HỌC HỎI THÁNH PHAOLÔ (5): THÂN MÌNH MẦU NHIỆM CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ

Lm Dubreuil

Lourdes 2010

Bài số 4

 THÂN MÌNH MẦU NHIỆM CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ

 Thánh Tông đồ Phao-lô được bao bọc trong ánh sáng bởi trời cao, và đồng thời bị quật ngã xuống đất, như nhấn mạnh đến địa vị thụ tạo và “bụi đất”.  Từ ánh sáng đó xuất phát tiếng nói, tiếng nói mặc khải : Đấng tự bộc lộ chính mình trong ánh sáng là một Thiên Chúa biết nói năng, tìm cách đối thoại với nhân loại, Người làm cho con người trở nên đối tác đàm thoại và Người nhìn nhận con người, cổ vũ họ, làm cho họ lớn lên.  Tiếng nói nầy phát biểu những gì?  Bản văn tuy vắn gọn, nhưng qua một vài câu trao đổi, yếu tính của mầu nhiệm Ki-tô được mặc khải ra: “ Ông ngã xuống và nghe có tiếng nói với ông: Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta?’  Ông nói: ‘Thưa Ngài, Ngài là ai?’  Người đáp: ‘Ta là Giê-su mà ngươi đang bắt bớ.  Nhưng ngươi hãy đứng dậy, vào thành, và người ta sẽ nói cho ngươi biết ngươi phải làm gì’.  Những người cùng đi với ông dừng lại, sững sờ: họ nghe có tiếng nói, nhưng không trông thấy gì” (Cv 9, 4-7).

Đối với tôi mấy dòng nầy chứa đựng cùng lúc một sự mặc khải và một bài sai.  Ba mặc khải nhập một: mặc khải về căn tính của Đấng phát biểu, mặc khải về mối liên hệ giữa Người và các môn đệ, và Giáo Hội của Người nữa, mặc khải về sự gợi lại gương mặt của Đấng bị đóng đanh.

Đáp lại câu hỏi mà tiếng nói đặt ra: “, Tại sao ngươi bắt bớ Ta?”, Phao-lô không trả lời trực tiếp, ông không cắt nghĩa lý do nào ông bắt bớ Giáo Hội.  Câu hỏi của ông là : “Thưa Ngài, Ngài là ai?”  Tự bản năng, với ánh sáng, với phối cảnh kèm theo, ông đã hiểu ra chính Thiên Chúa đã ngỏ lời với ông.  Và lời đáp trả là : “Ta là Giê-su mà ngươi đang bắt bớ”.  Trong câu vắn gọn nầy chứa đựng ba mặc khải nhập một vừa được nêu lên ở trên.

Câu nói nầy mặc khải cho chúng ta trước tiên căn cước của tiếng nói.  Tiếng nói chấm dứt sự vô danh của ánh sáng, tức thì nhận lấy danh hiệu “Ta là Giê-su”.  Câu hỏi mà tông đồ tương lai đặt ra, tức là Sao-lê, là “Thưa Ngài, Ngài là ai?”, câu trả lời là cách làm cho hiểu rằng Đức Chúa chính là Đức Giê-su, và Đức Giê-su là Đức Chúa.  Cần phải lượng giá điều diễn tả cho Sao-lê khi nghe lời tuyên bố nầy ; trước mắt Phao-lô, Chúa Giê-su chắc hẳn là kẻ lừa bịp, một kẻ phạm thượng : Ngài tự  giới thiệu mình là đấng được Thiên Chúa sai đến, nếu không phải là Thiên Chúa.  Ngài tự cho mình là kẻ nói lời nhân danh Thiên Chúa, tuy nhiên Thiên Chúa đã không can thiệp để cứu Ngài khỏi chết : Thiên Chúa đã để cho Ngài mặc kệ số phận, Thiên Chúa để cho ngài đi đến mút cùng con đường của mình, cho đến chết, chết ô nhục.  Trước mắt Sao-lê, người pha-ri-sêu, điều nầy muốn nói rõ ràng rằng Đức Giê-su hoàn toàn không như Ngài tự phong cho mình, Ngài chỉ là kẻ phạm thượng, một kẻ lạm dụng tự phong cho mình là Thiên Chúa và Thiên Chúa từ chối bằng cách không can thiệp để cứu sống Ngài.  Bỗng dưng có tiếng nói với Phao-lô: “Ta là Giê-su”, Ta mà ngươi cảm nhận như là Đức Chúa: “Thưa Ngài, Ngài là ai?” –  “Ta là Giê-su”.  Tất cả những gì Phao-lô đã nghĩ đến, bỗng dưng sụp đổ tan tành.  Lúc đó ông thấy nơi Đức Giê-su một người tiếm quyền, một kẻ phạm thượng, một ai đó, không phải, đổi thành người được Thiên Chúa sai đến, hơn thế nữa đó là Thiên Chúa, như thế tất buộc phải nhận rằng Ngài thật sự là Đấng như Ngài đã tự giới thiệu mình, tức là Đức Chúa, là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa trong ngôi vị đến chia sẻ thân phận nhân loại.

Chính sự nhận biết Chúa Giê-su là Đức Chúa cấu tạo nên yếu tính của mặc khải Ki-tô giáo.  Về sau nầy, trong Thư thứ nhất Cô-rin-tô, thánh tông đồ Phao-lô đã lập công thức nầy:  “Không ai có thể kêu tên ‘Giê-su là Đức Chúa’ mà không do bởi Thánh Thần” (1Cr 12, 3).  Trên đường Đa-mát, Thiên Chúa được mặc khải cho Phao-lô nhờ sức mạnh của Thánh Thần, qua tiếng nói mặc khải Chúa Giê-su là Đức Chúa, Đấng được xức dầu, một danh xưng mà người Do thái chỉ dành cho Thiên Chúa và chỉ dành cho Người mà thôi và điều nầy sẽ làm cho Phao-lô, trong tất cả các Thư của mình luôn gọi Đức Giê-su bằng: “Đức Giê-su Ki-tô Chúa chúng ta.”

Lời tuyên xưng đức tin, do Thánh Thần thúc đẩy, sửa đổi toàn bộ hình ảnh mà Phao-lô hình dung về Thiên Chúa và thật tình mà nói người ta hình dung cho mình Thiên Chúa cách tự phát ; càng tệ hơn nữa khi nhấn mạnh về Chúa Ki-tô bị đóng đinh.  Thiên Chúa và con người không liên hệ gì với nhau, Thiên Chúa thì vượt xa con người đến vô tận; Thiên Chúa không thể thỏa hiệp với con người, điều nầy sẽ gãy đổ.  Cần phải có một suy tư để hiểu, theo thuật ngữ của thánh thi trong Thư Phi-líp-phê: “Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế.  Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.  Chính vì thế Thiên Chúa đã siêu tôn Người” (x. Pl 2, 6-8).  Cách mạng biết bao trong tư tưởng người ta nghĩ về Thiên Chúa, về một Thiên Chúa toàn năng, về một Thiên Chúa vươn cao trên thế gian, về một Thiên Chúa không thể thỏa hiệp với nhân loại và không thể đồng nhất với họ.  Ngày hôm nay có những con người nghiêm túc với độc thần giáo, những người Do thái, những người Hồi giáo, họ không thể nào hiểu được mầu nhiệm Nhập Thể, đối với họ đó là điều không tưởng.  Vả lại, bất ngờ, trên con đường Đa-mát, Phao-lô tuyệt đối không được chuẩn bị trước để đón nhận mặc khải về một Thiên Chúa làm người, đón nhận đầy đủ hình ảnh của lời khẳng định: “Ta là Đức Chúa, Ta là Giê-su”.

Phao-lô thường trở về với lời khẳng định căn bản nầy, lời đó sửa đổi toàn bộ tương quan của con người đối với Thiên Chúa, sửa đổi tận căn hình ảnh bộc phát con người có về Thiên Chúa.  Ví dụ, đang khi biết rằng những gì ông suy nghĩ về Đức Giê-su trước đó, này đây lời mời gọi mà Phao-lô ngỏ với các tín hữu thành Cô-lô-xê, sau nhiều lần suy nghĩ kỹ lưỡng mặc khải nhận được trên đường Đa-mát:Anh em hãy vui mừng cảm tạ Chúa Cha, đã làm cho anh em trở nên xứng đáng chung hưởng phần gia nghiệp của dân thánh trong cõi đầy ánh sáng.  Người đã giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm và đưa vào vương quốc Thánh Tử chí ái; trong Thánh Tử, ta được ơn cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi.  Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thụ tạo, vì trong Người muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình.  Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới, tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng, nhờ Người và cho Người.  Người có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong người.  Người cũng là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh ; Người là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại, để trong mọi sự Người đứng hàng đầu.  Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hòa giải với mình.  Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (Cl 1, 12-20).

Rất tuyệt vời 1 bài thánh thi ca tụng Chúa Giê-su, ca tụng Đức Chúa vua vũ trụ, nhờ Người tất cả đã được tạo dựng.  Người ta hiểu ra điều Phao-lô đã phải suy niệm, phản tỉnh, sâu sắc, trải nghiệm về mặc khải xảy ra trên đường Đa-mát đạt đến đỉnh điểm nầy.  Triển khai điều nầy chỉ là sự vươn cao, hoan hỉ về điều đã xuất hiện cho Phao-lô cách hiển nhiên trên đường Đa-mát.

Đó là mặc khải thứ nhất mà Phao-lô nhận được ngày hôm đó: Đức Giê-su là Đức Chúa.  “Ta là Giê-su”.  Bạn coi tôi là Đức Chúa và bạn có lý.  Và tiếng nói thêm: “Ta là Giê-su mà ngươi đang bắt bớ”.  Một mặc khải khác được ban cho chúng ta có liên hệ đến Đức Giê-su và những ai đi theo Người, các môn đệ của Người, và Hội Thánh của Người.  Hiểu đúng ngôn từ, Phao-lô không bắt bớ Đức Giê-su: ông không biết Người theo xác thịt, thuật ngữ mà Phao-lô thường dùng.  Tuy nhiên ông bắt bớ môn đệ của Đức Giê-su, và điều Đức Giê-su, Đức Ki-tô và Đức Chúa, làm cho ông hiểu chính Người hằng sống, và đặc biệt sống trong thân thể mầu nhiệm là Hội Thánh.  Người đồng nhất mình với Hội Thánh, không phải vì Hội Thánh là hình ảnh hoàn hảo của Người, không hoàn toàn như vậy, nhưng Hội Thánh, theo cách nói của Công Đồng, là bí tích sự hiện diện, sự hoạt động, sự cứu độ của Người, nhờ đó Người biểu hiện hoạt động của Người trên thế gian nầy.  Chúa Giê-su là phần liên kết với Hội Thánh, Người không thể tách rời khỏi Hội Thánh, ngay cả khi thỉnh thoảng, chúng ta là người Ki-tô hữu bị cám dỗ, nói rằng: “Đức Ki-tô, đồng ý, Hội Thánh, không”.  Chúa Giê-su và Hội Thánh đi đôi với nhau.  Và khi người ta bắt bớ Hội Thánh, người ta bắt bớ Chúa Giê-su.  Đó chính là điều mà tiếng nói khẳng định cho Sau-lê, ông khám phá ra rằng Hội Thánh không phải chỉ thuần túy là cơ cấu tổ chức mà các Ki-tô hữu dựng nên để tương trợ lẫn nhau trong đức tin.  Không, hoàn toàn không, Hội Thánh chính là Chúa Kit-tô đã mang lấy thân xác, chính là “thân thể Chúa Ki-tô”.

Bí tích về mầu nhiệm của Người!  Đối với Phao-lô không phải vô ích khi chấp nhận Giáo Hội mà ông khinh dể, dân chúng mà ông đuổi bắt nơi đây, tất cả là bí tích của Đấng mà ông vừa khám phá ra là Đức Chúa. Ông sẽ nhận ra Giáo Hội dưới gương mặt của Kha-na-ni-a, một danh tánh đột ngột xuất hiện, một thành viên của cộng đoàn mà người ta sẽ không nghe nói đến bao giờ nữa nhưng nhờ đó Phao-lô đã khám phá ra sứ mệnh của mình.

Mặc khải trên đường Đa-mát, không chỉ là bộc lộ căn tính của Chúa Giê-su mà thôi, nhưng còn bộc lộ ra rằng Chúa Giê-su làm nên thân thể với những kẻ thuộc về Người, liên kết với họ cách bất khả chia lìa.  Phao-lô trở lại việc nầy, ngay cả khi ông luôn có những vấn đề với Giáo Hội, với những bậc có trách nhiệm trong Giáo Hội  và với cộng đoàn nầy hay cộng đoàn khác.  Phao-lô chắc chắn và tin rằng Giáo Hội thật sự là Thân  Thể của Chúa Kit-tô, ông nói như thế trong Thư 1 Cô-rin-tô, chương 11; Ông cũng nói như thế cách minh bạch hơn trong Thư Ê-phê-xô:

1 Vậy, tôi là người đang bị tù vì Chúa (luôn luôn quy chiếu Chúa Giê-su Ki-tô), tôi khuyên nhủ anh em hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh em. 2 Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau. 3 Anh em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hoà gắn bó với nhau. 4 Chỉ có một thân thể, một Thần Khí, cũng như anh em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng. 5 Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. 6 Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người.

7 Nhưng mỗi người chúng ta đã nhận được ân sủng tuỳ theo mức độ Đức Ki-tô ban cho. 8 Vì thế, có lời Kinh Thánh nói: Người đã lên cao, dẫn theo một đám tù; Người đã ban ân huệ cho loài người.

9 Người đã lên nghĩa là gì, nếu không phải là Người đã xuống tận các vùng sâu thẳm dưới mặt đất?10 Đấng đã xuống cũng chính là Đấng đã lên cao hơn mọi tầng trời để làm cho vũ trụ được viên mãn. 11 Và chính Người đã ban ơn cho kẻ này làm Tông Đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ khác nữa làm người coi sóc và dạy dỗ. 12 Nhờ đó, dân thánh được chuẩn bị để làm công việc phục vụ, là xây dựng thân thể Đức Ki-tô, 13 cho đến khi tất cả chúng ta đạt tới sự hiệp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, tới tình trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc viên mãn của Đức Ki-tô.

14 Như vậy, chúng ta sẽ không còn là những trẻ nhỏ, bị sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý, giữa trò bịp bợm của những kẻ giảo quyệt khéo dùng mưu ma chước quỷ để làm cho kẻ khác lầm đường. 15 Nhưng, sống theo sự thật và trong tình bác ái, chúng ta sẽ lớn lên về mọi phương diện, vươn tới Đức Ki-tô vì Người là Đầu. 16 Chính Người làm cho các bộ phận ăn khớp với nhau và toàn thân được kết cấu chặt chẽ, nhờ mọi thứ gân mạch nuôi dưỡng và mỗi chi thể hoạt động theo chức năng của mình. Như thế Người làm cho toàn thân lớn lên và được xây dựng trong tình bác ái” (Ep 4, 1-16).

Giáo Hội, trong mắt của Phao-lô, là thân thể Chúa Ki-tô. Thân thể có đầu là Chúa Ki-tô, thân thể nầy lớn lên do bởi Chúa Ki-tô, nhờ Thần Khí của Người, Giáo Hội phân phát những hồng ân và những trách nhiệm theo như thân thể hoạt động và hoàn thành sứ mệnh của thân thể Chúa Ki-tô, làm chứng nhân của Chúa Ki-tô, cho đến khi toàn thể thế giới đạt đến tình trạng viên mãn và biểu lộ Chúa Ki-tô trong sự viên mãn của Người, Chúa Ki-tô nầy mà Giáo Hội hôm nay là bí tích, Giáo Hội loan báo và chuẩn bị Chúa Ki-tô.  Thời điểm viên mãn sẽ chấm dứt công trình sáng tạo trong toàn vẹn tái tạo dựng.  Mặc khải thứ nhất: Đức Giê-su là Đức Chúa.  Mặc khải thứ hai: Các môn đệ, Giáo Hội của Người, đều là thân thể của Người, thân thể mà Người tự hiến, và không ngừng tự hiến, không ngừng làm phát triển và linh hoạt nhờ Thần Khí của Người.

Cũng còn có mặc khải thứ ba: Thiên Chúa tự mặc khải mình dưới gương mặt của kẻ chịu đóng đinh.  Tuy không phải minh nhiên, nhưng bằng hình chạm nổi.  Khi tiếng nói: “Ta là Giê-su mà ngươi đang bắt bớ”, thật sự có những cuộc bắt bớ và những thiệt hại mà Giáo Hội hứng chịu, những sự dữ nầy trực tiếp được nhắm đến.  Tuy nhiên chính Người tự giới thiệu mình như kẻ bị bách hại, bị loại trừ, bị loài người ruồng bỏ, bị nhân loại đối xử như hạng cùng đinh trong hàng kẻ dữ, bị liệt vào hạng trộm cướp, bị đóng đinh như tên gian phi theo nhục hình dành cho hạng trộm cướp.  Đối với thánh Phao-lô, Chúa Ki-tô, Đấng Ki-tô được đặt làm Đức Chúa nhờ sự Sống lại, chính là Đấng bị đóng đinh.  Chứng nhân câu nói đặc biệt nầy đọc được cuối Thư Galata, Phao-lô mạnh mẽ khẳng định: “14 Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta! Nhờ thập giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian” (Gl 6, 14).  Phao-lô đứng về phía Chúa Ki-tô và ông chấp nhận theo Người trên đường con thập giá, đó là con đường mà Giáo Hội phải vay mượn để bước đi trên nẻo đường trần gian nầy.

Trong Thư 1 Cô-rin-tô, Phao-lô đối chọi cách chặt chẽ sự khôn ngoan của thế gian với sự điên dại của Thiên Chúa.  Điều nầy liên hệ đến Chúa Ki-tô đệ nhất thủ lãnh, tuy nhiên điều đó cũng liên hệ với chúng ta nữa, thánh Phao-lô không quên nhấn mạnh điều nầy:

17 Quả vậy, Đức Ki-tô đã chẳng sai tôi đi làm phép rửa, nhưng sai tôi đi rao giảng Tin Mừng, và rao giảng không phải bằng lời lẽ khôn khéo, để thập giá Đức Ki-tô khỏi trở nên vô hiệu.

18 Thật thế, lời rao giảng về thập giá là một sự điên rồ đối với những kẻ đang trên đà hư mất, nhưng đối với chúng ta là những người được cứu độ, thì đó lại là sức mạnh của Thiên Chúa. 19 Vì có lời chép rằng: Ta sẽ huỷ diệt sự khôn ngoan của kẻ khôn ngoan, và sẽ vứt bỏ sự thông thái của người thông thái. 20 Người khôn ngoan đâu? Người học thức đâu? Người lý sự của thời này đâu? Thiên Chúa lại đã không để cho sự khôn ngoan của thế gian ra điên rồ đó sao?  Thật vậy, thế gian đã không dùng sự khôn ngoan mà nhận biết Thiên Chúa ở những nơi Thiên Chúa biểu lộ sự khôn ngoan của Người. Cho nên Thiên Chúa đã muốn dùng lời rao giảng điên rồ để cứu những người tin. 22 Trong khi người Do-thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy-lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, 23 thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Ki-tô bị đóng đinh, điều mà người Do-thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. 24 Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do-thái hay Hy-lạp, Đấng ấy chính là Đức Ki-tô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa. 25 Vì cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người.

26 Thưa anh em, anh em thử nghĩ lại xem: khi anh em được Chúa kêu gọi, thì trong anh em đâu có mấy kẻ khôn ngoan trước mặt người đời, đâu có mấy người quyền thế, mấy người quý phái. 27 Song những gì thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan, và những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh; 28 những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để huỷ diệt những gì hiện có, 29 hầu không một phàm nhân nào dám tự phụ trước mặt Người” (1Cr 1, 17-29).

Trong câu nói: “Ta là Giê-su mà ngươi bắt bớ”, có đến ba mặc khải: mặc khải về căn tính của Chúa Giê-su, Người thật là Đức Chúa như Người đã nói về mình; mặc khải về mối liên hệ bất khả chia lìa nối kết giữa Người với Giáo Hội, với các môn đệ : khi người ta bắt bớ Giáo Hội, thì cũng chính Chúa Giê-su mà người ta bắt bớ ; liên tưởng đến sự bắt bớ mà Phao-lô tham gia, tất cả cho hiểu rằng chính khi chịu sự bắt bớ cho đến sự nhục nhã trên thập giá, Chúa Giê-su mặc khải gương mặt thật của Thiên Chúa, là Thiên Chúa tình yêu và Người đã ban sự sống cho thế gian.

Rồi sau đó lời kêu gọi sai đi: “Nhưng ngươi hãy đứng dậy, vào thành, và người ta sẽ nói cho ngươi biết ngươi phải làm gì” (Cv 9, 6).  Trong hai mạch văn khác nói về biến cố trên đường Đa-mát (Cv 22 và 26), tiếng nói, nói nhiều điều hơn nữa, một cách trực tiếp, có liên quan đến sứ vụ của Phao-lô.  Ở đây chỉ nói đến điều ông phải chỗi dậy và đừng gục ngã, phải đứng lên, vào vị trí của mình, và còn thêm: “Người ta sẽ chỉ cho ngươi điều ngươi phải làm”.  Sự thật kẻ sẽ nói cho Phao-lô điều ông phải làm là Kha-na-ni-a, một Ki-tô hữu bình thường sẽ đích thân đi gặp Phao-lô dù đã thoái thác.  Sứ vụ được trao ban vừa trực tiếp do bởi tiếng nói phát ra trong nơi sâu thẳm và chính xác bởi Giáo Hội, bởi một nhân vật nào đó của Giáo Hội.  Điều nầy chung cho tất cả mọi ơn gọi, một tổng hợp gồm lời mời gọi nội tâm và lời mời gọi minh nhiên được lập thành công thức do người có trách nhiệm trong Giáo Hội, hơn thế nữa được công thức hóa bởi các Ki-tô hữu.  Theo cách đó người ta được mời gọi.  Sự mặc khải không bao giờ không kèm theo lời kêu gọi: Thiên Chúa tự mặc khải mình, không phải để thỏa mãn tính tò mò của chúng ta, nhưng để thẩm vấn, để kêu gọi chúng ta; để mời gọi chúng ta bước đi theo Chúa Ki-tô và loan báo Tin Mừng.

Tóm gọn trong đó là những điều có liên hệ với chúng ta với đệ nhất thủ lãnh bởi vì đó là yếu tố căn bản của đức tin ?  Điều nầy phải dẫn chúng ta đến, ví dụ, tự hỏi mình rằng, đối với chúng ta, Chúa Giê-su Na-da-rét, Chúa Giê-su của các sách Tin Mừng có thật là Thiên Chúa, là Đức Chúa, Đấng mà chúng ta tôn vinh như là Đấng Tạo Hóa, như là nguồn sống của chúng ta, Đấng mà trong tay Người chúng ta hoàn toàn phó thác trong tin tưởng mà người ta chỉ có thể dành cho Thiên Chúa không.  Có phải đối với chúng ta Đức Giê-su thật sự là Thiên Chúa, Đấng làm cho chúng ta sống, Đấng điều khiển cuộc đời chúng ta, Đấng thông ban cho chúng ta sự năng động của Người, tức là Thần Khí của Người không?  Có phải Đức Giê-su, đối với chúng ta thật sự là Con Thiên Chúa?  Có phải chúng ta biểu lộ sự gắn bó của chúng ta đến độ chúng ta đặt mình trong tay Người như người ta chỉ đặt mình trong tay Thiên Chúa?

 Chúng ta cũng có thể tự hỏi xem chúng ta có sống đầy đủ cho Giáo Hội như là thân thể  của Chúa Ki-tô mà chúng ta là thành viên sống động không, tự hỏi xem Giáo Hội có thật sự, không những là bằng hữu của các môn đệ Chúa Giê-su, họ trợ giúp nhau trong đức tin, nhưng còn là thân thể tự hiến cùng với những thiện nam tín nữ, mà thân thể không ngừng tháp nhập họ hiệp thông với thân thể để họ làm nên thân thể, với thân thể và với nhau không.  Đối với chúng ta Giáo Hội có tầm vóc quan trọng nầy không?

 Và thập giá, chúng ta đón nhận thế nào?  Trong nhiều thế kỷ thập giá đã được dùng làm nền tảng cho chủ thuyết thống khổ khó tin, nghịch hẳn lại với mặc khải chân thật :  thập giá là hiến tế khủng khiếp nhờ đó Thiên Chúa chấp nhận để được nguôi cơn nóng giận chính đáng chống lại nhân loại ; cần phải có Con Thiên Chúa chịu chết để Thiên Chúa nguôi cơn thịnh nộ và tha thứ.  Hình ảnh nào thế về Thiên Chúa !  Người ta không muốn nên giống thứ Thiên Chúa đó !  Những lễ hiến tế, là những gì làm nên sự dữ (tin rằng càng đau khổ thì càng tốt hơn), như thể Thiên Chúa muốn sự đau khổ vì đau khổ, như thể Thiên Chúa muốn chà đạp chúng ta!  Hoàn toàn không phải như thế!  Cái chết của Chúa Ki-tô, theo các sách Tin Mừng, chính là sự sống của Người được dâng hiến vì tình yêu: “1 Trước lễ Vượt Qua, Đức Giê-su biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13, 1).  “Đến cùng”, nghĩa là tự hiến hoàn toàn, không giữ lại gì cả, tự hiến.  Trình thuật về cuộc Thương Khó trong Tin Mừng Lu-ca minh nhiên làm rõ điều nầy với hai lời của Chúa Giê-su, diễn tả sự tận hiến của Chúa Giê-su.  Một lời ngỏ cho nhân loại: “34 Bấy giờ Đức Giê-su cầu nguyện rằng: ‘Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm’” (Lc 23, 34).  Khi tuyệt vọng thuyết phục nhân loại bằng ngôn từ, kể cả chứng tá của Người, Chúa Giê-su làm dấu chỉ tha thứ: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”.  Rồi : “Đức Giê-su kêu lớn tiếng: Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha. Nói xong, Người tắt thở” (Lc 23, 46). Sự tự hiến, sự tha thứ : cả hai hình thức tự hiến bản thân mình, đối với nhân loại và đối với Thiên Chúa.  Đó chính là thập giá, dấu chỉ tình yêu.

 Khi chuẩn bị Rửa Tội, thật hứng thú làm cho các bậc phụ huynh trẻ suy nghĩ về ý nghĩa của thập giá mà linh mục ghi trên trán của trẻ em và họ được mời ghi dấu thập giá cho con trẻ ; đối với bậc phụ huynh, chắc hẳn thánh giá gợi lên sự chúc lành, tuy nhiên thánh giá dù sao chăng nữa cũng là dấu chỉ một khổ hình, tiên báo một tương lai không phải màu hồng.  Phải làm cho phụ huynh hiểu thập giá là dấu chỉ tuyệt vời về tình yêu bị thúc đẩy đến cùng, thay đổi tất cả.  Làm thế nào chúng ta chấp nhận yêu thương, yêu thương đến cùng?

 Đức Giê-su là ai? Người là Thiên Chúa.  Giáo Hội là ai vậy?  Là thân thể của Chúa Ki-tô.  Nơi nào cho thấy tình yêu của Thiên Chúa ?  Trên thập giá của Chúa Giê-su.  Từ đó, chúng ta được kêu gọi, chúng ta được sai đi để loan báo Tin Mừng và tỏ cho thấy rằng thập giá có hình dáng của một kết thúc bêu diếu nhục mạ lại là khởi đầu của một thế giới mới, rằng điều xuất hiện tưởng như không thể vượt qua, lại khai sáng một con đường, điều xuất hiện như một định mệnh cam chịu lại là lời khẳng định sự tự do.

 Hai Thánh vịnh có thể giúp nghiền gẫm những điều đó; Thánh vịnh 45 (44): “Thiên Chúa ngươi đã thánh hiến ngươi” ; Thánh vịnh 99 (98): “Ngài là Thánh”.

 Một bản văn khác có tựa đề: “Thánh thi về tình yêu Thiên Chúa”.  Phao-lô vừa mới nói với tín hữu Rô-ma về vinh quang sắp tới và về lịch sử hiện tại như một công việc lâu dài của sự sinh nở.  Cần phải sống trong đức cậy trông.  Và bỗng chốc một thánh thi trào lên từ tâm hồn ngài:

 31 Vậy còn phải nói gì thêm nữa? Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta? 32Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta. Một khi đã ban Người Con đó, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta? 33 Ai sẽ buộc tội những người Thiên Chúa đã chọn? Chẳng lẽ Thiên Chúa, Đấng làm cho nên công chính? 34 Ai sẽ kết án họ? Chẳng lẽ Đức Giê-su Ki-tô, Đấng đã chết, hơn nữa, đã sống lại, và đang ngự bên hữu Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta?

 35 Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo? 36 Như có lời chép: Chính vì Ngài mà mỗi ngày chúng con bị giết, bị coi như bầy cừu để sát sinh.

37 Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta.

38 Đúng thế, tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, 39 trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta” (Rm 8, 31-39).

 Lm Nguyễn Quang Vinh chuyển ngữ

Phục Sinh 20011

Phương Hòa Kontum

About these ads
%d bloggers like this: