HỌC HỎI THÁNH PHAOLÔ (12): SỐNG LIỀU MÌNH, SỐNG DÂNG HIẾN

Lm Dubreuil

Lourdes 2010

Bài số 11

  Sống Liều Mình, Sống Dâng Hiến

  Một bài viết trong tạp chí “La Croix” (x. số 5, Tháng 5, 2009) kết thúc thế nầy : “Để trở thành tông đồ các dân tộc hôm nay, chẳng phải là như Phao-lô táo bạo rời bỏ Giê-ru-sa-lem và hành trình đi Đa-mát.  Chính trên con đường nầy chúng ta sẽ gặp gỡ Đức Chúa để chuẩn bị một cách khác Giáo Hội ngày mai”.  Thật vậy, nút thắt được Phao-lô hoàn tất từ Giê-ru-sa-lem đến Giê-ru-sa-lem, qua đường Đa-mát nơi xảy ra sự đảo lộn hoàn toàn so với những gì ông tiên liệu, sự kiện đã thật sự làm thay đổi cuộc đời của ông và, điều quan trọng hơn, sự kiện đó là khúc quanh đáng ghi nhớ mà chúng ta được thừa hưởng, trong loan báo Tin Mừng và trong việc làm cho Giáo Hội lớn lên.

 Từ khi theo Chúa, sau khi khám phá ra rằng Chúa Giêsu không phải là kẻ phạm thượng như ông tưởng nhưng trái lại Người là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, là Con của Cha, đã đến chia sẻ thân phận nhân loại của chúng ta và sau khi được Kha-na-ni-a làm phép rửa cho, Phao-lô đinh ninh cần phải thông tri sứ điệp nầy, lời loan báo giải phóng nầy cho đông đảo dân chúng.  Chúng ta ghi nhận những cố gắng của Phao-lô nhằm “được kết nạp” vào Giáo Hội, theo thuật ngữ trong Công Vụ Tông Đồ, để thật sự đi vào trong cộng đoàn các môn đệ của Chúa Giêsu; điều nầy là một việc làm thật nhiêu khê, phải kể đến sự nghi ngờ mà Phao-lô đã gây nên và sự kiện dân chúng khó tin sự việc ông trở lại quá nhanh như vậy.  Điều nầy cho phép chúng ta tự hỏi đời sống chúng ta trong Giáo Hội là gì.  Ở cuối trình thuật liên quan đến cuộc gặp gỡ tại Đa-mát xuất hiện những khó khăn, những chướng ngại và những cuộc bắt bớ mà Phao-lô là đối tượng; chúng ta sẽ suy nghĩ việc nầy qua châm ngôn: “Một cuộc sống liều mình, một cuộc sống dâng hiến”.

 Những khó khăn chồng chất làm Phao-lô phải thoát thân, điều nầy cho chúng ta thấy Phao-lô không phải là một chiến binh cảm tử, ông không tìm kiếm khó khăn vì khó khăn, ông ưu tư làm thế nào tiếp tục sứ vụ của mình.  Đơn giản ông phải đương đầu với sự thiếu thông cảm và sự thù địch; ông muốn thỉnh thoảng rút ra những hậu quả.  Người ta nói rằng những Ki-tô hữu tại Giê-ru-sa-lem mà Phao-lô cố gắng móc nối, hết sức “sửng sốt” khi nghe ông nói.  “21 Mọi người nghe ông giảng đều kinh ngạc và nói: ‘Ông này chẳng phải là người ở Giê-ru-sa-lem vẫn tiêu diệt những ai kêu cầu danh Giê-su sao? Chẳng phải ông đã đến đây với mục đích bắt trói họ giải về cho các thượng tế sao?’ 22 Nhưng ông Sao-lô càng thêm vững mạnh, và ông làm cho người Do-thái ở Đa-mát phải bẽ mặt, khi minh chứng rằng Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a. 23 Sau một thời gian khá lâu, người Do-thái cùng nhau bàn kế giết ông Sao-lô; 24 (không có giải pháp trung dung, không chỉ bắt bớ và cầm tù mà thôi) nhưng ông biết được âm mưu của họ. Thậm chí người ta canh giữ các cửa thành ngày đêm, để giết ông. 25 Nhưng ban đêm, các môn đệ ông đã đưa ông qua tường thành bằng cách đặt ông ngồi trong một cái thúng rồi dòng dây thả xuống” (Cv 9, 21-25).

 Phao-lô đến Giê-ru-sa-lem như thế đó, nơi đây ông cũng gặp những khó khăn y như trước đây khi muốn được kết nạp vào cộng đoàn các môn đệ của Chúa Giêsu, trừ khoản ông tìm được một người cha đỡ đầu là Ba-na-ba, ông nầy hướng dẫn Phao-lô đến với các tông đồ và cắt nghĩa cho các vị sự việc đã xảy ra cho Phao-lô.  Cho nên Phao-lô tìm lại được một hành lang tự do rộng rãi hơn cho phép ông được đi lại, được có tiếng nói mà không đến nỗi bị chống đối.  Chuyện còn lại là Phao-lô cố gắng đi vào đối thoại trong các hội đường mà người Hy-lạp chủ trì (tức người Do thái nói tiếng Hy-lạp như Phao-lô vậy), những người nầy lại tìm cách giết chết Phao-lô: các anh em nghe biết chuyện đó, quyết định đem Phao-lô xuống Xê-da-rê để từ đó ông có thể về quê hương của mình là Tác-xô (x. Cv 9, 26-30).

 Dù ở Đa-mát hoặc ở Giê-ru-sa-lem, hoàn cảnh của Phao-lô đều không mấy thuận lợi.  Ông lại chạm trán với những khó khăn, đương đầu với những cuộc chiến, trong tình trạng bị bách hại, mà chính ông là người đã bắt bớ kẻ khác từ lâu nay.  Các ghi nhận nhỏ nhặt nầy xảy đến ngay sau khi Phao-lô hoán cải và chấp nhận theo Chúa Giêsu Kitô thì rõ rệt.  Tất cả điều đó tiên báo rằng, trong suốt cuộc đời của Phao-lô, ông sẽ đối đầu với những chống đối, với sự thù ghét, và nhiều lần ông sẽ bị truy nã, săn đuổi, bị bắt cầm tù, bị đe dọa chết chóc.  Sự thù ghét nầy xảy ra tứ phía: ngoài ra còn có sự thù ghét và luôn luôn thù ghét từ phía người Do thái, họ coi ông là kẻ phản trắc, một kẻ xét lại đạo Do thái, một kẻ gây phương hại cho tương lai của Do thái giáo và họ muốn xóa sổ ông.  Lời rao giảng của Phao-lô, lời loan báo Tin Mừng cũng gây nên sự thù ghét nơi một số anh em dân ngoại, đặc biệt tại Ê-phê-xô: những người dân ngoại kinh doanh việc thờ cúng các ngẫu tượng (chung quanh việc thờ cúng nầy còn phát triển cả một cụm kinh doanh thương mại khác) và khi thấy có ai đó chống đối lại các ngẫu tượng một cách mạnh mẽ để rao giảng một Thiên Chúa mà người ta không còn tôn thờ theo cách cũ nữa, không làm cho các con buôn chạy việc.  Tại Ê-phê-xô một cuộc bạo động lớn của các thợ kim hoàn (x. Cv 19, 23-40).

 Sự thù ghét của người Do-thái, sự thù ghét của dân ngoại và đặc biệt của những kẻ sống bằng kinh doanh cổ vũ thờ lạy ngẫu tượng, sự thù ghét của quan quyền, vua chúa, họ luôn luôn rình rập những kẻ gây rối.  Đối với những người có trách nhiệm duy trì trật tự, Phao-lô là kẻ gây xáo trộn, một kẻ có nguy cơ làm đảo lộn trật tự xã hội; cần phải được theo dõi.  Ông tạo nên sự chia rẽ, và chống đối, ông tạo nên sự xào xáo và những kẻ gây xáo trộn không bao giờ được nhà cầm quyền thừa nhận.  Sự thù ghét bên ngoài cộng với sự thù ghét bên trong nội bộ.  Các Ki-tô hữu không săn lùng Phao-lô, bắt cầm tù ông nhưng họ biểu lộ sự hoài nghị dai dẵng.  Những Ki-tô hữu nầy không đồng thuận tin là Phao-lô thật sự hoán cải trở lại, và nhất là không chấp nhận thấy ông xa cách lề luật Do-thái nơi mà ông được đào tạo, ông tố giác lề luật làm cho thập giá Chúa Giêsu Kitô ra vô hiệu.  Tất cả đã tạo nên nhiều kẻ thù; cho nên việc tông đồ của Phao-lô và cuộc sống của chính ông không được thuận lợi.

 Chúng ta không nói thêm nữa! Các Thư cũng diễn tả sự va chạm của Phao-lô.  Người ta biết Phao-lô cống hiến nhiều cho việc rao giảng Phúc Âm, Tin Mừng của Chúa Ki-tô trong tất các xứ vùng Tiểu Á, rồi Hy-lạp và tới Rô-ma, ông làm nẩy sinh nhiều cộng đoàn, ông quan tâm đến họ, ông gắn bó với những cộng đoàn nầy, ông có các tín hữu như Ti-tô, Ti-mô-tê và nhiều tín hữu khác là những cộng tác viên đắc lực của ông.  Phao-lô không những chỉ bị chặn đứng vì những khó khăn.  Các thành công trong công việc tông đồ đã làm ông phải gánh chịu do những kẻ đã đón nhận lời, họ đã được biến đổi bởi lời và họ cảm tạ ông về sự giải thoát trong Chúa Ki-tô mà ông mang lại cho họ.  Sự thù ghét đã thật sự ghi đậm dấu ấn trong đời của ông, đã rõ rệt làm tổn thương tình cảm của ông và, trong vài lãnh vực đã làm khó cho việc tông đồ của ông, nhất là khi sự thù ghét đi đến chỗ tù đày, đã giới hạn rất nhiều tự do hoạt động của ông.

 Nếu có văn kiện tóm tắt đầy đủ trọn vẹn những thử thách rơi xuống trên đầu Phao-lô, thì đó là Thư 2 Cô-rin-tô. Xin nhắc lại bối cảnh: Phao-lô có vấn đề trục trặc với các Ki-tô hữu Cô-rin- tô, họ không muốn ông đến thăm họ như ông đã hứa.  Họ cáo tội ông là dối trá, đã lừa dối họ, vì ông không dứt khoát “” cho ra “”, ông “lưỡng lự”.  Cho nên họ xa lánh ông và xét lại vấn đề đối với ông, như thế Phao-lô ở trong tình trạng buộc lòng phải chống đỡ.  Ông đã làm hai cách; trước hết ông nêu ra những “tước hiệu phục vụ của ông” để so sánh, đó là những thử thách cam go; dưới cái nhìn của ông, và chắc hẳn là như thế dưới con mắt của những người nhận thư của ông, họ xác định sự sâu sắc về những xác tín của ông: Không phải hời hợt mà ông thi hành điều ông làm bởi vì ông chấp nhận tất cả hiệu quả, ngay cả khủng khiếp đối với bản thân ông.

 Trong nhịp thứ nhất Phao-lô nói tất cả những gì ông gánh chịu vì đức tin và nhịp thứ hai ông nói đến các mặc khải (nơi chính ông, mặc dù ông không muốn làm như vậy), những kinh nghiệm thần bí, thiêng liêng, đặc biệt, mà ông được lãnh nhận, chính ông nhìn nhận đó là sự điên rồ khi nêu lên những điều nầy; xem ra ông muốn nhận lấy những phần thưởng mà ông không cần đến lúc bấy giờ nữa; xem ra ông muốn thanh minh bằng mọi giá trong lúc mà Đức Chúa minh xét cho ông!  Phao-lô bắt đầu nói rằng ông có các danh hiệu như các người rao giảng Tin Mừng khác và họ tự cho mình quyền nói ngược giáo huấn của ông; rồi bổng ông gợi ra những vất vả, tù đày, roi vọt, nguy hiểm chết người: “24 Năm lần tôi bị người Do-thái đánh bốn mươi roi bớt một; 25 ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị đắm tàu; một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi! 26 Tôi còn hơn họ, vì phải thực hiện nhiều cuộc hành trình, gặp bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm vì dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố, trong sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em. 27 Tôi còn phải vất vả mệt nhọc, thường phải thức đêm, bị đói khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng. 28 Không kể các điều khác, còn có nỗi ray rứt hằng ngày của tôi là mối bận tâm lo cho tất cả các Hội Thánh! 29 Có ai yếu đuối mà tôi lại không cảm thấy mình yếu đuối? Có ai vấp ngã mà tôi lại không cảm thấy lòng sôi lên?

30 Nếu phải tự hào, thì tôi sẽ tự hào về những yếu đuối của tôi. 31 Thiên Chúa, Đấng đáng chúc tụng muôn đời, là Cha của Chúa Giê-su, biết rằng tôi không nói dối” (2Cr 11, 24-31). Đó là gợi lại những thử thách mà Phao-lô đã kinh qua, những vất vả do di chuyển từ nơi nầy qua nơi khác, do thời tiết, những thử thách do ganh tỵ hiềm khích của những người săn lùng ông.

 Sau khi đã nêu ra các mặc khải và các thị kiến lạ lùng mà ông được thừa hưởng khi ông đã cầu nguyện với Cha, Phao-lô đã liên tưởng đến cái “dằm” đã đâm vào thịt ông mà các nhà chú giải vô phương đoán là cái gì.  Một điều gì đó gợi lại cho ông sự yếu đuối, sự nhỏ mọn nơi ông, nó đưa ông về giới hạn đúng của mình, không cho ông tự kiêu, chắc chắn nó làm cho ông khiêm hạ, nó hạ ông xuống và ông mong muốn tháo gỡ nó đi.  Nhiều lần Phao-lô đã xin Đức Chúa rút cái dằm nầy khỏi thân xác ông, ông coi đó như “thần sứ của xa-tan”: “7Và để tôi khỏi tự cao tự đại vì những mặc khải phi thường tôi đã nhận được, thân xác tôi như đã bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Xa-tan được sai đến vả mặt tôi, để tôi khỏi tự cao tự đại. 8 Đã ba lần tôi xin Chúa cho thoát khỏi nỗi khổ này. 9 Nhưng Người quả quyết với tôi: “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.” Thế nên tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Ki-tô ở mãi trong tôi. 10 Vì vậy, tôi cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối, khi bị sỉ nhục, hoạn nạn, bắt bớ, ngặt nghèo vì Đức Ki-tô. Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2Cr 12, 7-10).

 Hãy hiểu thấu đáo đoạn văn nầy: Phao-lô không tìm đau khổ để thỏa mãn.  Chính trong lô-gích của sứ vụ tong đồ, trong nhiệt huyết loan báo Tin Mừng mà ông chạm trán những khó khăn, ông là nạn nhân của những thách đố ấy, mà ông phải gánh chịu những thiệt thòi; ông không thách đố.  Tại Đa-mát, khi Phao-lô biết người ta sẽ loại bỏ ông, ông đã trốn tránh; tại Giê-ru-sa-lem khi ông biết người ta tìm giết hại ông, ông đã đào thoát.  Phao-lô coi những cuộc bách hại và những việc khác xảy đến với ông cũng như bao nhiêu biến cố mà Đức Chúa dung để tránh cho ông khỏi kiêu ngạo về điều ông làm và để nhắc lại cho ông rằng chính nhờ Đức Giê-su mà ông có đủ sức làm những việc vượt quá khả năng của riêng mình.  “Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh”.  Khi tôi  bị bó tay, Đức Chúa lại thực hiện: Đức Chúa làm việc nơi tôi.

 Trong các Thư Phao-lô có nhiều ám chỉ khác nói về những bách hại.  Trong Thư Phi-líp-phê, Phao-lô ám chỉ đến sự bắt bớ mà ông gánh chịu; ông nói minh bạch rằng ông viết Thư nầy trong nhà tù.  Là tù nhân, sự thiệt thòi là cản trở sự tự do của ông.  Thật thú vị cách Phao-lô giải thích chuyện xảy ra cho ông: “12 Thưa anh em, tôi muốn anh em biết là những gì xảy đến cho tôi thật ra đã giúp cho Tin Mừng được tiến triển, (Phao-lô sắp nói đến tù tội, nhưng thay vì ca thán về những đau khổ, những bất lợi, những phiền toái thì tất cả những sự đó lại là sự thuận lợi đẩy mạnh Tin Mừng)13 đến nỗi tại dinh vua quan ( bởi vì là một tù nhân, ông phải ra trước quan tòa, trước nhà hữu trách) cũng như ở mọi nơi khác, người ta đều hiểu rõ là chính vì Đức Ki-tô mà tôi mang xiềng xích. 14 Vì thấy tôi bị xiềng xích, phần đông các anh em có lòng tin cậy vào Chúa đã tỏ ra bạo dạn hơn để rao giảng lời Thiên Chúa mà không chút sợ hãi. 15 Đã hẳn, có những kẻ rao giảng về Đức Ki-tô vì lòng ganh tị và tranh chấp, song những người khác lại làm công việc đó vì ý ngay lành ( Ngay cả những kẻ rao giảng vì ganh tỵ, điều quan trọng là Chúa Ki-tô được rao giảng). 16 Những người này làm vì bác ái, bởi họ biết rằng tôi được chỉ định để lo bênh vực Tin Mừng. 17 Còn những người kia thì loan báo Đức Ki-tô vì tính ưa tranh giành, họ không có lòng ngay, tưởng làm như thế là gây thêm khổ cho tôi (Ông cáo tội họ khi nói: ‘Ông đang bị tù, càng tốt!  Điều đó tốt cho ông và đặt ông vào vị trí của mình’), trong lúc tôi bị xiềng xích. 18 Nhưng không sao đâu! Dù thế nào đi nữa với ý lành hay ý xấu, cuối cùng Đức Ki-tô được rao giảng là tôi mừng. Và tôi sẽ còn mừng nữa” (Pl 1, 12-18).  Bản văn nầy nói lên tình trạng đau khổ của vị tông đồ: tù đày.  Vào thời đó điều kiện của tù nhân rất là khó khăn khổ sở.  Phao-lô gánh chịu điều đó, mà ngay tại nơi ấy, ông thấy được những sự việc khả thi.  Cái thiên tài của Phao-lô là thiên tài của đức tin, chính là nhận ra những đốm sáng lờ mờ, chúng cho chúng ta một cái nhìn loáng thoáng ngay cả trong đêm tối.

 Cũng có những âm vang như thế trong Thư 1 Thê-xa-lô-ni-ca: “1 Thật vậy, thưa anh em, chính anh em biết rằng việc anh em đón tiếp chúng tôi không phải vô ích.  2 Như anh em biết, chúng tôi đã đau khổ và bị làm nhục tại Phi-líp-phê; nhưng vì tin tưởng vào Thiên Chúa chúng ta mà chúng tôi đã mạnh dạn rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa cho anh em, qua những cuộc chiến đấu gay go. 3 Lời giảng của chúng tôi không do sự sai lầm, không có dụng ý xấu, không nhằm lừa dối ai, 4 nhưng vì Thiên Chúa đã thử luyện chúng tôi và giao phó Tin Mừng cho chúng tôi, thì chúng tôi cứ vậy mà rao giảng, không phải để làm vừa lòng người phàm, mà để làm đẹp lòng Thiên Chúa, Đấng thử luyện tâm hồn chúng tôi. 5 Không bao giờ chúng tôi đã dùng lời xu nịnh, như anh em biết; không bao giờ chúng tôi đã viện cớ để che đậy lòng tham, có Thiên Chúa chứng giám; 6 không bao giờ chúng tôi đã tìm cách để được một người phàm nào tôn vinh, dù là anh em hay người khác, 7 trong khi chúng tôi có thể đòi anh em phải trọng đãi, với tư cách là Tông Đồ Đức Ki-tôTrái lại, chúng tôi ở giữa anh em đầy yêu thương, như mẹ hiền nuôi nấng ấp ủ con thơ” (1Tx 2, 1-7).  Phao-lô nói lên ưu tư rao giảng Tin Mừng, không gian lận sự thật về Tin Mừng, làm cho tin mừng dễ nuốt hơn, đơn giản hơn, hấp dẫn hơn; ông không bao giờ mắc sai lầm nầy.  Ông luôn trình bày Tin Mừng trong sự đòi hỏi, điều nầy làm cho ông gánh chịu những thù hằn như chúng ta biết.

 Trong Thư Cô-lô-xê Phao-lô nói về ý nghĩa các đau khổ của ông: “Những gian nan thử thách Đức Ki-tô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh” (Cl 1, 24).  Phao-lô ý thức về các đau khổ, về việc ông bị bách hại vì Giáo Hội.  Nhưng nhất là ông ý thức rằng những đau khổ mà ông chịu vì Tin Mừng kết nối ông lại với Chúa Giê-su bị đóng đinh và, đối với ông cũng như đối với Chúa Giê-su, đó là con đường phục sinh, là con đường phục sinh cho anh em nhân loại.  Như thế không phải là do thuyết ái khổ thiếu lành mạnh, mà Phao-lô có thái độ đón nhận các đau khổ với một sự thanh thoát; mà chính bởi vì các đau khổ nối kết ông với mầu nhiệm thập giá và các đau khổ đó làm cho ông tham dự vào sự năng động vượt qua mà ông ao ước sống và làm cho nhân loại sống nữa.

 Thư Do Thái không phải là tác phẩm trực tiếp của vị tông đồ, nhưng chắc chắn được ông gợi hứng.  Cuối bức Thư, tác giả đưa lên sân khấu tất cả những ai, trong chiều dài của lịch sữ ơn cứu độ, đã làm chứng hùng hồn cho đức tin.  Bắt đầu từ Ap-ra-ham… cuối bảng liệt kê ta có thể đọc: “1 Như thế, phần chúng ta, được ngần ấy nhân chứng đức tin như đám mây bao quanh, chúng ta hãy cởi bỏ mọi gánh nặng và tội lỗi đang trói buộc mình, và hãy kiên trì chạy trong cuộc đua dành cho ta, 2 mắt hướng về Đức Giê-su là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin. Chính Người đã khước từ niềm vui dành cho mình, mà cam chịu khổ hình thập giá, chẳng nề chi ô nhục, và nay đang ngự bên hữu ngai Thiên Chúa. 3 Anh em hãy tưởng nhớ Đấng đã cam chịu để cho những người tội lỗi chống đối mình như thế, để anh em khỏi sờn lòng nản chí. 4 Quả thật, trong cuộc chiến đấu với tội lỗi, anh em chưa chống trả đến mức đổ máu đâu.  Thiên Chúa lấy tình cha mà giáo dục.  5 Anh em đã quên lời khuyên nhủ được nói với anh em như với những người con: Con ơi, đừng coi nhẹ lời Chúa sửa dạy, chớ nản lòng khi Người khiển trách. 6 Vì Chúa thương ai thì mới sửa dạy kẻ ấy, và có nhận ai làm con thì Người mới cho roi cho vọt. 7 Anh em hãy kiên trì để cho Thiên Chúa sửa dạy. Người đối xử với anh em như với những người con. Thật vậy, có đứa con nào mà người cha không sửa dạy?” (Dt 12, 1-7).   Đó là lời mời gọi bước theo Chúa Ki-tô cho đến cùng, cho đến thập giá, như chính Phao-lô đã làm.

 Như thế đối với Phao-lô, sống đời tông đồ, là liều mạng sống mình, không phải do bản năng hiếu chiến hoặc vinh quang!  Nhưng chính là xả thân theo Chúa Ki-tô để làm chứng cho sự thật, để được nối kết vào cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su Đấng đã khai mở vào sự sống lại.  Nơi thánh Phao-lô, sự kiện dấn thân đến quên mạng sống rất gắn chặt với ý muốn hiến dâng mạng sống đồng thời mang đến Tin Mừng.  Phao-lô nói với tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca: “Chúng tôi sẵn sàng hiến cho anh em, không những Tin Mừng của Thiên Chúa, mà cả mạng sống của chúng tôi nữa” (x. 1Tx 2, 8).  Đây là câu nói bản lề để hiểu thánh Phao-lô: ông để mình liên lụy trong Tin Mừng, ông đầu tư đời mình trong sứ điệp bước theo Chúa Ki-tô mà ông rao giảng, ông hiến dâng mạng sống trong khi trao ban Tin Mừng.

 Có nhiều công thức chứng minh sự đầu tư chính bản thân ông.  Phao-lô đồng ý về việc loan báo Tin Mừng:Vậy đâu là phần thưởng của tôi? Đó là khi rao giảng Tin Mừng, tôi rao giảng không công, chẳng hưởng quyền lợi Tin Mừng dành cho tôi” (1Cr 9, 18).  Ý tưởng về món quà nhưng không: Phao-lô rao giảng Tin Mừng không phải để đổi lấy cái gì đó, ngay cả không phải để được người khác biết ơn vì ông đã mang đến cho họ sự may mắn, niềm hạnh phúc.  Phao-lô rao giảng Tin Mừng cách nhưng không bởi vì chính ông được khởi hứng bằng tình yêu nhưng không của Thiên Chúa.  “Tôi sẽ tiêu hao trọn vẹn bản thân mình vì anh em” (2Cr 12, 15), cách nói diễn tả sự tự hiến hoàn toàn.  Lại nữa cũng đừng hiểu sai ý nghĩa của từ ngữ.   Điều nầy không có nghĩa là Phao-lô trở nên vô cảm, rằng sự biết ơn không có giá trị gì đối với ông, rằng ông đứng cao hơn những sự nầy.  Trái lại Phao-lô tỏ ra nhạy cảm với những chứng tá về lòng biết ơn, về sự trìu mến mà những thành viên trong cộng đoàn bộc lộ cho ông.  Ông cần tất cả những điều đó bởi vì ông là con người như tất cả chúng ta, tuy nhiên những điều đó không giam hãm được ông.   Không phải để chinh phục lòng biết ơn mà ông đầu tư đời mình.  Ông tình nguyện phục vụ tha nhân mà trước tiên không tìm báo đáp.

 Đầu tư chính mình có tên gọi là : tình yêu.  Tình yêu của Phao-lô đối với các cộng đoàn xem ra có chút gia trưởng, chiếm đoạt, thúc bách, ví dụ khi ông nói: “Tôi viết những lời đó không phải để làm anh em xấu hổ, nhưng là để sửa dạy anh em như những người con yêu quý của tôi. 15 Thật thế, cho dầu anh em có ngàn vạn giám thị trong Đức Ki-tô, anh em cũng không có nhiều cha đâu, bởi vì trong Đức Ki-tô Giê-su, nhờ Tin Mừng, chính tôi đã sinh ra anh em. 16 Vậy tôi khuyên anh em: hãy bắt chước tôi” (x. 1Cr 4, 14-16 hoặc 2Cr 6,11; 11,1).  Tôi cho rằng cần phải đọc trích đoạn nầy như lối diễn tả một đam mê.  Trong thông điệp đầu tiên: “Deus caritas est” (Thiên Chúa là Tình Yêu) của Đức Bê-nê-đíc-tô XVI, ngài rất quan tâm minh chứng làm thế nào tình yêu, mọi thứ tình yêu kể cả tình yêu Thiên Chúa, đều gồm có hai chiều kích bất khả li: chiều kích “agapè”, tự dâng hiến, và chiều kích “eros”, ao ước, đam mê.  Đức Thánh Cha nói (lần đầu tiên trong một văn kiện chính thức của Giáo Hội) eros nơi Thiên Chúa, nghĩa là có sự chờ đợi câu đáp trả, một sự đáp trả cho tình yêu được trao ban; và đàng khác có tình yêu eros nơi Thiên Chúa, trong Đức Ki-tô, theo như Phao-lô cũng đã sống.  Điều nầy không làm chúng ta xa lánh Thiên Chúa bởi vì nơi Thiên Chúa erosagapè đan quyện vào nhau.  Điều nầy làm chúng ta xích lại gần với Phao-lô bởi vì chúng ta không thể yêu mà không có đáp trả.  Ngay nơi tâm điểm của đời sống thiêng liêng, đời sống tông đồ của Phao-lô, của cuộc sống của ông, chắc hẳn có Chúa Thánh Thần, và với Chúa Thánh Thần, thì có hoa trái của Thánh Thần, đứng đầu là tình bác ái.

 Bài ca đức ái trong Thư 1 Co-rin-tô rất tuyệt vời.  Bài ca tán dương hạnh phúc, theo ý nghĩa sâu sắc của từ ngữ, của người trẻ kết hôn với nhau và bản văn nói rất nhiều điều về họ ; họ có hiểu sự sâu xa nầy không?  Đây là vấn đề về Chúa Thánh Thần, tuy nhiên chúng ta có bổn phận trình bày cho họ điều đó.  Phao-lô nói về những đặc sủng và sự cần thiết nhất trí với nhau, gắn bó nhau bằng nhấn mạnh đến sự bổ túc cho nhau, gợi lên cho họ sự khác biệt, nhưng chỉ có một Thánh Thần.  Phao-lô kết luận thế nầy: “31 Trong các ân huệ của Thiên Chúa, anh em cứ tha thiết tìm những ơn cao trọng nhất. Nhưng đây tôi xin chỉ cho anh em con đường trổi vượt hơn cả.  1 Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoảng. 2 Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. 3 Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi. 4 Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, 5 không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, 6 không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. 7 Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả. 8 Đức mến không bao giờ mất được. Ơn nói tiên tri ư? Cũng chỉ nhất thời. Nói các tiếng lạ chăng? Có ngày sẽ hết. Ơn hiểu biết ư? Rồi cũng chẳng còn. 9 Vì chưng sự hiểu biết thì có ngần, ơn nói tiên tri cũng có hạn. 10 Khi cái hoàn hảo tới, thì cái có ngần có hạn sẽ biến đi. 11 Cũng như khi tôi còn là trẻ con, tôi nói năng như trẻ con, hiểu biết như trẻ con, suy nghĩ như trẻ con; nhưng khi tôi đã thành người lớn, thì tôi bỏ tất cả những gì là trẻ con. 12 Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau sẽ được mặt giáp mặt. Bây giờ tôi biết chỉ có ngần có hạn, mai sau tôi sẽ được biết hết, như Thiên Chúa biết tôi. 13 Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến” (1Cr 12, 31 – 13,13).  Chính tình yêu nầy thúc đẩy vị tông đồ liều mình vì Tin Mừng và hiến thân mình khi rao giảng Tin Mừng.  Mỗi người xét xem bản văn nầy nói gì với bạn.

 Cần nuôi dưỡng nơi chúng ta niềm xác tín rằng chúng ta không thể phụng sự Chúa Ki-tô vừa làm hài lòng tất cả mọi người. Đàng khác nhấn mạnh về lề luật, Phao-lô thường trách móc các ngụy tông đồ, các người ngụy rao giảng tin mừng, họ nói để vui tai, để thiên hạ tìm được điều họ mong muốn, để việc đó khẳng định cho người nghe điều họ tin mà không gây sức ép nơi họ.  Đó là sự cám dỗ tinh tế bởi vì sứ mệnh của chúng ta là trình bày đức tin như đức tin có thể được đón nhận và có thể hiểu được đối với người nghe, trong khi phải biết nói điều cốt yếu của đức tin.  Nói bằng ngôn từ với tất cả mọi người, bởi vì ngôn từ đánh động người nghe đến nơi sâu thẳm mà không dát mỏng đức tin để dễ được đón nhận.  Phải chấp nhận sự thiếu thông cảm, sự dửng dưng, sự từ chối: làm nên tính đồng nhất không nhất thiết phải là điều mà chúng ta có thể hy vọng nhiều hơn như sự chân thực của hành vi rao giảng tin mừng của chúng ta.

 Một số trong các bạn gặp những tình huống khó khăn có thể đe dọa cuộc sống.  Đối với phần lớn, chúng ta không hề bị đe dọa bách hại nặng nề; trái lại chúng ta gặp những chướng ngại, sự thù hận, sự chống đối.  Sự việc đi xa hơn như điều mong muốn; kể cả đối với những người thân cận, chúng ta cảm thấy trở nên xa lạ đối với họ, và đó là kinh nghiệm khó nuốt trôi, nhất là chúng ta có khuynh hướng quy trách tội lỗi cho chính mình về tình huống đó.  Làm thế nào đón nhận tình huống như thế được?  Làm thế nào đón nhận như thế bởi vì con người có tự do và rằng Chúa Ki-tô không bao giờ đồng thuận chèn ép tự do?

 Bản văn mà tôi vừa đọc là một lời kêu gọi xác minh phẩm chất tình yêu của chúng ta; trong phần đầu, bản văn cấm xác nhận quá dễ dàng về tình yêu .  Ví dụ khi đọc: “Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi”, người ta tự hỏi “Cần phải gì nữa?  Nếu cho đi tất cả, người ta có thể làm gì hơn thế nữa?”  Người ta luôn luôn có khuynh hướng, theo kiểu nói của Phao-lô, tự cho mình là công chính bằng các việc công đức: tôi cho và như thế tôi yêu mến; Phao-lô nói cho chúng ta hay: điều đó không hẳn là như vậy!  Chắc hẳn cung cách hành xử của chúng ta, đều mang ý nghĩa những gì chúng ta có trong tâm hồn, tuy nhiên có thể xảy ra chúng ta làm những điều đó trên lý thuyết là mang ý nghĩa tình yêu, trong lúc mà có thể không đơn thuần chỉ là tình yêu mà chúng ta làm những điều đó; như thế cần phải cảnh giác chúng ta đừng quá xét đoán phẩm chất tình yêu của chúng ta bằng những hoa trái thu lượm được.  Trái lại phần thứ hai, bó buộc chúng ta nhìn tình yêu đến tận chi tiết cụ thể nhất, trong những thái độ tinh tế nhất: tình yêu phục vụ, tình yêu chịu đựng tất cả, tình yêu tôi luyện.  Cả hai đều đúng:  đừng cho rằng chúng ta yêu thương nhiều bởi vì chúng ta thực hiện những sự to lớn.  Chúng ta hãy xác định làm thế nào cách hành xử của chúng ta hằng ngày được thúc đẩy bằng tình yêu chân thật.

 Đại Chủng Viện Huế

Ngày mưa lạnh 17. 2. 2012

Lm Nguyễn Quang Vinh chuyển ngử

About these ads
%d bloggers like this: