THÁNH GIOAN-MARIA VIANNÊ, NGƯỜI CHO THẤY CĂN TÍNH THIÊNG LIÊNG VÀ SỰ THÁNH THIỆN CỦA LINH MỤC

Bài chia sẻ dịp lễ Giỗ Tổ Xuân Bích, ngày 18-19/11/2009, tại Đại Chủng Viện Huế.

Trọng kính quý Đức Cha,

Kính thưa quý Cha, quý Thầy và quý Khách,

Con biết vì sao hôm nay con đang ngồi tại ví trí này với một bài chia sẻ. Đơn giản là vì hằng năm cứ mỗi lần dịp lễ Giỗ Tổ Xuân Bích trở về,IMG_0606 thì có ai đó được « vinh dự » bước lên « đoạn đầu đài »…Năm nay, vì con là thành viên mới toanh của Hội Xuân Bích, nên cha Giám đốc cũng là đại diện Xuân Bích Việt Nam, đã « đoái thương nhìn đến » ; phần con thì cúi đầu « xin vâng » đón nhận.

Dịp lễ Giỗ Tổ Xuân Bích năm nay trùng với dịp Năm Linh Mục trong đó Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã đề nghị cha thánh Gioan-Maria Viannê làm mẫu gương cho các linh mục, nên bài chia sẻ của con sẽ xoay xung quanh đề tài này, bằng việc nối kết những ý định của Đức Thánh Cha với cuộc sống cha thánh xứ Ars.

Đã có rất nhiều bài viết phong phú và đa dạng nói về Cha Sở xứ Ars. Bài chia sẻ của con, trong khả năng và giới hạn của mình, cũng xin khiêm tốn góp phần vào sự phong phú và đa dạng này. Tài liệu tham chiếu về cha Gioan-Maria Viannê cũng rất phong phú và đa dạng, ở đây con đặc biệt quy chiếu gần như hoàn toàn đến cuốn sách của cha Bernard Nodet với tựa đề « Jean-Marie Vianney, Curé d’Ars : sa pensée – son cœur », xuất bản năm 1958, là cuốn sách tập hợp những lời nói của cha Viannê và những lời chứng về ngài, được xếp theo chủ đề, và cũng là cuốn sách được Đức Thánh Cha dùng làm tham chiếu nhiều khi nói về thánh nhân.

Bài chia sẻ của con có tựa đề « Thánh Gioan-Maria Viannê, người cho thấy căn tính thiêng liêng và sự thánh thiện của linh mục ». Như thế con sẽ xoay quanh hai khía cạnh chính yếu này của đời sống linh mục : căn tính và sự thánh thiện của người linh mục, và đó là những khía cạnh mà rất nhiều văn kiện của Giáo Hội nói đến.

 

THÁNH GIOAN-MARIA VIANNÊ,

NGƯỜI CHO THẤY CĂN TÍNH THIÊNG LIÊNG VÀ SỰ THÁNH THIỆN CỦA LINH MỤC

Dẫn nhập

Song song với việc tuyên bố mở Năm Linh Mục, trùng với dịp kỷ niệm 150 năm ngày mất của thánh Gioan-Maria Viannê (1786-1859), Đức Thánh Cha đã đề nghị Cha Sở xứ Ars cho các linh mục như là « mẫu gương mục tử đích thực cho việc phục vụ đoàn chiên của Chúa Kitô ». Trong diễn văn cho Bộ Giáo Sĩ liên quan đến việc mở Năm Linh Mục, Đức Thánh Cha đã nói rõ mục đích và ý nghĩa của nó là « để tạo điều kiện thuận lợi cho các linh mục hướng đến sự hoàn thiện thiêng liêng mà trước tiên hiệu quả của thừa tác vụ của họ lệ thuộc vào», hay trong sứ điệp gởi cho các tham dự viên dịp Tĩnh tâm linh mục quốc tế tại Ars, ngài cũng cho thấy rằng Năm Linh Mục là dịp « chúng ta hết thảy đều được kêu gọi tìm hiểu và tái khám phá sự cao cả của Bí Tích đã làm cho chúng ta mãi mãi trở nên đồng hình dạng với Chúa Kitô vị Thượng Tế Tối Cao» Nói cách khác, Năm Linh Mục là cơ hội để canh tân hàng linh mục trong việc khám phá lại căn tính và đòi hỏi nên thánh của họ trong sứ mệnh phục vụ Chúa và Giáo Hội.

Quyết định mở Năm Linh Mục của Đức Thánh Cha, như nhận xét của phóng viên Isabelle de Gaulmyn của nhật báo La Croix (17/06/2009), là một quyết định « làm ngạc nhiên đến hai lần » : Một mặt, bởi vì ít người được báo cho biết trước về điều đó, ngay cả ở Vatican ; mặt khác, bởi vì Năm Linh Mục này được đặt dưới sự bảo trợ của thánh Gioan-Maria Viannê, vị linh mục thôn quê, khắc khổ.

Tuy nhiên, nếu chúng ta hiểu được mối ưu tư cao độ của Đức Thánh Cha liên quan đến sự thánh thiện và lòng trung tín của người linh mục, đến tình trạng luân lý và thiêng liêng của họ,IMG_0608 thì chúng ta cũng có thể nói rằng quyết định đó không chỉ bất ngờ, nhưng còn là một quyết định rất cần thiết. Quả thế, ngay từ khi còn là Hồng y, đã không ít lần ngài bày tỏ sự lo lắng sâu xa khi đề cập đến đời sống của các linh mục. Chẳng hạn, vào năm 2005, trong cuộc trao đổi với nhà báo Peter Seewald liên quan đến vấn đề độc thân linh mục, về sau được in thành sách với tựa đề « Muối cho đời », Đức Thánh Cha đã khẳng định : « Quả là thảm-kịch cho Giáo-hội khi có nhiều người sống nước đôi. Tiếc rằng đây không phải là lần đầu tiên. Vào cuối thời Trung-cổ, Giáo-hội cũng đã gặp phải tình-trạng đó và đó cũng là một phần nguyên-do đưa tới cải-cách. Dù sao đây cũng là một bi-kịch, khiến phải suy-nghĩ thật kĩ, nhất là để giúp cho những ai đang phải đau-khổ thật-sự vì nó…» (Bản dịch Việt ngữ của Trần Hoành và Phạm Hồng Lam). Cũng chính vào năm này, trong bài suy niệm Đàng Thánh Giá vào tối Thứ Sáu Tuần Thánh, ngày 24/3, ở chặng thứ Chín, ngài đã cho thấy tầm nghiêm trọng của những gương mù gương xấu, đặc biệt của các linh mục : « Biết bao nhiêu lần chúng ta lạm dụng sự hiện diện của Ngài trong Bí tích Thánh Thể, (biết bao lần) trong tâm hồn trống rỗng và xấu xa như thế nào Ngài thường xuyên ngự vào đó ! Biết bao lần chúng ta chỉ cử hành chính bản thân chúng ta và thậm chí không ý thức đến sự hiện diện của Ngài ! Biết bao lần Lời của Ngài đã bị méo mó và bị tổn hại ! … Biết bao nhiêu vết nhơ trong Giáo Hội, và đặc biệt trong số những người trong chức linh mục mà lẽ ra phải hoàn toàn thuộc về Ngài !», và ngài mô tả đó như là « những tấm áo và khuôn mặt rất nhơ bẩn của Giáo Hội của Chúa ». Cũng thời gian khi còn là Hồng y, vào năm 2001, ngài là một trong những người đề xướng Tự sắc đặt những vụ lạm dụng tính dục trẻ vị thành niên dưới thẩm quyền của Bộ Giáo lý đức tin và khuyên nên dùng một chính sách trừng phạt nghiêm khắc mà người ta gọi là « la politique de tolérance zéro » (« chính sách trấn dẹp cách có hệ thống những vi phạm »). Khi làm Giáo hoàng, ý muốn thanh tẩy hàng linh mục của ngài càng trở nên rõ ràng hơn nữa, đặc biệt khi phải đối diện với những tội phạm ấu dâm. Trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ hay vào dịp Đại hội giới trẻ tại Úc, và nhất là trước hoàn cảnh cực kỳ nghiêm trọng tại Ailen, ngài đã tỏ ra đau buồn và đã không im lặng về vấn đề này, nhưng đòi hỏi cần phải thiết lập « công lý » và « chân lý về những tội ác quái dị [1]». Chính trong diễn văn cho Bộ Giáo Sĩ trên đây, ngài cũng đã đề cập đến một yếu tố quan trọng mà đôi khi người ta ít để ý đến : đó là « lập lại tầm quan trọng của kỷ luật » trong Giáo Hội. Chính ngài cũng là vị Giáo hoàng đã nới rộng năng quyền Bộ Giáo Sĩ cho linh mục hồi tục[2]. Năm Linh Mục như thế được mở ra nhằm để canh tân, thanh tẩy, thanh lọc và đổi mới con người linh mục về tất cả các phương diện nhân bản, thiêng liêng, tu đức, mục vụ, luân lý, kỷ luật…

Cũng cần phải làm rõ rằng, sự nghiêm khắc của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI về các linh mục như thế không có nghĩa là ngài có cái nhìn hoàn toàn tiêu cực về họ. Trái lại, như trong thư gởi cho các linh mục nhân dịp Năm Linh Mục, Đức Thánh Cha đặc biệt cho thấy có biết bao linh mục đã sống một cuộc sống thánh thiện và trung tín với ơn gọi của mình : «Tôi nghĩ đến tất cả các linh mục đang giới thiệu cho các tín hữu kitô và cho toàn thế giới lễ vật khiêm tốn và thường ngày những lời nói và cử chỉ của Chúa Kitô, đang nỗ lực gắn bó với Ngài bằng tư tưởng, ý chí, tình cảm và phong cách của tất cả cuộc sống của họ. Làm sao mà tôi không thể làm nổi bật sự vất vả tông đồ của họ, sự phục vụ dẻo dai và âm thầm của họ, đức ái phổ quát của họ được ? Làm sao mà tôi không thể ca ngợi sự trung tín can đảm của biết bao linh mục mà, cho dầu phải đối diện với những khó khăn và những sự thiếu thông hiểu , vẫn trung thành với ơn gọi của mình : ơn gọi « làm bạn của Chúa Kitô », […] làm sao chúng ta không nhớ đến biết bao linh mục bị nhạo báng trong phẩm giá của họ, bị ngăn cản thực hiện tác vụ của mình, thậm chí đôi khi bị bách hại cho đến độ cuối cùng làm chứng bằng máu mình ? » Sự nghiêm khắc đòi hỏi của Đức Giáo hoàng đương kim như thế được hiểu như là nơi một tấm áo trắng, giờ đây bị vấy lên đó những giọt mực đen, mà ai ai cũng muốn tìm cách tẩy sạch cho thật nhanh ! IMG_0625 Tuy nhiên, xét cho đến cùng, mục đích chính yếu của Năm Linh Mục không phải nằm trước tiên nơi khía cạnh tiêu cực này, tức là việc thanh tẩy các « vết nhơ » trong Giáo Hội, nhưng là, như chính Đức Thánh Cha khẳng định, « trong những trường hợp như thế, những gì có thể là ích lợi cho Giáo Hội, đó không chỉ là nhận ra đầy đủ những yếu đuối của các thừa tác viên của mình, nhưng còn là một ý thức mới mẻ và phấn khởi về sự cao cả của ân huệ của Thiên Chúa, được cụ thể hóa nơi những hình ảnh sáng ngời của những mục tử quảng đại, những tu sĩ rực cháy tình yêu đối với Thiên Chúa và các linh hồn, những vị linh hướng sáng suốt và kiên nhẫn .» Nói cách khác, việc giúp cho các linh mục hướng đến sự hoàn thiện thiêng liêng, hướng đến sự nên thánh trong đời sống phục vụ cũng như sống đúng căn tính của mình, cách cụ thể, được thể hiện và tìm thấy nơi những mẫu gương linh mục đã để cho Chúa Thánh Thần uốn nắn mình nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô. Chính trong nghĩa đó mà Đức Thánh Cha đã đề nghị một khuôn mẫu linh mục đức hạnh và thánh thiện cho Năm Linh Mục này, đó là cha thánh Gioan-Maria Viannê, bổn mạng của các cha sở.

Nhưng chính đề nghị gây ngạc nhiên này cũng cần được làm rõ. Một mặt, cần khẳng định ngay rằng, chỉ một mình khuôn mẫu của cha thánh Viannê, dù đức hạnh và thánh thiện đến đâu, cũng không thể diễn tả hay tát cạn hết sự phong phú của thiên chức linh mục. Chính vì thế mà cần nhiều khuôn mẫu linh mục khác nhau để diễn tả cách trọn vẹn Chúa Kitô, vị Mục Tử nhân lành. Tuy nhiên, mặt khác, khi đề nghị thánh Viannê như là « mẫu gương mục tử đích thực cho việc phục vụ đoàn chiên của Chúa Kitô », Đức Thánh Cha đã cho thấy nơi vị thánh của thế kỷ XIX này vẫn có điều gì đó rất sống động để nói với các linh mục hôm nay. Vậy, đâu là tính cách thời sự của khuôn mẫu linh mục Gioan-Maria Viannê cho các linh mục thời nay ? Đâu là mối quan tâm thực sự khi giới thiệu dung mạo của vị linh mục nông thôn và rất đặc trưng của Công đồng Trentô[3] này cho các thế hệ linh mục ngày nay, mà ngay cả ở nông thôn cũng đã tiến triển rất nhiều ? Chúng ta có thể múc lấy ở đó điều gì để có thể làm chứng cho Chúa Kitô và đáp lại cho những thách đố trong một thế giới tục hóa và vô thần hôm nay ? Hình ảnh một vị linh mục khắc khổ, gầy gò, mà người ta nói thuộc lối sống đan tu khổ hạnh hơn là linh mục triều, mặc chỉ một chiếc áo chùng thâm duy nhất, ăn chay đến kiệt sức, đánh tội phạt xác đến đổ máu, nhiều ngày chỉ ăn vài củ khoai, thậm chí là khoai mốc, học hành thua kém đồng môn, chịu chức rồi vẫn chưa được phép giải tội, phải lo học bổ túc, sợ dọn bài giảng nhất, thức dậy từ một hai giờ sáng để rồi giải tội mỗi ngày đến 16 hay 17 tiếng đồng hồ, khiêm hạ đến mức không chịu được… những hình ảnh đó có lẽ dường như làm cho chúng ta e dè « kính nhi viễn chi » nếu không nói là có gì để bắt chước hay noi gương gì nổi !!! Thế nhưng, đối với Đức Bênêđictô XVI, cuộc sống và con người của Cha sở xứ Ars, được coi như là một vị thánh sống lúc sinh thời, vẫn có thể là « điểm quy chiếu có ý nghĩa » cho chúng ta trong việc đảm nhận và sống thiên chức linh mục của mình. Điều quan trọng, như ai đó đã nhận xét, là chúng ta cần phải “đưa Cha sở xứ Ars ra khỏi những củ khoai của ngài » ! Điều quan trọng không phải là tâm hồn ngài bị chìm ngập bởi « những củ khoai », nhưng là ngập tràn Thiên Chúa[4], điều quan trọng là như Chúa Giêsu đã hỏi Phêrô : « Amas me ? », « con có yêu mến Thầy không ? » Thiên Chúa có một chỗ tối quan trọng và ý nghĩa trong cuộc đời của cha Viannê, như chính ngài đã từng nói : « Linh hồn chỉ có thể được nuôi dưỡng bởi Thiên Chúa, chỉ có Thiên Chúa mới đủ cho nó, chỉ có Thiên Chúa mới thỏa mãn cơn đói khát của nó [5]», hay nơi khác ngài nói : « Kết hiệp với Thiên Chúa, thuộc về Thiên Chúa hoàn toàn : Thuộc về Thiên Chúa không chia sẻ : thân xác thuộc về Thiên Chúa, linh hồn thuộc về Thiên Chúa ! [6]» Điều đó đã dẫn cha Toccanier, một trong những người sống kề cận và làm chứng cho hồ sơ phong thánh của cha Viannê, đến chỗ tóm tắt tất cả đời sống của vị thánh xứ Ars rằng : « Thiên Chúa, không gì hơn Thiên Chúa, Thiên Chúa khắp nơi, Thiên Chúa trong tất cả, tất cả cuộc sống của cha sở xứ Ars là ở đó [7]»

Đặc biệt, ngày nay, chúng ta đang đứng trước một cuộc khủng hoảng linh mục về ba phương diện : khủng hoảng về ơn gọi linh mục, khủng hoảng về căn tính linh mục và khủng hoảng về sự thánh thiện của linh mục. Cách nào đó, cuộc khủng hoảng về ơn gọi linh mục có thể làm cho Giáo Hội lúng túng, nhưng không làm nguy hại đến hình ảnh của Giáo Hội, bởi vì Giáo Hội cần đến những linh mục có phẩm chất chứ không phải là số lượng linh mục. Nhưng cuộc khủng hoảng căn tính và sự thánh thiện của linh mục thì có nguy cơ hủy hoại Giáo Hội tự bên trong, làm cho khuôn mặt của Giáo Hội, cách nào đó, méo mó đi thảm hại. Vì thế, trong bài chia sẻ này, để chỉ ra tính cách thời sự của Cha sở xứ Ars, trong khung cảnh ngắn ngủi của buổi trao đổi hôm nay nhân dịp lễ Giỗ Tổ Xuân Bích 2009, chúng tôi chỉ xin dừng lại ở khẳng định quan trọng này, đó là cha thánh Gioan-Maria Viannê, người cho thấy căn tính thiêng liêng và sự thánh thiện của linh mục. Nói cách khác, mẫu gương nhân đức và thánh thiện của cha sở xứ Ars, dù cách xa về thời gian, bối cảnh văn hóa, xã hội, tôn giáo…, vẫn có thể giúp chúng ta tái khám phá ra chân dung đích thực của người linh mục hôm nay, một sự tái khám phá cực kỳ cần thiết, vì theo cha J.J. Olier, đấng sáng lập Hội Xuân Bích, việc thánh hóa các linh mục sẽ tạo điều kiện cho sự thánh hóa giáo dân, và do đó, mang lại sự thánh thiện trong Giáo Hội[8].

Để nói lên tính cách thời sự của thánh Gioan-Maria Viannê, trước tiên chúng tôi sẽ trình bày về căn tính thiêng liêng của linh mục và cho thấy những soi sáng của cha thánh xứ Ars về vấn đề này ; tiếp đến, trong mối liên hệ mật thiết với căn tính này, chúng tôi sẽ đề cập đến sự thánh thiện của linh mục mà cuộc sống của cha Viannê đã phát họa nên. Sau cùng, phần kết thúc sẽ là một ước mong canh tân đời sống linh mục trên con đường nên thánh theo gương cha thánh Gioan-Maria Viannê.

1. Tái khám phá căn tính thiêng liêng của linh mục

Một trong những chủ đích của Đức Thánh Cha khi tuyên bố mở Năm Linh Mục, đó là « cứu chữa căn tính linh mục » khỏi cuộc khủng hoảng mà hàng linh mục đang trải qua. Cuộc khủng hoảng đã kéo dài từ những năm 60-70 mà những nguyên nhân chính, đó là sự giảm sút trầm trọng con số các linh mục, đặc biệt trong các nước Phương Tây, và quan niệm sai lầm giữa chức tư tế thừa tác và chức tư tế Phép rửa. Từ đó nảy sinh vấn đề lẫn lộn giữa vai trò của giáo dân và linh mục. Cuộc khủng hoảng cũng nảy sinh từ việc người linh mục chỉ còn được xem như là một công viên chức, như vị hữu trách của các hội đoàn, như người đồng hành, như những hoạt náo viên xã hội, như là người thuần túy làm việc từ thiện, kinh tế và thậm chí đôi khi bị coi như những thầy phù phép… ; nói chung, các linh mục được coi như là những thành viên của một « bộ máy Giáo hội-xã hội ». Một cuộc thăm dò của nhật báo La Croix cho thấy rằng những người Pháp, ngay cả những người nhận mình là Công giáo, đã xem các linh mục chỉ như là những hoạt náo viên xã hội và văn hóa mà không biết gì đến căn tính thiêng liêng của linh mục, và xem linh mục cũng như là bao người khác có chỗ đứng trong một xã hội mà thôi[9]. Vì thế, một lần nữa, Năm Linh Mục là cơ hội để chúng ta tái khám phá lại căn tính đích thực của người linh mục, thừa tác viên và là người đại diện của Chúa Kitô. Chúng tôi xin nhìn lại căn tính linh mục này dưới bốn điểm liên kết mật thiết với nhau : trước tiên là nhận thức lại phẩm giá cao trọng của linh mục ; tiếp đến là xác định nền tảng của thiên chức này ; tiếp đó là tìm hiểu bản chất của chức tư tế thừa tác trong tương quan với chức tư tế chung do Bí tích Rửa tội mang lại ; và sau cùng là chiều kích giáo hội của chức linh mục.

1.1. Phẩm giá cao trọng của linh mục

Trong sứ điệp video gởi cho các tham dự viên cuộc Tỉnh Tâm Linh Mục Quốc tế nói trên, chúng ta nhận thấy rằng Đức Thánh Cha mời gọi các linh mục tận dụng Năm Linh Mục này như là cơ hội để « tìm hiểu và tái khám phá sự cao cả của Bí Tích đã làm cho chúng ta mãi mãi trở nên đồng hình dạng với Chúa Kitô ». Điều đó cũng có nghĩa là chúng ta được mời gọi khám phá và ý thức lại sự cao cả của thiên chức mà chúng ta đang được ghi ấn tín đời đời. Hơn ai hết, thánh Gioan-Maria Viannê có thể giúp chúng ta ý thức hơn về phẩm giá cao trọng này khi ngài có những mô tả bằng chính cảm nghiệm của ngài về thiên chức linh mục, mà ngài cho là « cao trọng hơn các thiên thần » :« Nếu tôi gặp một linh mục và một thiên thần, tôi sẽ chào linh mục trước khi chào thiên thần. Thiên thần là bạn của Thiên Chúa, nhưng linh mục nắm giữ chỗ của Ngài.[10] » Về tầm quan trọng của linh mục, cha thánh xứ Ars nói : « « Ôi ! Linh mục là điều gì đó cao trọng biết bao ! Nếu ngài hiểu mình, thì ngài sẽ chết…Thiên Chúa vâng lệnh ngài : ngài nói một vài lời thì nghe tiếng ngài, Thiên Chúa từ trời ngự xuống và tự khép mình trong bánh thánh nhỏ bé.[11] » Hay nơi khác ngài cho thấy : « « Nếu chúng ta không có bí tích Truyền chức thánh, thì chúng ta sẽ không có Chúa. Ai đã đặt ngài ở đó, trong nhà  tạm ? Linh mục. Ai đã đón nhận linh hồn chúng ta lúc khởi đầu cuộc sống của nó ? Linh mục. Ai nuôi dưỡng linh hồn và tăng sức mạnh cho nó trên cuộc hành trình ? Linh mục. Ai sẽ chuẩn bị cho nó xuất hiện trước nhan Thiên Chúa, bằng cách rửa linh hồn này lần sau hết trong máu của Chúa Giêsu Kitô ?  Linh mục, luôn là linh mục. Và xảy ra là nếu linh hồn chết [vì tội lỗi], ai sẽ làm cho nó sống lại, ai sẽ làm cho nó thanh thản và bình an ?  Vẫn là linh mục […] Sau Thiên Chúa, linh mục là tất cả…Linh mục chỉ hiểu mình đúng ở trên trời.[12]»  Liên quan đến ơn cứu độ con người trong Chúa Kitô, cha Viannê cho thấy vai trò của linh mục thật là lớn lao : « Không có linh mục, cái chết và cuộc thương khó của Chúa không giúp ích gì[13] », vì « chính linh mục tiếp nối công trình Cứu chuộc trên trần gian »[14]. Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng phẩm giá cao trọng này, không phải linh mục tự phong ban cho mình, nhưng là lãnh nhận từ Chúa Kitô, Linh Mục tối cao.

1.2. Nền tảng của phẩm giá cao cả của linh mục

Quả thế, đối với cha thánh xứ Ars, phẩm giá cao trọng của linh mục là ở chỗ Thiên Chúa đang hiện diện nơi ngài : « Ta phải nhìn linh mục khi ngài ở bàn thờ và đang giảng dạy như thể đó chính là Thiên Chúa », và bí tích Truyền chức thánh, theo ngài, là một bí tích « nâng con người lên tận Thiên Chúa [15]» Sâu xa hơn nữa, đối với thánh nhân, Chúa Kitô là « khuôn mẫu duy nhất của chúng ta », « Chúa Giêsu-Kitô là tất cả đối với chúng ta »[16]. Những lời khẳng định này của « người hùng xứ Ars » dẫn chúng ta đến hiểu rõ hơn những gì mà Tông Huấn Pastores dabo vobis đã khẳng định về căn tính của linh mục  : « Người linh mục tìm được chân lý tròn đầy về căn tính của mình trong sự kiện tham dự cách loại biệt vào Chúa Kitô và tiếp nối chính Ngài, vị Tư Tế tối cao và độc nhất của Giao ước mới : ngài là hình ảnh sống động và trong suốt của Chúa Kitô linh mục » (số 12), « do đó, quy chiếu về Chúa Kitô là chìa khóa tuyệt đối cần thiết để hiểu thực tại linh mục » (số 12). Căn tính linh mục được đặt nền tảng trên mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi[17] và mầu nhiệm Chúa Kitô, trên sự đồng hình đồng dạng với Ngài. Linh mục là thừa tác viên, là bí tích của Chúa Kitô, đại diện và đón nhận sứ mệnh từ Ngài, hành động « in persona Christi ». Cắt đứt khỏi nguồn mạch này, người linh mục chỉ còn đóng vai một công viên chức ăn lương, một hoạt náo viên, mà đánh mất đi chiều kích thiêng liêng của cuộc sống của mình được thể hiện qua các ân huệ và cũng là nhiệm vụ thánh hóa, giảng dạy và mục tử. Vì thế, việc nối kết linh mục lại với Chúa Kitô, trình bày ơn gọi linh mục như là tình yêu của Ngài là cần thiết cấp bách, vì chúng ta ý thức rằng « chúng ta được kêu gọi bởi ân sủng của Ngài và đến với ân sủng của Ngài» (K. L. Schmidt). Từ đó, chúng ta có thể hiểu được bí mật của những lời khẳng định sau đây của cha thánh xứ Ars : «  Khi anh chị em thấy linh mục, hãy nghĩ ngay đến Chúa Giêsu Kitô », « chức linh mục, đó là tình yêu của trái tim Chúa Giêsu [18]». Đức Bênêđictô XVI, trong diễn văn cho Bộ Giáo Sĩ, cũng đã khẳng định chiều kích thiêng liêng này của căn tính linh mục : « Chính trong Chúa Giêsu Kitô mà sứ mệnh (linh mục) tìm thấy động cơ đích thực của nó. Đặc tính trung tâm của Chúa Kitô mang nơi nó sự làm tăng giá trị đúng đắn của chức tư tế thừa tác, mà không có nó sẽ không có Thánh Thể, hay thậm chí cũng không có sứ mệnh hay chính Giáo Hội.» Chính vì thế, đối với Đức Thánh Cha, « điều phong phú duy nhất mà người ta ước ao tìm gặp nơi một linh mục là chính Thiên Chúa » và linh mục phải là chuyên viên về đời sống mật thiết với Thiên Chúa. Và điều đó chỉ có thể được khi linh mục đã ý thức về phẩm giá cao cả của căn tính của mình cũng như đã thực sự kết hiệp mật thiết với Chúa Kitô, một phẩm giá mà không được lẫn lộn với chức tư tế chung do Phép Rửa mang lại.

1.3. Bản chất của chức linh mục thừa tác

Quả thế, cuộc khủng hoảng căn tính linh mục cũng được đánh dấu bởi sự lẫn lộn với vai trò của giáo dân, nảy sinh từ sự thiếu hụt trầm trọng ơn gọi linh mục và từ quan niệm sai lầm về hai chức tư tế này trong Giáo Hội. Từ đó, người ta có nguy cơ đi đến chỗ giáo sĩ hóa giáo dân và giáo dân hóa giáo sĩ. Đây cũng là một trong những cảnh giác của Đức Bênêđictô XVI khi tuyên bố mở Năm Linh Mục này. Trong diễn từ cho các thành viên của Bộ Giáo Sĩ, ngài nói : « Thật cần thiết nhằm canh chừng để « những cấu trúc mới » hay những tổ chức mục vụ không được suy nghĩ cho một thời kỳ mà người ta hẳn sẽ phải « thoát khỏi » thừa tác vụ chức thánh, bằng việc khởi đi từ một lối giải thích sai lầm về sự thăng tiến giáo dân đúng đắn, vì trong trường hợp này, người ta hẳn sẽ đặt ra những điều kiện cho một sự pha loãng bổ sung chức tư tế thừa tác và « những giải pháp » giả định có thể xảy ra trùng khớp cách thảm thương với những nguyên nhân hiện nay của những vấn đề hiện đại gắn với thừa tác vụ. » Đi kèm theo với cảnh giác này, Đức Thánh Cha cũng cho thấy sự khác biệt tự yếu tính giữa chức linh mục thừa tác nơi các linh mục và chức linh mục chung nơi các tín hữu do Phép Rửa mang lại: « Nếu toàn thể Giáo Hội là truyền giáo và nếu mỗi kitô hữu, bằng vào Bí tích Rửa tội và Thêm sức, như một bổn phận (x. GLGHCG, 1305), lãnh nhận lệnh truyền tuyên xưng công khai đức tin, thì cũng từ quan điểm này, chức linh mục thừa tác được phân biệt, trên bình diện hữu thể chứ không chỉ bằng vào cấp trật, với chức tư tế phép rửa, cũng được gọi là chức tư tế chung. » Khẳng định điều này, Đức Bênêđictô XVI không nói gì khác hơn với tuyên bố của Hiến chế Lumen Gentium rằng chức tư thế thừa tác (hay phẩm trật) và chức tư tế chung « khác nhau tự yếu tính chứ không chỉ là theo cấp độ » (số 10 ; xem PDV số 17). Tông huấn Pastores dabo vobis năm 1992 cho thấy rõ sự khác biệt này giữa hai chức tư tế cùng phát xuất từ một nguồn duy nhất là Chúa Kitô : « Các linh mục được mời gọi, không chỉ với tư cách là những người chịu phép Rửa, nhưng còn là và cách loại biệt với tư cách là linh mục, tức là với một tước hiệu mới và tùy theo những hình thái riêng, phát xuất từ Bí tích Truyền Chức Thánh » (số 19). Tiếp đến ở số 20, Tông Huấn viết : « Khi lãnh nhận Chức Thánh, họ (các linh mục) được thánh hiến cho Thiên Chúa bằng một thể thức mới để trở nên những dụng cụ sống động của Chúa Kitô Linh mục đời đời, để, trong suốt dòng thời gian, có đủ tư cách tiếp nối hoạt động kỳ diệu qua đó, với sức mạnh tối cao của Người, họ khôi phục toàn thể cộng đồng nhân loại ». Về vấn đề căn tính của linh mục này, chúng ta còn có thể tìm thấy trong văn kiện « Chỉ nam cho thừa tác vụ và đời sống của các linh mục » năm 1994 của Bộ Giáo Sĩ. Chẳng hạn ở số 2, chúng ta đọc thấy khẳng định quan trọng sau về nguồn gốc bí tích của chức linh mục thừa tác : « Qua bí tích truyền chức, được thực hiện nhờ việc đặt tay và lời nguyện thánh hiến…, nó diễn ra nơi người linh mục ‘một mối liên hệ hữu thể loại biệt nối kết linh mục với Chúa Kitô, Linh Mục Tối Cao và là Mục Tử Nhân Lành’. Do đó, căn tính của linh mục phát xuất từ sự tham dự loại biệt của ngài với Chức Linh Mục của Chúa Kitô, nhờ đó, người được tấn phong trở nên, trong Giáo Hội và cho Giáo Hội, hình ảnh hiện thực, sống động và trong suốt của Chúa Kitô Linh Mục… Nhờ sự thánh hiến, linh mục ‘lãnh nhận ân huệ là một « quyền lực » thiêng liêng mà là sự tham dự vào quyền bính mà Chúa Giêsu-Kitô, nhờ Thánh Thần của Ngài, hướng dẫn Giáo Hội ». Văn kiện của Bộ Giáo sĩ đặc biệt cho thấy rõ ràng hơn nữa sự khác biệt này, điều làm nên sự mới mẻ của căn tính linh mục : « Căn tính của linh mục là « mới mẻ » so với căn tính của mọi kitô hữu… Tính loại biệt của chức linh mục thừa tác nằm ở nơi nhu cầu mà mọi tín hữu cần đến sự trung gian và quyền lực của Chúa Kitô, được nên hữu hình trong việc thực thi của chức linh mục thừa tác » (số 6).

Vấn đề phân biệt giữa chức tư tế thừa tác và chức tư tế Phép Rửa là một vấn đề thần học hiện đại, đặc biệt với Vatican II, mà vào thời của cha thánh Viannê chưa được đặt ra. Tuy nhiên, thánh nhân không thiếu những kiểu nói cho thấy sự cao trọng loại biệt của chức linh mục thừa tác, không chỉ so với giáo dân mà thôi, nhưng còn đối với cả Đức Maria và các thiên thần nữa : « Anh chị em đi xưng tội với Đức Trinh Nữ hay với một thiên thần chưa. Các ngài có tha tội cho anh chị em không ? Các ngài có cho anh chị em Mình và Máu thánh Chúa không ? Không, Đức Trinh Nữ không thể kéo Con Thiên Chúa xuống trong hình bánh. Nếu anh chị em có 200 trăm thiên thần ở với anh chị em thì các ngài cũng không thể tha tội cho anh chị em được. Một linh mục dù giản dị đến mấy thì có thể thực hiện được điều ấy. Ngài có thể nói với anh chị em : Chúc anh chị em ra đi bình an, tôi tha thứ cho anh chị em. Ôi ! Linh mục là điều gì đó cao trọng biết bao ! [19]»

Việc phân biệt rõ ràng giữa hai chức tư tế trong Giáo Hội không có mục đích hạ thấp bên này và đề cao bên kia, cũng không phải là một thái độ trở về với chủ nghĩa giáo sĩ trị một thời đã qua, nhưng là để giúp có cái nhìn đúng đắn về căn tính của mỗi bên và, như thế, để tránh sự lẫn lộn giữa hai vai trò trong Giáo Hội và nhất là tạo điều kiện cho sự cộng tác lành mạnh giữa linh mục và giáo dân. Và đó chính là điều mà một văn kiện liên Bộ năm 1997 của Vatican nhắm đến. Văn kiện này, có tựa đề « Huấn thị về một số vấn đề liên quan đến sự cộng tác của các tín hữu giáo dân với thừa tác vụ của các linh mục », là nỗ lực của các Bộ khác nhau của Vatican, nhằm đưa ra những nguyên tắc thần học để làm rõ mối tương quan giữa chức tư tế thừa tác và chức tư tế chung, và đồng thời đưa ra những chỉ dẫn thực hành cho sự cộng tác giữa hai bên trong Giáo Hội. Theo đường hướng của Pastores dabo vobis, văn kiện khẳng định rất rõ ràng : « Sự khác biệt yếu tính giữa chức tư tế chung và chức tư tế thừa tác không hệ tại nơi chức linh mục của Chúa Kitô, mà vẫn luôn là độc nhất và bất khả phân ly, cũng không hệ tại ở sự thánh thiện mà mọi tín hữu được kêu gọi đến : « Quả thế, chức tư tế thừa tác tự nó không có nghĩa là một cấp độ thánh thiện cao hơn so với chức tư tế chung của các tín hữu ; nhưng, qua chức  tư tế thừa tác, các linh mục đã lãnh nhận từ Chúa Kitô, nhờ Thánh Thần, một ân huệ loại biệt, để có thể trợ giúp dân Thiên Chúa thực thi cách trung thành và trọn vẹn chức tư tế chung được trao ban cho họ » (xem PDV số 17). Xa hơn một chút, lấy lại giáo thuyết của sách Giáo Lý của GHCG, văn kiện liên Bộ cho thấy : « Sự đa dạng liên quan đến « phương thức » (mode) tham dự vào chức linh mục của Chúa Kitô, và nó là (khác biệt tự) yếu tính theo nghĩa là « đang khi chức tư tế chung của các tín hữu được thực hiện trong sự biệu lộ của ân sủng phép Rửa, đời sống đức tin, đức cậy và đức mến, đời sống theo Thánh Thần, thì chức tư tế thừa tác là nhằm phục vụ chức tư tế chung, nó liên quan đến sự biểu lộ của ân sủng phép Rửa của mọi kitô hữu ». Do đó, « chức tư tế thừa tác khác biệt tự yếu tính với chức tư tế chung của các tín hữu mà nó giao phó cho một quyền bính thiêng liêng để phục vụ các tín hữu ». Một lần nữa, ở đây, chúng ta lại thấy tính cách thời sự của cha thánh xứ Ars, khi ngài cho thấy : « Linh mục không phải là linh mục cho bản thân. Ngài không tự tha tội cho mình, ngài không tự ban phát các Bí tích cho mình. Ngài không phải là cho bản thân ngài, ngài là cho anh chị em [20]», Hay nơi khác, ngài nói : « Linh mục phải luôn sẵn sàng đáp ứng những nhu cầu của các linh hồn[21] ». Ở đây, dần dần hé cho chúng ta thấy một chiều kích quan trọng khác của căn tính linh mục, đó là chiều kích cộng đoàn hay giáo hội của chức linh mục thừa tác.

1.4. Linh mục hành động nhân danh Giáo Hội

Ngày nay, song song với chiều kích Kitô học, tức là linh mục hành động nhân danh Chúa Kitô (in persona Christi), người ta nói rất nhiều đến chiều kích giáo hội của căn tính linh mục, tức là linh mục hành động nhân danh Giáo Hội (in persona Ecclesiae) và trong Giáo Hội. Linh mục được kêu gọi để phục vụ Chúa Kitô và Giáo Hội của Ngài. Điều đó không muốn nói rằng tự nó Giáo Hội là cứu cánh của ơn gọi linh mục, nhưng là Giáo Hội của Chúa Kitô, là bí tích của Chúa Kitô, là « bí tích phổ quát của ơn cứu độ ». Người linh mục được Chúa Kitô kêu gọi và trao ban sứ mệnh qua và trong Giáo Hội. Nhấn mạnh đến chiều kích này cũng chính là một trong những ưu tư lớn của Đức Giáo hoàng đương kim đặc biệt khi mở Năm Linh Mục này. Chính trong diễn văn cho Bộ Giáo Sĩ, Đức Thánh Cha cũng lập lại chiều kích quan trọng này của căn tính linh mục : «Sứ mệnh của linh mục… được diễn ra « trong Giáo Hội ». Một chiều kích Giáo hội, hiệp thông, phẩm trật và giáo thuyết như thế là tuyệt đối cần thiết cho mọi sứ mệnh đích thực, và bảo đảm duy nhất cho sự hữu hiệu thiêng liêng của nó ». « Sứ mệnh cắm rễ của nó cách đặc biệt trong một sự đào tạo đúng đắn, được khai triển trong sự hiệp thông với Truyền thống liên tục của Giáo Hội, mà không quanh co, không cám dỗ gián đoạn .» Văn kiện « Chỉ nam cho thừa tác vụ và đời sống của các linh mục » năm 1994 cũng cho thấy « căn tính của linh mục phát xuất từ sự tham dự loại biệt của ngài với Chức Linh Mục của Chúa Kitô, nhờ đó, người được tấn phong trở nên, trong Giáo Hội và cho Giáo Hội, hình ảnh hiện thực, sống động và trong suốt của Chúa Kitô Linh Mục». Cha thánh Gioan-Maria Viannê cũng ý thức sâu xa về chiều kích giáo hội này trong đời sống kitô hữu và cũng là đời sống linh mục của mình. Ngài nói : « Con người này nối kết mọi hoạt động của mình, mọi vất vả đau khổ của mình, mọi kinh nguyện của mình và mọi tiếng đập của con tim của mình với những công trạng của toàn thể Giáo Hội… » Ở nơi khác, ngài nói : « Hạnh phúc thay người kitô hữu được dạy dỗ và bước vào trong tinh thần của Giáo Hội. [22]»

Tái khám phá căn tính linh mục tức là cũng mời gọi tái khám phá chiều kích thánh thiện được đòi hỏi nơi một linh mục. Hai chiều kích này không tách rời nhau, nhưng liên kết với nhau cách mật thiết.

2. Sự thánh thiện của linh mục

Quả thế, căn tính linh mục đòi hỏi nơi người linh mục một đời sống thánh thiện phù hợp với căn tính của mình là đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô. Hay nói cách khác, vì được chọn riêng ra cách loại biệt, vì được đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô là Đầu qua bí tích Truyền chức thánh, nên người linh mục phải sống xứng đáng với những gì mà mình đã lãnh nhận. Ở đây ta có thể lấy lại một nguyên tắc luân lý từ thời Kinh viện « agere sequitur esse » (hành động đi theo hữu thể) để áp dụng cho căn tính thiêng liêng của linh mục. Căn tính này mời gọi người linh mục sống và đảm nhận một cuộc sống thánh thiện và, ngược lại, chính sự thánh thiện của linh mục sẽ củng cố hình ảnh hay căn tính của mình. Chúng ta có thể diễn tả nguyên tắc đó cách đơn giản hơn : hãy trở nên những gì chúng ta là , hãy trở nên những gì chúng ta đã lãnh nhận. Đọc hạnh thánh Gioan-Maria Viannê, chúng ta có thể thấy rõ nơi ngài « hành động đi theo hữu thể » như thế nào, và căn tính linh mục nơi ngài đã hướng ngài đến sự hoàn thiện nên thánh ra sao.

Tuy nhiên, trước khi đi vào tìm hiểu cuộc sống thánh thiện cách cụ thể của cha thánh Viannê, chúng ta dừng lại một chút ở ý niệm nên thánh của Vatican II. Quan niệm của Công đồng về sự thánh thiện là một quan niệm động, chứ không phải tĩnh. Sự thánh thiện không phải là một tình trạng tĩnh, thủ đắc một lần cho tất cả, nhưng nó là cả một quá trình, một tiến trình năng động hướng con người đến mục đích tối hậu của mình là chính Thiên Chúa. IMG_0630 Chẳng hạn, chúng ta có thể đọc thấy quan niệm này ở số 12 của Sắc lệnh về chức vụ và đời sống linh mục (Presbyterorum Ordinis) như sau : « Từ khi nắm giữ vị trí của Chúa Kitô theo cách thế của mình, mọi Linh Mục cũng nhận được một ân sủng đặc biệt ; ân sủng này cho phép họ, qua việc phục vụ những người được giao phó cho họ và toàn thể dân Thiên Chúa, vươn tới (tendre vers) sự hoàn thiện của Ðấng mà họ đại diện cách dễ dàng hơn. » Và chính Sắc lệnh này cũng cho thấy là tiến trình nên thánh này được thể hiện nơi chính những chức năng của linh mục : « Chính việc thực thi trung thành, không mệt mỏi, những chức năng của họ trong Thánh Thần của Chúa Kitô mà, đối với linh mục, là phương thế đích thực đạt tới sự thánh thiện. » (số 13). Ghi nhận điều đó để cho thấy rằng sự thánh thiện của cha sở xứ Ars là cả một nỗ lực không ngừng và mỗi lúc càng mãnh liệt, chứ không bao giờ dừng lại. Chúng ta có thể nhận thấy điều đó phản ảnh nơi Viannê, người đã cho thấy việc đạt tới sự thánh thiện của bậc sống linh mục qua việc thực thi các chức năng của linh mục như thế nào. Cách cụ thể, chúng ta tự hỏi qua những hoạt động, những hình thức, nội dung và cả những nơi chốn nào đã giúp cho ngài nên thánh trong đời linh mục ? Chúng ta chỉ dừng lại ở một vài điểm mà mỗi người linh mục của chúng ta thấy mình ở trong đó : đời sống cầu nguyện biểu lộ đức tin và sự kết hợp huyền nhiệm với Thiên Chúa, cử hành thánh lễ, giải tội và khổ chế.

2.1. Đời sống cầu nguyện : kết hiệp với Thiên Chúa

Ngay từ nhỏ, thánh nhân đã có thói quen cầu nguyện một mình, nơi vắng lặng. Thói quen cầu nguyện đó một phần lớn là do sự dạy dỗ của mẹ của ngài. Đến khi làm linh mục, việc cầu nguyện chiếm một chỗ quan trong nhất trong đời sống của ngài. Ngài dậy từ rất sớm để cầu nguyện, cầu nguyện trong thinh lặng và chiêm niệm, bởi vì đối với ngài, « Thiên Chúa nói trong sự cô tịch [23]». Ngài cầu nguyện lâu giờ và người ta nói muốn gặp ngài thì hãy đến nhà thờ. Nhà thờ như là nơi ở hằng ngày của ngài, nơi đó có Chúa Giêsu Thánh Thể mà ngài tâm sự. Tất cả những người làm chứng về cha thánh Viannê đều ghi nhận rằng ngài là một con người cầu nguyện sâu xa. Bernard Nodet xác nhận : « Một khi ngài đã bắt đầu quỳ gối xuống đất, thậm chí không quỳ trên bậc cấp của bàn thờ, thì ngài tìm cách gạt bỏ mọi hình ảnh, mọi ký ức, mọi tư tưởng, mà không có liên hệ đến Thiên Chúa, … ngài ở trong một sự thinh lặng hoàn toàn [24]». Chính thánh nhân cũng đã mô tả việc cầu nguyện của mình như sau : « Trong sự kết hiệp thâm sâu là việc cầu nguyện này, Thiên Chúa và linh hồn là như hai miếng sáp hòa tan cùng nhau [25]». Ngài khuyên chúng ta khi chúng ta ở trong tình trạng khô khan : « Nếu anh chị em không thể cầu nguyện được, thì hãy núp mình đằng sau thiên thần tốt lành của anh chị em, và xin ủy ngài cầu nguyện cho anh chị em » (Nodet, tr 82). Việc cầu nguyện đối với ngài đôi khi rất đơn giản : « Tôi không nói gì với Người cả. Tôi nhìn ngắm Người và Người nhìn ngắm tôi » (Nodet, tr. 86). Trong một bài giảng về cầu nguyện, ngài ví tầm quan trọng của việc cầu nguyện đối với linh hồn như là mưa đối với đất đai : « Cầu nguyện đối với linh hồn là như mưa đối với đất đai. Hãy bón phân làm đất, bao nhiêu tùy ý ; nếu thiếu mưa, thì tất cả những gì anh chị em làm sẽ không giúp ích gì » (Nodet, tr. 86).

Một trong những hệ quả và cũng là thái độ thường xuyên của việc kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa của thánh nhân, đó là lòng khiêm tốn vô cùng, sự khiêm tốn mà đối với ngài là « nhân đức hàng đầu của các nhân đức và là nền tảng của các nhân đức » (Nodet, tr. 205). Ngài ví sự khiêm tốn như là mắc xích nối của tràng chuỗi, mà nếu « cất bỏ sự khiêm tốn đi thì tất cả các nhân đức sẽ biến mất » (Nodet, tr. 205). Lòng khiêm tốn này phát xuất từ ý thức về sự yếu kém của mình, sự khốn khổ của bản thân[26] để từ đó ngài chỉ còn biết đặt tất cả niềm tin vào Thiên Chúa mà thôi và trở nên « an nhiên tự tại » trước mọi lời khen chê của người đời : « Khi các thánh đạt tới một cấp độ hoàn thiện nào đó, thì các ngài trở nên vô cảm trước những lời khen ngợi cũng như chê trách » (Nodet, tr. 205). Sự khiêm tốn của ngài đôi khi làm cho ngài chấp nhận cả việc « hạ nhục » chính mình hay chính mình bị hạ nhục, và làm cho ngài e dè trước những lời khen ngợi, ca tụng : « Những người hạ nhục chúng ta là bạn của chúng ta, chứ không phải những người ca tụng chúng ta… » (Nodet, tr. 207). Đáp lại một đồng nghiệp đang hạ nhục mình, ngài nói : « Cha là người duy nhất hiểu rõ tôi. Bởi thế, hãy giúp tôi được ơn mà tôi đã xin từ rất lâu rồi : rời bỏ nhiệm sở mà tôi không xứng đáng chiếm giữ, vì sự ngu dốt của tôi và rút về một góc nhỏ để khóc cho cuộc sống nghèo nàn của tôi » (Nodet, tr. 209). Nói về Cha Sở xứ Ars, Đức cha Ancel đã nhận định rằng : « Dường như Chúa đã chăm lo cách đặc biệt để huấn luyện Cha Sở xứ Ars có lòng khiêm tốn không chỉ qua những sự nhục nhã bên ngoài xảy đến dồn dập trên ngài, nhưng nhất là qua ánh sáng đã soi sáng cho ngài về sự khốn khổ của mình[27] ».

Đặc biệt sự kết hợp thâm sâu của ngài với Thiên Chúa luôn được nuôi dưỡng bằng Thánh Thể, bằng sự hiện diện của Thánh Thể mà đối với ngài « không có gì cao trọng hơn Thánh Thể » (Nodet, tr.111). Cha Bernard Nodet khẳng định về vai trò trung tâm của Thánh Thể trong đời sống thiêng liêng của cha Viannê : « Nếu đường nét lớn của đời sống thiêng liêng của Cha Sở xứ Ars là Chúa Ba Ngôi, thì trọng tâm của ngài là Thánh Thể » (Nodet, tr. 24), đến nỗi, như lời chứng của cha Nodet, thánh Viannê đã nhận được từ Chúa « ân huệ thực sự đặc biệt là cảm thấy được sự hiện diện của Chúa ở nhà tạm » (Nodet, tr.25). Tất cả kinh nghiệm thần bí của ngài do đó dường như phát xuất từ cảm nghiệm thiêng liêng nội tâm này trước Thánh Thể Chúa Giêsu và tình yêu bao la của Ngài : « Ngài ở đó », « Ngài đang hiện diện ở đó » : « Ngài ở đó, Đấng yêu thương chúng ta biết bao ! Tại sao chúng ta không yêu mến Ngài được ? » (Nodet, tr. 111) ; « Ngài ở đó trong bí tích tình yêu của Ngài mà đeo đuổi và cầu bầu không ngừng với Cha Ngài cho các tội nhân » (Nodet, tr.111) ; « Ngài ở đó với tâm hồn nhân lành của Ngài, chờ đợi chúng ta đến thổ lộ với Ngài những nhu cầu của chúng ta và lãnh nhận Ngài » (tr.112) ; « Nếu anh chị em xác tín về sự hiện diện thực sự của Chúa trong Bí Tích Rất Thánh và nếu anh chị em sốt sắng cầu xin Ngài, thì anh chị em chắc chắn sẽ đạt được sự hoán cải của mình » (tr. 113). Sự kết hiệp mật thiết với Chúa Giêsu Thánh Thể và việc tôn thờ Ngài đặc biệt được thể hiện trong thánh lễ.

2.2. Cử hành thánh lễ : kết hợp với Chúa Giêsu khổ nạn và phục sinh

Chúng ta đã thấy tầm quan trong của ngài dành cho thánh lễ như thế nào, mà việc cử hành nó cho thấy căn tính cao cả của người linh mục và là nơi mà linh mục được mời gọi và phải nên thánh. Cử hành Thánh Thể đó là kết hợp với Chúa Giêsu khổ nạn và phục sinh : « Chúa ở đó như là lễ hiến tế (victime) » (Nodet, tr. 108), và hiến dâng chính mình như là hy lễ : « Ô ! vào mọi buổi sáng, ước gì linh mục hiến dâng mình cho Thiên Chúa như là hy lễ » (Nodet, tr. 107) . Cả cuộc đời của ngài là một người say mê Thánh thể. Đối với ngài, sự sa ngã của một linh mục, trong muôn vàn lý do, luôn có lý do quan trọng này : « Nguyên nhân của sự buông lỏng của linh mục, đó là người ta đã không chú tâm đến thánh lễ ! Than ôi ! Lạy Thiên Chúa của con ! Một linh mục đáng thương biết bao khi ngài dâng thánh lễ như là một điều tầm thường !… » (Nodet, tr. 108). Cử hành thánh lễ, đối với ngài, cũng là cơ hội để ý thức đến việc cần có một tâm hồn trong sạch và giữ đức trong sạch : « Một linh mục mà vô phúc không cử hành (thánh lễ) trong tình trạng ân sủng ! Thật là quỷ quái !…Người ta không thể hiểu được sự độc dữ biết bao ! » (Nodet, tr. 108). Nói cách khác, chính việc cử hành thánh lễ sẽ giúp người linh mục biết giữ tâm hồn mình trong sạch. Đối với ngài, tầm quan trọng của hy tế thánh lễ thật lớn lao, vì đó chính là hy tế của chính Thiên Chúa ban cho con người mà mọi việc làm tốt lành của con người tập hợp lại đều không tương đương, dù đó là việc tử vì đạo đi nữa (x. Nodet, tr. 108).

Bên cạnh việc cử hành thánh lễ như là nơi chốn mà cha Viannê biểu lộ căn tính và sự thánh thiện của mình, cha thánh xứ Ars còn thể hiện điều đó qua việc chiến đấu chống lại tội lỗi và ma quỷ cũng như việc ngồi tòa giải tội.

2.3. Tòa giải tội, biểu tượng cho cuộc chiến chống lại tội lỗi

Nhắc đến cha thánh xứ Ars, người ta nghĩ đến ngay « nhà quán quân » của tòa giải tội. Hình ảnh một vị linh mục gầy gò, thức dậy từ một hai giờ sáng để giải tội, kéo dài trong suốt cả ngày gần 16, 17 tiếng đồng hồ, cho cả đoàn người đứng chờ, làm mọi người kinh ngạc, thán phục và cảm thấy như là bất khả noi theo. Tuy nhiên, một lần nữa, điều quan trọng là « đưa ngài ra khỏi những củ khoai » của mình. Lòng nhiệt thành tông đồ của ngài khởi đi từ lòng say mê Thiên Chúa, vì phần rỗi các linh hồn và ý thức được phẩm giá của thiên chức linh mục. Quả thế, ngay từ khi còn nhỏ, thánh nhân đã nhiều lần nói với mẹ của ngài : « Nếu con là linh mục, con sẽ chinh phục nhiều linh hồn[28] ».

Cuộc chiến chống lại tội lỗi của thánh nhân trước tiên bắt nguồn từ ý thức về lòng nhân từ thương xót vô bờ bến của Thiên Chúa và sự ghê gớm của tội lỗi xúc phạm đến lòng yêu thương nhân từ này. Ngài nói : « Tội lỗi là tên đao phủ của Thiên Chúa Nhân Lành và là kẻ sát nhân của tâm hồn. Ô, thưa anh em, chúng ta đã bội bạc biết bao ! Thiên Chúa Nhân Lành muốn làm cho ta hạnh phúc, còn chúng ta thì không muốn điều đó… », « này bạn, hãy nói cho tôi biết, Thiên Chúa làm hại gì bạn không để bạn cư xử với Ngài như thế ? » (Nodet, tr. 143). Trên môi miệng ngài, những từ ngữ « bội bạc », « vô ơn », « xúc phạm » của con người luôn trở đi trở lại song song với từ ngữ « lòng thương xót », « lòng nhân từ », « tình yêu thương» của Thiên Chúa. Thế nhưng, ý thức về tội lỗi và sự yếu hèn của bản thân không làm cho thánh nhân mất lòng trông cậy, nhưng đúng hơn là càng gia tăng, bởi vì, đối với ngài, « những lỗi lầm của chúng ta là những hạt cát bên cạnh ngọn núi to lớn là lòng thương xót của Thiên Chúa » (Nodet, tr. 133) ; Trong một bài giảng về lòng thương xót của Thiên Chúa, ngài cũng ví tội lỗi con người như là một hạt cải so với ngọn thái sơn là lòng thương xót của Chúa (x. Nodet, tr.133). Ngài định nghĩa « bí tích Sám Hối là nơi mà Thiên Chúa dường như quên đi công lý của mình để chỉ biểu lộ lòng thương xót của Ngài mà thôi… (Nodet, tr. 133). Vả lại, đối với thánh nhân, « không phải tội nhân trở về với Thiên Chúa để xin ngài tha thứ, nhưng chính Thiên Chúa chạy theo tội nhân và làm cho họ quay về với Ngài » (Nodet, tr. 133).

Cuộc chiến chống lại tội lỗi cũng bắt nguồn từ lòng nhiệt thành tông đồ và ý thức trách nhiệm mục tử của ngài là yêu thương tội nhân và cứu rỗi các linh hồn, đến độ có lần ngài cầu nguyện rằng : « Xin ban cho con sự hoán cải của giáo xứ này ; con bằng lòng chịu đau khổ những gì mà Chúa muốn trong suốt đời con ! » (Nodet, tr. 187). Thậm chí, trong một bài giảng về các đẳng linh hồn, ngài táo bạo nói : « Lạy Cha Rất Thánh và Hằng Hữu, chúng ta hãy thực hiện một cuộc trao đổi. Cha đang nắm giữ linh hồn của người bạn của con đang ở trong luyện ngục, và con, con giữ lấy thân xác của Con Cha trong đôi bàn tay của con : Thế thì, xin Cha giải thoát cho người bạn của con, và con dâng cho Cha Con của Cha cùng với tất cả những công nghiệp của cái chết và cuộc thương khó của Ngài » (Nodet, tr. 109). Chính vì thế mà cha Philippe Caratgé, người điều hành Hội Thánh Gioan-Maria Viannê, đã nói đến một « sự ám ảnh về ơn cứu độ [29]» các linh hồn nơi Cha Sở xứ Ars, tức là muốn « chinh phục các linh hồn cho Thiên Chúa Nhân Lành ».

Nói về cha thánh Viannê, Đức Gioan-Phaolô II đã nhận định : « Cha sở xứ Ars đã mang lại cho các giáo hữu của mình sự xác tín nền tảng này của đức tin : sự xác tín về ơn cứu độ trong Chúa Giêsu-Kitô » (Xem bài giảng dịp hành hương xứ Ars ngày 06/10/1986)). Đặc biệt ngài cũng như Đức Bênêđictô XVI đã nói đến phương pháp « đối thoại cứu độ [30]» của Cha sở xứ Ars mà thánh nhân thực hiện ở tòa giải tội hầu giúp cho mọi hối nhân khác nhau đều có thể cảm nhận ra được lòng thương xót tha thứ vô bờ bến của Thiên Chúa. Và nếu cần, ngài ra việc đền tội nhẹ nhàng cho hối nhân, còn bản thân ngài chấp nhận hãm mình đền tội thay cho họ[31].

Điều quan trọng ở đây nữa, đó là làm mới lại nơi chúng ta ý thức về bí tích Hòa Giải mà cũng là ưu tư của Đức Thánh Cha khi thiết lập Năm Linh Mục, qua đó chúng ta không chỉ là thừa tác viên nhưng còn phải là những thụ nhân như Đức Gioan-Phaolô II đã nói: « Đời sống thiêng liêng và mục vụ của linh mục…chỉ giữ được phẩm chất và lòng nhiệt thành nếu bản thân linh mục biết thực hành bí tích Hòa Giải cách chuyên cần và nghiêm chỉnh » (PDV, số 26).

2.4. Hãm mình khổ chế

Việc hãm mình khổ chế của cha thánh xứ Ars (ăn uống khắc khổ, hãm mình phạt xác, từ bỏ ý riêng đến độ anh hùng, thức khuya dậy sớm, ăn chay, cầu nguyện dường như luôn trong tư thế quỳ và giang tay ra hoặc ngồi thẳng không dựa…) là điều gây kinh ngạc và không ít nhiều gây nên một thái độ « kính nhi viễn chi » đối với chúng ta hôm nay. Nói chung, chúng ta cần tránh hai thái cực : một mặt, áp dụng triệt để khuôn mẫu của ngài cách máy móc mà không cần phân định gì ; mặt khác, đó là thái độ cho rằng cuộc sống khổ chế hãm mình của ngài thuộc vào loại tu đức xưa rồi, không còn phù hợp với ngày nay nữa. Đức Gioan XXIII trong thông điệp Sacerdotii Nostri Primordia vào năm 1959 nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày mất của thánh nhân, dù ghi nhận sự khổ chế hãm mình của ngài là một « con đường ngoại lệ », nhưng vẫn cho thấy « mẫu gương từ bỏ đầy thán phục của Cha Sở xứ Ars, ‘khiêm khắc với chính mình và hiền lành với người khác’, nhắc nhở cho hết mọi người cách hùng hồn và cấp bách vị trí hàng đầu của sự khổ chế trong đời sống của linh mục », và đồng thời, muốn đề nghị đời sống của thánh nhân cho các linh mục trên khắp thế giới như là « khuôn mẫu khổ chế của linh mục » đặc biệt trong việc sống các lời khuyên Phúc Âm : khó nghèo, vâng lời và trong sạch. Vả lại, tìm hiểu kỹ những thực hành khổ chế hãm mình mà thánh Viannê đã làm, chúng ta nhận thấy rằng thánh nhân không phải là « type » người khổ dục, thích thú với sự đau khổ của bản thân. Cha Nodet cũng đã chứng minh cho thấy là đôi khi người ta đã phóng đại sự khổ chế của ngài quá mức, làm cho chúng ta tưởng lầm rằng Cha Sở xứ Ars, ngày nào, tháng nào, năm nào cũng hãm mình khổ chế như vậy cả[32]. Thậm chí cha Nodet còn cho thấy một sự quân bình tuyệt vời nơi những lời phát biểu của cha thánh Viannê như sau : « Thiên Chúa đã truyền cho chúng ta làm việc, nhưng người cũng đã truyền cho chúng ta nghỉ ngơi. Ngài truyền cho chúng ta cầu nguyện, nhưng Ngài cũng cấm lo lắng » (Nodet, tr. 43).

Đối với cha Viannê, khổ chế hãm mình được nối kết với thập giá Chúa Giêsu sẽ như là một phương thế trên con đường nên thánh. Ngài nói : « Tất cả những đau khổ vất vả đều là dịu ngọt khi ta chịu khổ trong sự kết hiệp với Chúa… » (Nodet, tr.186). Nơi khác, ngài nói : « Nếu chúng ta yêu mến Thiên Chúa, chúng ta sẽ yêu mến thập giá » (tr.181). « Cần phải có điều gì để xứng đáng thiên đàng ? Ân sủng và thập giá » (tr.180). Đối với ngài, những thử thách không phải là những trừng phạt của Thiên Chúa nhưng là những ân sủng của Người dành cho những ai Người yêu thương (x. Nodet, tr.183).

Những khổ chế hãm mình nghiêm nhặt nhất của cha thánh xứ Ars luôn được thực hiện hoàn toàn với những mục đích siêu nhiên : vì lòng mến Chúa (« Thật an ủi biết bao chịu đau khổ dưới ánh mắt của Thiên Chúa » (Nodet, tr.181) ), vì phần rỗi và sự hoán cải của tha nhân, vì muốn chia sẻ cho người túng thiếu, vì chiến đấu chống lại tội lỗi và ma quỷ, vì không muốn cho những cám dỗ của xác thịt lướt thắng những ước muốn của tâm hồn, vì ăn năn đền tội… Ngài lập đi lập lại rằng : « Tôi chịu đau khổ ban đêm vì các linh hồn ở luyện ngục và ban ngày vì sự hoán cải của các tội nhân » (Nodet, tr. 187), « tôi sẽ ăn chay cho bà » (tr. 193) ; « lạy Chúa, con tự nguyện hy sinh cho Chúa một vài giờ ngủ vì sự hoán cải các tội nhân » (tr.194) . Đó chẳng phải là những lý do quan trọng mà ngày nay mỗi linh mục cũng được mời gọi đảm nhận cuộc sống hy sinh hãm mình trên con đường nên thánh sao ? Ngày nay, do ảnh hưởng của não trạng văn minh tiến bộ khoa học…, nhiều người đôi khi đã tỏ ra xem nhẹ khía cạnh tu đức khổ chế trong đời sống của linh mục. Thế nhưng, cũng phải thừa nhận rằng thiếu đi chiều kích này, một chiều kích mà truyền thống tu đức bao đời của Giáo Hội hằng nhấn mạnh, thì linh mục sẽ không sống đầy đủ ơn gọi nên thánh của mình.

Kết luận

Chúng tôi vừa cố gắng đưa Cha sở xứ Ars « ra khỏi những củ khoai » của ngài để chỉ ra những điểm quan trọng trong đời sống ơn gọi linh mục của ngài như là vẫn luôn có tính thời sự cho cuộc sống linh mục chúng ta hôm nay, khi nhìn đến căn tính và ơn gọi nên thánh của linh mục. Đằng sau « những củ khoai » là lòng tôn thờ Thiên Chúa trên tất cả mọi sự ; đằng sau « những củ khoai » là một « đức ái mục tử » và lòng nhiệt thành tông đồ đối với Giáo Hội và đoàn chiên ; đằng sau đó là lòng ước ao nên nên giống Chúa Kitô mục tử. Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II trong bài giảng nhân dịp hành hương Ars ngày 06/10/1986 cũng đã khẳng định thánh Viannê là « một chứng nhân vô song của việc thực hiện thừa tác vụ và của sự thánh thiện của thừa tác viên ». Nơi ngài, đời sống thiêng liêng và hoạt động tông đồ mục vụ luôn thống nhất và không bao giờ tách rời nhau. Ước gì mẫu gương của thánh Gioan-Maria Viannê được Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đề nghị cho chúng ta trong Năm Linh Mục này trở nên động lực cho việc canh tân đời sống thiêng liêng và mục vụ của chúng ta, để chúng ta luôn trở nên những mục tử như lòng Chúa mong ước.

Linh mục Võ Xuân Tiến, pss


[1] Nói với các Giám mục Ailen đi Ad limina vào năm 2006, ĐTC đã đưa ra mệnh lệnh dứt khoát này: “Trong những nỗ lực thường xuyên của quý Đức cha để đương đầu với những vấn đề này cách hữu hiệu, thật quan trọng việc xác lập chân lý về những gì đã xảy ra trong quá khứ, dùng mọi biện pháp cần thiết để tránh cho việc đó tái diễn trong tương lai, đảm bảo cho những nguyên tắc công lý được hoàn toàn tôn trọng và, nhất là, nâng đỡ các nạn nhân và tất cả những ai là nạn nhân của những tội ác quái dị này

[2] Chính ngài cũng đã phản ứng rất nhanh chóng đối với trường hợp lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên của Cha Marcial Maciel, vị sáng lập Hội “Légionnaires du Christ”, yêu cầu vị linh mục này “từ bỏ mọi thừa tác vụ công khai” và “sống một cuộc sống ẩn dật trong việc cầu nguyện và sám hối”. Và mới đây, ngài đã nhanh chóng chấp nhận cho vị Giám mục người Canada, là Đức cha Raymond Lahey, Giám mục giáo phận Antigonish, từ nhiệm, vì đã chứa đựng những hình ảnh ấu dâm trong máy vi tính của mình.

[3] Trong bối cảnh chống lại Tin Lành Cải Cách, công đồng Trentô (1545- 1563) đặc biệt chỉ nhấn mạnh đến quyền tế lễ và tha tội của linh mục, điều này phản ảnh rất hoàn hảo nơi cha thánh Viannê.

[4] Bernard Nodet nhận xét : « Sự khổ chế của Cha sở xứ Ars, dù cần thiết, nhưng chỉ là thứ yếu đối với ngài, vì ngài đã chỉ là một người sám hối lớn lao bởi vì trước tiên ngài đã là một mục tử đích thực” (NODET Bernard, Jean-Marie Vianney, Curé d’Ars : sa pensée – son cœur, Le Puy, 1958, tr. 19, (từ nay sẽ viết tắt Nodet))

[5] Nodet, tr. 80.

[6] Ibid.

[7] Trích dẫn theo bài tham luận của Đức cha Guy-Marie Bagnard tại Rôma ngày 03/04/2008 trong khuôn khổ Hội nghị quốc tế lần I về Lòng thương xót, với tựa đề « La miséricorde et le ministre du prêtre: à l’école du saint Curé d’Ars ».

[8] Trường Phái Tu Đức Pháp (P. Bérulle, J.J. Olier, Jean Eudes…) rất lưu ý đến phẩm giá, sự thánh thiện và việc đào tạo của các linh mục. Đối với họ, việc thánh hóa các linh mục là phương thế tốt nhất để đảm bảo việc canh tân thiêng liêng cho dân kitô hữu (x. DEVILLE Raymond, L’Ecole française de spiritualité, Desclée de Brouwer, 2008, tr. 174; KRUMENACKER Yves, L’Ecole française de spiritualité: Des mystiques, des fondateurs, des courants et leurs interprètes, Cerf, 1999, tr. 199-210.401.

[9] Xem http://www.anneedusacerdoce.org/?L-annee-du-sacerdoce, trang được tham chiếu ngày 16/11/2009.

[10] Nodet, tr. 100. Cũng thú vị khi nhận thấy rằng, trước đó vài thế kỷ, thánh Phanxicô Assidi đã có kiểu nói tương tự: “ Nếu đồng thời tôi gặp một vị thánh (Bienheureux) đến từ trời và một linh mục nghèo, thì trước tiên tôi sẽ đến với linh mục để kính chào ngài và ân cần hôn lên đôi bàn tay của ngài…bởi vì đôi bàn tay của ngài chạm lấy Ngôi Lời sự sống và vì chúng có điều gì đó siêu phàm” (Th. DE CELANO, Legenda II, pars II, 201; leg 3 comp., IV, 57, trích lại trong P. POURRAT, Le Sacerdoce : doctrine de l’Ecole française, Librairie Bloud & Gay, 1933, tr. 9).

[11] Nodet., tr. 99.

[12] Ibid., tr. 100-101.

[13] Ibid., tr. 100.

[14] Ibid., tr. 100.

[15] Ibid., tr. 99.

[16] Ibid., tr. 49.

[17] Cha Bernard Nodet cho thấy rằng “đường nét lớn của đời sống thiêng liêng của Cha Sở xứ Ars là Chúa Ba Ngôi” (Nodet, tr. 25). Pastores dabo vobis cũng khẳng định “căn tính linh mục, cũng như bất cứ căn tính nào của người kitô hữu, đều bắt nguồn từ mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi” (số 12).

[18] Nodet, tr.100.

[19] Ibid., 101. Về điểm này, chúng ta cũng có kiều so sánh tương tự của thánh Bernadin de Sienne: “ Ôi, lạy Đức Trinh Nữ tràn đầy tình yêu và phúc lành, xin tha lỗi cho con khi đặt quyền thế của linh mục ở trên Mẹ! Thế nhưng, con không nói điều gì bất lợi cho Mẹ, vì đó là chân lý mà con khẳng định trước mặt Mẹ, chân lý mà Con của Mẹ đã bày tỏ. Ngài đã đặt linh mục ở trên Mẹ trong đền thờ nơi Mẹ đã dâng Ngài” (Sermo XX, Quanta veneration honorari debent ecclesiastici gradus, art. II, cap. VII. Sancti Bernardini Senensis O. M. Opera omnia, Lyon, 1650, t.1, p.99, trích trong P. POURRAT, Le Sacerdoce : doctrine de l’Ecole française, Librairie Bloud & Gay, 1933, tr. 10).

[20] Nodet., tr. 102.

[21] Ibid., tr. 101.

[22] Nodet., tr. 125.

[23] Ibid., tr. 83.

[24] Ibid., tr. 21.

[25] Ibid., tr.79.

[26] Đối với thánh nhân, nhận ra sự yếu đuối và khốn cùng của bản thân là để “lòng thương xót của Chúa đảm bảo cho con” (Nodet, tr.204).

[27] Mgr Ancel, La spiritualité pastorale du Curé d’Ars (Bài tham luận nhân kỷ niệm 100 năm ngày mất của thánh Gioan-Maria Viannê), nguồn : http://arsnet.org/.

[28] TROCHU Francis, Le Curé d’Ars : saint Jean-Marie-Baptiste Vianney, Emmanuel Vitte, 14e édition, 1925, tr. 109.

[29] Xem bài tham luận của cha CARATGE Philippe với tựa đề “Cha Sở xứ Ars và Thánh Thể”.

[30]Là những linh mục, chúng ta có thể học hỏi từ Cha Sở Thánh họ đạo Ars không chỉ sự tin tưởng vô tận vào bí tích Sám Hối đến độ thúc giục chúng ta đặt lại nó ở trung tâm của những bận tâm mục vụ của chúng ta, nhưng còn một phương pháp cho « sự đối thoại cứu độ » mà nó đòi hỏi ” (Bênêđictô XVI, Thư gởi các linh mục nhân dịp Năm Linh Mục).

[31] Cha Toccanier làm chứng rằng « đôi khi ngài gánh vác một phần đền tội của các tội nhân của ngài » (Nodet, tr.196).

[32] Cha Nodet nói : « Chỉ tất cả những năm đầu tiên của thừa tác vụ của ngài ở Ars mà chính ngài đã làm bếp thôi mà thường được tóm lại trong việc nấu bánh dày, hay một nồi khoai, thức ăn chủ yếu của các nông dân thời đó. Từ khi nhà « Chúa Quan Phòng » được mở vào năm 1825, ngài đã ăn mọi thứ một chút. Ôi ! chỉ một món ăn là đủ cho ngài và ngài còn để lại trong tô ! Nhưng « chiếc nồi » danh tiếng đã chỉ kéo dài bảy năm…và nếu khoai đã được làm khô tốt, và có lẽ đôi khi nổi mốc, thì chúng thực sự không bao giờ bị mốc, vì ngài đã cẩn thận để chúng trong một cái rổ đựng rau”. (Nodet, tr. 42).

About these ads
%d bloggers like this: