HỌC HỎI THÁNH PHAOLÔ (4): NGàQUỴ

Lm Dubreuil

Lourdes 2010

Bài số 3

 NGÃ QUỴ

 Phao-lô dấn bước trên đường Đa-mát với một chương trình định sẵn trong đầu, tiếp tục công việc mà ông đã khởi sự tại Giê-ru-sa-lem: bắt bỏ tù các Ki-tô hữu, không phải vì những lý do tầm thường nhưng bởi vì những Ki-tô hữu đó có đức tin mới mẻ và nhìn nhận Thiên Chúa nơi Đức Ki-tô bị đóng đinh, xem ra nguy hiểm chết người đối với đức tin của người Do thái. Cuộc gặp gỡ xảy ra trên đường.  Thử đi vào kinh nghiệm thiêng liêng mà cuộc gặp gỡ nầy mô tả cho chúng ta để chiếm hữu lấy nó.

 “ Vậy đang khi ông đi đường và đến gần Đa-mát, thì bỗng nhiên có một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao phủ lấy ông.  Ông ngã xuống đất và nghe có tiếng nói với ông: Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta?”  Ông nói: “Thưa Ngài, Ngài là ai?  Người đáp: “Ta là Giê-su mà ngươi đang bắt bớ.  Nhưng ngươi hãy đứng dậy, vào thành và người ta sẽ nói cho ngươi biết ngươi phải làm gì”.  Những người cùng đi với ông dừng lại, sững sờ: họ nghe có tiếng nói, nhưng không trông thấy ai.” (Cv 9, 3-7).

 Thử diễn tả lại bài tường thuật nầy cách tổng quát, với sự năng động, trong khi thấy những gì bài tường thuật nói với chúng ta về Thiên Chúa và về thái độ của con người đứng trước Thiên Chúa.  Phao-lô luôn luôn  đòi cho mình danh hiệu tông đồ của Chúa Giê-su, đồng tước hiệu với những người đã đồng hành với Chúa Giê-su trên các con đường Pa-lét-tinh.  Không phải hoàn toàn như vậy vì, vào một lúc nào đó, Phao-lô tới tham khảo ý kiến các tông đồ, nhóm Mười hai (những người được Chúa Giê-su quy tụ quanh Người, và là bạn đồng hành với Người), để minh xác Tin Mừng của ông.  Phao-lô tự coi mình là tông đồ, ông cũng đã thấy Đức Chúa.  Khi ông nói ông thấy Đức Chúa, ông quy chiếu về những gì đã xảy ra trên đường Đa-mát.

 Cuộc gặp gỡ giữa Sao-lê và Chúa Giê-su trên đường Đa-mát thật ra không so sánh được với những cuộc gặp gỡ mà Tin Mừng ghi lại, giữa một số người trong nhóm Mười hai và Chúa Giê-su phục sinh.  Trong những lần hiện ra đó, các tông đồ thấy rõ một nhân vật nào đó mà họ không nhận ra ngay từ đầu.  Một cách gợi ý rằng đúng là con người đó nhưng có điều gì khác hơn.  Có sự gặp gỡ, có việc nhận ra cách tiệm tiến căn cứ trên tình bạn hữu; thường là một bữa cơm dùng chung với nhau.  Ở đây, là một cuộc gặp gỡ giống hơn với điều trong Kinh thánh gọi là thần hiển, nghĩa là sự hiển linh của Thiên Chúa.  Trong Cựu Ước Thiên Chúa tỏ mình ra cho một vài ngôn sứ: trước tiên cho Mô-sê trong bụi gai đang bừng cháy rồi trên núi Hô-rép trước sự chứng kiến của toàn dân; Người đã hiện ra với Ê-li-a trên đỉnh núi trong gió hiu hiu,  Tin Mừng làm chứng cho chúng ta một cuộc thần hiển khác: Hiển dung trên núi, vào lúc đưa các môn đệ lên núi với mình, Phê-rô, Gia-cô-bê và Gioan, là những môn đệ thân tín nhất, Chúa Giê-su đã biến hình trước mặt các ông, Người trở nên sáng láng; các môn đệ đã cảm thấy, trải nghiệm về con người cùng đồng hành với mình là hơn cả một con người, Người đến từ Thiên Chúa, Người là Thiên Chúa.  Những gì xảy ra trên núi khi Biến hình có lợi cho Phê-rô, Gia-cô-bê và Gioan, rất giống với những gì xảy ra trên đường Đa-mát giữa Chúa Giê-su và Sao-lô.  Hoạt cảnh gặp gỡ giữa Chúa Giê-su và Sao-lô đưa chúng ta về một văn bản khác trong Cựu Ước tường thuật bụi gai cháy sáng với ơn gọi của Mô-sê (Xh 3).  Từ đó mời các bạn suy niệm, trong chút nữa đây, cùng đọc lại bản văn nầy.  Bạn sẽ tìm lại được những yếu tố của cuộc gặp gỡ tại Đa-mát: ánh sáng, sự cách biệt giữa Mô-sê là một thụ tạo và Thiên Chúa của ông hiện ra cho ông, lời kêu gọi ngỏ với Mô-sê và sứ mệnh được trao phó cho ông.  Những yếu tố nầy cho chúng ta thấy một điều mới lạ, một di chúc mới, một giao ước mới.  Từ bản văn nầy chảy ra biến cố ánh sáng, một kinh nghiệm sa ngã và lắng nghe tiếng nói phát ra.

 Cuộc gặp gỡ xảy ra trong ánh sáng.  Phao-lô đang hành trình cùng với các bạn đi Đa-mát, thì bị bao bọc trong ánh sáng.  Cần phải thẩm định tất cả ý nghĩa của thuật ngữ nầy.  Dưới góc nhìn nhân loại, ánh sáng chính là sự sống.  Khi có ánh sáng thì sự sống xuất hiện đẹp hơn lúc trời mưa, lúc trời xẩm tối.  Ánh sáng là chiến thắng trên đêm tối.  Ánh sáng cho phép nhận ra nhau.  Ánh sáng cũng là thi văn với trò chơi màu sắc.  Ánh sáng là tất cả những thứ đó.  Trong các lễ hội người ta sử dụng ánh sáng để bảo dưỡng khung cảnh của buổi lễ; điều nầy cũng thật đúng với ánh sáng của thánh Gio-an…  Nhưng ngày nay với tất cả những kỹ thuật hỏa pháo được sử dụng thì còn nhiều hơn thế nữa (nhìn vào Ti-vi pháo hoa Paris và tháp Eiffel rực sáng, rất thần tiên, tuyệt vời, ảo thuật).  Khi ánh sáng bùng phát bất ngờ, thì đó là ảo thuật.

 Đối với những tôn giáo sơ khai nhất, ánh sáng và tinh tú chiếu sáng trước tiên được coi như là “thần”.  Mặt trời là “thần”, bởi vì từ đó lan tỏa ra ánh sáng tràn ngập chúng ta.  Kinh thánh đã thừa hưởng truyền thống nầy, trừ việc coi ánh sáng là “Thiên Chúa”, chính đệ nhất tạo thành nầy là của Thiên Chúa: “Và Thiên Chúa  nói: ‘Hãy có ánh sáng! Và ánh sáng xuất hiện…  Đã có một buổi chiều và một buổi sáng, đó là ngày thứ nhất” (Kn 1, 3-5).  Ánh sáng gợi lên sự sống, nuôi dưỡng sự sống, làm phong phú sự sống.  Như vậy không phải ngạc nhiên khi cho rằng tất cả đều là biểu hiện của Thiên Chúa, tất cả thần hiển mà tôi nói lướt qua lúc nãy, là những biến cố của ánh sáng: bụi gai rực cháy, áng mây sáng ngời bao quanh núi Xi-nai và sau đó đồng hành với Dân trong suốt hành trình sa mạc, Chúa Giê-su tỏa sáng chói lọi trong Hiển dung trở nên trắng xóa.  Bởi vì ánh sáng biểu hiện cho sự sống và niềm vui, bởi vì ánh sáng là chiến thắng trên bóng tối và uông mang, ánh sáng là dấu hiệu sự hiện diện của Thiên Chúa.  Ánh sáng cho phép thấy, nhưng cũng làm cho mù mắt, người ta không thể nhìn trực tiếp ánh sáng.

 Thật không lấy gì làm ngạc nhiên, trong truyền thống Kinh thánh, ơn cứu độ được  trình bày như là chiến thắng của ánh sáng trên bóng tối: “Ánh sáng ở trong thế gian và đêm tối đã không tiếp nhận ánh sáng” (x. Ga 1, 5).  Thánh Gio-an nhấn mạnh nhiều nhất đến ánh sáng và cuộc chiến thắng của ánh sáng chống lại bóng tối.  Tuy nhiên việc nhấn mạnh đến ánh sáng hiện diện trong suốt các trang Kinh thánh và trong suốt Tân Ước.  Thánh Phao-lô cũng nói đến ánh sáng, bởi vì sự đột nhập ánh sáng là yếu tố thứ nhất trong cuộc gặp gỡ giữa ngài và Chúa Giê-su.  Phao-lô đồng nhất ánh sáng với vinh quang Thiên Chúa.  Hạn từ vinh quang có thể gợi lên trong tâm trí chúng ta cách tệ hại một chút gì đó tự kiêu vạt vãnh!  Từ ngữ vinh quang  quy chiếu có tính cách thực hành của người Rô-ma về sự khải hoàn đối với những ai đã đem lại chiến thắng lẫy lừng: có khải hoàn, có sự biểu dương ngoạn mục, để đánh dấu chiến thắng nầy, thật sự có chè chén hoan lạc tràn ngập ánh sáng vào thời đại mà người ta có thể sắm được.  Chính hình ảnh vinh quang nầy, Phao-lô đã nhiều lần sử dụng để minh chứng làm thế nào Chúa Giê-su tham dự vào vinh quang của Thiên Chúa, làm thế nào Người là ánh sáng như Thiên Chúa là ánh sáng, và làm thế nào Người cho trở nên ánh sáng những ai chấp nhận làm môn đệ của Người, tiến bước theo Người.

 Trong chương thứ ba của Thư thứ 2 Co-rin-tô gợi lại chính vinh quang nầy của Thiên Chúa, ánh sáng từ Thiên Chúa và từ Chúa Giê-su, từ Con Thiên Chúa được tỏa sáng ra.  Thánh Phao-lô ngỏ lời với tín hữu Cô-rin-tô, cố gắng giải thích cho họ không phải ngài thiếu ngôn từ hoặc quên mất họ mà ngài không đến thăm họ, nhưng vì ngài đã không thể làm được:

 “Phải chăng chúng tôi lại bắt đầu tự giới thiệu mình?  Hoặc chẳng lẽ, như vài người, chúng tôi lại cần có thư giới thiệu chúng tôi với anh em, hoặc thư của anh em giới thiệu chúng tôi?  Thư giới thiệu chúng tôi là chính anh em.  Thư ấy viết trong tâm hồn chúng tôi, mọi người đều biết và đã đọc.  Rõ ràng anh em là bức thư của Đức Ki-tô được giao cho chúng tôi viết, không phải viết bằng mực đen, nhưng bằng Thần Khí  của Thiên Chúa hằng sống, không phải ghi trên những tấm bia bằng đá, nhưng trên những tấm bia bằng thịt, tức là lòng người.

 Nhờ Đức Ki-tô, chúng tôi dám tin tưởng vào Thiên Chúa như vậy.  Không phải vì tự chúng tôi, chúng tôi có khả năng để nghĩ rằng mình làm được gì, nhưng khả năng của chúng tôi là do ơn Thiên Chúa, Đấng ban cho chúng tôi khả năng phục vụ Giao Ước Mới, không phải Giao Ước căn cứ trên chữ viết, nhưng dựa vào Thần Khí.  Vì chữ viết thì giết chết, còn Thần Khí mới ban sống.  Nếu việc phục vụ Lề Luật – thứ Lề Luật chỉ đưa đến sự chết và được khắc ghi từng chữ trên những bia đá – mà được vinh quang đến nỗi dân ít-ra-en không thể nhìn mặt  ông Mô-sê được, vì mặt ông chói lọi vinh quang – dù đó chỉ là vinh quang chóng qua – thì việc phục vụ Thần Khí lại không được vinh quang hơn sao?  Vì việc phục vụ án chết mà còn được vinh quang như thế, thì việc phục vụ đức công chính lại chẳng vinh quang lắm sao?  So với vinh quang tuyệt vời này, thì vinh quang xưa kia chẳng vinh quang gì.

 Thật vậy, nếu cái chóng qua mà còn được vinh quang, thì cái còn mãi lại chẳng vinh quang hơn sao?  Vì có một niềm hy vọng như thế mà chúng ta thật vững dạ an lòng. Chúng ta không làm như ông Mô-sê lấy màn che để dân Ít-ra-en khỏi thấy, khi nào cái chóng qua kia chấm dứt.  Nhưng trí họ đã ra mê muội.  Thật vậy, cho đến ngày nay, khi họ đọc Cựu Ước, tấm màn ấy vẫn còn, chưa được vén lên, vì chỉ trong Đức Ki-tô, tấm màn ấy mới được vứt bỏ.  Phải cho đến nay, mỗi khi họ đọc sách ông Mô-sê, tấm màn ấy vẫn che phủ lòng họ.  Nhưng khi người ta quay lại với Chúa, thì tấm màn mới được cất đi.  Chúa là Thần Khí, và ở đâu có Thần Khí của Chúa, thì ở đó có tự do.  Tất cả chúng ta, mặt không che màn, chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa như một bức gương; như vậy, chúng ta được biến đổi nên giống cũng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Chúa là Thần Khí.(2Cr 3, 1-18).

 Trích đoạn nầy quy chiếu việc ông Mô-sê, khi xuống núi với bia Luật, gương mặt ông tỏa sáng, bởi vì ông đã gặp Thiên Chúa – ánh sáng – và người ta không thể nhìn thẳng mặt ông được.  Và Phao-lô nói: nếu thật sự đối với ân huệ của Luật, Luật không bao giờ đủ để cứu độ con người vì Luật chỉ cho con người con đường phải theo tuy nhiên Luật không cho con người những phương tiện để theo đuổi con đường đó, hơn thế nữa ân sủng mà Chúa Giê-su ban là Thần Khí của Người  cho phép chúng ta đi vào trong vinh quang của Thiên Chúa, tham dự vào ánh sáng của Người, được thấy rõ ràng, được soi sáng nơi sâu thẳm tâm hồn chúng ta, được biến đổi theo hình ảnh của Người như thể phản chiếu ánh sáng của Người nơi thế gian.  Người ta có thể nghĩ rằng, khi Phao-lô viết những điều đó và những gì tiếp theo ở chương 4 (bạn có thể đọc tiếp tục), Phao-lô nghĩ đến cuộc mạo hiểm được trải nghiệm trên đường Đa-mát lúc đó ông được bao trùm bởi ánh sáng của Thiên Chúa, lúc đó ông được dìm vào mầu nhiệm của Thiên Chúa để có thể làm chứng về Người.

 Hiệu năng tức khắc của ánh sáng nầy thật kỳ lạ: bị chói lòa vì ánh sáng và đồng thời được tràn ngập bởi ánh sáng, Phao-lô ngã quỵ xuống đất.  Ngã quỵ đó là gì ?  Cú ngã đó đưa về tất cả những gì đã nói và đã được lặp lại trong Cựu Ước: Người ta không thể nhìn thấy Thiên Chúa mà không mất mạng bởi vì, đối diện với Thiên Chúa, con người không là gì cả, chỉ đơn thuần là một thụ tạo.  Tiếng nói xuất phát từ bụi gai bốc lửa nói với Mô-sê: “Coi chừng, đừng lại gần”.  Sự kiện ánh sáng tạo nên trước tiên cú ngã quỵ, biểu hiện sự cách biệt cố hữu giữa Thiên Chúa và con người.  Thật vậy, trong Chúa Giê-su, con người được kêu gọi tham dự vào sự sống của Thiên Chúa nhưng con người vẫn còn là con người, là thụ tạo, và nếu sự cách biệt nầy cho phép có mối liên hệ, làm cho mối tương quan có giá trị bởi vì, cho dù cách biệt, Thiên Chúa đến nối kết với con người và, trong Con của Người kết hiệp với thân phận con người.  Cú ngã quỵ gợi lại sự cách biệt cố hữu, vị thế của loài thọ tạo.  Đối diện với Thiên Chúa, Đấng là “Tất Cả”, con người chỉ là “không đáng gì”, điều nầy không ngăn cản Thiên Chúa đến nối kết với chúng ta và tham gia cuộc sống của chúng ta.

 Có điều quan trọng là các Ki-tô hữu đang tái khám phá: sự khám phá ra mầu nhiệm Nhập thể, nhân tính của Chúa Giê-su có thể dẫn dắt tới sự thân mật, được công chính hóa một cách nào đó, nhưng điều đó có thể dẫn tới cung cách hành xử đối với Thiên Chúa, đối diện với Thiên Chúa, giáp mặt với Chúa Giê-su trong sự thanh thản: luôn có cách để thu xếp với Người; chính vì như thế người ta mất đi cái nhìn về sự thánh thiện của Thiên Chúa, một Thiên Chúa ba lần thánh.  Nếu đứng trước Thiên Chúa ba lần thánh người ta kính bái, không phải Thiên Chúa muốn con người ra hèn mạt trước tôn nhan Người, nhưng điều Người muốn là con người đứng vào vị trí đúng đắn của mình, như một tạo vật đối diện với Đấng Tạo Hóa của mình.  Kinh nghiệm ngã ngựa sau khi tỏa sáng tái lập con người vào vị trí của mình, không để hạ thấp con người nhưng để chứng tỏ tất cả giá trị của Giao Ước, tất cả trọng lực tình yêu của Giao Ước, mà Giáo Ước đó đã dẫn Thiên Chúa vượt qua  sự cách biệt để bắt kịp con người nơi tầm vóc của nó.

 Có ánh sáng, có ngã quỵ.  Và có tiếng nói.  Tiếng nói, nói nhiều điều, chúng ta sẽ trở lại chuyện nầy.  Nếu sự kiện có tiếng nói là quan trọng, thì điều quan trọng nhất là Chúa chúng ta là Thiên Chúa biết nói năng, Người nói bởi vì Người đi vào đối thoại với chúng ta, bởi vì Người muốn biến chúng ta thành đối tác.  Hành động nói chuyện với chúng ta, sự kiện Thiên Chúa nói với chúng ta, có thể được xem là căn bản hơn điều Thiên Chúa nói ra.  Khi người ta đi vào đối thoại với một ai khác, chính là tìm kiếm họ, người ta muốn đi vào tình thân mật.  Điều nầy có nghĩa  đức tin của chúng ta, tin vào một Thiên Chúa đối thoại.  Tiếng nói kéo ánh sáng ra khỏi sự vô danh của nó. Ánh sáng lám chói lòa, chiếu sáng, hấp dẫn, thật kỳ lạ; tuy nhiên ánh sáng thì vô danh.  Tiếng nói chứng minh rằng người ta không chỉ đứng trước một biến cố, một sự năng động, nhưng trước một ai khác.  Để nói được, phải là một ai đó.  Thiên Chúa là một ngôi vị, một ai đó đang nói, một ai đó tìm nói chuyện với chúng ta, đang chờ đợi chúng ta đáp trả.  Đàng khác lời đầu tiên mà tiếng nói phát ra là một câu nghi vấn: “Tại sao ngươi bắt bớ Ta?”, sau đó Phao-lô đáp lại: “Nhưng Ngài là ai?”  Phao-lô được nhào nặn bằng Cựu Ước như hiện trạng lúc đó, sự kiện có ánh sáng và tiếng nói, cả hai – ánh sáng bao bọc, nắm bắt, thúc đẩy chúng ta vượt qua, thoát khỏi chính mình, và tiếng nói biểu hiện một sự tìm kiếm sự thân cận – ông đã nhận ra trước hết đó chính là Thiên Chúa, đang hiện diện và chính vì thế ông đặt câu hỏi: “Ngài là ai?”  Ông nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa nơi sự kết nối giữa ánh sáng và tiếng nói.

 Điều gây ngạc nhiên nhất không phải là những gì Thiên Chúa nói, nhưng chính là sự kiện Người nói và Người chờ đợi, Người tìm kiếm câu trả lời của chúng ta, Người coi chúng ta như là đối tác đàm thoại và như thế Người nhìn nhận chúng ta như dân mà Người ký kết giao ước, với họ Người có thể đối thoại. Chúng ta biết lắng nghe lời Người chưa?  Chúng ta sẽ thấy làm thế nào ‘lời nói’ cùng một lúc nói lên căn tính của Người và cấu tạo nên nơi những ai đón nhận lời một lời kêu gọi cho một ơn gọi.  Tuy nhiên lời trước hết là một dấu chỉ, một dấu chỉ có lợi, dấu chỉ bằng hữu.  Thiên Chúa chúng ta là Thiên Chúa nói chuyện với chúng ta.  Nếu Giáo Hội ngày nay nhấn mạnh nhiều đến Lời Thiên Chúa, chính là để làm cho chúng ta khám phá ra rằng Thiên Chúa tìm kiếm chúng ta, và Người muốn chúng ta đáp trả lời Người.

 Có nhiều Thư của thánh Phao-lô để đọc.  Thư Do thái mà tôi trích dẫn có lẽ là của một môn đệ Phao-lô hơn là của chính ông.  (Đối với dân chúng thời đó khi viết có tham chiếu một vị tôn sư, những gì người ta viết được gán cho vị tôn sư đó mà không gây ra vấn đề gì.  Ở đây không xét quyền tác giả như ngày nay).  Trong Thư Do thái chúng ta tìm thấy, liên quan đến Lời, một thuật ngữ khá mạnh mẽ:

 “Lời Thiên Chúa là lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi: xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tủy; lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người.  Vì không có loài thụ tạo nào mà không hiện rõ trước Lời Chúa, nhưng tất cả đều trần trụi và phơi bày trước mặt Đấng có quyền đòi chúng ta trả lẽ.” (Dt 4, 12-13).  Chúng ta đứng trước Lời Thiên Chúa và Thiên Chúa ngỏ lời với chúng ta.

 Biến cố ánh sáng, kinh nghiệm ngã quỵ của Phao-lô đưa ông về lại hiện trạng thọ tạo, mặc dầu ông đã thấy ánh sáng, và rồi lắng nghe tiếng nói thẩm vấn ông và kêu gọi ông đi vào đối thoại, đó là những điều có thể giúp chúng ta xác minh tính chân thực của kinh nghiệm thiêng liêng nơi chúng ta. Chúng ta cần tìm lại những yếu tố mà chúng ta vừa khám phá ra nhờ câu chuyện đường Đa-mát.  Bạn không nghe tiếng, bạn không được chiếu sáng tuy nhiên bạn có thể tự hỏi xem mình đã có những kinh nghiệm mạnh mẽ chưa, chúng đã cho bạn cảm giác rằng Thiên Chúa ngỏ lời với bạn mặc dầu bạn chỉ là thọ tạo tầm thường, thọ tạo phải khâm phục trước Người và nhận ra tình trạng của mình trong chân lý.  Ai có thể tạo nên những khoảnh khắc như vậy?  Ba yếu tố của biến cố ánh sáng nầy cung ứng cho chúng ta những cấu tố tạo nên tương quan với Chúa Kit-tô.

 Đi vào mối liên hệ với Chúa Ki-tô trước tiên là để cho chính mình bị xâm chiếm bởi thứ ánh sáng đó, bơi lội và đón lấy ánh sáng đó.  Tới được đó trong thinh lặng, trong những nơi gợi hứng và Thiên Chúa biết rằng Lộ Đức  là một trong những nơi lý tưởng đó.  Có phải chúng ta làm trải nghiệm nầy để phóng chiếu chính mình ra ngoài và đồng thời, được soi sáng và được bình an; chính những điều đó cho phép mối tương quan cần được tìm kiếm.  Cân nhắc như vậy, cần phải thích nơi nầy hơn nơi khác, cố tạo nên dễ dàng sự gặp gỡ với Đức Chúa và kinh nguyện.  Không phải là vô ích mà, trong những nhóm tín hữu Ki-tô mà tôi đồng hành, thói quen được tạo nên vào cuối cuộc họp mặt, khi sắp sửa đi vào kinh nguyện, đốt lên một ngọn nến; ở đó trước ngọn nến nầy, như trước nến phục sinh, người ta thinh lặng để cho ánh sáng đó, trong trường hợp yếu đuối, ghi khắc vào tâm hồn chúng ta và đón nhận ánh sáng đó như một sức mạnh để chống lại bóng đêm đen tối đang vây bủa chúng ta và có khi  xâm chiếm chúng ta.  Đó là một cử chỉ, một nghi thức, tuy nhiên những cử chỉ nầy và những nghi thức thì cũng cần thiết để tạo nên tình trạng tinh thần.

 Kinh nghiệm ngã quỵ, nghĩa là để đứng trước Thiên Chúa như một tạo vật trước Đấng Tạo Hóa, cần phải đi vào trong kinh nguyện của chúng ta.  Chính vì lẽ đó mà phụng vụ thánh thể bắt đầu bằng nghi thức thông hối.  Cũng chính vì như vậy cần phải có những cử chỉ, một cách nào đó, chúng biểu tượng, như trong biến cố Đa-mát, là sự ngã quỵ: sự phủ phục của các linh mục trước khi được phong chức thánh (linh mục, phó tế hoặc giám mục), chính như thế, sự cúi mình hoặc bái gối, sấp mình quỳ gối, có ý nghĩa đó.  Đó là những nghi thức, những thói quen, những phản xạ.  Chúng có ý nghĩa gì?  Làm thế nào, khi người ta làm những cử chỉ đó, chúng phải thật sự diễn cảm sâu sắc nơi chính chúng ta và đồng thời gợi lên nơi chúng ta điều gì đó, bởi vì thân xác chúng ta cũng tham dự vào kinh nguyện của chúng ta?  Chúng ta cầu nguyện bằng trọn vẹn con người chúng ta; cầu nguyện không chỉ là việc của tâm trí, là việc của toàn bộ con người, của ngũ quan, của thân xác. Tuy nhiên làm thế nào chúng ta biết đem vào đó ý nghĩa cho những thái độ mà chúng ta làm một cách tự phát và làm cho chúng diễn cảm được cái thâm sâu nơi chúng ta, chúng định vị chúng ta trước Đấng Tạo Hóa được?

 Và rồi có tiếng nói, hẳn đó là lời mời gọi mạnh mẽ chạy đến với Lời Thiên Chúa, chạy đến Lời không phải như chạy đến một bản văn phải phân tích, nhưng là một tiếng nói được lắng nghe, được ngỏ cho chúng ta hôm nay, thẩm vấn chúng ta, chờ đợi câu trả lời của chúng ta, chất vấn chúng ta về những thái độ, về những cung cách hoặc những dấn thân hôm nay.  Một linh mục, mà tôi đồng hành trong lãnh vực thiêng liêng, đã nói với tôi: “Khi con đọc một đoạn Tin Mừng, thay vì đọc ở ngôi thứ ba, con đọc ở ngôi thứ hai, hoặc ngôi thứ nhất: ‘Ngày ấy, Chúa Giê-su nói, tôi đi vào thành Giê-ri-khô…”  Điều đó giúp con thật nhiều, không phải chỉ đơn giản nghe những từ nêu lên ý tưởng, nhưng còn tìm ra một ai đó.  Tóm lại, tại sao không?

 Một số Thánh vịnh hỗ trợ bạn trong cầu nguyện: Tỷ như Thánh vịnh 27 (26): “Ánh sáng và Ơn Cứu độ của tôi, chính là Đức Chúa”; Thánh vịnh 36 (35): “Nhờ ánh sáng của Ngài, chúng con nhìn thấy ánh sáng”; hoặc Thánh vịnh 131 (130): “Như trẻ thơ”; có thể đặt một mối liên hệ giữa tinh thần thơ ấu và ngã quỵ

 Mùa Chay Thánh 2011

Phương Hòa – Kontum

Lm Nguyễn Quang Vinh chuyển ngữ

 

About these ads
%d bloggers like this: