HỌC HỎI THÁNH PHAOLÔ (10): RAO GIẢNG TIN MỪNG

Lm Dubreuil

Lourdes 2010

Bài số 9

 Rao Giảng Tin Mừng

  Chúng ta đã suy niệm cuộc gặp gỡ giữa Sao-lô và Kha-na-nia-a, người môn đệ xứ Đa-mát, mà Đức Chúa đã sai đến với Phao-lô.  Chúng ta đã thấu suốt cuộc hành trình nội tâm mà Kha-na-ni-a đã kinh qua trước khi chấp nhận đi gặp một người danh tiếng, ông biết có thể đó là đối phương hung tợn nhất đối với các Ki-tô hữu, vừa đến Đa-mát để bắt họ cầm tù và điệu về Giê-ru-sa-lem.  Cần phải có Đức Chúa, trong thị kiến của ông, tỏ bày và xác nhận sứ mệnh không thể thực hiện nầy.  Chúng ta đã nghe Đức Chúa nói với Kha-na-ni-a, ông có chút phản kháng đến gặp nhân vật nầy: “15 Nhưng Chúa phán với ông: Cứ đi, vì người ấy là lợi khí Ta chọn để mang danh Ta đến trước mặt các dân ngoại, các vua chúa và con cái Ít-ra-en” (Cv 9,15).

 Câu nói có giá trị của lệnh lên đường, một thư ủy nhiệm, đáng quan tâm.  Câu nói xác quyết Sao-lô đã được tuyển chọn.  Chúng ta biết rằng không phải vì những công đức của người nầy hay của người kia mà Đức Chúa kêu gọi họ: Người tuyển chọn. Người tuyển chọn, tôi dám nói như vậy, theo sở thích của Người ngay cả thật sự việc tuyển chọn của Người thường hướng về những người đã được chuẩn bị cách mầu nhiệm cho điều Người sẽ kêu mời họ.  Có thể Người mời gọi họ phấn khởi lên vì được tuyển chọn, ngay cả có khi Người làm cho họ đau khổ, chắc hẳn không làm họ tự kiêu như việc họ được tuyển chọn làm cho họ tăng thêm giá trị.  Sao-lô đã được tuyển chọn cách không vị tất, không dự kiến được.  Phao-lô đã được tuyển chọn, theo Sách Thánh, như một “khí cụ”.  Từ ngữ không chỉnh lắm bởi vì khí cụ chỉ một đồ vật và, trong trường hợp nầy, lại là một con người  được mời gọi.  Từ ngữ muốn nhấn mạnh rằng con người nầy được kêu gọi, được tuyển chọn, sẽ không thi hành sứ mệnh của mình nhơn danh chính mình, nhưng nhơn danh Đấng ra bài sai.  Và Đấng sai ông đi làm điều chính yếu, với điều kiện khí cụ được dùng theo ý muốn của Người.  Từ ngữ “khí cụ” là cách nói, việc tốt được thực hiện và kết quả mà người thừa sai có được không thuộc về mình.  Người thừa sai có vai trò, nhưng là vai trò khí cụ.

 Bản văn nói tiếp, Phao-lô được chọn làm“khí cụ” “để bảo vệ nhơn danh Ta”, một hạn từ vay mượn từ vựng pháp luật.  Người bảo vệ là người đứng ra bảo lãnh một người khác bị thưa kiện nơi tòa án, làm trạng sư bào chữa, khẳng định tính vững chắc điều mình nói.  Nói về sứ mệnh như bảo vệ nhơn danh Chúa Ki-tô, tức nhấn mạnh trước tiên rằng Chúa Giê-su và Giáo Hội của Người thì luôn bị thưa kiện nơi trần gian và cần được bảo vệ một cách nào đó, và đồng thời làm sáng tỏ sự cao trọng của danh Chúa Giê-su và Giáo Hội.  Danh xưng trong Kinh thánh không chỉ là tên gọi một con người nào đó; danh xưng còn chỉ một ơn gọi, một cá tính, một sự độc đáo của người mang tên đó; tên gọi chính là con người đó.  Sứ mệnh Ki-tô giáo là trả lời trước tất cả về việc làm mà con người mang tên là Giê-su, còn được gọi là Ki-tô, Đức Chúa, là Con; những danh xưng đó nói lên phẩm giá đích thực, sự cao trọng của Người, quyền năng thật sự, và cần phải nhận biết về điều chân thật nầy: Chúa Giê-su là Con của Thiên Chúa.

 Cần phải bảo vệ trước ai về Tên gọi nầy?  Trước toàn thể thế gian.  Điều nầy bắt đầu nơi “các dân ngoại”, không được dửng dưng.  Phao-lô sẽ trở nên, giữa tất cả các tông đồ, kẻ sẽ ngỏ lời với dân ngoại và đi xa hơn nữa trong đối thoại với dân ngoại, tìm kiếm những cách thức giải thích sứ điệp thừa kế từ Chúa Giêsu trong một văn hóa không thuộc văn hóa mẹ đẻ của mình.  Các tông đồ trình bày Phê-rô như người thứ nhất, đi vào đối thoại, trao ban đức tin và đã rửa tội một lương dân cụ thể là ông Cô-nê-li-ô.  Phần còn lại là Phao-lô, vị tông đồ các dân ngoại và chính vì vậy người ta nói: “Trước các dân ngoại”.

 “Trước các vua chúa”: trước các thủ lãnh thế gian.  Sách Công vụ thường tường thuật những lần Phao-lô bị điệu đến trước quan quyền, thủ lãnh, quan thái thú, những người có trách nhiệm trong đế quốc Rô-ma, điều nầy muốn nói là Phao-lô thường bị đưa ra tòa, thường bị bó buộc phải bảo vệ Danh thánh và Tin Mừng mà ông rao giảng.  Phao-lô lấy làm quan trọng việc làm chứng, trong một xã hội rất tôn ti trật tự, bên những người có trách nhiệm cầm cân nẩy mực, họ có quyền tiến hành các vụ kiện cáo.  Phao-lô tìm cách tiếp cận với những nhà cầm quyền, không phải vì coi họ cao quý hơn những người khác (tại Cô-rin-tô, trái lại, Phao-lô ngỏ lời với giới nghèo), nhưng bởi vì nghĩ rằng cần hoán cải về với Ki-tô giáo một số người có trách nhiệm chính trị, như vua chúa, quan quyền, và cũng để gây tín nhiệm cho đức tin Ki-tô giáo, mau được lan rộng nhanh chóng hơn.

 Và “trước những người Ít-ra-en”, điều đó là dĩ nhiên, bởi vì Phao-lô là người Ít-ra-en.  Nếu lướt qua chương 9 và 10 Thư Rô-ma, bạn sẽ thấy Phao-lô nói gì về tương quan của ông với dân tộc mình, rất bám rể sâu xa, xác tín rằng đây là dân của đệ nhất Giao ước, chính nhờ họ mà chúng ta được làm những kẻ thừa kế; chính dân tộc nầy đã cho chúng ta Đức Ki-tô.  Trong hai chương đó, Phao-lô nói lên nhiệt huyết loan báo Chúa Giê-su Ki-tô, cho dân Ít-ra-en, do sự thúc đẩy bởi lòng ao ước sâu xa muốn thấy dân tộc mình, dân của đệ nhất Giao ước, đi đến cùng việc nhìn nhận tình yêu của Thiên Chúa đối với họ.  Phao-lô cũng ngỏ lời với các dân ngoại (Phao-lô không ngại nói điều nầy), chính để gây nên một chút tính ganh tỵ nơi người Do thái: làm như thể, họ không bằng lòng với điều họ coi như là tài sản của họ hoặc như đến từ họ nay được giới thiệu cho dân ngoại; điều nầy gây nên nơi họ hai lần xem xét lại vấn đề và có thể hoán cải chính họ về với Chúa Ki-tô.

 Sứ mệnh đã được phác họa, đó là thư ủy nhiệm sứ mệnh cho Phao-lô.  Điều người ta có thể nhận thấy, chính ông sẽ trở nên tông đồ, Phao-lô không chậm trễ bắt tay thực thi thư ủy nhiệm đã được trao cho ông: liền ngay sau khi Phao-lô được chữa khỏi mù, ông đã được chịu phép rửa và tràn đầy Thánh Thần, “Ông ở lại vài ngày với các môn đệ tại Đa-mát, rồi lập tức ông bắt đầu rao giảng Đức Giê-su trong các hội đường, rằng Người là Con Thiên Chúa” (Cv 9, 19-20).  Ông không chậm trễ”.  Nhiệt huyết nầy là một trong những tính cách của con người Phao-lô, ông đầu tư sâu vào điều ông tin tưởng.  Ông đã làm như thế cho đạo Do thái, cho phái Pha-ri-sêu để chống đối lại Chúa Giêsu mà ông coi là đối phương và có nguy cơ làm sụp đổ Do thái giáo.  Phao-lô dùng chính nhiệt huyết nầy bảo vệ điều ông chiến đấu cho đến lúc đó.  Sự năng động của ông, khả năng lập luận, khả năng làm tăng giá trị sự việc, tất cả bây giờ được dùng để phục vụ Chúa Giêsu Kitô và Tin Mừng.

 Trên đường Đa-mát, Sao-lô đã sống kinh nghiệm dứt khoát cho chính mình.  Ông đã nghe tiếng nói rằng Đức Giê-su mà cho đến lúc đó ông coi là kẻ phạm thượng, đúng là Đức Chúa như Người đã tự giới thiệu mình.  Đức Giê-su đã phục sinh, luôn luôn hằng sống bởi vì Người đã nói chuyện với ông.  Phao-lô đã thể hiện nơi con người mình, nơi xác thịt, nơi thân xác cũng như trong tâm hồn và trong thâm tâm của ông kinh nghiệm về sự vượt qua từ cõi chết qua sự sống, kinh nghiệm thế nào của sự sống lại.  Nơi ông kinh ngiệm nầy quá mạnh mẽ đến nỗi ông không thể nào không chia sẻ điều đó và ông cảm nhận được sự cần thiết tức khắc phải nói ra cho khắp mọi nơi rằng, Chúa Giêsu đã thật sự sống lại, rằng Chúa Giêsu đúng thật là đấng như Người đã tự mình khẳng định:  Người Con của Thiên Chúa  hằng sống.  Có thể nói được rằng, trên đường Đa-mát, bổng chốc Phao-lô đã hiểu bằng kinh nghiệm cá nhân làm đảo lộn tất cả, rằng sự loan báo về sự sống lại và đức tin vụt lên từ lời loan báo đó thì thật sự là vấn đề sống chết đối với nhân loạiSự sống và sự chết của con người, của mỗi người, của tất cả, đó chính là diểm then chốt trong lời loan báo nầy.

 Phao-lô sắp triển khai chân lý đó trong Thư 1 Cô-rin-tô chương 15, chương nói chính xác về sự sống lại.  1 Thưa anh em, tôi xin nhắc lại cho anh em Tin Mừng tôi đã loan báo và anh em đã lãnh nhận cùng đang nắm vững. 2 Nhờ Tin Mừng đó, anh em được cứu thoát, nếu anh em giữ đúng như tôi đã loan báo, bằng không thì anh em có tin cũng vô ích.

3 Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, 4 rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh. 5 Người đã hiện ra với ông Kê-pha, rồi với Nhóm Mười Hai. 6 Sau đó, Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em một lượt, trong số ấy phần đông hiện nay còn sống, nhưng một số đã an nghỉ. 7 Tiếp đến, Người hiện ra với ông Gia-cô-bê, rồi với tất cả các Tông Đồ. 8 Sau hết, Người cũng đã hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non” (1Cr 15,1-8).  Rồi Phao-lô diễn tả tất cả những gì ông đã làm để thông tri lời loan báo nầy: “Tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả những vị khác, nhưng không phải tôi, mà là ơn Thiên Chúa cùng với tôi” (1Cr 15, 10).  Ông thật sự đã làm tất cả những gì ông có thể.

 Phao-lô muốn thuyết phục những người đọc thư của ông biết rằng không phải là vô cớ mà sự sống lại được đặt nơi trung tâm của Tin Mừng.  Có thể nói được rằng, đối với Phao-lô, Tin Mừng được cô đọng lại trong sự tưởng niệm cái chết của Chúa Giêsu Kitô và trong lời loan báo Người sống lại.  Ông nhấn mạnh nhiều đến Chúa Ki-tô bị đóng đinh thập giá để nói rằng Chúa Giêsu đã muốn liên đới với nhân loại trong lúc họ bị bỏ rơi, bị chơ vơ cô quạnh, cho tới lúc họ tự cảm nhận hoàn toàn bị Thiên Chúa và nhân loại chối bỏ.  Chúa Giêsu đã muốn chia sẻ đêm đó, đêm của sự chết, và đồng thời, luôn bằng sự chết của Người, Người muốn chứng tỏ rằng đối với Người, yêu đến cùng, là không giữ lại cho mình bất cứ gì, hoàn toàn dâng hiến, phó thác mình trong tay Cha và tha thứ cho anh em.

 Đề cập đến cái chết, đúng như vậy, nhưng Tin Mừng minh nhiên nói đến sự sống lại.  Sự sống lại đóng ấn của Thiên Chúa và vững mạnh Danh Thiên Chúa trên sự lựa chọn mà Chúa Giêsu liều mạng sống minh để khẳng định tình yêu của Người, để xác nhận rằng Chúa khẳng định mình là Đấng được sai đi và là Con, và Người có khả năng làm cho nhân loại tham dự, nhờ vào Thần khí, nhờ vào sự sống Con Thiên Chúa.  Dưới con mắt của Phao-lô, không có tin mừng nào tốt hơn tin mừng nầy.  Ông trở lại đề tài nầy trong Thư 1 Cô-rin-tô:12 Nhưng nếu chúng tôi rao giảng rằng Đức Ki-tô đã từ cõi chết trỗi dậy, thì sao trong anh em có người lại nói: không có chuyện kẻ chết sống lại? 13 Nếu kẻ chết không sống lại, thì Đức Ki-tô đã không trỗi dậy. 14 Mà nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng. 15 Thế ra chúng tôi là những chứng nhân giả của Thiên Chúa, bởi vì đã chống lại Thiên Chúa mà làm chứng rằng Người đã cho Đức Ki-tô trỗi dậy, trong khi thực sự Người đã không cho Đức Ki-tô trỗi dậy, nếu quả thật kẻ chết không trỗi dậy. 16 Vì nếu kẻ chết không trỗi dậy, thì Đức Ki-tô cũng đã không trỗi dậy. 17 Mà nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em. 18 Hơn nữa, cả những người đã an nghỉ trong Đức Ki-tô cũng bị tiêu vong. 19 Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Ki-tô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người.

20 Nhưng không phải thế! Đức Ki-tô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu. 21 Vì nếu tại một người mà nhân loại phải chết, thì cũng nhờ một người mà kẻ chết được sống lại” (1Cr15,12-21).  Sau đó Phao-lô đặt vấn đề: “Nhưng có người sẽ nói: kẻ chết trỗi dậy thế nào? Họ lấy thân thể nào mà trở về?” (1Cr15,35).  Phao-lô nói đến thân xác thiêng liêng…  bởi vì, để nói về điều đó người ta phải giản lược vào những ẩn dụ và những hình ảnh.  Dĩ nhiên loan báo về sự sống lại đối với Phao-lô, là tâm điểm của Tin Mừng.  Không còn gì phải nói ngoài điều đó dù phải phơi bày ra tất cả các hậu quả.  Sự sống lại không phải là cái gì đó thần bí thêm vào, một sứ điệp sẽ được đánh giá; sự sống lại chính là sứ điệp đó.

 Đối với Tông đồ Phao-lô điều then chốt trong việc loan báo sự sống lại, chính là vinh quang và danh dự của Thiên Chúa, và đó chính là ơn cứu độ của nhân loại.  Chính vinh quang và danh dự của Thiên Chúa vì, dưới con mắt của Phao-lô, một thiên chúa hiến tặng sự sống mình cho nhân loại để rồi bỏ rơi họ sau nầy, để làm cho họ sa vào hư vô nào đó, sẽ là một thiên chúa đồi bại, không thể là Thiên Chúa Tình Yêu.  Khi yêu nhau, người ta không bỏ rơi những ai mình yêu mến.  Như vậy trong việc loan báo sự sống lại có sự bảo vệ của Thiên Chúa.  Không, Thiên Chúa không phải là thiên chúa đồi bại; không, Thiên Chúa không làm ra vẻ yêu thương con người; không, Thiên Chúa không ban tặng sự sống để rồi lấy lại.  Thiên Chúa ban tặng sự sống để ban phát không ngừng sự sống ấy, để làm mới lại sự sống đó liên lỉ và để sự sống đó được luôn luôn mới mẽ cho đến tận cùng lịch sử lúc mà chỉ còn có một sự sống, sự sống trong Thiên Chúa.  Như vậy đối với Phao-lô, đó là để bảo vệ điều gọi là “danh dự của Thiên Chúa”.

 Và đó cũng là để bảo vệ ơn cứu độ cho trần gian, nghĩa là nuôi dưỡng niềm cậy trông nhân loại, niềm cậy trông nầy đang cần một chân trời không bị giới hạn bởi các lằn ranh giới của cuộc sống ngắn ngủi trên trần gian nầy.  Để bảo vệ vinh quang Thiên Chúa, để loan báo ơn cứu độ cho con người, Phao-lô được hướng dẫn bởi tình yêu vốn có nơi mình, mà ông đón nhận như một quà tặng của Thiên Chúa.  Trong Thư 2 Cô-rin-tô, đọc thấy công thức tuyệt vời nầy: “14 Tình yêu Đức Ki-tô thôi thúc chúng tôi, vì chúng tôi nghĩ rằng: nếu một người đã chết thay cho mọi người, thì mọi người đều chết. 15 Đức Ki-tô đã chết thay cho mọi người, để những ai đang sống không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã chết và sống lại vì mình” (2Cr 5,14-15). “Vì mình” không có nghĩa mọi người không được hưởng sự sống nầy, nhưng có nghĩa sự sống của họ được trở nên sự sống hướng họ về một Đấng Khác.  Và nếu tương quan với Đấng Khác là điều thiết yếu, thì điều đó giữ cho họ được sống.  Như đã nhấn mạnh từ đầu: “Tình yêu của Chúa Ki-tô thôi thúc tôi”; chính bởi vì Phao-lô biết mình được yêu mến, bởi vì ông cảm nhận mình được yêu cho nên ông cảm nghiệm được sự cần thiết phải mặc khải tình yêu của Thiên Chúa đi đến đâu, đến liên tục cổ vũ và tái-cổ vũ con người và thế giới, đến liên lỉ tạo dựng và tái-tạo.

 Điều quan trọng là hiểu được thế nào vị tông đồ đã hoàn toàn cảm nhận mình trọn vẹn đầu tư cho công việc rao giảng như là một sứ mệnh.  Trong cái nhìn đó, một trích đoạn rất hay trong Thư 1 Cô-rin-tô.  Cần phải đọc từ đầu đến cuối Thư nầy, ở đây chỉ trích dẫn một phần.  Trong phần đầu của Thư, Phao-lô nhắm nhấn mạnh đến tính nhưng không mà Tin Mừng đề đạt, không đòi bất cứ điều kiện nào, ông trao tặng Tin Mừng bởi vì Tin Mừng đã được ban cho ông.  Phao-lô viết:

 “15 Nhưng phần tôi, tôi đã không dùng một quyền nào trong những quyền ấy. Tôi viết các điều này không phải để cũng được như vậy, vì đối với tôi thà chết còn hơn là. . . . Niềm tự hào đó, không ai có thể huỷ diệt được! 16 Thật vậy, đối với tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là lý do để tự hào, mà đó là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng! 17 Tôi mà tự ý làm việc ấy, thì mới đáng Thiên Chúa thưởng công; còn nếu không tự ý, thì đó là một nhiệm vụ Thiên Chúa giao phó. 18 Vậy đâu là phần thưởng của tôi? Đó là khi rao giảng Tin Mừng, tôi rao giảng không công, chẳng hưởng quyền lợi Tin Mừng dành cho tôi.

19 Phải, tôi là một người tự do, không lệ thuộc vào ai, nhưng tôi đã trở thành nô lệ của mọi người, hầu chinh phục thêm được nhiều người. 20 Với người Do-thái, tôi đã trở nên Do-thái, để chinh phục người Do-thái. Với những ai sống theo Lề Luật, tôi đã trở nên người sống theo Lề Luật, dù không còn phải sống theo Lề Luật nữa, để chinh phục những người sống theo Lề Luật. 21 Đối với những kẻ sống ngoài Lề Luật, tôi đã trở nên người sống ngoài Lề Luật, dù tôi không sống ngoài luật Thiên Chúa, nhưng sống trong luật Đức Ki-tô, để chinh phục những người sống ngoài Lề Luật. 22 Tôi đã trở nên yếu với những người yếu, để chinh phục những người yếu. Tôi đã trở nên tất cả cho mọi người, để bằng mọi cách cứu được một số người. 23 Vì Tin Mừng, tôi làm tất cả những điều đó, để cùng được thông chia phần phúc của Tin Mừng” (1Cr 9, 15-23).  Điều nầy cho thấy tầm vóc mà Phao-lô để hết tâm huyết vào việc loan báo Tin Mừng.

 Trong ý hướng đó, Thư 1 Thê-xa-lo-ni-ca, Phao-lô khêu gợi lại công lao khó nhọc mà ông đã thực hiện trong các hoạt động truyền giáo tại Sa-lô-ni-ca: “7 trong khi chúng tôi có thể đòi anh em phải trọng đãi, với tư cách là Tông Đồ Đức Ki-tô. 8 Chúng tôi đã quý mến anh em, đến nỗi sẵn sàng hiến cho anh em, không những Tin Mừng của Thiên Chúa, mà cả mạng sống của chúng tôi nữa, vì anh em đã trở nên những người thân yêu của chúng tôi” (1Tx 2, 7-8).  “Sẵn sàng hiến cho anh em, không những Tin Mừng của Thiên Chúa, mà cả mạng sống của chúng tôi nữa”; nghĩa là muốn nói Phao-lô đồng hóa mình với Tin Mừng, đến mức độ Tin Mừng là lẽ sống của ông, làm cho ông sống, xâm chiếm hết cuộc sống của ông, sứ mệnh truyền giáo chiếm trọn vẹn cuộc đời của ông.

 Phao-lô hăm hở loan báo Tin Mừng phục sinh, Tin Mừng về sự sống lại, cắt nghĩa những sự việc có thể xảy đến bất ngờ cho chúng ta, ngay cả có khi gây chúng ta khó chịu; điều nầy cắt nghĩa sự gay gắt chống lại những kẻ loan báo tin mừng khác, họ muốn áp đặt lên các Ki-tô hữu gốc dân ngoại lề luật của đạo Do thái.  Dưới mắt Phao-lô, làm như vậy là coi công trình của Chúa Ki-tô ra vô hiệu, là tương đối hóa Tin Mừng, là đề cao lề luật và những quy tắc hơn là dựa vào chứng cứ tình yêu mà Thiên Chúa đã ban tặng bằng cách chia sẻ cho đến cùng cuộc sống của những kẻ mất quyền thừa kế, cho đến nỗi bị bỏ rơi, để cứu chuộc họ khỏi sự chết và đem họ vào sự sống đời đời cùng với Cha của Người trong Thánh ThầnĐây không phải là trả món nợ những đối thủ cạnh tranh; đây là sự đối chọi quyết liệt chống lại tất cả những gì có thể làm lu mờ Tin Mừng và giản lược đức tin vào danh sách các lời khuyên răn, và minh triết.  Đức tin trước hết là cử chỉ tình yêu của Thiên Chúa mà chúng ta phải đáp trả lại.  Tôi đã có cuộc gặp gỡ với bốn mươi người mà tôi biết lúc trẻ và họ lớn lên trong đức tin.  Họ bây giờ là những ông nội bà ngoại!  Một trong số họ nói với tôi về các con cái họ và đặc biết nói về những đứa con đã xa lìa đức tin.  Bà nầy có niềm ân hận, có sự đau khổ và, đồng thời, bà đã nói nhiều về điều bà đã cảm nghiệm được hôm nay trong tương quan với Tin Mừng:  “Con cái chúng tôi không còn tin nữa.  Chắc hẳn người ta đã chuyển giao cho chúng một số giá trị Ki-tô giáo.  Người ta đã không chuyển giao cho chúng sự đam mê đối với Chúa Ki-tô và Tin Mừng của Người”.  Thật đúng như vậy, và đúng cho nhiều người khác…  Không cần phải quy tội từ đó, nhưng cần nhìn nhận rằng người ta đã tham dự phần nào đó vào sự đồng lõa giản lược đức tin vào một hệ thống giá trị mà không khẳng định điều chính yếu về sự chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu .  Tôi nói điều đó để chứng tỏ cần phải loan báo Tin Mừng, Tin Mừng đã dẫn dắt Phao-lô chiến đấu chống lại những kẻ đã muốn các Ki-tô hữu gốc dân ngoại trở lại sống theo luật Do thái như thể lề luật quan trọng hơn tình yêu của Thiên Chúa được biểu lộ ra nơi Chúa Giê-su Ki-tô.

 Một dấu chỉ khác về sự vội vàng, về nhiệt huyết đối với Tin Mừng nơi Phao-lô đó là ông dốc công sức vào việc rao giảng.  Phao-lô để cho mình bị liên lụy, ông tham chiếu điều đã xảy ra, không phải để phô trương, nhưng để làm chứng, khởi đi từ những gì ông biết khá hơn về chính mình, về điều mà tình yêu Thiên Chúa có thể thay đổi trong đời sống của một con người.  Tôi gợi nhớ hình ảnh của Phao-lô như là nhà truyền giáo lên đường; một đặc tính khác về lòng nhiệt thành của Phao-lô là ông ao ước đem Tin Mừng đến nơi xa xôi hơn nữa, cho tất cả mọi người, bao lâu ông coi Tin Mừng là điều may mắn cho nhân loại hoàn vũ thì bấy lâu Tin Mừng nầy phải được khám phá.

 Điều quan trọng là chúng ta tự thẩm vấn mình về lòng nhiệt thành tông đồ.  Các bạn là những trợ tá cho Việc Tông Đồ.  Tại Pháp, nhưng cũng tại nhiều nơi khác, người ta nhấn mạnh vào những năm cuối nầy: chứng tá đời sống là điều quan trọng, tuy nhiên cũng phải giới thiệu đức tin, loan báo Tin Mừng, nhất là càng có nhiều người cùng chung sống với chúng ta, họ không còn biết gì nữa về đức tin; ngay cả khi họ thẩm định giá trị của cung cách hành xử của chúng ta, họ cũng không quy hướng những hành động đó trực tiếp về Đức Ki-tô, về sứ điệp của Người, về sự chết, về sự phục sinh của Người; như vậy cần phải giới thiệu Tin Mừng, loan báo Tin Mừng.  Khi người ta trải nghiệm nhiều về cuộc sống, về sứ vụ phải vun trồng bằng sự hiện diện có phần câm lặng, người ta cầu mong nói bằng chính chứng tá cuộc sống dâng hiến, người ta lúng túng về nhấn mạnh đến việc loan báo Tin Mừng, giới thiệu đức tin, nhất là khi người ta chứng kiến đức tin được thể hiện, ở đây hay ở chỗ khác, bằng sự loan báo ầm ĩ.

 Làm thế nào để loan báo Tin Mừng?  Người ta không lên khuôn tất cả thành quy luật khi giới thiệu Tin Mừng.  Có nhiều cách khác nhau để giới thiệu đức tin.  Ít là có ba phương thức:  Người ta có thể trình bày đức tin theo lối giảng dạy: nói những điều cần phải tin, điều này làm yên tâm.  Chắc chắn đó là sứ mệnh của một số người giảng dạy, tuy nhiên đó không phải là cách duy nhất loan báo Lời.  Người ta cũng có thể loan báo Lời bằng khẳng định, nghĩa là bằng cách nói lời chứng từ, bằng cách cắt nghĩa kinh nghiệm sâu xa đã làm cho chúng ta sống đức tin vào Chúa Giêsu Kitô chết và sống lại, làm thế sao chúng ta kinh nghiệm sống mà không ngừng  được đổi mới bằng Thánh Thần.  Đó là cách trình bày khác về Tin Mừng, giới thiệu đức tin.  Một cách khác nữa mà tôi coi là rất quan trọng, đó là trình bày đức tin trong khung cảnh một cuộc đối thoại móc nối: một cuộc đối thoại với người khác, nó không nằm trên mặt bằng cuộc sống nhưng trên những lý do để tồn tại.  Bằng mọi cách giúp đỡ tha nhân để cho họ tự bộc lộ mình về những gì làm cho họ sống, về những gì làm cho họ đứng vững, về những gì làm cho họ hy vọng. Điều quan trọng là họ ý thức về những điều đó, thường thì họ bằng lòng sống những điều được cung cấp cho họ sống mà không thưởng thức, không đào sâu về sự kiện đó.  Và tôi tin, trong một cuộc nói chuyện về những lý do làm cho người ta sống, về những động lực sâu thẳm làm cho chúng ta hành động, chúng ta là những Ki-tô hữu, không tham vọng lên lớp dạy đời ai, chúng ta có thể trình bày điều làm chúng ta hoạt động, hoặc hơn thế nữa trình bày Đấng thúc giục chúng ta hành động, tức Thần khí của Chúa Ki-tô.  Cuộc trao đổi nầy không gây sức  ép, nhưng làm cho lớn xét về mặt nhân loại; và đồng thời có thể làm cho người khác thoáng thấy Đấng mà chúng ta tin tưởng.  Bạn có nhiệm vụ tìm kiếm ngày hôm nay, trong thời gian suy nghĩ, và cầu nguyện, làm thế nào bạn có thể đặt vài dấu nhấn mới trong cách sống Việc Tông Đồ, bằng cách nội tâm hóa nhiều hơn Tin Mừng nầy để Tin Mừng trở nên, cho chính bạn, một kinh nghiệm mạnh mẽ đến nỗi bạn không có thể giữ lấy Tin Mừng cho riêng bạn, mà không đánh mất đi tình bác ái.  Hai Thánh vịnh có thể trợ giúp bạn: Tv 95 : “Hãy tường thuật cho muôn dân mọi nước những kỳ công của Chúa” và Tv 45: “Thiên Chúa vượt lên trên hết mọi sự”.

 Lm Nguyễn Quang Vinh chuyển ngữ

Phương Hòa Kontum, Việt Nam

About these ads
%d bloggers like this: