HỌC HỎI THÁNH PHAOLÔ (2): KINH NGHIỆM ĐA-MÁT

Lm Dubreuil

Lourdes 2010

Bài 1.                                                   

KINH NGHIỆM ĐA-MÁT

  Kinh nghiệm thiêng liêng và tông đồ của thánh Phao-lô hoàn toàn ươm mầm từ trên đường Đa-mát, được Sách Công Vụ Tông Đồ chương 9 ghi lại.  Hãy dành thời gian nhìn ngắm nhân vật chính nầy, tức là Sao-lô.  Chúng ta tìm hiểu ông là ai, nhân cách của ông.  Trong Thư Ga-lát (1, 15), ông nói về mình rằng Thiên Chúa “đã đặt riêng ông ra từ lòng mẹ” để làm tông đồ của Người. Chính nhân cách của con người nầy mà chúng ta cần lưu ý để hiểu rõ hơn điều sẽ xảy đến cho ông, và đồng thời, khám phá ra bản thân của Phao-lô, sự phong phú vô biên cũng như những giới hạn của ông. Như thế khám phá ra nhân cách của Phao-lô giúp chúng ta hiểu hơn về kinh nghiệm đức tin và tông đồ của ông, và điều đó mời gọi chúng ta đảm trách chính mình, đảm trách bản thân mình, đón nhận nó như ân huệ và từ đó rút tỉa phần tốt nhất.

 Phao-lô chắc hẳn chúng ta đã biết rõ, chúng ta lấy ngài làm gương mẫu.  Tại sao, trong điều kiện nào đã thay đổi chính tên gọi của ông là Sao-lô thành Phao-lô?  Nói trắng ra, chẳng ai hay biết điều gì cả. Việc thay đổi tên gọi nầy chắc không có tầm vóc biểu tượng như trường hợp của Phê-rô, chính Chúa Giê-su đã đổi tên cho ông, có ý nói này Xi-mon, con ông Giu-đa, sẽ trở thành tảng đá trên tảng đá nầy Chúa Giê-su sẽ xây dựng Giáo Hội của Người.  Đối với Phao-lô, không có trích dẫn Kinh thánh cách minh bạch.  Việc làm nầy chắc hẳn là “Rô-ma-hóa” tên của ông, và bởi vì ý ông muốn làm tông đồ dân ngoại, được biểu lộ ra bằng cách thay đổi tên gọi (bằng cách lấy tên gọi của người Rô-ma hơn là Do thái, là gốc chính tông của ông), ý của ông là tham dự đời sống của những con người mà ông được gọi để đem Tin Mừng đến cho họ.

 Chúng ta biết ông sinh ra và sống tại Tạc-xô.  Cuối chương 9 cho biết ông sẽ trở lại quê hương sau khi chạy trốn khỏi Giê-ru-sa-lem thời bị bách hại.  Sinh ra tại Tạc-xô, nghĩa là tại thành phố ngoại giáo, trong vùng phát tán Do thái; ông không phải là Do thái gốc Pa-lét-tin như các tông đồ khác.  Đặc tính của ông là mang hai nền văn hóa.  Ông là Do thái và rất Do thái.  Ông gắn bó thâm sâu với luật Do thái và thuộc về nhóm Pha-ri-sêu, ông tuân giữ rất nghiêm nhặt và kỹ lưỡng lề luật mà ông coi là chính yếu cho đời sống của mình.  Ong được nhào nặn trong tinh thần Cựu Ước và thuộc nằm lòng Sách thánh.

 Phao-lô mang nặng văn hóa Do thái mặc dầu không sinh ra và lớn lên tại đó.  Nhưng đồng thời ông chịu ảnh hưởng văn hóa Hy-lạp và La-mã.  Sách Công Vụ Tông Đồ cho chúng ta biết ông là công dân La-mã; đàng khác ông nại đến tư cách nầy để xin được xét xử bởi Xê-da tại Rô-ma (Rô-ma biểu tượng trung tâm của đế chế) để chứng tỏ rằng Ki-tô giáo đã tưới gội toàn thể thế giới nơi có con người sinh sống.  Như vậy, là công dân Rô-ma, có văn hóa Hy –lạp, biết những gì tạo nên nền văn hóa nầy, am hiểu triết lý Hy-lạp ngay cả tiến xa trong lãnh vực này bằng mò mẫm như diễn từ của ông tại A-then minh chứng.  Lãnh hội được hai nền văn hóa, ông cố gắng bằng sức mạnh của những sự kiện làm nên một duy nhất tính nào đó cho chính mình khi đứng giữa hai nền văn hóa.  Người ta hiểu vai trò chìa khóa mà Phao-lô nắm giữ để giúp Ki-tô giáo đi từ cuống rốn Do thái nơi mà ông đã được đào tạo đi đến một điều khác hoàn vũ hơn, đi từ cơ chế tôn giáo của một dân tộc đến đức tin cho mọi dân tộc khác.  Ông là trung gian đáng chú ý, điều đó không phải dễ và ông đã phải trả giá vì những kẻ thù từ phía người Do-thái cũng như từ phía các dân ngoại.  Tuy nhiên vừa bám rễ trong lịch sử Do thái vừa bám rễ trong đời sống Hy-La, điều đó đã cho Phao-lô hoàn tất vai trò tông đồ dân ngoại mà ông đã được kêu gọi.

 Thời điểm xảy ra cuộc gặp gỡ trên đường Đa-mát, chúng ta biết rằng Phao-lô là một kẻ bách hại cuồng nhiệt các môn đệ của Chúa Giê-su.  Lần đầu tiên Phao-lô được nhắc đến trong Công Vụ Các Tông Đồ, là thành viên tham gia cuộc ném đá thánh Tê-pha-nô (một trong bảy phó tế được các tông đồ đặt tay), ông giữ áo choàng cho những kẻ ném đá Tê-pha-nô.  Hai lần khác, ở đầu sách Công Vụ, Phao-lô được coi là kẻ theo đuổi không ngơi nghỉ các môn đệ của Chúa Giê-su mà ông có thể xác định ở Giê-ru-sa-lem nơi có khá đông người Ki-tô hữu.  Vào đầu chương 9 ông tự cho mình sứ mệnh đi đến Đa-mát để tiếp tục lùng bắt.  Ông ác cảm với người Ki-tô hữu đến nỗi ông muốn theo đuổi họ mọi nơi họ quy tụ, để ngăn chặn họ xâm chiếm vùng phát tán Do-thái, vào thời đó, nhất là ở Tiểu Á; chính vì lý do đó mà Phao-lô muốn đi đến Đa-mát, ông có trong tay thư của lãnh đạo Do-thái giáo tại Giê-ru-sa-lem để thi hành “chính sách mà ông muốn”:  chính sách đàn áp bắt bớ, và để mang tù nhân về Giê-ru-sa-lem, là những ai đón nhận “Đường”, theo cách gọi của Sách Công Vụ Tông Đồ, con đường (mỹ danh từ để chỉ Giáo Hội phôi thai).

 Một người bách hại, và là một con người bách hại kiên quyết.  Và trước hết đừng nghĩ rằng Phao-lô hằn học chống lại các Ki-tô hữu như thế vì những mục đích tầm thường.  Đối với ông có vấn đề thâm sâu, mang tính quyết định, đó là tương lai của Do thái giáo.  Điều không thể hiểu được, đối với một người Do-thái, là Đức Giê-su đã có thể tự xưng mình là Con Thiên Chúa.  Điều nầy đương nhiên đụng chạm đến sự nhạy cảm của ông, đụng chạm đến văn hóa độc thần giáo thâm sâu của ông. Con người Giê-su tự cho mình là người được Thiên Chúa sai đến, thân cận với Thiên Chúa, đến từ phía Thiên Chúa, tự cho mình là người phát ngôn viên của Thiên Chúa; đã bị đóng đinh thập tự giá bởi vì đã phạm thượng. Và Thiên Chúa đã không cứu hắn khỏi cái chết, Thiên Chúa để hắn bị diệt vong. Không thể nào chịu được khi nghe dân chúng ca tụng hắn là Con Thiên Chúa, trái nghịch với truyền thống Do-thái, trái nghịch với sự việc hiển nhiên, bởi vì Thiên Chúa đã để cho hắn phải chết.  Không phải vì lý do tầm thường mà Phao-lô đuổi theo các Ki-tô hữu nhưng bởi vì, trong tinh thần Do thái của ông, hình ảnh mà Đức Giê-su nói về Thiên Chúa là hình ảnh sai lạc và cần phải tẩy trừ hình ảnh đó và tẩy trừ tất cả những ai phát tán hình ảnh đó.  Như vậy là do lòng đạo đức sâu xa nung nấu, ông nhiệt thành không thể tưởng tượng được (x. Cv 9,1-2), đặt ông bảo vệ Do-thái giáo cách nghiêm khắc, và chúng ta gặp ở cuối chương 9 nầy khi Phao-lô, vừa mới trở lại, ngay sau khi gặp Đức Giê-su, tức thì ông khởi sự loan báo khắp nơi, trước tiên nơi các hội đường Do-thái (x. Cv 9,20-22), rằng Đức Giê-su chính thật là Con Thiên Chúa: cùng một nhiệt huyết như vậy.

 Người ta có thể nói nhiều về nhân cách của Phao-lô.  Đó là con người phong phú và dĩ nhiên là đa phức, một con người hấp dẫn và gây xáo trộn, nhất là trong một vài điểm quá khích.  Nhiệt huyết của ông thật đáng khâm phục; cho thấy đó là con người có xác tín, nhưng cụ thể, trong chủ nghĩa hoạt động tự do: đối với ông cần phải làm một điều gì đó chống đối hay ủng hộ…  Một con người là và sẽ còn là một nhà lãnh đạo, sử dụng mạnh mẽ quyền bính của mình.  Người ta thấy rõ làm thế nào ông tự cho mình sứ vụ và ông tự quyết định thi hành sứ vụ đó cách chính xác và cương nghị.  Một khi đã trở thành tông đồ ông tiếp tục sử dụng uy quyền đó, dứt khoát trong sinh hoạt của cộng đoàn, thực thi một sự biện phân nghiêm khắc, không khoan nhượng những gì mà những người khác có thể coi là loan báo Tin Mừng, bằng cách nói những sự việc khác với những gì ông nói.  Phao-lô tranh luận gay gắt với “những tin mừng gia”, họ rao giảng Chúa Ki-tô nhưng ông cho là sai lạc, ông cho họ đã làm sai lạc Lời của Thiên Chúa bởi vì, chắc hẳn, họ còn quá tùy thuộc vào đạo Do thái cũ và quá coi trọng Luật hơn là hoạt động của Thánh Thần; đối với họ, Phao-lô có những lời nói quá cứng rắn.

 Một nét khác nơi tính cách của Phao-lô gây ấn tượng, đó là sự gắn bó với một số nhân vật và với những cộng đoàn mà ông thiết lập, sứ gắn bó thiết thân có phần muốn chiếm đoạt.  Đó là những cộng đoàn “thuộc về ông” và ông không muốn cho ai khác canh tác trên phần đất đó, nhất là để gieo rắc những tư tưởng sai lạc; nơi ông có khía cạnh độc chiếm.  Phao-lô sẽ nói với dân Cô-rin-tô rằng, cho dù họ có nhiều người rao giảng tin mừng, nhiều nhà sư phạm, họ cũng chỉ có một cha: chính là Phao-lô.  Ông sẽ nói với dân Phi-líp-phê, nhiều lần rằng: “Hãy bắt chước tôi, như tôi đã bắt chước Chúa Giê-su Ki-tô”.  Vừa thật đẹp và vừa thật đòi hỏi, và Thiên Chúa biết rằng ông đã sống như vậy như là một sự bó buộc, tuy nhiên đồng thời có chút gì đó kiêu kỳ!  Cảm nghiệm được nơi Phao-lô có một sự pha trộn phức tạp.  Ông biết mình có giới hạn, ông nhận ra điều đó, thỉnh thoảng quá nhiều, đan cử, ông thêm lên những giới hạn để bộc lộ ra sức mạnh của ân sủng. Như vậy có sự khiêm hạ và, đồng thời có chút tự hào và một khả năng khi trình bày những ưu điểm của ông.  Cho người ta cảm tưởng ông luôn luôn có xung khắc nơi chính mình giữa những xác tín là của ông, mà ông kiên trì bảo vệ và làm cho ông tự hào, và ý thức sâu xa rằng sức mạnh này ông đã nhận được  như một ân huệ.  Trong Thư 1 Cô-rin-tô, ông đề cập đến vấn đề sống lại của những kẻ chết và trước hết là sự sống lại của Chúa Giê-su Kitô; ông khẳng định Chúa Giê-su thật sự đã sống lại; “Chúa đã hiện ra cho Gia-cô-bê, rồi cho các tông đồ.  Cuối cùng Chúa đã hiện ra với tôi, một đứa con đẻ non.  Vì tôi hèn kém nhất trong các tông đồ (sự khiêm hạ), tôi không xứng đáng được gọi là tông đồ, bởi vì tôi đã bắt bớ Hội Thánh của Chúa.  Nhưng tôi được thế này là nhờ ơn Thiên Chúa  và ân sủng của Người đã không vô ích cho tôi.  Trái lại, tôi làm việc hơn tất cả ai khác; không phải tôi mà ân sủng của Chúa ở với tôi” (1 Cr 15, 7-10).  Thật đáng khâm phục những đan quyện vào nhau giữa niềm xác tín có được những năng khiếu cần sinh phúc lợi, và đồng thời xác tín những năng khiếu đó do bởi ân sủng Chúa ban, mặc dầu vậy tất cả không phải là vô ích.  Tất cả cho chúng ta một cái nhìn về con người của Phao-lô.

 Trên bình diện nhân cách, sau khi gặp gỡ với Chúa Giê-su trên đường Đa-mát, Phao-lô vẫn như trước đây, với tất cả ưu và khuyết điểm; bây giờ tất cả dành để phục vụ Chúa Giê-su mà ông đã chiến đấu, Phao-lô đặt các năng khiếu của ông, với sự khác biệt đáng kể: với tư cách là pha-ri-sêu, ông cống hiến cho sự vâng lời tỉ mỉ đối với lề luật, những công sức, từ nay ông đón nhận chúng như quà tặng của Thiên Chúa, như ân huệ mà ông tạ ơn Thiên Chúa và làm cho người khác nhận ra.

 Để minh họa điều đó, để không phải là tôi nói mà Phao-lô nói với chúng ta, xin đọc lại ba bản văn, hai bản trích từ Thư 2 Cô-rin-tô và một từ Thư Phi-líp-phê, người ta gặp thấy sự phức tạp: cùng một lúc, ông nhận thấy những gì ông đã lãnh nhận, ông nói điều đó không là gì cả so với điều ông đã khám phá ra với Chúa Ki-tô, và đồng thời ông đầu tư tất cả vào việc tông đồ và vào đời sống thiêng liêng của ông.  Thư 2 Cô-rin-tô hoàn toàn là một lời biện hộ: ông đã hứa với tin hữu Cô-rin-tô tới thăm viếng họ và ông đã hoãn lại cuộc hành trình lần nầy lần khác, đến nỗi họ nói: “Ngài coi thường chúng tôi?  Có thì nói có, hay có lại là không?”.  Phao-lô không thích và cố gắng thuyết phục dân Cô-rin-tô về sự thành tâm và sự trung tín của ông dưới sự thúc đẩy của Thần khí và của Lời Chúa; từ khía cạnh có tính biện hộ của thư nầy cho chúng ta thấy chính xác về con người của Phao-lô.

 Trước hết 2Cr 4, 1-16: “1 Bởi thế, vì Thiên Chúa đoái thương giao cho chúng tôi công việc phục vụ, nên chúng tôi không sờn lòng nản chí. 2 Trái lại, chúng tôi khước từ những cách hành động ám muội, đáng xấu hổ, và không dùng mưu mô mà xử trí, cũng chẳng xuyên tạc lời Thiên Chúa; nhưng chúng tôi giãi bày sự thật, và bằng cách đó, chúng tôi để cho lương tâm mọi người phê phán trước mặt Thiên Chúa. 3 Tin Mừng chúng tôi rao giảng có bị che khuất, thì chỉ bị che khuất đối với những người hư mất, 4 đối với những kẻ không tin. Họ không tin, vì tên ác thần của đời này đã làm cho tâm trí họ ra mù quáng, khiến họ không thấy bừng sáng lên Tin Mừng nói về vinh quang của Đức Ki-tô, là hình ảnh Thiên Chúa. 5 Bởi chúng tôi không rao giảng chính mình, mà chỉ rao giảng Đức Ki-tô Giê-su là Chúa; còn chúng tôi, chúng tôi chỉ là tôi tớ của anh em, vì Đức Giê-su. 6 Quả thật, xưa Thiên Chúa đã phán: Ánh sáng hãy bừng lên từ nơi tối tăm! Người cũng làm cho ánh sáng chiếu soi lòng trí chúng tôi, để tỏ bày cho thiên hạ được biết vinh quang của Thiên Chúa rạng ngời trên gương mặt Đức Ki-tô. 7 Nhưng kho tàng ấy, chúng tôi lại chứa đựng trong những bình sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi. 8 Chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng; 9 bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt. 10 Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giê-su, để sự sống của Đức Giê-su cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi. 11 Thật vậy, tuy sống, chúng tôi hằng bị cái chết đe doạ vì Đức Giê-su, để sự sống của Đức Giê-su cũng được biểu lộ nơi thân xác phải chết của chúng tôi. 12 Như thế, sự chết hoạt động nơi chúng tôi, còn sự sống thì lại hoạt động nơi anh em.

13 Vì có được cùng một lòng tin, như đã chép: Tôi đã tin, nên tôi mới nói, thì chúng tôi cũng tin, nên chúng tôi mới nói”.

 Do lòng thương xót mà Phao-lô thi hành thừa tác vụ này.  Ông thi hành tác vụ trong phục vụ chân lý.  Không phải với danh nghĩa của mình mà ông nói nhưng với danh nghĩa của Đấng Khác mà ông là đầy tớ. Từ Đấng Khác đó, ông chia sẻ sự sống và sự hấp hối.  Và điều ông nói bám rễ sâu trong đức tin vững vàng được nuôi sống bằng tương giao với Đức Ki-tô.

 Cũng trong Thư nầy, ở chương 11, luôn luôn với giọng điệu bào chữa, Phao-lô rõ ràng nổi nóng bởi vì người ta đối lập ông với những người khác, những người nầy xem ra dễ vận hành hơn ông:  điều gì họ nói, họ đều làm, trong khi đó Phao-lô xem ra không thực hiện điều mình nói; và điều đó làm Phao-lô thịnh nộ và tự biện hộ:

 1 Phải chi anh em chịu đựng được một chút điên rồ của tôi! Mà hẳn anh em chịu đựng được tôi. 2 Thật thế, vì anh em, tôi ghen cái ghen của Thiên Chúa, bởi tôi đã đính hôn anh em với một người độc nhất là Đức Ki-tô, để tiến dâng anh em cho Người như một trinh nữ thanh khiết. 3 Nhưng tôi sợ rằng như xưa con rắn đã dùng mưu chước mà lừa dối bà E-và thế nào, thì nay trí lòng anh em cũng dần dần đâm ra hư hỏng, mất sự đơn sơ đối với Đức Ki-tô như vậy. 4 Quả thật, nếu có ai đến rao giảng một Đức Giê-su khác với Đức Giê-su mà chúng tôi rao giảng, hay nếu anh em lãnh nhận một Thần Khí nào khác với Thần Khí anh em đã lãnh nhận, hoặc nếu anh em lãnh nhận một Tin Mừng nào khác với Tin Mừng anh em đã đón nhận, thì anh em sẵn lòng chịu đựng được ngay. 5 Tôi nghĩ rằng tôi chẳng có thua gì các Tông Đồ siêu đẳng kia. 6 Giả như tôi có thua kém về khoa ăn nói, thì về sự hiểu biết, tôi chẳng thua kém đâu! Trong mọi dịp và trước mặt mọi người, chúng tôi đã tỏ cho anh em thấy điều đó rồi.

7 Phải chăng tôi có lỗi, vì đã hạ mình xuống để tôn anh em lên, khi rao giảng không công cho anh em Tin Mừng của Thiên Chúa? 8 Tôi đã bóc lột các Hội Thánh khác, ăn lương của họ, để phục vụ anh em. 9 Hồi ở giữa anh em, những khi lâm cảnh túng thiếu, tôi đã chẳng phiền luỵ ai, bởi vì các anh em từ Ma-kê-đô-ni-a đến đã cung cấp đầy đủ những gì tôi cần. Trong mọi dịp, tôi đã tránh không trở nên gánh nặng cho anh em, và tôi cũng sẽ còn tránh như vậy. 10 Nhân danh chân lý của Đức Ki-tô ở trong tôi, tôi xin nói với anh em rằng: chẳng ai cấm được tôi có niềm vinh dự đó trong các miền xứ A-khai-a. 11 Tại sao thế? Có phải vì tôi không yêu mến anh em chăng? Có Thiên Chúa biết!

12 Điều tôi làm, tôi sẽ tiếp tục làm, để những kẻ muốn có cơ hội tự phụ là những người ngang hàng với chúng tôi, không còn cơ hội đó nữa. 13 Vì những kẻ đó là tông đồ giả, là thợ gian xảo, đội lốt tông đồ của Đức Ki-tô. 14 Lạ gì đâu! Vì chính Xa-tan cũng đội lốt thiên thần sáng láng! 15 Vậy có gì là khác thường khi kẻ phục vụ nó đội lốt người phục vụ sự công chính. Chung cục, chúng sẽ lãnh nhận hậu quả công việc chúng đã làm. 16 Tôi xin nói lại: đừng ai tưởng là tôi điên. Mà có ai tưởng như thế, thì cứ nhận tôi là điên, để tôi cũng được tự hào đôi chút. 17 Điều tôi đang nói, tôi không nói theo tinh thần của Chúa, nhưng nói như một người điên, bởi tin chắc rằng mình có lý để tự hào. 18 Vì có lắm kẻ tự hào theo tính xác thịt, thì tôi đây, tôi cũng tự hào. 19 Vốn là người khôn, anh em lại sẵn lòng chịu đựng kẻ điên! 20 Phải rồi, anh em đành chịu người ta áp chế, cấu xé, tước đoạt, đối xử ngạo ngược và tát vào mặt! 21 Tôi nói thế, thật là nhục nhã, như thể chúng tôi đã tỏ ra nhu nhược. . .

22 Họ là người Híp-ri ư? Tôi cũng vậy! Họ là người Ít-ra-en ư? Tôi cũng vậy! Họ là dòng giống Áp-ra-ham ư? Tôi cũng vậy! 23 Họ là người phục vụ Đức Ki-tô ư? Tôi nói như người điên: tôi còn hơn họ nữa! Hơn nhiều vì công khó, hơn nhiều vì ở tù, hơn gấp bội vì chịu đòn, bao lần suýt chết” (2Cr 11, 1-23).

 Rồi Phaol-lô nêu ra tất cả những gian truân mà ông đã chịu:  “Một lần bị ném đá, ba lần đắm tàu…” (2Cr 11, 25).  Cuối cùng ông  ám chỉ đến những gì xảy ra tại Đa-mát: “Thiên Chúa, Đấng đáng chúc tụng muôn đời, là Cha của Chúa Giê-su, biết rằng tôi không nói dối.  Tại Đa-mát, tổng đốc của Vua A-rê-ta đã cho lính canh gác thành để bắt tôi.  Nhưng người ta đã cho tôi vào một cái thúng, rồi thòng qua cửa sổ dọc theo tường thành.  Thế là tôi thoát khỏi tay ông ta” (2Cr 11, 31-33).  Ám chỉ đến những gì xảy ra cho ông tại Đa-mát để minh chứng điều ông nói ở trên : ông bị đuổi bắt mà chưa bị tóm cổ.  Phao-lô không muốn vênh vang, ông cho rằng điều đó là điên rồ, nhưng ông vẫn làm, lịch sử cho thấy ông so tài với những kẻ khác, lịch sử khẳng định uy quyền của ông, tỏ ra rằng Chúa Ki-tô biểu hiện nơi ông sức mạnh của Người.

 Thêm vào hai bản văn nầy là bản văn trích từ Thư Phi-líp-phê: “1 Vả lại, thưa anh em, anh em hãy vui mừng vì Chúa. Viết đi viết lại cho anh em cũng bấy nhiêu điều, đối với tôi không phải là một gánh nặng, còn đối với anh em thì đó lại là một bảo đảm. 2 Anh em hãy coi chừng quân chó má! Hãy coi chừng bọn thợ xấu! Hãy coi chừng những kẻ giả danh cắt bì! 3 Vì chúng ta mới thật là những người được cắt bì, những người thờ phượng Thiên Chúa nhờ Thần Khí của Người, những người hiên ngang hãnh diện vì Đức Ki-tô Giê-su, chứ không cậy vào xác thịt, 4 mặc dầu tôi đây, tôi có lý do để cậy vào xác thịt. Nếu ai khác có lý do để cậy vào xác thịt, thì tôi càng có lý do hơn: 5 tôi chịu cắt bì ngày thứ tám, thuộc dòng dõi Ít-ra-en, họ Ben-gia-min, là người Híp-ri, con của người Híp-ri; giữ luật thì đúng như một người Pha-ri-sêu; 6 nhiệt thành đến mức ngược đãi Hội Thánh; còn sống công chính theo Lề Luật, thì chẳng ai trách được tôi. 7 Nhưng, những gì xưa kia tôi cho là có lợi, thì nay, vì Đức Ki-tô, tôi cho là thiệt thòi. 8 Hơn nữa, tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Ki-tô 9 và được kết hợp với Người. Được như vậy, không phải nhờ sự công chính của tôi, sự công chính do luật Mô-sê đem lại, nhưng nhờ sự công chính do lòng tin vào Đức Ki-tô, tức là sự công chính do Thiên Chúa ban, dựa trên lòng tin. 10 Vấn đề là được biết chính Đức Ki-tô, nhất là biết Người quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh, cùng được thông phần những đau khổ của Người, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người, 11 với hy vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cõi chết. 12 Nói thế, không phải là tôi đã đoạt giải, hay đã nên hoàn thiện đâu; nhưng tôi đang cố gắng chạy tới, mong chiếm đoạt, bởi lẽ chính tôi đã được Đức Ki-tô Giê-su chiếm đoạt. 13 Thưa anh em, tôi không nghĩ mình đã chiếm được rồi. Tôi chỉ chú ý đến một điều, là quên đi chặng đường đã qua, để lao mình về phía trước. 14 Tôi chạy thẳng tới đích, để chiếm được phần thưởng từ trời cao Thiên Chúa dành cho kẻ được Người kêu gọi trong Đức Ki-tô Giê-su. 15 Vậy tất cả chúng ta là những người hoàn thiện, chúng ta hãy nghĩ như vậy; và giả như có điểm nào anh em nghĩ khác, thì Thiên Chúa sẽ mặc khải cho anh em. 16 Song, dù đạt tới đâu đi nữa, chúng ta cũng cứ theo hướng ấy mà đi.

17 Thưa anh em, xin hãy cùng nhau bắt chước tôi, và chăm chú nhìn vào những ai sống theo gương chúng tôi để lại cho anh em. 18 Vì, như tôi đã nói với anh em nhiều lần, và bây giờ tôi phải khóc mà nói lại, có nhiều người sống đối nghịch với thập giá Đức Ki-tô: 19 chung cục là họ sẽ phải hư vong. Chúa họ thờ là cái bụng, và cái họ lấy làm vinh quang lại là cái đáng hổ thẹn. Họ là những người chỉ nghĩ đến những sự thế gian. 20 Còn chúng ta, quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giê-su Ki-tô từ trời đến cứu chúng ta. 21 Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người. (Chương 4) 1 Bởi vậy, hỡi anh em thân mến lòng tôi hằng tưởng nhớ, anh em là niềm vui, là vinh dự của tôi. Anh em rất thân mến, anh em hãy kết hợp với Chúa mà sống vững vàng như vậy” (Pl 3,1 – 4,1).

 Đó là sự cô đọng kinh nghiệm thâm sâu của Phao-lô: tất cả những gì ông lấy làm vinh vang trước đây bởi vì ông coi đó là thành quả do những cố gắng và do công lao của riêng mình, xuất hiện ra cho ông như là vô giá trị so với sự hiểu biết về Chúa Giê-su, Đấng mang lại cho ông sự sống và niềm hy vọng vào sự phục sinh.  Và dù vậy mặc lòng tất cả những tài năng của ông, một cách nào đó, được tái đầu tư trong công cuộc truyền giáo của ông, tái đầu tư trong đời sống thiêng liêng của ông.  Chính với tất cả tài năng đó mà ông theo đuổi con đường của ông vì sự cứu độ của riêng mình và để xây dựng những người khác đến độ mời gọi họ sống bắt chước theo gương của ông.

 Chúng ta có thể dùng những bản văn nầy để suy niệm.  chúng rất Phao-lô, chúng nói cho chúng ta biết rõ về Phao-lô, trong thừa tác vụ của ông, ông đã luôn luôn cố gắng làm hòa lại với lương tâm sắc bén mà ông có do những khả năng, những phương tiện, những năng khiếu, và sự thật tất cả được trao ban cho ông, ông sử dụng tất cả những gì được trao ban cho ông và ông  lên tiếng tạ ơn Thiên Chúa và nói cho mọi người khác biết điều đó.

 Đó là nhân cách của Phao-lô.  Sau khi bỏ chút thời gian tìm hiểu về ông, ngạc nhiên về những điều huyền diệu bằng cách đọc lại các bản văn, chúng ta có thể tìm thấy nơi đó một tinh thần sâu sắc, một lời mời gọi nhìn trực diện vào nhân tính riêng biệt của chúng ta để đảm nhận lấy nó, kéo ra phần lợi, đón nhận nhân tính đó như một ân huệ. Về những gì Phao-lô nói với chúng ta , những gì ông trình bày cho chúng ta thấy về ông, chúng ta có thể rút ra ba lời kêu gọi: lời kêu gọi đầu tiên là đón nhận chúng ta, chúng ta như thế nào thì đón nhận thế ấy.  Ngược lại, người ta thường cho rằng không phải là hiển nhiên để đón nhận chính mình; thường xảy ra là không chịu đựng nổi chính mình, không chấp nhận chính mình và cách riêng người ta không chấp nhận giới hạn của mình, người ta tự ty mặc cảm …  Dù vậy mặc lòng cần phải đón nhận chính mình.  Tôi tìm thấy câu nầy của triết gia Guy Coq: “Chỉ những ai biết đón nhận chính mình mới có thể đón nhận tha nhân và Thiên Chúa.  Chỉ thái độ đó mới có thể làm cho đức tin hình thành vì đức tin mặc nhiên bao hàm sự đồng thuận với Đấng sáng tạo nên sự sống như một ân huệ”.

 Thật vậy, quan trọng là biết chấp nhận mình, kể cả những giới hạn và những giới hạn đó lớn lên theo tuổi tác, ngay cả có thể được bù đắp bằng những tài năng mới.  Điều đó là quan trọng bởi vì sự sống của chúng ta, nhân tính của chúng ta, nhân cách của chúng ta trước hết là một dữ kiện: nó như thế nào, cần phải sử dụng như vậy; đó là chủ  nghĩa hiện thực đơn giản.  Tuy nhiên đối với chúng ta là Ki-tô hữu, nhân cách của chúng ta, nhân tính của chúng ta, không phải chỉ là dữ kiện mà thôi, nhưng đó còn là ân sủng.  Nhân tính nầy chính Chúa ban cho chúng ta, ngay cả khi chúng ta cống hiến công sức để làm cho nó thăng hoa, cũng có lúc làm cho nó ra dị dạng.  Chính Đức Chúa, xét trong căn bản, đã trao ban cho chúng ta; chính nhờ Người mà chúng ta được như chúng ta hôm nay.  Chúng ta cần học biết ngạc nhiên về điều Người đã làm cho chúng ta.  Thỉnh thoảng chúng ta hứng khởi ngạc nhiên về những gì Người làm nơi những người khác, hơn là ngạc nhiên về điều Người làm nơi chúng ta, cho chúng ta.  Không có lý do nào để đào thoát cuộc sống chúng ta.  Như vậy cần phải chấp nhận những giới hạn của chúng ta…  Đó là lời kêu gọi đầu tiên gói trọn nơi chứng tá của Phao-lô.

 Lời kêu gọi thứ hai là lời kêu gọi tạ ơn, trung thành với những gì chúng ta đọc nơi Phao-lô, sau biến cố Đa-mát, là khả năng đón nhận như một quà tặng và chứ không phải trước tiên như kết quả của những cố gắng riêng tư về điều ông sống, sống thiện và sống tốt lành.  Tổng giám mục ưu tú địa phận Strasbourg.  Đức Cha Joseph Doré, viết tác phẩm: “Ân huệ sống”.  Sống là một ân huệ, như vậy cần phải đón nhận trong hành động tạ ơn, là nam hay nữ, chúng ta đang trở nên như thế, ngay cả tuổi tác và những gì khác mà chúng ta đánh mất những khả năng đã có, điều đó không loại bỏ chúng ta phát triển thêm những khả năng khác.  Để tạ ơn, cần phải “đọc lại” cuộc sống của Phao-lô, như Phao-lô thường làm trong các Thư.  Người ta có cảm tưởng (điều này đi đôi với ‘hãy bắt chước tôi’) ông phô trương, đề cao mình; không phải để lên mặt, nhưng bởi vì biết những gì Đức Chúa đã làm cho ông, ông muốn làm chứng cho người khác để xây dựng họ.  Có phải chúng ta biết đọc lại đời sống của chúng ta để biện phân ân huệ của Chúa Kit-tô và Thần Khí đang hoạt động không?  Ân huệ ấy, một khi chúng ta nhận ra, có phải chúng ta biết trao trả lại cho Thiên Chúa và biến thành phúc lợi cho người khác không?

 Sinh phúc lợi, là lời kêu gọi cuối cùng.  Ân huệ mà chúng ta lãnh nhận, (món quà được trao ban), nhưng ân huệ đó được ban tặng chúng ta là để xây dựng cho tất cả.  Thuật ngữ thường được Phao-lô sử dụng, nhất là trong Thư 1 Cô-rin-tô, trong văn mạch nói về các đặc sủng: Các đặc sủng là những ân huệ, những phước lộc được ban cho chúng ta để xây dựng cộng đoàn, để xây dựng tha nhân.  Những ân huệ đó tốt cho chúng ta, nhưng cũng làm tốt cho tha nhân.  Chúng ta cần phải sinh phúc lợi những nén vàng nầy, dùng chúng để phục vụ người khác bởi vì, như mọi tạo thành khác, chúng ta là những quản gia: chúng ta là những quản gia của chính mình, chỉ đơn giản là những quản gia chứ không  phải là chủ sở hữu; chúng ta phải tính sổ và phải làm lợi cho kẻ khác, không phô trương, không quảng cáo, nhưng trong chân lý và trong khiêm hạ.

 Nếu bạn muốn suy niệm sâu xa trong kinh nguyện dựa vào những bài Thánh vịnh, xin nêu lên ba Thánh vịnh: Tv 9, Tv 38, Tv 61.  Điều gây ngạc nhiên khi đọc những Thánh vịnh nầy đó là sự nhấn mạnh đến tính mỏng giòn của con người.  Chúng ta gặp thấy những thuật ngữ: “Con người chỉ là hơi thở”.  Trước mắt Thiên Chúa con người chỉ là hơi thở, không giá trị gì.  Và nơi khác: “Con người được tạo dựng kém thiên sứ một mảy may, được ban vinh quang và danh dự”.  Cả hai đều đúng: chúng ta nhỏ bé, chúng ta yếu đuối, cần phải ý thức như vậy; nhưng đồng thời được Thần Khí linh hoạt, chúng ta thuộc về Thiên Chúa, có mối liên hệ với Thiên Chúa, được kêu gọi tham dự vào sự sống của Người; đó là nhân tính của chúng ta.  Chính nhân tính nầy cần được  đón nhận, tạ ơn và làm cho sinh lợi.

 Lm Nguyễn Quang Vinh chuyển ngữ

 

About these ads
%d bloggers like this: