Chương VIII
ĐỜI SỐNG KITÔ GIÁO: CÁC BÍ TÍCH VÀ PHỤNG VỤ
Michael Downey
Năm này qua năm khác, các sinh viên trong các trường đại học Công Giáo tiếp tục ghi danh vào các khóa thần học hay nghiên cứu tôn giáo, thường là bởi vì những khóa ấy là bắt buộc đối với họ. Thật không đáng ngạc nhiên khi các giáo sư phân vân về việc dùng những khóa này làm diễn đàn để truyền bá những hiểu biết về đạo Công Giáo. Con số ngày càng tăng các sinh viên không Công Giáo theo học tại các trường đại học này làm cho các sinh viên và giáo sư Công Giáo thuộc khoa thần học càng phải thận trọng khi thảo luận một cách chuyên biệt đến các vấn đề quan tâm của Công Giáo.
Thêm vào đó là mối nghi ngờ nơi nhiều người rằng đức tin Kitô giáo không còn là cách sống có trách nhiệm và đáng tin cậy trong thế giới ngày nay. Đức tin tôn giáo, bất luận tôn giáo nào, thường bị gạt ra rìa và bị xem như là chuyện sở thích cá nhân. Các sinh viên thường cho thấy họ xác tín rằng mỗi và mọi người đều có quyền có quyết định riêng, dù quan điểm ấy có thể lạ lẫm đến mấy đi nữa. Trong vấn đề tôn giáo, nhiều người vẫn vô hình chung nghĩ rằng tất cả các tôn giáo đều tốt như nhau. Theo quan điểm của họ, điều quan trọng là mình phải là con người tốt. Nếu niềm tin tôn giáo giúp người ta trở thành người tốt, thì niềm tin ấy được đánh giá là có thể chấp nhận được, ngay cả được coi là có giá trị cao. Các niềm tin đặc thù của tôn giáo này hoặc tôn giáo khác, và những khác biệt thực sự giữa nhiều truyền thống tôn giáo khác nhau sẽ được lấp liếm cách dễ dàng.
Dù các truyền thống tôn giáo khác nhau có những điểm chung nào đi nữa, vẫn có những khác biệt thực sự giữa chúng. Và người ta phải rất phân vân để nhìn nhận hay chấp nhận những khác biệt này. Ví như người ta có được một mức nhất trí nào đó do cùng chia sẻ xác tín tôn giáo, thì sự nhất trí ấy cũng không tồn tại lâu nếu các yếu tố phân biệt giữa các truyền thống tôn giáo khác nhau không được tôn trọng.
Khi xem xét nét phân biệt của giáo thuyết Công Giáo, hay Giáo Hội Công Giáo Rôma, người ta – dù thời nào – cũng thường nghĩ về đức giáo hoàng, về tính bất khả ngộ của giáo hoàng, về vai trò của Đức Trinh Nữ Maria, về giáo huấn liên quan đến vấn đề kiểm soát sinh sản và phá thai, hay về vai trò của các linh mục và nữ tu. Dù những yếu tố ấy có tầm quan trọng thế nào trong giáo thuyết và đời sống Công Giáo, chúng cũng phải được nhìn trong một bối cảnh rộng lớn hơn nhiều. Trong nhãn quan rộng lớn hơn này, người ta sẽ thấy sự nhấn mạnh đặc biệt về sự thể hiện của ân sủng, sự hiện diện của Thiên Chúa và sự chuyển hóa mà sự hiện diện này đem lại, trong và xuyên qua một cộng đoàn đức tin, một cộng đoàn phụng tự bí tích – tức là Giáo Hội.
Trái lại, đức tin và phụng tự của một số truyền thống Kitô giáo khác có thể được thấy là đặt nhiều sự chú ý hơn đến tầm quan trọng của Lời Chúa trong Thánh Kinh và đến niềm tin cá nhân của người ta đối với ơn cứu độ do đức tin vào Đức Giê-su Kitô. Điều này cũng được diễn tả trong việc qui tụ cầu nguyện và phụng tự. Nhưng trong truyền thống Công Giáo, bên cạnh sự chú ý đặt nơi việc rao giảng và nghe Lời Chúa, còn có sự nhấn mạnh đặc biệt đến tầm quan trọng cách riêng của các bí tích xét như những diễn tả mối quan hệ giữa con người và Thiên Chúa.
Không nên quá tô đậm lằn phân ranh ở đây. Dù sự nhấn mạnh được đặt trên Lời Chúa hay bí tích, các thành viên của các truyền thống Kitô giáo khác nhau cũng đồng ý rằng việc phụng tự đóng một vai trò rất quan trọng trong việc nâng đỡ đời sống đức tin và thực hành Kitô giáo. Và rõ ràng là mọi Kitôhữu đều đồng ý rằng những gì được nói và được làm trong phụng tự của một cộng đoàn phải có mối liên hệ tới cách mà các tín hữu sống đời sống của họ từ ngày này qua ngày khác.
Có một bối cảnh chung ở đây giữa các truyền thống Kitô giáo khác nhau. Dù có những khác biệt nào đi nữa xét về các “niềm tin” đặc thù của họ, các Kitôhữu thuộc các Giáo Hội và các truyền thống khác nhau khó mà phủ nhận điểm cốt yếu rằng có một mối nối kết thiết yếu giữa điều được nói và làm “trong nhà thờ” với những gì được sống trong đời sống hằng ngày. Đi xa hơn nữa, bối cảnh chung này không chỉ được chia sẻ bởi các Kitôhữu mà thôi. Người ta thuộc các niềm tin khác nhau sẽ không cãi rằng việc cầu nguyện và phụng tự của họ phải sinh hoa trái trong cách mà họ sống cuộc đời họ. Tuy nhiên, bằng cách nào điều này có thể được thực hiện – đó sẽ là một vấn đề phức tạp hơn nhiều.
Mục đích của tôi trong bài này là đưa ra một giới thiệu về bảy bí tích của Công Giáo Rôma, cắm rễ trong xác tín rằng có những hàm ý về đaọ đức rút ra từ phụng tự bí tích. Bằng cách nhìn vào đời sống bí tích của Giáo Hội, chúng ta có thể nắm được một bí quyết nào đó, và nhờ đó có thể ngày càng hiểu biết hơn việc trở thành Kitôhữu có nghĩa gì.
Trước khi làm công việc định nghĩa bí tích, tưởng cần phải đưa ra một mô tả tổng quát về một thế giới quan về bí tích xét như bối cảnh cho việc nhận hiểu bí tích và tính bí tích. Kế đó, sẽ cần phải định nghĩa một số thuật ngữ chủ chốt liên quan tới bí tích như: nghi thức, lễ nghi, phụng tự, phụng vụ, ân sủng, dấu hiệu, và biểu tượng. Bấy giờ chúng ta sẽ xem xét đến bảy bí tích trong một cố gắng cho thấy rằng có một mối nối kết chặt chẽ giữa những gì được nói và làm trong phụng tự bí tích với cách mà các Kitôhữu phải sống đời sống của họ. Nói cách khác, đời sống bí tích của Giáo Hội là một diễn tả về chân trời đaọ đức vốn có thể giúp các Kitôhữu trong việc đưa ra những chọn lựa cụ thể ảnh hưởng đến cuộc sống của mình và của người khác. Bên cạnh Lời Chúa trong Sách Thánh và các giáo huấn cũng như truyền thống của Giáo Hội, cùng với vai trò của một lương tâm sáng suốt và được đào luyện, chân trời đạo đức được diễn tả trong phụng tự bí tích mở ra tầm nhìn cho thấy người Kitôhữu phải sống thế nào trong liên hệ với người khác và với Thiên Chúa.
MỘT THẾ GIỚI QUAN VỀ BÍ TÍCH
Đức tin và tôn giáo thường được hiểu như những chuyện riêng của mỗi người, dựa trên kinh nghiệm tín ngưỡng riêng tư của cá nhân, và được sống trong một mối quan hệ riêng tư với Thiên Chúa. Trái lại, xem chừng hơi kỳ cục khi nói về mối quan hệ giữa con người với Thiên Chúa như một cái gì gắn liền với toàn thể đời sống người ta. Cảm nhận này bắt rễ từ một thế giới quan có tính biểu tượng hay cái mà một số người đã gọi là một nhãn quan bí tích. Nó tựa trên đức tin rằng bất chấp sự bất tương đồng rộng rãi giữa Thiên Chúa và thế giới, thực tại của Thiên Chúa vẫn được phản chiếu trong thế giới. Như vậy, đời sống con người, các lời nói, hành động, các sự vật, các biến cố đều có thể vén mở hay bộc lộ chính sự hiện diện và hoạt động của vị Thiên Chúa vô hình. Ân sủng, tức chính sự sống của Thiên Chúa, đó vừa là sự hiện diện thần linh trong thế giới vừa là sự chuyển hóa đời sống con người và thế giới vốn xuất phát từ sự hiện diện này, thì có sẵn trong và xuyên qua đời sống con người và thế giới. Tất cả những gì hiện hữu đều được cho phép hiện hữu bởi sự sống và hơi thở của Thiên Chúa. (35) Như vậy, tất cả những gì hiện hữu đều có tính bí tích – ít nhất là trong tiềm năng. Vì Thiên Chúa được phản chiếu trong thế giới nên tất cả đời sống con người, hoạt động, lời nói, cũng như các biến cố và lịch sử, đều có thể mở ra cho thấy sự hiện diện và hành động của Thiên Chúa, Đấng mà chính bản tính của Ngài là biểu lộ và thông truyền tình yêu trong và xuyên qua thế giới.
Một cách chuyên biệt hơn, thế giới quan bí tích này chủ trương rằng có một tính tương hợp giữa bản tính con người và ân sủng Thiên Chúa, nhờ đó sự chuyển hóa mà Thiên Chúa đem lại sẽ giúp làm hoàn hảo bản tính con người vốn được Thiên Chúa tạo dựng. Xa hơn nữa, mọi tạo vật, sự sống của con người và của mọi thứ khác, đều là nơi cho sự hiện diện của Thiên Chúa và cho sự chuyển hóa mà sự hiện diện này mang lại.
Nói vậy không có nghĩa rằng Thiên Chúa và con người hoàn toàn giống nhau. Cũng không có ý rằng con người trở thành thần linh trong tiến trình chuyển hóa bởi ân sủng. Trong khi nhìn nhận những điểm nối kết trong mối quan hệ giữa Thiên Chúa và thế giới, chúng ta cũng phải chấp nhận rằng dù có thể có sự tương đồng nào giữa Thiên Chúa và tạo vật thì ngay trong đó cũng đồng thời có sự khác biệt mà ngôn ngữ chúng ta không thể diễn tả được khoảng cách biệt giữa chúng ta và Thiên Chúa.
Bí Tích Và Tính Bí Tích
Đời sống bí tích tiên vàn là một diễn tả sự trao ban ân sủng của Thiên Chúa. Đồng thời đó cũng là một diễn tả khát vọng của con người muốn quan hệ với Thiên Chúa. Khát vọng này được diễn tả trong cầu nguyện – cầu nguyện có thể được mô tả là sự phấn đấu có ý thức để quan hệ với Thiên Chúa, để chấp nhận sự đến của Thiên Chúa, thường qua những con người và những biến cố có tính bất ngờ, không dự liệu trước, và thật sự có sức xuyên phá. Đối với các Kitôhữu, mầu nhiệm mà những người có tín ngưỡng gọi là Thiên Chúa xảy đến nơi con người Đức Giê-su Nadarét. Thập giá và sự Phục Sinh của Đức Giêsu – theo các Kitôhữu – là sự vén mở trọn vẹn mầu nhiệm mà những người có tín ngưỡng gọi là Thiên Chúa.
Việc nhận hiểu tầm quan trọng của bảy bí tích dựa trên một sự trân trọng cái nhìn rằng con người có thể diễn tả và truyền đạt sự đáp trả và mối liên hệ của mình đối với vị Thiên Chúa từ bi vĩnh cửu và vô hình được biểu lộ nơi con người lịch sử, cụ thể và độc đáo của Đức Giêsu Nadarét. Trong nhãn quan này, ân sủng Thiên Chúa được thấy vẫn luôn có sẵn xuyên qua toàn thể tạo vật và lịch sử. Nhưng mầu nhiệm về tình yêu Thiên Chúa vốn ẩn chứa trong cốt lõi của toàn thể tạo vật đã trở nên rõ ràng nơi Đức Giêsu – Đấng là ân sủng của Thiên Chúa trở thành xác phàm. Vì thế, ân sủng Thiên Chúa tự bản chất có tính nhập thể và tính bí tích.
Bí tích Kitô giáo là một sự đáp trả của con người đối với bước đi trước của Thiên Chúa nơi Đức Kitô. Dĩ nhiên, sự đáp trả này là có thể chỉ vì trước tiên Thiên Chúa đã mở ra một mối quan hệ với các Kitôhữu trong và xuyên qua con người Đức Giêsu. Như vậy, theo nghĩa này, thì đối với các Kitôhữu, Đức Giêsu là bí tích đầu tiên và cao nhất của Thiên Chúa. Chính nơi Đức Giêsu mà Thiên Chúa và con người gặp nhau. Nghĩa là, nơi cuộc sống, sứ vụ, các lời nói, việc làm của Đức Giêsu, vị Thiên Chúa vĩnh cửu và vô hình được vén mở, được mạc khải hay được làm cho trở thành hữu hình cụ thể. Và khi các môn đệ của Đức Giêsu diễn tả và truyền đạt khát vọng của họ muốn ở trong mối quan hệ với Thiên Chúa, họ làm thế nhờ Đức Kitô, với Đức Kitô và trong Đức Kitô. Sự giao tiếp của họ với Thiên Chúa trở thành có thể trong và xuyên qua các lời nói, hành động, các sự vật và các biến cố qui chiếu đến cuộc đời Đức Kitô, chẳng hạn việc bẻ bánh, chúc phúc và chia nhau bánh và ruợu, việc xức dầu, việc đặt tay. Và ngoài những hành động chủ yếu của Giáo Hội hình thành nên bảy bí tích, còn có những hành động rửa chân cho những người “bé mọn”, tha thứ và yêu thương ngay cả kẻ thù, bố thí và chữa trị – tất cả những hành động ấy có thể được hiểu là có tính bí tích theo nghĩa rộng.
Lời nói và việc làm, ý nghĩa và sứ điệp của Đức Giêsu đã không chấm dứt với cái chết của Người. Những ai đi theo Người và tin rằng sự sung mãn của Thiên Chúa đã được mạc khải nơi cuộc sống và sứ vụ của Người đều xác nhận rằng Thiên Chúa đã tiếp tục đến nơi con người Đức Giêsu ngay cả bên kia cái chết của Người. Những kẻ đặt để đức tin nơi Người đã xác nhận rằng Người đã hiện ra với họ vào ngày thứ ba. Đây là đức tin vào Chúa Phục Sinh mà truyền thống Kitô giáo dựa vào: “Đấng chịu đóng đinh vẫn đang sống!” Mầu nhiệm phúc ân được vén mở nơi con người Đức Giêsu vẫn tiếp tục đến và sống giữa những ai qui tụ với nhau trong đức tin và trong việc phụng tự tưởng niệm Người. Và chính trong lời họ, hành động của họ, đời sống cộng đoàn của họ mà sự hiện diện và hoạt động của mầu nhiệm ân sủng vẫn tiếp tục đến. Đời sống và hoạt động cộng đoàn của các môn đệ qui tụ lại nhân danh Đức Kitô đã trở thành nơi chốn cho việc tự bày tỏ và tiếp xúc với Thiên Chúa trong Đức Kitô.
Như vậy, bên cạnh cuộc đời của Đức Kitô, chính Giáo Hội trong đời sống và thực hành chia sẻ của mình là một bí tích của Thiên Chúa. Vì trong sự tưởng niệm Đức Kitô, trong mối ràng buộc với lời nói và việc làm của Người, trong nỗ lực theo đuổi ý nghĩa sứ điệp yêu thương đến hiến mạng sống mình của Đức Kitô dưới ánh sáng của những hoàn cảnh đã đổi thay và những cách cảm nhận và hiện hữu không ngừng biến chuyển, các môn đệ của Đức Giêsu – những người làm nên Hội Thánh – cho thấy sự đến không ngừng của mầu nhiệm phúc ân nơi đời sống con người, nơi lịch sử và thế giới.
Khi đời sống của Giáo Hội tiếp tục vượt qua giai đoạn khởi đầu, khi các thành viên của Giáo Hội trở nên ngày càng đông số hơn, và khi các thành viên này đảm nhận công việc sống ý nghĩa và sứ điệp của Đức Giêsu trong những nền văn hóa khác nhau và tại những vùng khác nhau của thế giới, mối quan hệ giữa những người Kitôhữu với Thiên Chúa được diễn tả bằng những cách ngày càng ít giống hơn với những thực hành tôn giáo của các giai đoạn ban đầu. Nói cách khác, những thực hành được mang vào Kitô giáo từ Do Thái giáo bị gạt bỏ nếu được coi là không bắt kịp ý nghĩa và sứ điệp của Đức Giêsu. Việc ấn định những thực hành nào am hợp với tinh thần Đức Kitô đã không hề là một vấn đề dễ dàng. Đã phải mất một thời gian lâu để minh định những bản văn nào làm nên Thánh Kinh Kitô giáo đích thực, và những thực hành Kitô giáo nào là cốt yếu. Nhưng qua giòng lịch sử Kitô giáo, các bí tích của Giáo Hội đã hiện lộ ra trong tư cách là những hoạt động lễ nghi của cộng đồng xoáy vào cố gắng sống chính danh Kitôhữu. Trong các bí tích của Giáo Hội, vì thế, chúng ta tìm thấy một cách diễn tả khác, đặc thù hơn về tính bí tích. Vì chính trong bảy hoạt động lễ nghi cộng đồng này của Giáo Hội mà cộng đoàn Kitôhữu diễn tả và nhận lấy căn tính của mình là Nhiệm Thể Chúa Kitô.
Vì thế, để có thể trân trọng các bí tích, cần phải nhìn nhận rằng trong thế giới quan bí tích này của Kitô giáo có bốn cấp độ của tính bí tích. Thứ nhất, Đức Kitô là bí tích của Thiên Chúa. Trong Đức Giê-su Kitô, trong lời nói và việc làm của Người, và quả thật trong chính ngã vị Người, mầu nhiệm tối thượng mà những người có tín ngưỡng gọi là Thiên Chúa được biểu hiện một cách rõ ràng, dứt khoát và không thể rút lại được.
Thứ hai, sau cái chết của Đức Giêsu, các môn đệ của Người qui tụ lại để tưởng nhớ Người. Trong đời sống đức tin và phụng tự chung của họ, trong khi họ dấn thân yêu thương phục vụ theo gương Đức Kitô, Thiên Chúa tiếp tục đến. Nghĩa là, Giáo Hội là bí tích của Đức Kitô. Trong tư cách là Nhiệm Thể của Đức Kitô trong thế giới, Giáo Hội tham dự vào bí tích trường cửu của Đức Kitô.
Thứ ba, trong những hoạt động lễ nghi cộng đồng nhằm xoáy vào việc cố gắng sống chính danh Kitôhữu, Giáo Hội diễn tả mối quan hệ của mình với Thiên Chúa trong Đức Kitô. Trong lời nói và bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, Giáo Hội cử hành mầu nhiệm Thiên Chúa tự thông đạt qua cuộc sống, cái chết và sự Phục Sinh của Đức Giêsu. Vì thế, các bí tích của Giáo Hội tồn tại ở cấp độ thứ ba của tính bí tích.
Cuối cùng là cấp độ thứ tư của tính bí tích. Bởi vì thực tại của Thiên Chúa được phản chiếu trong thế giới, nên tất cả đời sống và hoạt động của con người, các biến cố và lịch sử, cũng như các sự sống khác, làm nên cảnh vực trong đó sự hiện diện của Thiên Chúa có thể được nhận định. Ân sủng của Thiên Chúa, sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa và sự chuyển hóa đời sống mà sự hiện diện này mang lại, … thì bàng bạc trong thế giới.
MỘT SỐ TỪ CHỦ CHỐT
Trước khi định nghĩa mỗi trong bảy bí tích, tưởng cần đưa ra một mô tả vắn tắt về một số từ chủ chốt trong ngôn ngữ của các bí tích: nghi thức, lễ nghi, phụng vụ, phụng tự, ân sủng, dấu hiệu, biểu tượng, và bí tích.
Nghi thức và lễ nghi có liên hệ chặt chẽ với nhau. Chúng qui chiếu đến một hình thức được qui định, được chuẩn nhận về các lời nói, cử chỉ và các hoạt động tạo nên qui cách cho một cuộc cử hành. Có lẽ cũng nên phân biệt giữa nghi lễ và nghi thức. Một nghi lễ được truyền từ thời này qua thời khác trong hình thức văn tự hay truyền khẩu, trong khi một nghi thức là một sự ban hành của nghi lễ ấy. Nhưng không nên quá tô đậm sự phân biệt này. Hai thuật ngữ trên thường vẫn được sử dụng lẫn lộn với nhau.
Các nghi thức không chỉ được tiến hành trong lãnh vực tôn giáo. Có những nghi thức cho Ngày Tạ Ơn (Thanksgiving Day), cho các dịp mừng sinh nhật, cho đám cuới, cho buổi chào cờ. Bên cạnh những nghi thức của đời sống thường ngày, còn có những nghi thức qui định một cuộc cử hành phụng tự. Phụng tự có thể được mô tả như là một kết hợp các hành vi bao gồm các lời nói, các khúc ca, các cử chỉ, và các hoạt động nhờ đó một người hay một nhóm người ca ngợi và tạ ơn Thiên Chúa. Phụng tự Kitô giáo qui chiếu đến tất cả các lời nói và hành động trọng thể hay không trọng thể, được ghi ra hay không được ghi ra, theo qui cách hay tự phát, nhờ đó các Kitôhữu gặp gỡ và được gặp gỡ bởi Thiên Chúa trong các cuộc qui tụ của Giáo Hội. (36)
Phụng vụ là một thuật ngữ có liên hệ chặt chẽ với phụng tự. Nó mô tả công việc của dân chúng trong đó Thiên Chúa được ca ngợi và tôn vinh. Thuật ngữ này thường được dùng trong qui chiếu đến một nghi lễ hay một hệ thống nghi lễ qua đó một cộng đoàn qui tụ tiến hành việc phụng tự công cộng của mình. Nói về phụng vụ là nói về việc phụng tự tập thể hay một nghi lễ tôn giáo tập thể, có tính công khai, có mục đích được xác định rõ ràng, và có mẫu thức sẵn. (37) Phụng Vụ (viết hoa) thường qui chiếu đến lễ nghi bí tích Thánh Thể, hay Thánh Lễ. Phụng vụ không phải là một cái gì có tính thụ động, cũng không phải là nghi lễ hay nghi thức. Ý nghĩa của phụng vụ, nghi lễ, nghi thức nằm ở chỗ chúng được triển khai ra. Một nghi thức trong một quyển sách các nghi lễ thì chỉ là một mớ chữ in trên giấy, cũng như lời của các ngôn sứ sẽ là những chữ chết cứng nếu không được công bố, không được nghe và không được thực hành. Những chữ ghi chép trên giấy trở thành Lời Chúa nói qua các ngôn sứ khi chúng được đọc, được nghe, được rao giảng và được sống. Cũng vậy, nghi lễ, nghi thức và phụng vụ vẫn chỉ là một mớ chữ chết cứng, vô hồn, nếu lòng trí người ta không được nâng lên trong cầu nguyện, trong sự hoán cải đời sống cách sâu sắc, và trong tâm tình chân thành thờ phượng Thiên Chúa.
Một thuật ngữ quan trọng khác trong ngôn ngữ của các bí tích là “ân sủng”. Nhiều người nghĩ rằng ân sủng là một thực tại có luợng tính – một cái gì đó vô hình được «đổ» vào người ta. Chúng ta nhận được nó nếu chúng ta đi tới nhà thờ vào ngày Chúa Nhật, bằng nếu không đi, chúng ta sẽ mất một số ân sủng. Hiểu một cách đúng đắn, ân sủng là việc Thiên Chúa tự ý truyền đạt chính Ngài cho các tạo vật. Từ nhãn quan này chúng ta có thể nói rằng các bí tích không chủ yếu là những phương tiện chuyên chở ân sủng cho bằng chúng là những diễn tả cụ thể và độc đáo của món quà được trao ban là chính Thiên Chúa và sự chuyển hóa của đời sống con người xét như sự đáp trả đối với hành động Thiên Chúa tự truyền đạt chính Ngài.
Việc định nghĩa dấu hiệu, biểu tượng và bí tích là một khâu quan trọng trong cuộc khảo sát của chúng ta. Một số độc giả có thể quen thuộc với một định nghĩa trước đây về bí tích là “một dấu hiệu bề ngoài do Chúa Kitô thiết lập để trao ban ân sủng.” (38) Mặc dù trong định nghĩa ấy có những ưu điểm rõ ràng về tính sáng sủa, các nghiên cứu hiện đại đã lập luận một cách rất thuyết phục để bênh vực cho cách hiểu các bí tích là những thực tại có tính biểu tượng. (39) “Biểu tượng” ở đây không qui chiếu đến một cái gì không thực sự là thực, như khi người ta nói đến một cử chỉ thuần túy có tính biểu tượng, hay như khi nói đến quyền hành của một ông vua hay một nữ hoàng “chỉ có tính biểu tượng”. Biểu tượng là một thực tại phức tạp và phong phú, sâu xa hơn dấu hiệu.
Một dấu hiệu là một hành động, cử chỉ, lời nói hay sự vật được dùng để truyền đạt thông tin chính xác hay sự chỉ dẫn rõ ràng để người ta biết cách hành động. Các ý nghĩa của dấu hiệu thì rõ ràng và chính xác, hay ít nhất chúng được nhắm đến như thế. Dấu hiệu STOP có nghĩa là “Đừng đi!”. Không có nhiều chỗ cho sự diễn dịch ở đây. Các biển báo giao thông nhắm giúp cho các người lái xe và người đi bộ biết hướng đi. Thông tin mà chúng cung cấp – chẳng hạn, quyền ưu tiên đường thuộc về xe nào – cần phải rõ ràng và dứt khoát để tránh nhập nhằng và chu toàn vai trò giúp ta tìm ra đường đi.
Đàng khác, các biểu tượng là những lời nói, những cử chỉ, những hoạt động, những sự vật thông truyền ý nghĩa và giá trị. Các biểu tượng giúp đem lại sự truyền thông và liên lạc có tính vô ngã. Việc tặng một đóa hoa hồng không bao giờ chỉ có một ý nghĩa. Việc bắt tay cũng thế. Bắt tay có thể là một cử chỉ hòa giải, nó cũng có thể là một diễn tả lời chào đón hay tạm biệt, nó còn có thể là hành động đánh dấu một sự nhất trí giữa hai phía. Một lời mời ăn tối có thể là bước đầu tiên của một cuộc ve vãn, nó cũng có thể là sự kiện bắt đầu hay kết thúc một vụ giao dịch làm ăn, hoặc cũng có thể là sự kiện thắt chặt lại tình thân hữu. Các biểu tượng khác với các dấu hiệu ở chỗ dấu hiệu liên quan tới thế giới thông tin và chức năng, còn biểu tượng thì liên quan tới thế giới ý nghĩa và giá trị. Sự khác biệt không luôn luôn rõ ràng như ta có thể tưởng nghĩ, song xem ra hữu ích việc ta luôn luôn lưu ý đến sự khác biệt này.
Biểu tượng (Hy ngữ: sym-ballein) mời gọi sự thông dự vào các thực tại sâu hơn. Nó hướng chỉ mầu nhiệm. Các biểu tượng là những sự vật, những cử chỉ và những hoạt động
thuộc về một bối cảnh văn hóa có sẵn, được nhắc đến nhiều mà không bị hóa thành khuôn cứng ngắt, đáp ứng những nhu cầu cảm xúc về ý nghĩa và sự thuộc về, diễn tả căn tính của nhóm (dù một số biểu tượng có liên hệ trực tiếp hơn đến nhóm và một số khác có liên hệ trực tiếp hơn đến cá nhân), và phải chấp nhận những thay đổi xảy ra theo thời gian, theo những nhãn quan và những giá trị không ngừng biến dịch. (40)
Với nhận hiểu như thế, chúng ta có thể nói về các biểu tượng Kitô giáo – dù đó là hành vi bẻ bánh và chúc lành cho chén ruợu, hay đổ nước hoặc dìm vào nước, thắp nến và rước nến – tất cả đều là những sự vật, những hành động, cử chỉ, lời nói cụ thể diễn tả ý nghĩa và sự thật của cộng đoàn Kitô hữu xét như Nhiệm Thể Chúa Kitô. Qua các biểu tượng ấy, cộng đoàn nhận và diễn tả căn tính của mình là Nhiệm Thể Chúa Kitô.
Ở đây cần phải ghi nhớ rằng các biểu tượng Kitô giáo giống với các biểu tượng khác ở chỗ các ý nghĩa của chúng rất phong phú và có nhiều tầng. Chúng không bao giờ chỉ có một nghĩa nào đó. Chẳng hạn, trong Phép Rửa, việc đổ nước trên đầu hay, tốt hơn, việc dìm một em bé hay người lớn vào trong nước “nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” cho thấy sự tha thứ tộïi lỗi, song đồng thời cử chỉ ấy cũng có ý nghĩa tháp nhập vào trong Nhiệm Thể Chúa Kitô, thông dự vào lối sống của một cộng đoàn, và được tinh luyện và soi sáng bởi lời nói và việc làm và Chúa Kitô. Nhưng đó chưa phải là tất cả ý nghĩa của việc đổ nước hay dìm trong nước.
Một đặc tính thứ hai của biểu tượng, đó là có một sự phân biệt giữa biểu tượng và thực tại được biểu tượng. Việc tặng một đóa hoa hồng để diễn tả tình yêu có mời gọi sự nhìn nhận rằng tình yêu của người tặng hoa phong phú hơn và trọn vẹn hơn nhiều so với chính đóa hoa hồng. Một bức phù điêu của một nghệ sĩ là một diễn tả về chính nghệ sĩ ấy. Việc chà đạp dã man bức tượng Pieta của Michelangelo được nhiều người cảm nhận như sự xúc phạm thô bạo đến cái thánh thiêng, và xúc phạm đến chính Michelangelo. Nhưng Pieta không phải là Michelangelo, cũng không phải là thần thánh.
Khi tổng thống Hoa Kỳ bị bắn, nhiều người coi đây là một sự lăng nhục đối với quốc gia và đối với các ý nghĩa và giá trị sâu xa nhất của quốc gia. Sở dĩ thế bởi vì các giá trị của quốc gia được diễn tả, và thực sự được hiện thân, nơi vị tổng thống. Quả thật đó là lý do tại sao người ta kỳ vọng rất nhiều ở vị tổng thống. Nhưng không ai nói rằng John F. Kennedy hay Bill Clinton hay Abraham Lincoln là Hoa Kỳ. Đối với các biểu tượng tôn giáo, và nói riêng đối với các biểu tượng Kitô giáo, cần phải nhận ra rằng có một sự khác biệt giữa một bên là các sự vật, các hoạt động, cử chỉ, lời nói truyền đạt mầu nhiệm cốt yếu, và bên kia là sự trọn vẹn của chính mầu nhiệm ấy. Toàn thể hệ thống biểu tượng tôn giáo bao gồm rất nhiều hình thức nhắm truyền đạt các thể thức hiện diện khác nhau của Thiên Chúa. Ngay cả khi nhìn một cách toàn thể, thì toàn thể các biểu tượng thánh cũng hoàn toàn không có khả năng truyền đạt trọn vẹn thực tại của việc Thiên Chúa hiện diện trong thế giới, và sự hiện hữu của con người trong Thiên Chúa. Bất cứ cá nhân hay nhóm người tôn giáo nào cũng phải nhìn nhận rằng những tuyên bố của mình về chân lý và về ý nghĩa cuối cùng của đời sống cũng chỉ là một phần và nhất thiết bị giới hạn.
Cũng phải nói tương tự như thế về hệ thống biểu tượng của nhóm. Cộng đoàn Kitôhữu diễn tả đức tin vào Chúa Kitô và Thánh Thần xuyên qua một hệ thống các sự vật, các hoạt động, cử chỉ, lời nói; đồng thời các Kitôhữu cũng phải ý thức rằng có một sự khác biệt giữa một bên là các biểu tượng của sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống con người, trong lịch sử, trong thế giới và Giáo Hội, và bên kia là sự trọn vẹn của sự hiện diện thần linh. Việc diễn tả và truyền đạt đức tin vào Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần bằng lời nói và bí tích phải khơi lên trong chúng ta một nỗi khao khát và niềm trân trọng sâu xa đối với điều vốn không được trao ban, truyền đạt hay vén mở cách trọn vẹn qua lời nói và bí tích.
Định Nghĩa Bí Tích
Trong ánh sáng của giải thích như trên về nghi lễ, nghi thức, phụng tự, phụng vụ, ân sủng, dấu hiệu và biểu tượng, chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa rõ ràng và khả dụng về bí tích trước khi khảo sát bảy bí tích đóng vai trò trọng yếu trong tư tưởng và phụng tự Công Giáo. Hiểu rằng biểu tượng là những sự vật, hoạt động, cử chỉ, lời nói được sử dụng để đem lại sự truyền đạt và liên lạc liên ngã vị, và hiểu rằng các biểu tượng mời gọi sự thông dự trọn vẹn hơn vào những ý nghĩa cốt yếu và những giá trị cao nhất mà con người cảm nhận và theo đuổi, thì các bí tích có thể được định nghĩa như là những biểu tượng của sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống con người, trong lịch sử, trong thế giới, và trong Giáo Hội. Nói rằng các bí tích được thiết lập bởi Đức Kitô là nhìn nhận rằng những hoạt động, những sự vật, cử chỉ, lời nói này (cấp độ thứ ba của tính bí tích) là những hành động của Giáo Hội (cấp độ thứ hai của tính bí tích) được cắm rễ hay được đặt nền trên ý nghĩa và sứ điệp, lời nói và việc làm của Đức Giêsu (cấp độ thứ nhất của tính bí tích).
Đời sống bí tích của Giáo Hội đã thay đổi và phát triển trong giòng lịch sử Kitô giáo. Cũng như trong bất cứ quá trình phát triển nào khác, đã có những sai lầm, những lệch lạc. Và đôi khi thật có lý để đặt câu hỏi rằng phải chăng những thực hành bí tích nào đó, trong quá khứ hay trong hiện tại, là một diễn tả thích hợp về nỗ lực của Giáo Hội nhằm diễn tả và đón nhận căn tính Nhiệm Thể Chúa Kitô của mình, nhằm sống tương hợp với ý nghĩa và sứ điệp, lời nói và việc làm của Đức Giêsu. Dù trả lời thế nào cho câu hỏi ấy đi nữa, thực tế vẫn thường được ghi nhận là các bí tích được người Kitôhữu hiểu như những sự biểu hiện của ân sủng, qui hướng đến việc sống trọn vẹn hơn trong mầu nhiệm sự chết và sự sống lại của Chúa Kitô.
CÁC BÍ TÍCH VÀ ĐỜI SỐNG KITÔ GIÁO
Một sự nhận hiểu hiện đại về các bí tích đòi hỏi phải chú ý đến những gì được ghi nhận về nguồn gốc của các bí tích dựa vào các nghiên cứu về Tân Ước và về các thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo. Cũng cần phải có một sự trân trọng đối với khuôn mặt không ngừng thay đổi của phụng tự bí tích qua giòng lịch sử Kitô giáo. Một cuộc khảo sát như thế không thể được thực hiện trong dăm trang sách ngắn ngủi này. Ngay cả một pho sách đồ sộ dành để trình bày lịch sử phát triển của một bí tích nào đó cũng dễ có nguy cơ rơi vào tình trạng quá đơn giản hóa. Điều tốt nhất chúng ta có thể làm trong một khảo luận ngắn như thế này là trình bày một sự nhận hiểu hiện đại về các bí tích dựa trên những cải cách trong thực hành bí tích do Công Đồng Vatican II (1962-1965) đề ra, xuất phát từ xác tín rằng những cải cách ấy có tham chiếu đến các nghiên cứu về Tân Ước, cũng như có hàm ẩn một ý thức về khuôn mặt phụng tự thay đổi không ngừng trong giòng lịch sử Kitô giáo.
Nhìn từ góc nhìn của một thế giới quan về bí tích, bảy bí tích ấy không phải là những khoảnh khắc cô lập có thể được đóng kín trong những thời gian hay nơi chốn nào đó, chẳng hạn trong nhà thờ và vào ngày Chúa Nhật! Cả Tân Ước lẫn các văn kiện của Vatican II, cũng như lịch sử của bí tích và phụng tự, đều nhấn mạnh mối nối kết giữa phụng vụ và đời sống, giữa bí tích và việc sống bí tích. Những gì mà các kẻ tin vào Chúa Kitô cảm nhận và theo đuổi xét như những giá trị và mục đích cao nhất trong đời người được diễn tả trong bí tích. Việc cử hành bí tích là một diễn tả về cách sống mà các Kitôhữu nhắm đến trong mối quan hệ đúng đắn với tha nhân và với Thiên Chúa. Nghĩa là, trong các bí tích của Giáo Hội, các Kitôhữu có thể nhận ra một chân trời đạo đức, nhận ra những khuôn thước ứng xử trong mọi chiều kích của cuộc đời.
Những chỉ nam giúp các Kitôhữu biết sống trong quan hệ với nhau, với người khác và với Thiên Chúa được tìm thấy trong Thánh Kinh và trong các truyền thống của các cộng đoàn Kitôhữu khác nhau. Những chỉ dẫn được tìm thấy trong các giáo huấn của Giáo Hội. Đối với Giáo Hội Công Giáo Rôma, rõ ràng là huấn quyền đóng một vai trò trọng yếu. Như chúng ta đã thấy, lương tâm được huấn luyện là một chiều kích quan trọng trong việc thực hành một đời sống đạo đức. Nhưng đối với những ai mà truyền thống của họ được đánh dấu bởi một thế giới quan bí tích sâu đậm, thì những gì được nói và làm trong các bí tích diễn tả những niềm xác tín sâu xa nhất của một đoàn dân đang tìm biết cách quan hệ với nhau, với người khác và với Thiên Chúa. (41)
Các Bí Tích Khai Tâm:
Phép Rửa Và Phép Thêm Sức
Phép Rửa và Phép Thêm Sức là những bí tích qua đó một người được đưa vào một cộng đoàn đức tin và phụng tự. Được rửa tội nhân danh Đức Kitô là được tháp nhập vào một nhóm người chia sẻ đời sống trong một cộng đoàn được gợi hứng bởi sự chết và sự sống lại của Đức Kitô. Điều này đòi hỏi sự hoán cải không ngừng trong Đức Kitô qua việc thông dự vào đời sống và sứ mạng của Giáo Hội, qua việc đảm nhận giáo huấn của Giáo Hội và qua việc không ngừng phấn đấu để sống theo và để thăng tiến các giá trị của Giáo Hội. Trong Phép Rửa, nước và lời nói đi kèm có ý chỉ rằng em bé này hay người lớn này đã được mai táng với Đức Kitô và đã được sống lại với Người trong một đời sống mới.
Người được rửa tội là một tạo vật mới, đã chết đi cho tội lỗi và sống trong ánh sáng và sự sống của Đức Giê-su Kitô. Những người lãnh nhận Phép Rửa trở thành phần tử của Nhiệm Thể Đức Kitô, được sống nhờ sức sống của Chúa Thánh Thần, và thông dự vào đời sống và sứ mạng của Giáo Hội, sống trong ánh sáng của lời nói và việc làm của Đức Giêsu. Việc tháp nhập vào Nhiệm Thể Đức Kitô, là Giáo Hội, là một sự đáp trả trong đức tin đối với cái chết của Đức Kitô và là một cam kết sống đời môn đệ của Người, nỗ lực không ngừng chuyển hóa chính mình và thế giới nhờ ân sủng của Thiên Chúa trong Đức Kitô.
Trong Bí Tích Thêm Sức, chúng ta được củng cố và được đóng ấn trong Thánh Thần vốn đã được trao ban qua nước và lời nói của Phép Rửa. Việc xức dầu thánh hiến, thường bởi vị giám mục, là một dấu ấn qua đó Chúa Thánh Thần củng cố và giúp người Kitôhữu sống đời sống hòa bình, nhẫn nại, yêu thương, vui tuơi, hiền hòa, khiêm cung – những dấu xác nhận đời sống Kitôhữu. Trong Bí Tích Thêm Sức, việc cam kết không ngừng cải hóa để sống sâu sắc hơn trong Đức Kitô được đóng ấn và được củng cố.
Và chính trong việc cử hành Thánh Thể mà sự cam kết không ngừng cải hóa trong Đức Kitô được diễn tả và củng cố một cách thường xuyên. Theo nghĩa này, cùng với Phép Rửa và Phép Thêm Sức, chúng ta có thể nói rằng Thánh Thể là một bí tích khai tâm trong mức độ mà với việc cử hành Thánh Thể, người ta được đưa vào đầy đủ hơn – từ tuần này qua tuần khác, hay ngày này qua ngày khác – trong sự sung mãn của mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô.
Những Hàm Ý Đạo Đức Học
Trong bí tích Phép Rửa, người ta được đưa vào trong một nền luân lý giao ước qua việc tháp nhập vào sự chết và sự sống lại của Đức Kitô. Việc thông dự vào sự chết và sự sống lại của Đức Kitô đòi hỏi người ta phải sống đời sống mới dựa trên giao ước trong máu Người và được thúc đẩy bởi giáo huấn của Người, nhất là giáo huấn về Các Mối Phúc. Đây là một nền luân lý hay đạo đức cắm rễ trong tình yêu và sự trung thành đúng hơn là trong lề luật và bổn phận. Nền đạo đức này được định hình bởi cảm thức trách nhiệm đối với người khác và đối với Thiên Chúa chứ không phải bởi một mối ưu tư về các bổn phận và các đòi hỏi phải đáp ứng. Đây là một trách nhiệm do tư cách thành viên của dân Thiên Chúa qua Phép Rửa. Đây là một nền luân lý dựa trên mối tương quan với người khác trong cộng đoàn, và mối tương quan với Chúa Kitô. Đời sống luân lý đòi hỏi phải không ngừng xem xét các hành động của mình, và các hành động của người khác, đối chiếu với vai trò chủ tể của Đức Giê-su Kitô, sao cho cuộc cải hóa không ngừng trong Đức Kitô được bắt đầu với Phép Rửa có thể được mang tới chỗ hoàn thành. Mọi sự và mọi người phải được nhìn trong ánh sáng của quyền chủ tể này và trong qui chiếu đến sức mạnh chuyển hóa của Thánh Thần Đức Kitô.
Việc xức dầu thánh hiến là hành động cốt yếu trong bí tích Thêm Sức. Qua hành động này và trong lời nói kèm theo, cá nhân người lãnh nhận và cả cộng đoàn đón nhận sự lôi kéo và hướng dẫn của Chúa Thánh Thần và cầu xin thêm ơn Chúa Thánh Thần. Thêm Sức không chủ yếu là bí tích của sự chọn lựa hay cam kết như người ta vốn thường nghĩ. Nó đánh dấu sự dứt bỏ và qui phục sức mạnh của Thánh Thần và sự trợ lực có được do sự hiện diện của Thánh Thần. Qui phục sức mạnh của Thánh Thần, người ta được dẫn dắt để sống theo Thánh Thần, không phải theo xác thịt. Những ai được thấm nhuần sự sống trong Đức Giê-su Kitô và trong Thánh Thần sẽ được nhận ra qua hoa trái của họ. Đời sống của họ được đánh dấu bởi sự bình an, nhẫn nại, nhân hậu, chịu đựng, ôn hòa, trung thành, chân thành yêu thương Thiên Chúa và tha nhân. Sự vắng mặt của Thánh Thần sẽ được ghi nhận qua hận thù, ghen ghét, ganh tị, tham lam, dục vọng, và chán chường.
Bí Tích Thân Thể Chúa Kitô: Thánh Thể
Trong việc cử hành Thánh Thể, Đức Kitô hiện diện với cộng đoàn đang tưởng niệm sự chết của Người. Qua hành vi bẻ bánh và chúc lành cho chén rượu, cộng đoàn Kitôhữu diễn tả và đón nhận căn tính của mình là Nhiệm Thể Chúa Kitô. Tại bàn tiệc của Chúa, người tín hữu qui tụ lại để nghe câu chuyện về cuộc sống, sứ vụ, cuộc khổ nạn, cái chết và sự Phục Sinh của Đức Giêsu. Nơi mà Phép Rửa và Phép Thêm Sức dẫn tới chính là bàn tiệc này, chính là sự sung mãn này của các mầu nhiệm Đức Kitô được cử hành ở đây qua Lời Chúa và bí tích. Và các bí tích khác – hòa giải, xức dầu bệnh nhân, hôn phối, truyền chức – sẽ được nhận hiểu đúng đắn qua chính mối quan hệ của chúng với Bí Tích Thánh Thể. Như vậy, phụng vụ Thánh Thể phải được hiểu là nguồn và chóp đỉnh của đời sống bí tích Kitô giáo. (SC 10).
Thánh Thể là trung tâm của đời sống bí tích Kitô giáo ở chỗ các bí tích khác rút ý nghĩa của chúng ra từ mối tương quan với Thánh Thể và nhận mục đích của chúng nơi việc làm cho các Kitôhữu cử hành Thánh Thể một cách trọn vẹn hơn. Thánh Thể khác với các bí tích khác ở chỗ nó là sự qui tụ và cử hành của Nhiệm Thể Chúa Kitô, nó là sự cử hành sự hiện diện của Chúa Kitô với cộng đoàn đang tưởng niệm cái chết của Người, nó là trung tâm diễn tả Giáo Hội cách trọn vẹn. Trong Bí Tích Thánh Thể, cộng đoàn Kitôhữu tìm thấy tiêu điểm để phối kết mọi biểu tượng về mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô thành sự diễn tả đức tin và sự cử hành của cộng đoàn.
Trong việc công bố và nghe Lời Chúa, và trong việc bẻ bánh và chúc phúc cho chén rượu, sự hiện diện của Đức Kitô được nhận ra. Trọng tâm của nhận thức về Bí Tích Thánh Thể nằm ở chỗ rằng với các tặng phẩm đơn giản là bánh và ruợu, Giáo Hội cử hành một bữa ăn tạ ơn trong đó sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa nơi Đức Kitô được tưởng niệm và công bố vừa như là ân ban cho hiện tại vừa như là cơ sở của niềm hy vọng tương lai. Đây là một bữa ăn trong đó các Kitôhữu cử hành sự hiệp thông của họ với Thiên Chúa trong Đức Kitô và với nhau , nhất là với những người nghèo, những người yếu thế, những kẻ bị áp bức và bị loại trừ ra bên lề các cơ chế xã hội và tôn giáo. Đó là những người lớn nhất trong Vương Quốc của Thiên Chúa, vương quốc mà Đức Giêsu đã rao giảng và đã chịu chết để xây dựng nên.
Những Hàm Ý Đạo Đức Học
Trong tư cách là sự diễn tả cốt yếu về ơn gọi và về sự dấn thân của Giáo Hội trong công cuộc xây dựng hiệp thông và công bằng, Bí Tích Thánh Thể chứa đựng chính cốt lõi của nền luân lý Kitô giáo. Những chia rẽ và những thất bại trong việc chia sẻ sẽ là dấu hiệu cho thấy rằng chưa nhận thức được Nhiệm Thể Chúa Kitô. Thiếu tinh thần quảng đại chia sẻ trong đời sống cũng như trong cử hành Thánh Thể, chỉ loay hoay bận tâm về mình, đắm chìm trong những đam mê lạc thú, … tất cả sẽ gây nên ách tắc không cho phép người ta nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa như được tưởng niệm và được hy vọng trong việc bẻ bánh và chúc lành cho chén rượu. Những ai cử hành sự hiện diện của Chúa Kitô với cộng đoàn qua việc tưởng niệm cái chết của Người sẽ không ngừng cam kết sống phù hợp với một nền luân lý của giao ước vốn phát xuất từ tư cách phần tử của dân Thiên Chúa: sống theo Thánh Thần chứ không theo xác thịt (Rm 8).
Sự sẵn sàng của các Kitôhữu để chia sẻ rộng ra vượt quá phạm vi bàn ăn này, vượt quá cộng đoàn của giao ước để đến với tất cả gia đình nhân lọai, đặc biệt chú tâm đến những người nghèo và những người thống khổ – những người mà Đức Giêsu đã hứa sẽ có chỗ cao trọng trong nước Thiên Chúa – sự sẵn sàng ấy được nói lên trong bữa ăn Thánh Thể. Xét như sự thông dự vào một nghi lễ bữa ăn hiệp thông và công bằng, Thánh Thể không cho phép phân biệt con người: những sự chia rẽ, tách biệt giữa người với người dựa trên chủng tộc, giai cấp, phái tính, sức khỏe, địa vị, … đều bị lên án; thay vào đó là sự sẵn sàng tìm cách vượt qua những chia rẽ ấy để Đức Kitô có thể trở thành tất cả trong mọi người (Gl 3,27-28). Cử hành Thánh Thể, điều đó có nghĩa rằng chúng ta sống cuộc sống mình trong tác động của một nhãn quan hiệp thông và công bằng. Bẻ bánh và chúc lành chén rượu là tưởng niệm cuộc khổ nạn và cái chết của Đức Kitô, là chết với Người. Chết với Đức Kitô có nghĩa là sống cho Thiên Chúa và cho sự thể hiện của nước Thiên Chúa – ở đó sức mạnh của tình yêu sẽ chế ngự mọi sự dữ.
Các Bí Tích Tha Thứ Và Chữa Trị
Sự hiệp thông được cử hành trong bí tích Thân Thể Chúa Kitô, tức Bí Tích Thánh Thể, thì vừa là ân ban của Thiên Chúa vừa là sự đáp trả của con người. Như vậy, nó có thể được ví như một món quà được trao tặng và được chấp nhận. Cũng như bất cứ món qùa nào đáng gọi là món quà, nó không thể bị coi thường, nhưng phải được hết sức trân trọng. Sự sống của Đức Giê-su Kitô được cử hành trong các bí tích khai tâm, và được tham dự trọn vẹn hơn trong Bí Tích Thánh Thể, thường bị làm suy yếu đi do bởi thái độ thờ ơ hay lạm dụng món quà ân sủng. Đời sống của các cá nhân và cộng đoàn thường bị dính thương tích và bị gãy đổ do sự hiện diện của sự dữ, tội lỗi và đau khổ.
Bí tích sám hối là một diễn tả lòng thương xót và thứ tha vô giới hạn của Thiên Chúa. Đó là một tặng phẩm mở ra cho cả các cá nhân lẫn các cộng đoàn chiếu theo nhu cầu không ngừng cải hóa trong Đức Kitô, ngay cả (và nhất là) khi sự hiện diện của sự dữ và tội lỗi gây ra một đổ vỡ nghiêm trọng trong mối quan hệ giữa ta với Thiên Chúa, với chính bản thân ta, và với cộng đoàn Giáo Hội. Nhìn từ quan điểm hiện đại, bí tích sám hối không cần thiết phải được hiểu như một sự đền bù về những xúc phạm mà mình đã gây ra. Đúng hơn, nó là một cử hành niềm ca ngợi lòng thương xót của Thiên Chúa, một lòng thương xót đem lại sự chữa trị, sự cải hóa và hòa giải với Thiên Chúa, với lương tâm mình và với cộng đoàn, bất kể sự sai phạm của ta nặng nề đến mấy, tội lỗi của ta nhiều đến đâu và nghiệm trọng đến đâu. (42)
Bí tích xức dầu và săn sóc mục vụ cho bệnh nhân và người hấp hối là một diễn tả về sứ vụ không ngừng quan tâm an ủi, chữa trị của Đức Kitô trước những hậu quả của sự dữ và tội lỗi trong thế giới. Đó là một biểu hiện về sự hiện diện và hành động của Đức Kitô trong Giáo Hội trước bệnh tật, đau khổ, chết chóc của con người. Việc xức dầu đã được làm phép cho bệnh nhân và người hấp hối là để nâng đỡ cho những ai lâm trọng bệnh, già yếu, hay gần chết được hy vọng có được nghị lực, sự an ủi và sự chữa trị trong tinh thần và trong thể xác. Và nghị lực, sự an ủi, sự chữa trị vẫn được hy vọng ngay cả và nhất là trong trường hợp trọng bệnh sắp chết. Việc săn sóc mục vụ và xức dầu cho bệnh nhân và người hấp hối là sự diễn tả có tính bí tích về sứ vụ chữa trị rộng rãi hơn của Giáo Hội trong và xuyên qua nỗ lực của Giáo Hội chống lại bệnh tật, đau khổ và tình trạng coi rẻ phẩm giá con người.
Những Hàm Ý Đạo Đức Học
Trong việc cử hành bí tích sám hối, các Kitôhữu diễn tả một nhãn quan rõ ràng về thực tại. Họ xác định rõ ràng ý muốn sống trong nhãn giới của lòng thương xót và thứ tha của Thiên Chúa. Chủ quyền của Đức Kitô và tác động của Chúa Thánh Thần là các tiêu chuẩn được dựa vào để phán đoán và đưa ra các quyết định. Tình thương là tiêu chuẩn đạo đức ở đây. Các đánh giá về đời sống của mình và đời sống của người khác được thực hiện trong ánh sáng của một ý thức về tội lỗi và ân sủng trong các biến cố của đời sống con người. Như vậy, đời sống của những người bị loại trừ, những người bị khinh bỉ, những người bị lãng quên, những người bị đánh giá là vô giá trị và vô dụng theo tiêu chuẩn hiệu năng,… phải được nhìn từ nhãn giới lòng thương xót và thứ tha của Thiên Chúa. Trong ánh sáng của ý thức về tội lỗi và ân sủng, những người bị thương tích, những người yếu ớt, hèn mọn, nghèo khổ được nhìn thấy như sự biểu lộ của ân sủng và lòng thương xót của Thiên Chúa đụng chạm đến chúng ta trong các nhu cầu khôn kể của chúng ta. Những ai đáp trả lại tình yêu và sự lôi cuốn của Thiên Chúa trong tâm hồn của tội nhân thống hối, nơi những người hèn mọn, những người bị lãng quên, những người yếu đuối, … sẽ trở thành những dấu hiệu rõ ràng nhất của tình yêu giao hòa của Thiên Chúa trong thế giới. Bản thân đời sống trở thành một âm vang lời chứng của Phaolô: Sức mạnh của Thiên Chúa được biểu lộ trong sự yếu đuối của chúng ta (2Cr 12,9-10).
Qua Bí Tích Xức Dầu Bệnh Nhân, cộng đoàn Kitôhữu sống trong sự tưởng niệm sứ vụ chữa trị của Đức Kitô. Nghĩa là, các Kitôhữu được mời gọi săn sóc các bệnh nhân và những người hấp hối, đấu tranh chống lại bệnh tật, đau khổ và tình trạng coi thường nhân phẩm con người. Qua việc cử hành bí tích xức dầu cho bệnh nhân và những người hấp hối, cộng đoàn diễn tả một viễn tượng mới về sự đau khổ, bệnh hoạn và sự chết, giúp cho các Kitôhữu có thể sống trong niềm hy vọng và niềm tin tưởng rằng không gì ở ngoài tình thương và sự chữa trị của Thiên Chúa nơi Đức Giê-su Kitô.
Thể Hiện Và Xây Dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô:
Hôn Nhân, Các Sứ Vụ, Các Chức Thánh
Cả Hôn Phối lẫn Truyền Chức Thánh đều là những bí tích diễn tả tầm quan trọng của tình yêu hiến thân, lòng trung thành, và việc phụng sự cho Hội Thánh. Trong Bí Tích Hôn Phối, hai người cam kết sống một đời sống yêu thương hiến thân và trung thành với nhau cho đến chết. Sự cam kết này phải được sống triệt để trước hết với niềm kính trọng sự sống của người bạn mình, và bao gồm bất cứ con cái nào có thể được sinh ra bởi mối kết hợp vợ chồng.
Nhưng có những hàm ý rộng hơn ở đây. Trong hôn nhân Kitô giáo, đôi vợ chồng đáp lại tiếng gọi sống một đời sống hiệp thông trọn vẹn. Và đời sống này được đóng ấn bí tích trong Giáo Hội, trước mặt Giáo Hội, và cho Giáo Hội. Như vậy hôn nhân Kitô giáo là một cách thể hiện và xây dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô. Trong lời cam kết trung thành với nhau trọn đời, trong sự kết hợp thân xác, trong sự sống mới được sinh ra từ sự thân mật và say mê của vợ chồng, đôi bạn càng trở thành một bí tích của tình yêu của Đức Kitô – tình yêu hiến mạng sống mình cho người mình yêu.
Sứ vụ là việc phục vụ để xây dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô, tức Hội Thánh. Tất cả những ai đã lãnh Phép Rửa đều nhận được những ân huệ phải được sử dụng để phục vụ cho sự sống và sự phát triển cộng đoàn Kitôhữu. Một số người có thể nhận được ơn giảng dạy trên bất cứ bục giảng nào, việc giảng dạy phải được nhắm tới việc xây dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô. Một số người có thể nhận được ơn làm công việc tư vấn. Ơn đó phải được sử dụng để phục vụ sao cho những người khác có thể có được đời sống sung mãn hơn. Và cũng có những người khác xem ra không có ơn gì khác hơn là khả năng cầu nguyện, dù cầu nguyện hay dở thế nào. Bất luận ơn nào mà người ta được Thánh Thần ban cho qua Phép Rửa, được củng cố nơi Phép Thêm Sức, và được tái xác nhận thường xuyên qua việc cử hành Thánh Thể, … đều phải được dùng sao cho qui hướng về việc xây dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô.
Trong số những ơn huệ được trao ban này qua Phép Rửa, có ơn giữ vai trò lãnh đạo trong cộng đoàn đức tin và phụng tự. Trong truyền thống Công Giáo, nhà lãnh đạo và nhà giáo dục trong cộng đoàn cũng là người chủ tọa và giảng dạy trong khung cảnh cầu nguyện của cộng đoàn, nhất là trong cử hành Thánh Thể. Qua Bí Tích Truyền Chức Thánh, người linh mục tham dự một cách đặc biệt vào sứ vụ của Đức Kitô người tôi tớ và nhà chữa trị, một cách đặc biệt (dù không phải là một cách độc quyền) bằng việc rao giảng, dạy bảo và cử hành các bí tích. Sứ vụ này được diễn tả cách cốt yếu trong các hoạt động giảng thuyết và chủ tọa phụng vụ Thánh Thể. Điểm đặc biệt đáng ghi nhận của sứ vụ có chức thánh đó là người linh mục đảm nhận một vai trò lãnh đạo công khai trong Giáo Hội. Theo một cách nói, linh mục là một công chức của Giáo Hội, và theo một mức độ nào đó thì linh mục là một người đại diện của Giáo Hội.
Khi chủ tọa tại buổi cử hành Thánh Thể, linh mục làm nổi bật các đặc tính của đời sống Giáo Hội là duy nhất, thánh thiện, công giáo, tông truyền. Xung quanh bàn ăn của Chúa, được chủ tọa bởi thừa tác viên chức thánh, cộng đoàn qui tụ lại như một dân tộc. Do bởi Phép Rửa của họ, và do bởi sự cải hóa không ngừng trong Đức Kitô và phục vụ cho sứ mạng của Người, họ là một dân thánh. Kinh nguyện Thánh Thể của họ được nối kết với lời cầu nguyện của tất cả mọi người trên khắp thế giới thuộc mọi ngôn ngữ làm nên cộng đoàn Giáo Hội đích thực trong kinh nguyện này. Vì thế họ là dân công giáo (phổ quát) qui tụ tại bàn ăn này. Và họ hợp tiếng ca ngợi và tạ ơn Thiên Chúa trong niềm tưởng niệm Đức Giê-su Kitô – một thực hành đã được ghi nhận từ thời các Tông Đồ. Vì thế, họ là một dân tông đồ, không chỉ vì phụng tự của họ phát xuất từ đức tin của các tông đồ, nhưng vì – giống như các tông đồ – họ được sai đi như những người phục vụ hòa bình và như những người rao giảng triều đại Thiên Chúa.
Người lãnh nhận Bí Tích Truyền Chức Thánh được ban ơn để phục vụ dân tộc này trong nhiều cách, nhưng nhất là qua việc giảng dạy, cử hành bí tích, và chủ tọa bàn tiệc Thánh Thể (hoạt động bí tích trọng yếu nhất của cộng đoàn). Đời sống của người có chức thánh xét như là “đầy tớ” của dân Thiên Chúa đòi một sự cam kết trọn đời trung thành phục vụ cho sứ mạng này, để cho Đức Kitô có thể trở nên mọi sự trong mọi người.
Những Hàm Ý Đạo Đức Học
Toàn thể cộng đoàn Kitôhữu, và nhất là hai người được hiệp nhất trong hôn nhân, sống triệt để một nhãn quan về sự trung thành có tính biệt vị và đầy yêu thương của Thiên Chúa. Hôn nhân Kitô giáo vì thế là mô hình ưu việt nhất của tình yêu và lòng trung thành và cung ứng một lối sống mới từ nhãn giới tình yêu hiến thân của Thiên Chúa và sự trung thành đối với lời hứa thần linh. Mối quan hệ giữa đôi bạn kết hợp trong hôn nhân cùng với mối quan hệ giữa họ với người khác, vì thế, được đảm nhận trong ánh sáng của giá trị lòng trung thành của Thiên Chúa đối với đương sự và đối với cộng đồng nhân lọai. Đôi bạn vì thế trở thành một dấu hiệu của lòng trung thành đầy yêu thương của Thiên Chúa xuyên qua mốâi hiệp nhất giữa họ, xuyên qua cách sống của họ với người khác trong cộng đồng nhân lọai và cộng đồng Kitô hữu. Đặc biệt qua việc sinh con và nuôi dạy con cái là hoa trái của sự kết hợp trung thành và là lời mời gọi chung thủy trọn vẹn hơn, đôi bạn diễn tả các giá trị của tình yêu hiến thân và trung thành với lời hứa cũng như với toàn bộ dự phóng của Giáo Hội sống theo những giá trị này.
Giá trị phục vụ cho các cộng đoàn con người và Kitôhữu theo gương phục vụ của Đức Kitô được diễn tả qua sứ vụ. Nó được cắm rễ trong mối quan tâm của Giáo Hội đối với các nhu cầu đa dạng của của cộng đoàn qua mọi thời đại và trong niềm tưởng niệm chính đời sống và sứ vụ của Đức Kitô. Dù người ta có thể chỉ ra những bất lợi nào đi nữa, thì qui chế tiết dục và độc thân của giáo sĩ vẫn còn là một lời mời gọi diễn tả sự phục vụ trung thành đối với cộng đoàn nhân lọai và Kitôhữu. Tất cả các sứ vụ, của người có chức thánh và của giáo dân – được đảm nhận bởi những con người độc thân hay kết hôn – nhằm đưa ra sự diễn tả cụ thể giá trị của tình yêu hiến thân được thúc đẩy bởi một nhãn quan mới về thực tại được định hình bởi vai trò tôi tớ của Đức Kitô và lòng trung thành của Người đối với lời hứa của Thiên Chúa cho đến chết.
Các Bí Tích: Một Chân Trời Luân Lý
Các tiêu chuẩn đạo đức được diễn tả và được khắc họa trong đời sống bí tích của Giáo Hội không phải là những chỉ dẫn hay những câu trả lời chuyên biệt cho các vấn đề luân lý phức tạp mà những người theo Đức Kitô có thể đối diện. Chúng giúp các Kitôhữu “biết cách làm” (savoir-faire), chúng cung cấp một bí quyết, một sự nắm vững nào đó để sống đời sống người môn đệ Đức Kitô. Chúng không cung ứng một lời giải đáp tiền chế để làm vơi bớt các nỗi đau và các gánh nặng gắn liền với việc đưa ra những quyết định luân lý. Đúng hơn, chúng là những lằn mức của một chân trời luân lý, những yếu tố của một đặc tính định hình cách nhận hiểu của Kitô giáo về mối liên hệ giữa Thiên Chúa và thế giới, và cho thấy những cách thế thích hợp để con người quan hệ với nhau và với Thiên Chúa.
Trong ánh sáng của chân trời đạo đức này, những chọn lựa cụ thể (và thường rất gay go) mà các Kitôhữu phải đưa ra sẽ được trợ giúp bởi các sách lược và các tiến trình khác nhau của việc đưa ra các quyết định luân lý. Một sách lược như thế phải xem xét đến những gì được ghi lại trong Thánh Kinh sao cho Lời Chúa có thể soi sáng trên một vấn đề đặc biệt khó khăn. Một cách tiếp cận khác là khai thác kho tàng giáo huấn của Giáo Hội về một vấn đề cụ thể , hoặc cố gắng lượm lặt từ truyền thống Kitô giáo một ánh sáng nào đó liên quan tới thế lưỡng nan về luân lý trong đó mình cảm thấy bị kẹt. Nhiều người cố gắng đạt tới một quyết định tốt bằng cách xem xét những gì chính Đức Giêsu sẽ làm trong một trường hợp cụ thể nào đó. Một tiến trình đưa ra quyết định có tính Kitô giáo trưởng thành hơn đòi phải chú ý sâu sát đến những gì mà hoạt động bên trong của Chúa Thánh Thần thúc đẩy người ta làm trong một trường hợp cụ thể nào đó. Một số người tìm thấy rằng các chọn lựa được làm sáng tỏ bằng cách cân nhắc những giá trị mà người ta đánh giá là quan trọng và người ta hy vọng trung thành với những quyết định của mình dù lớn hay nhỏ. Nhưng ở đây thật quan trọng phải nắm chắc rằng các giá trị mà mình nâng niu phải thật sự tốt, đáng giá và cao thượng.
Bất cứ tiến trình đưa ra quyết định nào cũng đều có cả những sức mạnh và những sự yếu đuối. Và tất cả đều phải được đảm nhận với một quyết định trong tinh thần cầu nguyện và trong tinh thần sẵn sàng tham vấn với những người khác vốn có thể tiến xa hơn mình trong đời sống trong Thánh Thần. Dù vận dụng chiến lược nào để đưa ra các quyết định, thì chân trời đạo đức được mô tả trong phụng tự bí tích cũng cung cấp nhãn quan theo đó các Kitôhữu có thể định hình một đời sống đáp trả lại ân sủng và Thánh Thần.
Hai lãnh vực có ý nghĩa đặc biệt trong đời sống Kitôhữu là lãnh vực tính dục và công bằng xã hội. Khi cân nhắc các chọn lựa của chúng ta trong lãnh vực tính dục, sẽ rất tốt nếu chúng ta xem xét chân trời đạo đức được mô tả trong phụng tự bí tích. Khi đứng trước một chọn lựa nên tự hỏi: Hành động như thế này sẽ liên hệ thế nào với nền luân lý có tính giao ước mà tôi hy vọng sống với người khác và với Thiên Chúa? Đâu là trách nhiệm của tôi đối với Thiên Chúa, đối với người khác và đối với chính bản thân tôi? Sự chọn lựa này diễn tả thế nào sự dấn thân và lòng trung thành của tôi để sống bình an, nhẫn nại, ôn hòa, vui tuơi, tình yêu trong sạch, và lòng chịu đựng? Sự chọn lựa này sẽ dẫn tới một sự phát triển các hoa trái, hay nó dẫn tới một sự bộc phát nỗi sân si, ghen tị, dục vọng, chán chường? Đâu là những hệ quả của sự chọn lựa này đối với lời hứa trung thành, tình yêu hiến thân, lòng quan tâm phục vụ của tôi?
Công bằng xã hội là hoạt động vun đắp và thăng tiến “những mối quan hệ trật tự đúng đắn” với người khác. Khi xem xét một sự chọn lựa nào đó liên quan tới những quan hệ của ta với người khác, rất cần phải tự hỏi: Hành động này có sẽ dẫn tới một mối hiệp thông và sự công bằng sâu xa hơn với người khác? hay nó sẽ làm xa cách thêm và làm nghèo nàn thêm người ta, nhất là những người yếu đuối, những người hèn mọn nhất, những người là đối tượng ưu tiên trong lời rao giảng và trong giáo huấn của Đức Giêsu? Ý hướng nào hay hành động nào sẽ dẫn tới một sự thăng tiến về công bằng, nhân ái và tha thứ trong chính cuộc đời tôi, trong đời sống của người khác, của cộng đồng, và trong thế giới?
KẾT LUẬN
Dù những dị biệt nào có thể tồn tại giữa các Kitôhữu, chưa nói đến những dị biệt giữa các Kitôhữu và những người thuộc các niềm tin khác, chắc chắn vẫn có một sự nhất trí nào đó về tầm quan trọng của việc thực hành các hàm ý trong những gì được nói và được làm trong cầu nguyện và phụng tự. Thay vì bắt đầu với những vấn đề thuộc giáo thuyết, chẳng hạn những khác biệt trong các các niềm tin và các truyền thống khác nhau, hãy ghi nhận rằng cơ sở để nhận hiểu truyền thống đức tin của chính mình cũng như của người khác là đời sống phụng tự và cầu nguyện, và những nỗ lực của người tín hữu trong việc thực hành những gì được diễn tả trong phụng tự.
Trong khảo luận này, tôi đã đưa ra một giới thiệu về tầm quan trọng của các bí tích và phụng tự trong truyền thống Công Giáo, dựa trên xác tín rằng có một mối nối kết chặt chẽ giữa các bí tích và đạo đức, giữa phụng tự và luân lý, giữa phụng vụ và đời sống. Hy vọng rằng kết quả sẽ không chỉ là một sự quen thuộc hơn với truyền thống bí tích Công Giáo, mà còn là một niềm trân trọng sâu xa hơn đối với sự thật rằng trong bất cứ đời sống tôn giáo đích thực nào thì việc cầu nguyện và thực hành, việc phụng tự và cả cuộc sống phải gắn bó với nhau. Sống trong sự hiện diện của mầu nhiệm thần linh, các tín hữu mời gọi Thiên Chúa dính líu cách hoàn toàn đến mọi chiều kích của cuộc sống mình. Việc trân trọng những gì được nói và làm trong phụng tự bí tích sẽ đem lại cho những người môn đệ Đức Kitô một phương hướng rõ ràng để xác định đâu là sự đáp trả Kitô giáo đích thực trước những vấn đề ngày càng phức tạp.
CÂU HỎI GIÚP TÌM HIỂU
1.Bạn hãy trình bày các yếu tố của một thế giới quan có tính bí tích?
2.Từ một nhãn quan bí tích, bạn hãy giải thích mối liên hệ giữa Thiên Chúa, Đức Giêsu, Giáo Hội, và các hành động thuộc nghi lễ của Giáo Hội.
3.Ý niệm hiện đại về biểu tượng đóng góp thế nào cho sự nhận hiểu của chúng ta về tính nhân quả của bí tích?
4.Bạn liên hệ thế nào bảy bí tích của Giáo Hội với đời sống Kitôhữu?
——————————–
(35) Để rõ hơn về thế giới quan có tính biểu tượng/bí tích đối ứng với các quan điểm khác về mối liên hệ giữa Thiên Chúa với thế giới, xin xem Sallie McFague, Thần học Ẩn Dụ: Các Mẫu Thức về Thiên Chúa trong Ngôn Ngữ Tôn Giáo (Philadelphia: Fortress Press, 1982) chương 1.
(36) William H. Willimon, The service of God: Christian Work and Worship (Nashville: Abingdon Press, 1983) 16-17.
(37) Ibid., 17.
(38) Đây là định nghĩa về bí tích được học bởi các thế hệ được giáo dục đức tin Công Giáo theo Giáo lý Baltimore.
(39) David N. Power, Những Kho Tàng Khôn Dò: Tính Biểu Tượng của Phụng Vụ (NY: Pueblo Publishing Co., 1984).
(40) Ibid., 64-65.
(41) Các hàm ý đạo đức học của phụng vụ và bí tích được Michael Downey bàn kỹ hơn trong Clothed in Christ: The Sacraments and Christian Living (NY: Crossroad, 1987).
(42) Để có một cách tiếp cận mục vụ tốt với Bí tích Sám Hối được cắm rễ trong xác tín rằng bí tích này là một cử hành lòng thương xót, xin xem In Praise of God’s Mercy: A Pastoral Letter on the Sacrament of Penance của Roger M. Mahony, Tổng Giám mục Los Angeles (Los Angeles: Archdiocesan Office of Worship, 1990).
Đăng trong: DẪN VÀO THẦN HỌC | Thẻ: Bí tích, Thần học

















« Đối mặt với hoàn cảnh, trong đó những người đối lập với tôn giáo không chỉ tìm cách làm giảm tiếng nói của nó thành câm lặng, nhưng còn tìm cách thay thế bằng tiếng nói của họ, thì các tín hữu phải luôn nhận thấy mãnh liệt hơn sự cần thiết phải hợp lý với những nguyên tắc và niềm tin của mình » ( Diễn từ của Đức Bênêđictô XVI ở Đền thờ Al-Hussein Bin-Talal ở Amman).

"Thiên Chúa là sự phong phú duy nhất mà người ta ao ước tìm gặp nơi một linh mục" (Bênêđictô XVI)
"Các bạn thân mến, các bạn đừng nản lòng trước những khó khăn và nghi ngại ; hãy phó thác cho Thiên Chúa và bước theo Chúa Giêsu cách trung thành, và các bạn sẽ là chứng nhân của niềm vui vọt lên từ sự kết hiệp thân mật với Ngài" (Sứ điệp Ngày Thế Giới cầu nguyện cho Ơn Thiên Triệu lần 46).
"Giáo hội vui mừng sử dụng các phương tiện truyền thông để cung cấp những thông tin về chính mình và mở rộng các phương thế truyền giáo, dạy giáo lý và đào tạo, trong khi xem việc sử dụng chúng như lời đáp trả cho mệnh lệnh của Chúa: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15)" - (Gioan Phaolô II, Tông thư “Sự phát triển nhanh chóng”, gởi giới hữu trách truyền thông xã hội, 24.01.2005, số 7).