TÀI LIỆU VỀ CUỘC ĐỜI – CON NGƯỜI – SỰ NGHIỆP – SUY TƯ VÀ THAO THỨC CỦA ĐỨC BÊNÊĐICTÔ XVI

ĐỂ HIỂU HƠN VỊ CHA CHUNG CỦA GIÁO HỘI HOÀN VŨ

BTGH KÍNH GỬI

TÀI LIỆU VỀ CUỘC ĐỜI -  CON NGƯỜI – SỰ NGHIỆP – SUY TƯ VÀ THAO THỨC CỦA NGƯỜI

gồm 03 bài (phần)

1. Bài của Wikipedia tiếng Việt

2. Bài tổng hợp TIỂU SỬ ĐỨC BÊNÊĐICTÔ XVI của LM.Phaolô Phạm Văn Tuấn

3. Bài viết của Anita Bourdin,trong Zenit số Phục Sinh 2006, do Maranatha tổng hợp.

- I –

ĐỨC THÁNH CHA ĐƯƠNG KIM HIỂN TRỊ

BIỂN-ĐỨC XVI

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Xin giữ nguyên văn.

Giáo hoàng Biển Đức XVI (cách phiên âm tiếng Việt khác là Bênêđictô XVI hay Bênêđitô, xuất phát từ tiếng Latinh: Benedictus) sinh ngày 16 tháng 4 năm 1927, là đương kim giáo hoàng Công giáo Rôma và là giáo hoàng thứ 265 của giáo hội này. Ông được bầu làm giáo hoàng trong một cuộc Mật nghị Hồng y vào ngày 19 tháng 4 năm 2005. Thánh lễ đăng quang tổ chức ngày 24 tháng 4, và nhận ngai tòa giám mục tại Vương cung thánh đường Thánh Gioan Latêranô ngày 7 tháng 5 năm 2005.

Biển Đức XVI theo khuynh hướng thần học bảo thủ, nỗ lực giảng dạy và bảo vệ các truyền thống, các giá trị giáo lý Công giáo. Vào thời điểm bầu làm giáo hoàng, ông cũng là Hồng y Niên trưởng của Hồng y đoàn, tham gia quán xuyến các công việc của giáo hội trong thời gian chuyển tiếp.

Trong triều đại của mình, Biển Đức XVI đang nhấn mạnh một ước vọng để châu Âu quay trở về các giá trị cơ bản của Kitô giáo, phản ứng trước các khuynh hướng bài Kitô giáo và chủ nghĩa thế tục đang ngày một gia tăng ở nhiều quốc gia phát triển. Ông cũng đã phục hồi một số truyền thống, và đặc biệt là làm cho các Thánh lễ Tridentine có được một vị trí nổi bật hơn trong phụng vụ.

Giáo hoàng Biển Đức XVI cũng là người sáng lập và bảo trợ của Tổ chức Ratzinger, một tổ chức từ thiện quyên góp tiền từ việc bán sách và các bài luận văn bản của giáo hoàng để lập quỹ học bổng cho sinh viên trên toàn thế giới.

Mục lục

[ẩn]

1 Tổng quan

2 Tiểu sử

2.1 Tuổi thơ và gia đình

2.2 Tiến trình học tập và nghiên cứu

2.3 Tổng giám mục

2.4 Hồng y – Tổng trưởng Thánh Bộ Giáo lý Đức tin

3 Giáo hoàng

3.1 Bầu chọn

3.1.1 Nhận định

3.1.2 Được chọn

3.2 Tông hiệu

3.3 Phong cách

3.3.1 Phong thánh

3.4 Tông du

3.5 Chống nạn đói

3.6 Ban hành Tông hiến về tín hữu Anh giáo

3.7 Bị tấn công

3.8 Giảng dạy

3.8.1 Kêu gọi từ bỏ bạo lực

3.8.2 Kêu gọi hòa bình trong thông điệp đầu năm

4 Nhìn nhận về giáo hoàng Biển Đức XVI

5 Chú thích

6 Liên kết ngoài

TỔNG QUAN

clip_image002

Huy hiệu của Giáo hoàng Benedict XVI

Biển Đức XVI được bầu làm giáo hoàng ở tuổi 78, người Đức thứ chín làm giáo hoàng. Ông là người cao tuổi nhất được bầu làm giáo hoàng kể từ giáo hoàng Clement XII (1730-40). Ông tiếp nối tông hiệu của giáo hoàng Biển Đức XV (một người Ý) trị vì từ 1914-1922 trong suốt Đệ nhất Thế chiến.

Sinh năm 1927 tại Marktl am Inn, Bavaria nước Đức, Ratzinger đã có một sự nghiệp nghiên cứu chuyên sâu cấp quốc tế, đảm nhận làm giáo sư thần học tại các trường đại học khác nhau ở Đức, ông được giáo hoàng Gioan Phaolô II bổ nhiệm làm Tổng Giám mục Tổng giáo phận Munich và Freising, được phong chức hồng y vào năm 1977. Năm 1981, ông trở thành Bộ trưởng Bộ Giáo lý Đức Tin của Tòa Thánh – một trong những cơ quan quan trọng nhất của Giáo triều Rôma. Năm 1998, ông được bầu làm Phó Niên trưởng, Hồng y Đoàn.

Ngay cả trước khi trở thành giáo hoàng, Ratzinger đã là một trong những người có ảnh hưởng nhất trong Giáo triều Rôma, và là người thân cận của giáo hoàng Gioan Phaolô II. Trên cương vị Hồng y Niên trưởng của Hồng y Đoàn, ông đã chủ tế lễ tang giáo hoàng Gioan Phaolô II và Thánh lễ khai mạc Mật nghị Hồng y năm 2005 mà sau đó ông đã được bầu chọn. Trong thời khắc này, ông kêu gọi các hồng y giữ vững các giáo lý, giáo luật và đức tin Công giáo. Ông cũng là gương mặt nổi bật của giáo hội trong thời gian trống tông tòa (vacante sede), mặc dù trên thực tế, ông không thể ngang bằng chức vị với Hồng y Thị thần (camerlengo) trong thời gian đó. Giống như người tiền nhiệm của ông, Biển Đức XVI luôn khẳng định các Giáo lý Công giáo truyền thống.

Ngoài tiếng Đức mẹ đẻ, Biển Đức XVI nói lưu loát tiếng Ý, tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, Latinh và một ít tiếng Bồ Đào Nha. Ông có thể đọc Kinh Thánh cổ ngữ bằng tiếng Hy Lạptiếng Do Thái[1]. Ông chơi được dương cầm và có sở thích nhạc MozartBach

TIỂU SỬ

Tuổi thơ và gia đình

Ông Ratzinger sinh tại nhà ở Marktl am Inn

Biển Đức XVI tên khai sinh là Joseph Alois Ratzinger. Ông sinh ngày 16 tháng 4 năm 1927 tại Marktl am Inn, Bavaria, Đức và được rửa tội cùng ngày. Ông là là con út trong gia đình có ba người con. Cha ông là Joseph Ratzinger, một sĩ quan cảnh sát và mẹ là Maria Ratzinger (nhũ danh Peintner). Người anh ruột tên là Georg Ratzinger, là một linh mục vẫn còn sống còn chị gái là Maria Ratzinger, sống độc thân cùng với gia đình cho đến khi mất vào năm 1991

Tiến trình học tập và nghiên cứu

Ông bị gọi nhập ngũ phục vụ với tư cách quân nhân dự bị trong lực lượng phòng không Đức quốc xã vào những tháng sau cùng của Thế chiến thứ hai. Ông từ bỏ hàng ngũ Đức quốc xã khi chiến tranh gần kết thúc song đã bị quân Đồng Minh bắt giữ làm tù binh chiến tranh trong một thời gian rất ngắn năm 1945.

Sau khi hồi hương năm 1945, hai anh em Ratzinger đã gia nhập Chủng viện Thánh Micae ở Traunstein, sau đó theo học tại Đại học Ludwig-Maximilian ở Munich. Từ năm 1946, ông học về triết học và thần học tại Đại học München, rồi học cao học tại Freising. Hai anh em Ratzinger cùng được thụ phong linh mục vào ngày 29 tháng 6 năm 1951 bởi Hồng Y Michael von Faulhaber Munich. Năm 1953, ông nhận bằng tiến sĩ về thần học với đề tài mang tên: "Dân Chúa trong học thuyết của Thánh Augustinô về Giáo hội". Đề tài được hoàn thành vào năm 1957 và ông trở thành một giáo sư của trường Cao đẳng Freising vào năm 1958.

Năm 1959, Ratzinger làm giáo sư tại Đại học Bonn; bài giảng đầu tiên của ông là "Thiên Chúa của Đức tin và Thiên Chúa của Triết học". Năm 1963, ông chuyển sang Đại học Münster. Trong thời gian này, Ratzinger có tham gia Công đồng Vatican II (1962-1965) trên cương vị cố vấn thần học của Hồng Y Josef Frings, Giáo phận Cologne. Ông được xem là một nhà cải cách, hợp tác với các nhà thần học hiện đại cấp tiến như Hans Küng và Edward Schillebeeckx, chiếm được sự ngưỡng mộ của Karl Rahner, một nhà thần học nổi tiếng trong các đề xuất cải cách giáo hội. Năm 1966, Joseph Ratzinger được bổ nhiệm vào một vị trí giáo lý thần học tại Đại học Tübingen, ông trở thành đồng nghiệp của Hans Küng.

Trong những năm tại Đại học Tübingen, Ratzinger công khai bài viết cho tạp chí cải cách thần học Concilium, mặc dù càng về sau, ông ít viết về chủ đề cải cách hơn những người đóng góp khác cho tạp chí như Hans Küng và Edward Schillebeeckx. Ratzinger liên tục tham gia vào các công việc của Công đồng Vatican II, trong đó có Tuyên ngôn Nostra Aetate (Thời đại Chúng ta), các văn kiện về tôn trọng các tôn giáo khác, đại kết, tuyên bố các quyền tự do tôn giáo. Về sau, khi làm việc trong Bộ Giáo lý Đức tin, Ratzinger đã có nhiều cố gắng đưa Công giáo tham gia vào các cuộc đối thoại đại kết Kitô giáo.

Tổng giám mục

Ngày 24 tháng 3 năm 1977, Ratzinger được bổ nhiệm làm Tổng giám mục Tổng giáo phận Munich và Freising. Ông lấy khẩu hiệu trích từ Tân Ước, Thư thứ ba của Gioan Cooperatores Veritatis (Cộng tác truyền bá Sự thật), sau này ông có đề cập trong tự truyện của mình. Trong hội nghị ngày 27 tháng 6, ông được giáo hoàng Phaolô VI phong làm Hồng y linh mục hiệu tòa Santa Maria Consolatrice al Tiburtino. Thời gian Mật nghị năm 2005, ông là một trong 14 hồng y do giáo hoàng Phaolô VI phong, và là một trong ba người dưới 80 tuổi. Trong số này, chỉ có ông và William Wakefield Baum có quyền tham gia mật nghị.

[sửa] Hồng y – Tổng trưởng Thánh Bộ Giáo lý Đức tin

Ngày 25 tháng 11 năm 1981, Giáo hoàng Gioan Phaolô II bổ nhiệm ông làm Tổng trưởng Thánh bộ Giáo lý Đức tin, trước đây được gọi là Văn phòng Tòa Thánh, ông thôi chức tổng giám mục Munich đầu năm 1982. Ông tiếp tục được thăng chức hồng y, trở thành Hồng y Giám mục Hiệu tòa Velletri-Segni năm 1993, phó chủ tịch Hồng y Đoàn năm 1998 và chức chủ tịch vào năm 2002. Trên cương vị này, Ratzinger hoàn thành vai trò tổ chức của mình để bảo vệ và tái khẳng định giáo lý Công giáo, bao gồm việc giảng dạy về các chủ đề trọng tâm của Công giáo như ngừa thai, đồng tính luyến ái, và cuộc đối thoại liên tôn.

Giáo hoàng

Ngày 2 tháng 1 2005, tạp chí Time trích dẫn các nguồn không rõ từ Vatican nói rằng Ratzinger là một ứng cử viên lớn để kế vị giáo hoàng Gioan Phaolô II. Tháng 4 năm 2005, trước khi bầu làm giáo hoàng, ông được nhận định là một trong 100 người có ảnh hưởng nhất trên thế giới củng bởi tạp chí này. Sau Gioan Phaolô II qua đời, Financial Times đã cho tỷ lệ cược Ratzinger trở thành giáo hoàng là 7-1, vị trí dẫn đầu. Nhưng trong khi còn ở Bộ Giáo lý Đức Tin, Ratzinger nhiều lần tuyên bố ông muốn nghỉ hưu để về quê nhà của ông ở làng Bavarian để viết sách. Trong lịch sử, rất hiếm khi các dự đoán về vị giáo hoàng tương lai được đưa ra lại đúng với sự thật, nhưng năm 2005, nó đã đúng.

Chuyến diễu hành đầu tiên của giáo hoàng Biển Đức XVI

Ngày 19 tháng 4 2005, Hồng Y Ratzinger được bầu làm người kế vị giáo hoàng Gioan Phaolô II trong ngày thứ hai của Mật nghị Hồng y. Hồng Y Ratzinger đã mong muốn nghỉ hưu một cách an bình và nói [đại ý] rằng: "Lúc ấy, tôi cầu nguyện với Thiên Chúa rằng ‘xin Người đừng làm điều này với con’ … rõ ràng, Người đã không lắng nghe tôi". Thật trùng hợp, ngày 19 tháng 4 cũng là lễ Thánh Lêô IX, vị giáo hoàng nổi bật thời Trung Cổ, nổi tiếng với những cải cách lớn trong suốt triều giáo hoàng của ông.

Khi trở thành giáo hoàng, trước lúc xuất hiện với công chúng lần đầu tiên tại ban công Nhà thờ Thánh Phêrô, ông đã được xướng tên bởi Hồng y Thị thần Jorge Medina Estévez. Vị Hồng y này công bố với đám đông lớn trước quảng trường với cụm từ "anh chị em thân mến" bằng tiếng Ý, Tây Ban Nha, Pháp, Đức và tiếng Anh trước khi tiếp tục với thông báo truyền thống "Papam Habemus" bằng tiếng Latinh.

Tại ban công, Biển Đức bước ra trước đám đông, nói tiếng Ý trước khi nghi thức truyền thống Urbi et Orbi bằng tiếng Latin:

Anh chị em thân mến, sau Đức Giáo hoàng vĩ đại Gioan Phaolô II, các Hồng y đã chọn tôi, một người làm công đơn sơ và khiêm nhường trong vườn nho của Chúa. Sự thực là Thiên Chúa có thể làm việc và hành động bằng những phương tiên thiếu thốn làm tôi được an ủi, và trên tất cả tôi tín thác thân tôi vào lời cầu nguyện của anh chị em. Trong sự hân hoan của niềm vui Chúa Phục Sinh, chúng ta tiếp tục đi theo sự giúp đỡ của Người. Người sẽ giúp đỡ chúng ta và Đức Mẹ Maria sẽ luôn ở bên chúng ta. Xin cảm ơn.

Ngày 24 tháng 4, ông tổ chức Thánh lễ Đăng quang tại Quảng trường Thánh Phêrô, nhận Dây Pallium và Nhẫn Ngư phủ – thủ tục chính thức lên ngôi giáo hoàng thứ 265. Ngày 7 tháng 5, ông nhận tông tòa tại nhà thờ Thánh Gioan Latêranô.

Tông hiệu

Ratzinger chọn tông hiệu là Benedictus, tiếng Latin có nghĩa là "sự may mắn" và hơn hết là danh dự của cả Giáo hoàng Biển Đức XV và Thánh Biển Đức thành Nursia. Biển Đức XV làm giáo hoàng trong tời Đệ nhất Thế chiến, ông đã tích cực góp phần vào những cố gắng ngoại giao để cuộc chiến chấm dứt và hoà bình. Thánh Biển Đức Nursia là người sáng lập Dòng Biển Đức. Biển Đức XVI đã giải thích sự lựa chọn đó của mình tại Quảng trường Thánh Phêrô, vào ngày 27 tháng 4 năm 2005:

Trong tâm tình kính nhớ và tạ ơn, tôi muốn nói về lý do tại sao tôi chọn tông hiệu Biển Đức. Trước hết, tôi nhớ đến Đức Giáo hoàng Biển Đức XV, vị tiên tri can đảm cho hòa bình, người đã dẫn đắt Giáo hội qua các thời kỳ hỗn loạn của chiến tranh. Trong bước chân của Ngài, tôi đặt sứ vụ của tôi để phục vụ sự hòa giải và hòa hợp giữa các dân tộc. Ngoài ra, tôi nhớ đến Thánh Biển Đức thành Nursia, đồng bổn mạng của châu Âu, cuộc sống Ngài đã gợi lên gốc rễ Kitô giáo của châu Âu. Tôi nguyện xin Ngài giúp tất cả chúng ta giữ vững chắc Chúa Kitô làm trung tâm trong đời sống Kitô giáo của chúng ta: Ước mong Chúa Kitô luôn luôn dẫn lối trong suy nghĩ và hành động của chúng ta

Phong cách

Ngày 9 tháng 5 năm 2005, Biển Đức XVI bắt đầu quá trình vinh hiển cho người tiền nhiệm của ông, Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Thông thường, đối với một người nào đó, phải qua 5 năm sau khi chết mới có thể bắt đầu quá trình vinh hiển. Tuy nhiên, vẫn có "hoàn cảnh đặc biệt", trong đó nói rằng thời gian chờ đợi như vậy có thể được miễn và Biển Đức XVI đã áp dụng như thế cho cố giáo hoàng Gioan Phaolô II.

TÔNG DU

Giáo hoàng Biển Đức XVI không tích cực trong việc đi viếng thăm các quốc gia khác bằng người tiền nhiệm của ông, Gioan Phaolô II, nhưng ông cũng đã thực hiện một số chuyến đi ra nước ngoài. Hầu hết các chuyến đều liên quan đến các vấn đề của giáo hội.

Ba năm đầu của triều đại, ông đi ra nước ngoài nhiều hơn. Ngoài các chuyến đi đến Ý, ông đã hai lần về thăm nước Đức quê nhà, một lần cho Ngày Giới trẻ Thế giới và một lần về thị trấn thời thơ ấu của ông. Ông cũng đã viếng thăm Ba LanTây Ban Nha, nơi ông đã nhận được nhiều tình cảm. Trong chuyến tới Thổ Nhĩ Kỳ, một quốc gia đa số theo Hồi giáo, ông đã có một bài giảng tại Regensburg gây tranh cãi từ phía người Hồi giáo khiến họ nổi lên làn sóng biểu tình và các quốc gia Hồi giáo khác phản ứng. Tuy nhiên, chuyến đi cũng đã thực hiện một tuyên bố chung với Thượng phụ Đại kết Bartholomew I trong một nỗ lực hàn gắn giữa Công giáo và Chính Thống giáo.

Trong hơn 600 ấn phẩm đã được xuất bản của ông, tiêu biểu có "Nhập môn Kitô giáo" (Introduction to Christianity), xuất bản năm 1968, "Tín lý và Mạc khải", một hợp tuyển các suy tư, bài giảng và tiểu luận dành riêng cho việc mục vụ xuất bản năm 1973.

Ngày 28 tháng 5 năm 1977, ông được tấn phong, là giám mục đầu tiên sau 50 năm, chịu trách nhiệm chăm sóc phần hồn cho toàn bộ giáo dân tại Giáo khu rộng lớn Bayern.

Ngày 27 tháng 6 năm 1977, ông được Giáo hoàng Phaolô VI phong làm Hồng y tham gia Hội đồng Hồng y.

Ngày 25 tháng 11 năm 1981, ông được Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong làm Tổng trưởng Bộ Giáo lý đức tin; Chủ tịch Ủy ban Tòa thánh về Thánh Kinh và Chủ tịch Ủy ban Thần học quốc tế.

Ngày 6 tháng 11 năm 1998, ông được bầu làm Phó Chủ tịch Hội đồng Hồng y. Ngày 30 tháng 11 năm 2002, Giáo hoàng Gioan Phaolô II chính thức phong ông làm Chủ tịch Hội đồng Hồng y thể theo nguyện vọng của các Hồng y.

Tại giáo triều Rôma, ông là thành viên:

Bộ Quan hệ với các dân nước (ngoại giao)

Bộ Giáo hội Đông phương, Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích, Bộ Giám mục, Bộ Truyền giảng Phúc âm cho các Dân tộc, Bộ Giáo dục Công giáo

Hội đồng Tòa thánh về Hiệp nhất Các Tín hữu Kitô, Hội đồng Tòa thánh Đặc trách Văn hóa

Ủy ban Châu Mỹ La Tinh và Ủy ban Giáo hội Chúa

Và đã được bầu làm Giáo hoàng thứ 265 ngày 19 tháng 4 năm 2005. Ông là giáo hoàng thứ 8 đến từ nước Đức, ông nói được 10 ngôn ngữ và có khả năng chơi dương cầm xuất sắc, đặc biệt những bản nhạc của Beethoven.

Chống nạn đói

Ngày 16 tháng 10 năm 2009, Biển Đức XVI nói thế giới phải có hành động "quyết liệt và hiệu quả" chống lại nạn đói sau khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đẩy hàng ngũ những người thiếu ăn lên tới một mức kỷ lục là 1 tỉ người. Những nước đang phát triển cần đầu tư nhiều hơn, đặc biệt là trong nông nghiệp, để bảo đảm người dân của họ không bị đói, Biển Đức XVI nói trong một thông điệp gởi Tổ chức Lương nông của Liên Hiệp Quốc (FAO) nhân Ngày Thực phẩm Thế giới. "Cuộc khủng hoảng này đòi hỏi các chính phủ và các thành viên của cộng đồng quốc tế phải có những lựa chọn quyết liệt và hiệu quả. Ðược cung cấp thực phẩm không phải chỉ là một nhu cầu căn bản, đó là một quyền căn bản của các cá nhân và các dân tộc."

Biển Đức XVI thường lên tiếng về cuộc khủng hoảng, kêu gọi một trật tự tài chánh thế giới mới được hướng dẫn bởi đạo đức và thúc giục thế giới đừng để cho những người nghèo nhất và dễ bị tổn thương nhất gánh chịu các hậu quả của cuộc suy thoái. Cuộc khủng hoảng "đặc biệt nghiêm trọng đối với thế giới nông nghiệp, nơi tình hình trở nên thê thảm. Nông nghiệp phải được cung cấp đầy đủ những khoản đầu tư và các tài nguyên." Viện trợ và đầu tư trong nông nghiệp đã giảm sút trong hai thập niên vừa qua, góp phần vào việc gia tăng nạn đói. Năm 2009, số người đói trên khắp thế giới lên tới 1,02 tỉ người giữa lúc giá thực phẩm cao và nền tài chánh toàn cầu gặp khủng hoảng, theo cơ quan FAO, có trụ sở tại Roma.

FAO nói sản lượng thực phẩm trên toàn cầu sẽ phải tăng khoảng 70% để nuôi một dân số có thể lên tới 9,1 tỉ người vào năm 2050. Ðể đạt được mục tiêu đó, các nước nghèo sẽ cần $44 tỉ về viện trợ nông nghiệp hàng năm, so với $7,9 tỉ như năm 2009. Trước đó, cũng trong ngày 16 tháng 10, trong số những sự kiện khác để đánh dấu ngày Thực phẩm Thế giới, FAO chỉ định năm đại sứ thiện chí mới, gồm cả lực sĩ điền kinh Carl Lewis và nhà thiết kế thời trang Pierre Cardin.

Ban hành Tông hiến về tín hữu Anh giáo

Ngày 20 tháng 10, 2009, Biển Đức XVI đưa ra một quyết định quan trọng nhằm tạo sự dễ dàng cho những người theo Anh giáo thất vọng vì tôn giáo của họ được cải sang đạo Công giáo. Hành động này được đưa ra trong bối cảnh nhiều năm gần đây, tín hữu thuộc cộng đồng Anh (giáo với khoảng 77 triệu tín đồ trên toàn thế giới) xảy ra những bất mãn về các vấn đề như: cho nữ giới được làm linh mục và giám mục đồng tính luyến ái. Trong khi cả hai bên đều nói rằng sự kiện này không ảnh hưởng đến cuộc thảo luận đại kết giữa hai giáo hội, có một điều dễ nhận thấy là sở dĩ có việc này vì ngày càng có nhiều người theo Anh giáo muốn bỏ đạo.

Biển Đức XVI phê chuẩn một văn kiện gọi là "Tông hiến", theo đó, Giáo hội Công giáo tiếp nhận người Anh giáo cải sang đạo Công giáo, qua hình thức cá nhân hay cả một nhóm, trong khi vẫn cho duy trì một số truyền thống riêng của Anh giáo. Ðiều này có lẽ đánh dấu một sự thay đổi rõ ràng và táo bạo nhất về mặt hiến pháp của Vatican để đón chào những người Anh giáo vào hàng ngũ giáo dân Công giáo kể từ khi Vua Henry VIII li giáo với Roma và tự phong mình là người đứng đầu Giáo hội Anh năm 1534.

Việc này cho phép sự bổ nhiệm những người chủ chăn, thường là các giám mục, đến từ hàng ngũ những cựu giáo sĩ Anh giáo không lập gia đình, để chăm nom các cộng đồng Anh giáo cải sang Công giáo và công nhận Giáo hoàng là người lãnh đạo họ. Quyết định mới của Giáo hoàng sẽ không ảnh hưởng đến lệnh cấm các linh mục Công giáo lập gia đình. Tuy nhiên sẽ tiếp tục giữ truyền thống cho các tu sĩ Anh giáo có gia đình khi cải đạo tiếp tục duy trì đời sống gia đình của họ. Vatican nói quyết định được đưa ra để đáp ứng "rất nhiều lời thỉnh cầu đệ nạp đến Tòa Thánh từ các nhóm giáo sĩ Anh Giáo và tín đồ từ nhiều khu vực trên thế giới." Người cải đạo từ Anh giáo sang Công giáo nổi tiếng nhất trong thời gian cuối thập niên 2000 là cựu Thủ tướng Anh Tony Blair, trước khi ông rời khỏi chức thủ tướng năm 2007.

Bị tấn công

Đã có vài vụ vi phạm an ninh dưới thời Biển Đức XVI, bắt đầu vào năm 2005. Vào năm 2007, một người đàn ông Đức nhảy qua một rào cản ở Quảng trường Thánh Phêrô giữa lúc chiếc xe jeep của Giáo hoàng đi ngang trong một cuộc tiếp xúc với công chúng. Người đàn ông cố leo lên chiếc xe. Vụ tấn công nghiêm trọng nhất nhắm vào một vị giáo hoàng ở Vatican là vào năm 1981, khi một tay súng người Thổ Nhĩ Kỳ, Mehmet Ali Ağca, bắn và suýt giết chết Giáo hoàng Gioan Phaolô II tại quảng trường Thánh Phêrô.

Tối ngày 24 tháng 12, 2009, Biển Đức XVI trong lúc cử hành lễ vào đêm Giáng sinh bị một phụ nữ tên Susanna Maiolo (sinh 1984) xông vào xô té. Maiolo, có hai quốc tịch Thụy Sĩ và Ý, không có võ khí nhảy qua một rào cản ở giáo đường, lao vào giáo hoàng, nắm lấy áo lễ của ngài và làm ngài ngã xuống mặt sàn cẩm thạch, khi ngài đang tiến lên bàn thờ trong thánh lễ Vọng Giáng sinh. Linh mục Ciro Benedettini nói Biển Đức sau khi bị té, không bị thương tích gì, đứng lên tiếp tục cử hành lễ. Hồng Y Roger Etchegaray cũng bị xô và phải vào bệnh viện khám. Theo linh mục Benedettini, người phụ nữ có vẻ bất ổn về tâm lý và bị cảnh sát Vatican bắt giữ.

GIẢNG DẠY

Kêu gọi từ bỏ bạo lực

Biển Đức XVI sáng Giáng sinh, 25 tháng 12, 2009, kêu gọi thế giới từ bỏ bạo lực và trả thù, một ngày sau khi bị Susanna Maiolo xô ngã. Trong thông điệp truyền thống ‘Urbi et Orbi‘ gởi thành phố và thế giới từ bao lơn trung tâm của Nhà thờ Thánh Phêrô, Biển Đức XVI thúc giục thế giới hãy tái khám phá sự giản dị của thông điệp Giáng sinh và đọc những lời chào mừng Giáng sinh bằng 65 ngôn ngữ. Giữa lúc Biển Đức XVI lên tiếng với hàng chục ngàn người tụ tập ở quảng trường phía dưới, Vatican vẫn lưu tâm tới biến cố tối ngày trước đó khi Maiolo xô ngã Giáo hoàng.

Ngày 25 tháng 12, 2009, phát ngôn viên của Vatican, Cha Federico Lombardi, nói rằng không thể nào cung cấp an ninh tuyệt đối cho Đức Giáo hoàng bởi vì gần gũi với mọi người là một phần trong sứ mạng của ngài. Trong thông diệp ‘Urbi et Orbi,’ Biển Đức XVI nói thế giới ngày nay phải tái khám phá sự giản dị của thông điệp Giáng sinh. Mọi người nên từ bỏ mọi luận lý của bạo lực và trả thù và tham gia vào tiến trình đưa tới sự sống chung hòa bình với sức mạnh và lòng quảng đại mới. Ngài nói trong khi thế giới hiện chìm đắm trong một cuộc khủng hoảng tài chánh nghiêm trọng, nó cũng bị ảnh hưởng còn nhiều hơn bởi một cuộc khủng hoảng đạo đức, và bởi những vết thương đau đớn của những cuộc chiến tranh và xung đột.

[sửa] Kêu gọi hòa bình trong thông điệp đầu năm

Ngày thứ Sáu, 1 tháng 1, 2010, trong buổi thánh lễ ngày đầu Năm Mới theo truyền thống, Biển Đức XVI kêu gọi sự tôn trọng và khoan dung.

"Hãy tôn trọng người khác, bất kể màu da, quốc tịch, ngôn ngữ, tôn giáo của họ. Quý vị sẽ cảm thấy niềm vui hòa bình trong tim, điều mà quý vị có thể đã quên bẵng từ lâu."

Ngày 1 tháng Giêng cũng là Ngày Hòa bình Thế giới của Giáo hội Thiên Chúa La Mã, và Ðức Giáo hoàng đưa ra một lời kêu gọi mọi nhóm võ trang hãy "chấm dứt, suy ngẫm và từ bỏ đường lối bạo động," cho dù điều đó có vẻ không thể thực hiện được. Ngài nói hòa bình khởi sự bằng sự thừa nhận rằng con người là anh em, không phải là kẻ thù của nhau. Biển Đức XVI nói trong một thánh lễ tại Giáo đường Thánh Phêrô trước đó trong ngày:

"Hòa bình khởi sự với một cái nhìn có tính cách tôn trọng thừa nhận một con người qua khuôn mặt của một người khác, bất kể màu da, quốc tịch, ngôn ngữ hoặc tôn giáo. Giá trị của sự tôn trọng dành cho tất cả mọi người phải được dạy dỗ ngay từ nhỏ."

Ghi nhận rằng các lớp học gồm những trẻ em thuộc nhiều gốc gác là điều thông thường, ngài nói rằng "những khuôn mặt của chúng là một sự tiên tri về hình thức nhân loại mà chúng ta cần tạo ra: một đại gia đình các dân tộc." Biển Đức XVI đặt trẻ em, đặc biệt là những trẻ em bị tổn thương vì xung đột hoặc bị buộc phải rời khỏi nhà của chúng, làm trọng tâm trong lời kêu gọi hòa bình của ngài. Những hình ảnh đau lòng của những trẻ em nạn nhân của chiến tranh và bạo động, những khuôn mặt của chúng "bị biến dạng vì đau đớn và tuyệt vọng," là một lời kêu gọi thầm lặng cho hòa bình, Ðức Giáo Hoàng nói. Trong những lời bình luận, Biển Đức XVI cũng lập lại lời kêu gọi bảo vệ môi trường, nói rằng sự thoái hóa của con người đưa tới sự thoái hóa của hành tinh.

NHÌN NHẬN VỀ GIÁO HOÀNG BIỂN ĐỨC XVI

Đối với Tòa Thánh Vatican, ông là một trong những người có ảnh hưởng lớn nhất, Joseph Ratzinger là Hồng y chủ tế trong tang lễ của cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Ông được coi là một trong những người bạn thân nhất của vị cố giáo hoàng đó.

- II -

TIỂU SỬ ĐỨC GIÁO HOÀNG BÊNÊĐICTÔ XV

Tổng hợp: Lm. Paul Phạm Văn Tuấn

06.07.2005

clip_image003

 

clip_image004

 

Đức Tân Giáo Hoàng Bênêđictô XVI sinh ngày 16.4.1927 tại Marktl am Inn vùng Altötting, Đức quốc, với tên gọi là Joseph Alois Ratzinger. Ngài mới mừng sinh nhật thứ 78 vào thứ bẩy vừa qua, 2 ngày trước khi nhập viện bầu Giáo Hoàng ngày 18.4.2005.

Thân phụ ĐGH là một cảnh sát viên xuất thân từ một gia đình nông dân miền Hạ Nam Bayern.
Thời niên thiếu, Joseph Ratzinger học trung học tại tỉnh Traunstein và bị gọi nhập ngũ phục vụ với tư cách quân nhân dự bị.
Từ 1946 – 1951: Ngài theo học Triết Học và Thần Học tại Đại Học Freising và München.
- 29.6.1951: Ngài được thụ phong linh mục tại Freising do Đức HY Faulhaber truyền chức, sau đó giúp xứ tại St. Martin – München-Moosach.
- Từ 1951 – 1952: Ngài được bổ nhiệm làm cha phó tại St. Hl. Blut – München-Bogenhausen.
- Từ 1952 – 1954: Ngài được giao phó chức vụ giáo sư tại đại chủng viện Freising.
- Năm 1953: Ngài đậu bằng Tiến Sĩ Thần Học tại Đại Học Freising với đề tài: “Dân Chúa trong học thuyết của Thánh Augustinô về Giáo Hội.”
- Từ 1958 – 1959: Ngài trở thành Giáo Sư Đại Học. Ngài dạy Tín Lý và Thần Học Nền Tảng tại Đại Học Freising.
- Từ 1959 – 1963: Giáo Sư Thần Học Nền Tảng tại Đại Học Bonn.
- Từ 1962 – 1965: Lúc 35 tuổi vào năm 1962, ngài đã rất nổi tiếng trên thế giới về Thần học và trở thành cố vấn Thần Học cho Tòa Thánh tại Công Đồng Chung Vatican II.

- Từ 1963 – 1966: Giáo Sư Thần Học Tín Lý và Lịch Sử Tín Lý tại Đại Học Münster (cùng thời với giáo sư nổi danh Karl Rahner).
- Từ 1966 – 1969: Giáo Sư Thần Học Tín Lý và Lịch Sử Tín Lý tại Đại Học Tübingen.
- 1976: Ngài nhận chức Đức Ông.
- Từ 1969 – 1977: Giáo Sư Thần Học Tín Lý và Lịch Sử Tín Lý tại Đại Học Regensburg.
- Từ 1976-1977: Ngài được bầu làm Phó Giám Đốc viện Đại Học Regensburg.
- 24.03.1977: Đức Giáo Hoàng Phaolô VI bổ nhiệm ngài làm Tổng Giám Mục München và Freising.
- 28.3.1977: Ngài được tấn phong Giám Mục.
- 27.06.1977: 3 tháng sau đó, ngài được Đức Giáo Hoàng Phaolô VI tấn phong Hồng Y. (Ngài là 1 trong 3 Hồng Y dưới 80 tuổi trong cuộc bầu cử Giáo Hoàng 2005 không do Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phong Hồng Y).
- 25.11.1981: Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cử ngài giữ chức tổng trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin (sau khi Ngài đã từ chối chức vụ này đến 2 lần và đến lần thứ 3 thì nhận theo đức vâng lời), chủ tịch Ủy Ban Tòa Thánh về Thánh Kinh, và chủ tịch Ủy Ban Thần Học Quốc Tế.
- Từ 1986 – 1992: Ngài giữ chức chủ tịch Ủy Ban Soạn Thảo Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo.
- 09.11.1998: Ngài được bầu làm Phó Niên Trưởng Hồng Y Đoàn.
- 30.11.2002, Đức Thánh Cha đã phê chuẩn việc các Hồng Y bầu ngài làm Niên Trưởng Hồng Y Đoàn. Với chức vụ này Ngài là người quan trọng trong những ngày vừa qua khi ĐGH Gioan Phaolô II qua đời. Ngài là chủ tế của thánh lễ an táng ĐGH vào ngày 08.4.2005 và là chủ tế thánh lễ cho 115 Hồng Y và giáo dân vào sáng thứ hai, 18.4.2005 trước khi 115 Hồng Y bước vào cơ mật viện bầu Giáo Hoàng.
Trong 30 tác phẩm lớn của ngài, nổi tiếng nhất là cuốn “Nhập Môn Kitô Giáo” xuất bản năm 1968 và cuốn “Tín Lý và Mạc Khải” tổng hợp các suy tư, bài giảng và tiểu luận dành riêng cho việc mục vụ xuất bản năm 1973.
Ngài đã từng là phát ngôn viên tại Thượng Hội Đồng Giám Mục kỳ V (1980), chủ tịch Đại Biểu tại Thượng Hội Đồng Giám Mục kỳ VI (1983).
Tại Toà Thánh Vatican, Ngài là thành viên:
* Bộ Quan Hệ với Các Quốc Gia
* Bộ Giáo Hội Đông Phương
* Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích
* Bộ Giám Mục, Bộ Rao Giảng Tin Mừng Cho Các Dân Tộc
* Bộ Giáo Dục Công Giáo.
* Hội Đồng Tòa Thánh về Hiệp Nhất Các Tín Hữu Kitô
* Hội Đồng Tòa Thánh đặc trách Văn Hóa
* Hội Đồng Tòa Thánh cho Châu Mỹ La Tinh

* Hội Đồng Tòa Thánh cho Giáo Hội Của Chúa
* Hội Đồng Tòa Thánh về Thánh Kinh
ĐGH Bênêđictô XVI nguyên là tổng trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin, và là vị tổng trưởng lâu dài nhất trong triều đại ĐGH Gioan Phaolô II bao gồm 24 năm, trong thời này đã xảy ra 6 vụ về các nhà thần học lạc giáo mà trong đó đã có 4 người Đức (như Hans Küng, Drewermann…) và Ngài đã cắt chức giáo sư của các vị này. Trong thời này nói chung nền Thần Học Công Giáo được yên ổn. Ngài chính là cánh tay mặt của ĐGH Gioan Phaolô II về tư tưởng, triết lý cũng như thần học. Có thể nói mọi việc liên quan với Giáo Hội Hoàn Vũ đều có ý kiến đóng góp của Ngài. Tại Đức người ta đặt danh hiệu cho Ngài là „Cỗ Xe Tăng của Giáo Hội.“ Trong thời gian phục vụ tại Tòa Thánh Ngài đã xin từ chức đến 3 lần nhưng ĐGH Gioan Phaolô II không đồng ý, nhưng ĐGH cho Ngài một đặc ân là được viết sách Thần Học và phát hành.
Đặc biệt trong gia tộc của Ngài có người anh ruột Georg Ratzinger còn đang sống cũng là linh mục, được phong chức Đức Ông và là giáo sư về Thánh Nhạc. Mấy ngày trước bầu cử Giáo Hoàng được phỏng vấn, người anh ruột trả lời là không muốn em mình làm Giáo Hoàng.
ĐGH Bênêđictô XVI là người thích âm nhạc nghệ thuật, Ngài chơi đàn Piano rất hay và thích nhạc Mozart. Ngoài ra Ngài thông thạo tất cả 10 ngôn ngữ khác nhau. Ngài là học giả uyên thâm về Thần học và Triết Học với hơn 30 tác phẩm lớn nổi tiếng.
Vào chiều ngày 19.4.2005, lúc 18g41 Đức Hồng Y Estevez xuất hiện trước ban công của đền thờ Thánh Phêrô bên micrôphôn và công bố bằng nhiều thứ tiếng: “Anh Chị Em thân mến, tôi là Hồng Y Estevez, tôi rất vui mừng được loan báo,” Ngài xúc động ngừng lại thật lâu và nói tiếp bằng câu Latinh nổi tiếng: “Habemus Papam”, Người được tín nhiệm là Đức Hồng Y Joseph Ratzinger và chọn tên Giáo Hoàng là Bênêđictô XVI. Đây là cuộc bầu cử Giáo Hoàng tương đối ngắn trong 26 tiếng đồng hồ và đông Hồng Y nhất trong lịch sử Giáo Hội với 115 vị.
Lúc 18g48: Tân Giáo Hoàng Bênêđictô XVI xuất hiện vẫy tay chào mừng giáo hữu. Ngài tuyên bố bằng tiếng Ý: “Sau Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, các Hồng Y đã bầu tôi làm Giáo Hoàng. Tôi chỉ là người thợ tầm thường trong vườn nho của Thiên Chúa. Quan trọng là Thiên Chúa bù đắp cho những thiếu xót của tôi. Tôi tin tưởng vào lời cầu nguyện của Anh Chị Em. Thiên Chúa và Mẹ Maria sẽ bầu cử cho tất cả chúng ta.”
Và sau đó Tân Giáo Hoàng cầu nguyện và ban phép lành Giáo Hoàng đầu tiên “Urbi et Orbi” cho thành Rôma và cho toàn thế giới.
Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đối với Hội Đồng Giám Mục Đức:
· Từ 1966 – 1977: Nhà chuyên môn của Ủy Ban Tín Lý về Đức Tin.
· Từ 1977 – 1981: Chủ tịch Ủy Ban về Tín Lý.
· Từ 1980 – 1981: Ủy Viên của HĐGM Đức về Kỷ Luật cho việc giảng dạy Thần Học.
Các Bằng Tiến Sĩ Danh Dự ĐGH Bênêđictô XVI đã được nhận lãnh:
· 1984: Đại Học Công Giáo St. Thomas in St. Paul – Minnesota (USA) trao bằng Tiến Sĩ Danh Dự.
· 1985: Đại Học Công Giáo Eichstätt (Đức) trao bằng Tiến Sĩ Danh Dự.
· 1986: Đại Học Công Giáo Lima (Peru) trao bằng Tiến Sĩ Danh Dự.
· 1988: Đại Học Công Giáo Lublin (Ái Nhĩ Lan) trao bằng Tiến Sĩ Danh Dự.
· 1998: Đại Học Công Giáo Navarra in Pamplona trao bằng Tiến Sĩ Danh Dự.
· 1999: Đại Học Công Giáo "Maria SS. Assunta" (LUMSA) in Rom trao bằng Tiến Sĩ Danh Dự.
· 2000: Đại Học Công Giáo Wroclaw (Ba Lan) trao bằng Tiến Sĩ Danh Dự.
Các Bằng Huy Chương Danh Dự ĐGH Bênêđictô XVI đã được nhận lãnh:
1977
- Nhận huy chương danh dự của nước Ecuador.
- Nhận huy chương danh dự của Tiểu Bang Bayern.
1985
- Nhận huy chương danh dự của nước Đức.
- Nhận huy chương vàng của Quốc Hội Tiểu Bang Bayern.
1989
- Nhận huy chương danh dự của Đại Học Chieti.
- Nhận Giải thưởng Augustin-Bea-Preises in Roma (Ý).
1991
- Nhận huy chương danh dự của Giải Leopold-Kunschak-Preises in Wien (Áo).
1992
- Nhận huy chương danh dự của Áo quốc.
- Nhận Giải thưởng Văn Hóa tại Anacapri.
- Nhận Giải thưởng Văn Hóa Basilicata in Potenza.
1996
- Nhận Giải thưởng của Tiểu Bang Bayern về nghệ thuật và khoa học.
1997
- Trở thành công dân danh dự của tỉnh Marktl am Inn.
1998
- Được tổng thống Pháp tấn phong làm chỉ huy danh dự đội ngũ vệ binh
Ngoài ra Ngài còn là Thành Viên:
- 1964 – 1967: Thành Viên của viện Khoa Học của tiểu bang Nordrhein-Westfalen.
- 1966: Thành Viên viện Khoa Học Tôn Giáo, Brüssel.
- 1991: Thành Viên viện Khoa Học và Văn Hóa, Salzburg.
- 1992: Thành Viên viện Khoa Học Luân Lý và Chính Trị, Paris.
- 2000: Thành Viên viện Khoa Học Giáo Hoàng, Roma.
Những Tác Phẩm quan trọng của ĐGH Bênêđictô XVI:
1. Volk und Haus Gottes in Augustinus Lehre von der Kirche, 1954 [Nachdruck: St. Ottilien 1992] (Dissertation)
2. Die Geschichtstheologie des heiligen Bonaventura, München-Zürich 1959 (Habilitation)
3. Der Gott des Glaubens und der Gott der Philosophen. München 1960
4. Die christliche Brüderlichkeit München 1960
5. Episkopat und Primat (zusammen mit Karl Rahner), Freiburg/Brsg. 1961 (Quaestiones disputatae 11)
6. Die erste Sitzungsperiode des Zweiten Vatikanischen Konzils – Ein Rückblick, Köln 1963
7. Das Konzil auf dem Weg – Rückblick auf die Zweite Sitzungsperiode, Köln 1964
8. Einführung in das Christentum, München 1968
9. Das neue Volk Gottes. Entwürfe zur Ekklesiologie, Düsseldorf 1969
10. Demokratisierung in der Kirche – Möglichkeiten, Grenzen, Gefahren, Limburg 1970
11. Zur Situation der Kirche heute. Hoffnungen und Gefahren, Köln 1970
12. Il significato di persona nella teologia in Dogma e predicazione, Brescia 1974
13. Wer verantwortet die Aussagen der Theologie, 1976
14. Die Tochter Zion. Betrachtungen über den Marienglauben der Kirche, Einsiedeln 1977
15. Eschatologie – Tod und ewiges Leben, Regensburg 1977 (6. Aufl. 1990)
16. Dienst an der Einheit. Zum Wesen und Auftrag des Petrusamtes, Düsseldorf 1978
17. Das Fest des Glaubens. Versuche zur Theologie des Gottesdienstes, Einsiedeln 1981
18. Theologische Prinzipienlehre. Bausteine zur Fundamentaltheologie, München 1982
19. Zur Lage des Glaubens. Ein Gespräch mit Vittorio Messori, 1985 (dt.)
20. Kirche, Ökumene und Politik. Neue Versuche zur Ekklesiologie, Einsiedeln 1987
21. Church, Ecumenism and politics, Middlegreen (Ing.) 1988
22. La théologie de l’histoire de saint Bonaventure, Paris 1988
23. Auf Christus schauen. Einübung in Glaube, Hoffnung, Liebe, Freiburg/Brsg. 1989
24. Europa – Hoffnungen und Gefahren, Speyer 1990
25. Zur Gemeinschaft gerufen: Kirche heute verstehen, Freiburg/Brsg. 1991
26. Popolo e casa di Dio in Sant’ Agostino, Milano 1991
27. Servitore della vostra gioia. Meditazioni sulla spiritualità sacerdotale, Ancora 1991
28. Co-Workers of the Truth. Meditations for every day of the year. San Francisco 1992
29. Die Geschichtstheologie des heiligen Bonaventura, St. Ottilien 1992
30. Eglise et théologie, Paris 1992
31. Svolta per l’Europa? Chiesa e modernità in Europa, San Paolo Edizioni 1992
32. Wendezeit für Europa? Diagnosen und Prognosen zur Lage von Kirche und Welt, Einsiedeln-Freiburg 1991
33. Wesen und Aufgabe der Theologie, Einsiedeln, Freiburg 1992
34. Wesen und Auftrag der Theologie: Versuche zu einer Ortsbestimmung im Disput der Gegenwart, Freiburg/Brsg. 1993
35. Wahrheit, Werte, Macht – Prüfsteine der pluralistischen Gesellschaft, Freiburg/Brsg. 1993
36. Ein neues Lied für den Herrn. Christusglauben und Liturgie in der Gegenwart, Freiburg/Brsg. 1995
37. Evangelium, Katechese, Katechismus, München 1995
38. Cantate al Signore un canto nuovo, 1996
39. Salz der Erde. Christentum und Katholische Kirche an der Jahrhundertwende. Ein Gespräch mit Peter Seewald, Stuttgart 1996
40. Il sale della terra. Cristianesimo e Chiesa cattolica nella svolta del millennio, Sao Paulo Edizioni 1997
41. Cielo e terra. Riflessioni su politica e fede. Piemme 1997
42. La mia vita. Ricordi 1927-1977. Sao Paulo Edizioni 1997
43. Aus meinem Leben. Erinnerungen (1927-1977), Stuttgart 1998
44. Vom Wiederauffinden der Mitte. Grundorientierungen. Texte aus vier Jahrzehnten, hrsg. v. Schülerkreis, Freiburg/Brsg. 1997
45. Imagini di speranza: Percorsi attraverso i tempi e i luoghi del giubileo, San Paolo Edizioni, 1999
46. Maria. Iglesia naciente, Madrid 1999
47. Un canto nuevo para el Señor. La fe en Jesucristo y la liturgia hoy, Salamanca 1999
48. Der Geist der Liturgie. Eine Einführung, Freiburg/Brsg., 3. Aufl., 2000
49. Berührt vom Unsichtbaren. Jahreslesebuch, ausgewählt und hrsg. v. Ludger Hohn-Morisch, Freiburg/Brsg. 2000
50. Bilder der Hoffnung. Wanderungen im Kirchenjahr (Predigten zu großen Festen des Kirchenjahrs), 2000
51. Gott ist nah. Eucharistie: Mitte des Lebens, hrsg. v. Stephan Otto Horn u. Vinzenz Pfnür, Augsburg 2001
52. Gott und die Welt. Glauben und Leben in unserer Zeit, Interviews, Köln 2000, München, 3. Aufl., 2001
53. Unterwegs zu Jesus Christus, Augsburg 2003
54. Salz der Erde: Christentum und katholische Kirche im neuen Jahrtausend. Ein Gespräch mit Peter Seewald (6.2004)
55. Jesus von Nazareth: Von der Taufe im Jordan bis zur Verklärung
(16.4.2007)
56. Bibelausgaben, Herder, Freiburg : Die Benedikt Bibel; Die Bibel, Die Heilige Schrift des Alten und Neuen Bundes (6.2007)
57. Joseph Ratzinger – Gesammelte Schriften: Gesammelte Schriften Band 11. Theologie der Liturgie: Die sakramentale Begründung christlicher Exisenz: Bd 11 (10.2008)
Sách viết về ĐGH Bênêđictô XVI:
· Weisheit Gottes – Weisheit der Welt. Festschrift für Joseph Kardinal Ratzinger zum 60. Geburtstag, hrsg. v. Baier, Walter – Horn, Stephan Otto – Pfnür, Vinzenz – Schönborn, Christoph von. St. Ottilien 1987; 2 Bde.
· Wissen aus der Taufe. Die Aporien der neuzeitlichen Vernunft und der christliche Weg im Werk von Joseph Ratzinger, von Sottopietra, P. G., Regensburg 2003
· Kirchliche Existenz und existenzielle Theologie unter dem Anspruch von Lumen gentium. Ekklesiologische Grundlinien, hrsg. v. Heim, Maximilien Heinrich – Ratzinger, Joseph, Frankfurt/M. 2004
· Benedikt XVI – Ein Porträt aus der Nähe (11.2005) – Von Peter Seewald
· Der deutsche Papst. Von Joseph Ratzinger zu Benedikt XVI (4.2006) – Von Peter Seewald
· Papst ohne Heiligenschein? Joseph Ratzinger in seiner Zeit und Geschichte (9.2006) – Von Richard Corell, Ronald Koch
· Habemus Papam: Der Wandel des Joseph Ratzinger (10.2006) – Von Andreas Englisch
· Papst-Entzauberung: Das wahre Gesicht des Joseph Ratzinger und die exakte Widerlegung seiner Thesen (5.2007) – Von Hubertus Mynarek
· "Jesus von Nazareth" kontrovers: Rückfragen an Joseph Ratzinger – Von Karl Lehmann, Christoph Schönborn, Adolf Holl, Klaus Berger, Karl H Ohlig, Albert Franz, Paul Wess, Michael Plattig, Manfred Gerwing, Hermann Häring, Hans Küng, Hans Albert, Horst J Helle, Ernst A Knauf (11.2007)
· Joseph Ratzingers Rettung des Christentums: Beschränkungen des Vernunftgebrauchs im Dienste des Glaubens (9.2008) – Von Hans Albert

 

Chân thành cám ơn Cha Phalô Phạm-Văn-Tuấn

Và xin phép ghi lại để mọi người được sử dụng tài liệu nầy. BTGH

- III -

VÀI NÉT CHẤM PHÁ

MỘT NĂM TRIỀU ĐẠI GIÁO HOÀNG CỦA

ĐỨC THÁNH CHA BIỂN-ĐỨC XVI

MARANATHA tổng hợp ý tưởng ( với từ ngữ) của Anita Bourdin,

trong Zenit số ra Chúa Nhật Phục Sinh 2006

Dù Anita Bourdin chỉ đưa ra những “nét chấm phá”- rất ấn tượng, sâu sắc và đầy đủ – tổng hợp MỘT NĂM triều đại giáo hoàng của Đức Biển-Đức XVI , nhưng đó cũng là những gì Đức Thánh Cha định hướng cho các hoạt động của Người về moị mặt và điều đó được kiểm chứng trong thời gian qua, sau 5 năm Người hiển trị (2005 – 2010). Vì thế sẽ không thừa nếu thêm vào những “nét chấm phá” do Anita đưa ra, TÍNH NHẤT QUÁN của đường lối cai quản Hội Thánh của Đức Thánh Cha Biển-Đức XVI. Ngoài ra phải kể đến một tính cách nơi con người của Đức Thánh Cha, khiến mọi đối tác và đối thủ đều cảm nhận được và kính nể, dầb dà đã thu phục mọi tâm hồn : ấy là LÒNG CHÂN THÀNH. BTGH xin lấy lại bài của Maranatha và giới thiệu đến mọi ngườ, trong ngày KỶ NIỆM 05 NĂM ĐỨC THÁNH CHA BIỂN-ĐỨC ĐƯỢC CHÚA CHỌN LÀM ĐÁ6NG ĐẠI DIỆN CỦA CHÚA NƠI TRẦN GIAN.

MỘT CHỮ

“Caritas.” Tình Yêu. Đức Bênêđitô XVI đã dùng từ này làm tựa để cho thông điệp đầu tiên của ngài “Deus Caritas Est.” Ngài không ngừng mong mỏi tình yêu này tuôn trào vào Giáo Hội, vào các cơ chế Giáo Hội, vào các giáo xứ và gia đình. Ngài ước ao tình yêu này luân chuyển giữa các Kitô hữu, giữa các dân tộc với nhau. Thuật ngữ này gắn liền với một thuật ngữ khác: ‘chân lý,’ và đây là hòn đá thử vàng để biết tình yêu ấy có chân chính hay không. Vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, trong bài giảng của mình, Đức Thánh Cha nói rằng: Giu-đa đã ‘đi nước đôi’, ông đắm mình vào trong dối trá. Thánh Gioan bảo rằng chân lý giải phóng chúng ta. Phương châm của Đức Giáo Hoàng – và cũng là của Đức Hồng Y Ratzinger – là ‘cộng tác viên cho chân lý’, như lời thánh Phaolô, thì phải hiểu rằng ngài là cộng tác viên trong tình yêu. Ngài từng nói rằng ‘rao giảng phúc âm là làm cho tình yêu của Chúa Kitô thâm nhập vào mọi môi trường.’

MỘT CÂU
Đó là câu mà được Giáo Hoàng Bênêđitô XVI nói trong thánh lễ đầu tiên của ngài, ngày 20 tháng 4 năm 2005 tại thánh đường Sixtine: ‘Muốn hiệp nhất Kitô hữu, ‘thiện chí suông thì chưa đủ’(good intentions do not suffice), mà còn cần những ‘hành động cụ thể.’ (concrete gestures). Toàn bộ giáo huấn năm vừa qua về hiệp nhất Kitô hữu, mà ĐTC đặt lên hàng ưu tiên trong triều đại ngài, đều phải đi theo đường hướng đó. Và vì thế mà ngài nhanh chóng quyết định đến Phanar, Thổ Nhĩ Kỳ, trụ sở đại kết của Giáo Hội Constantinople. Chuyến đi này đã không thể thực hiện vào ngày lễ bổn mạng của Giáo Hội Constantinople, lễ thánh Anrê, ngày 30 tháng 11 năm 2005, vì thế sẽ được thực hiện vào 30 tháng 11 năm nay (2006). Cũng theo chiều hướng này, ngài đã trao đổi với các hồng y về một cuộc đối thoại với đệ tử của Đức Cha Marcel Lefèbvre.
MỘT DIỄN VĂN
Đấy là diễn văn mà Đức Bênêđitô phát biểu với giáo triều, ngày 22-12-2005. Ngài trình bày rõ ràng về di sản của Công Đồng Vatican II mà giờ đây cần phải giải thích đúng đắn và đưa vào áp dụng. ĐTC đã trình bày về quan điểm của ngài về tình trạng Giáo Hội qua biến cố Đức Gioan Phaolô II qua đời, với cuộc đời đầy đau khổ của ngài, qua ngày Giới Trẻ Thế Giới tại Cologne, qua năm Thánh Thể và qua Đại Hội Đồng mà đức Gioan Phaolô II đã triệu tập, qua kỷ niệm 40 năm bế mạc Công Đồng Vatican II. Đối với Đức BênêđitôXVI, việc giải thích đúng đắn các văn kiện Công Đồng sẽ là một ‘sức mạnh đổi mới’ cho Giáo Hội.
MỘT ĐỐI TƯỢNG
Gia Đình
. Hiện nay, Giáo Hội ở Tây Ban Nha đang chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ giữa Đức Thánh Cha và các gia đình trên đất nước này.
MỘT LỜI KÊU GỌI
Kêu gọi xây dựng hòa bình và công lý, và đặc biệt là hòa bình ở Bờ Biển Ngài, ở vùng các Hồ Lớn Phi Châu, ở Darfour. Vị giáo sĩ trẻ cầm sách ban phúc lành để ĐTC ban phúc lành trong thánh lễ Phục sinh vừa qua là một người gốc Phi. Dĩ nhiên, ngài cũng kêu gọi cho hòa bình ở Irak, ở miền Đất Thánh.
MỘT NGÔN NGỮ
Tiếng Balan
. Đức Bênêđitô đang dành thì giờ để nâng cao tiếng Balan, vì ngài luôn ưu tư là không nên quên đi những đồng bào của Đức Gioan Phaolô II. Ngài sẽ đến Balan vào tháng Năm này, và nói với họ bằng tiếng Balan. Từ ngày đầu tiên, trong một lần tiếp kiến, mỗi giờ kinh Truyền Tin, ngài luôn nhớ ngỏ lời với người Balan.
MỘT TẤM ẢNH
Tấm ảnh chụp ngài ngược dòng sông Rhin
, với giới trẻ khắp thế giới đang ở trên thuyền hay bên bờ sông lội hẳn xuống nước, để chào đón ngài. Trước kia, sông Rhin là biểu hiện cho sự chia rẽ ở Âu Châu, giờ đây trở thành con sông của hòa bình, chuyên chở một nhà hành hương hòa bình. Vị giáo hoàng gốc Đức trở về quê hương để đưa giới trẻ bước theo con đường các đạo sĩ mà ‘thờ lạy’ Chúa Kitô. Tiếp xúc với giới trẻ, ngài không cầm một văn bản nào viết trước, và nói với họ trong tin tưởng, thân mật, chân tình. Ngài đã chiếm được cõi lòng của họ.
MỘT TIẾNG NHẠC
Tiếng shofar
, một nhạc cụ trong đền thờ Do Thái tại Cologne. Ngài lắng nghe tiếng shofar thổn thức nhắc lại những ngày lễ đầu mùa và ngày Toàn Xá Kippour. Ngài thật sự xúc động. Nhưng ngài cũng thực sự vui mừng vì nhận thấy rằng tương quan với Do Thái giáo đã tiếp tục triển nở trong đối thoại, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau.
MỘT NHÂN VẬT
Nhân vật từng có ảnh hưởng lớn đối với ngài là Đức Gioan Phaolô II. Từ bài giảng trong thánh lễ an táng ngày 8-4-2005, vị đương kim Giáo Hoàng, ‘người thợ khiêm nhường trong vườn nho của Chúa’ đã khuyên chúng ta hướng về đức Gioan Phaolô II, người đang ở ‘cửa sổ của Nhà Cha’ để ‘nhìn xuống’ và ‘chúc phúc’ cho chúng ta. Ngài đã cho phép đẩy nhanh quá trình phong thánh cho vị tiền nhiệm, và hồ sơ đã được xem xét vào ngày 28-6 ở cấp bậc giáo phận. Ngài thường xuyên trích dẫn Đức Gioan Phaolô II. Cứ như là sự cộng tác khởi sự cách đây hơn 25 năm vẫn được tiếp tục dưới một hình thức khác giữa ngài và ‘đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II vĩ đại và kính yêu.’
MỘT VỊ THÁNH
Thánh Giuse
! Vì tên của ngài là Giuse: Joseph Ratzinger! Dĩ nhiên còn phải kể thêm thánh Biển Đức. Ngày thứ sáu 01-4-2005, vào những ngày cuối cùng của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, đức hồng y Joseph Ratzinger nhận giải Thánh Biển Đức tại Subiaco, về công trình thăng tiến sự sống và gia đình tại Âu Châu, và ngày 19-4, ngài đã kế vị giáo hoàng với danh xưng là Biển Đức XVI. Ngài đặt triều đại mình dưới sự che chở của thánh Biển Đức, tổ phụ của phong trào đan tu ở phương tây và là thánh quan thầy của Châu Âu.
MỘT LỤC ĐIA
Châu Âu
. Và ta có thể thấy ngay mối quan tâm của ĐTC đối với lục địa này qua câu hỏi mà ngài mượn của Đức Gioan Phaolô II để đặt ra cho nước Pháp: “Ngươi đã làm gì với Phép Rửa của mình!”
MỘT QUỐC GIA
Trung Quốc
từng trĩu nặng trong lòng của ĐTC Gioan Phaolô II. Và Trung Quốc tiếp tục là một mối ưu tư của vị đương kim Giáo Hoàng. Ngay bài diễn văn đầu tiên nói với các phái đoàn ngoại giao cạnh Tòa Thánh, ngài nói lên mong ước nối lại ban giao với những người đang ở xa, và ngài phong một Hồng Y Trung Hoa để tỏ lòng trân trọng đối với đất nước và Kitô hữu ở nơi xa xôi ấy. Ta vẫn còn nhớ rằng Đức Bênêđitô XV, mà ngài lấy tên, từng là vị Giáo Hoàng đả mở cửa đối với Trung Quốc.
MỘT ĐỊA ĐIỂM
Thánh đường
“Tình Yêu Thiên Chúa” (santuario del Divino Amor), ở ngoại ô Rôma. Đức Thánh Cha quyết định đến thánh đường này, một thánh đường dâng cho Đức Mẹ, vào ngày 01 tháng 5 tới đây. Thánh đường mới này là do lời khấn của cư dân Rôma trong Thế Chiến thứ II : đấy có thể xem là thánh đường Nữ Vương Hòa Bình.
MỘT MÀU SẮC
Màu xanh và trắng
trên các ô vuông của lá cờ Bavière, từng được giương lên khắp nơi trên cánh đồng Marienfeld, ngày Giới Trẻ Thế Giới ở Cologne.
MỘT CON THÚ
Con gấu
của thánh Cobiniô, trên huy hiệu của đức giáo hoàng.
MỘT QUYẾT ĐỊNH
Ngài từng tham khảo các Hồng Y trước khi phong những Hồng Y mới. Ngài thao thức có được sự hiệp thông ngày càng cao giữa hàng giáo phẩm. Dù không quên đi vai trò kế vị thánh Phêrô, ngài thực thi chức vụ mình trong khiêm nhường: ngài đã quyết định bỏ đi chức vị “Giáo Chủ Phương Tây”(Patriarche d’Occident), một cụm từ xưa cũ và gây hiểu lầm, vì chữ Phương Tây (Occident) hiện nay không còn cùng một nghĩa như xưa. Ngài chứng to mình là một con người của đối thoại: ngài có nghệ thuật đối thoại song song với nghệ thuật sư phạm. Ngài khuyến khích đối thoại với cộng đồng khó đối thoại nhất, vì những lý do thần học, văn hóa, chính trị, đó là cộng đồng Hồi Giáo. Tuy nhiên, ngài không bao giờ quên đi chân tình Kitô giáo: Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ, và là Đấng Cứu Độ cho mọi người!
MỘT CUỐN SÁCH
Kinh Thánh
! Ngài mời gọi giới trẻ luôn có một cuốn Kinh Thánh bên mình, và trở thành những người ‘quen thuộc với Kinh Thánh.” Ngài khuyên họ suy niệm Lời Chúa, cả Cựu Ước lẫn Tân Ước: chủ đề của ngày Giới Trẻ Thế Giới 2006, lần đầu tiên, sẽ rút ra từ Cựu Ước: Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi(Tv 118). Ngài mời gọi giáo sĩ cũng như giáo dân hãy thực thi lectio divina. Dĩ nhiên rồi, vì ngài là con của thánh Biển Đức, đấng là đưa cao khẩu hiệu:Ora et labora!Hãy cầu nguyện và lao động!
MỘT BIẾN CỐ
Phục Sinh
! Chúa Kitô đã Phục Sinh! Đó biến cố mà ĐTC công bố ngày Chúa Nhật vừa qua, và bảo rằng biến cố đó liên hệ đến tất cả chúng ta: Biến cố này đã thay đổi ‘đời sống chúng ta’ và thay đổi cả ‘lịch sử nhân loại’

* các chữ bôi đậm là do BTGH

About these ads
%d bloggers like this: