romano. Edition hebdomadaire en langue française, số. 40/2006, tr. 5.

52. Xem các số 34-35 của Huấn thị này.

53. Xem. BENOIT XVI, Diễn văn cho các tham dự viên Hội nghị quốc tế được tổ chức bởi Viện Hàn Lầm Tòa Thánh về Sự Sống với chủ đề « Các tế bào gốc : tương lai nào cho liệu pháp ? », (16 septembre 2006): AAS 98 (2006), 693-695 ; L’Osservatore Romano. Edition hebdomadaire en langue française, số. 40/2006, tr. 5.

54. JEAN-PAUL II, Thông điệp Evangelium vitæ, số. 63 : AAS 87 (1995), 472-473 ; La Documentation catholique 92 (1995), tr. 383.

55. Xem như trên số. 62 : l.c., 472 ; La Documentation catholique 92 (1995), tr. 382.

56. X. Bộ giáo lý đức tin, Huấn thị Donum Vitae, I, 4 : AAS 80 (1988), 83; La Documentation catholique 84 (1987), tr. 353-354.

57. X. JEAN-PAUL II, Thông điệp Evangelium vitæ, số. 73 : AAS 87 (1995), 486 ; La Documentation catholique 92 (1995), tr. 388-389: « Phá thai và gây chết êm dịu bởi vậy là những tội ác mà không có luật lệ nào của con người có thể muôn hợp pháp hóa. Những luật lệ của con người, không chỉ không tạo nên bất kỳ bó buộc nào cho lương tâm , nhưng chúng còn mang lại một bó buộc nghiêm trọng và rõ ràng đối lập ở đó bởi sự phản đối lương tâm ». Quyền phản đối lương tâm, diễn tả quyền tự do lương tâm, phải cần bảo vệ bởi các pháp chế dân sự.

58. JEAN-PAUL II, Thông điệp Evangelium vitæ, số. 89 : AAS 87 (1995), 502 ; La Documentation catholique 92 (1995), tr. 395-396.

Xem tiếp các phần Dẫn NhậpI, II, IIIKết Luận