CHUYỆN PHIẾM ĐẠO ĐỜI (TẬP V)

CHUYỆN PHIẾM ĐẠO ĐỜI (TẬP V)

Bia CPDD V

 

Lời Bạt

Thấp thoáng, thế mà cũng đã 4 năm kể từ ngày Chuyện Phiếm Đạo Đời Tập 1 – của tác giả Trần Ngọc Mười Hai – được gửi đến quý độc giả gần xa. Lần này với Tập 5, tác giả vẫn ưu ái dành cho chúng tôi viết đôi lời dẫn nhập. Xin thú thật đó quả là một sự ưu ái mang nhiều tính thử thách, vì rằng nguồn cảm hứng thì thật khó mà có thể ví được với tác giả. Duy chỉ với nội dung súc tích và lôi cuốn của các bài viết qua ngòi bút dí dỏm của Trần Ngọc Mười Hai, thì có lẽ chẳng cần gì phải dẫn nhập. Thế nhưng, sau khi suy đi nghĩ lại, thì có lẽ điều mà quý độc giả thân thương – người biết kẻ không – đó là những tâm tình sâu lắng của tác giả mà có khi qua những chuyện phiếm trong 4 tập vừa qua chưa từng hé lộ. Chính trong mục đích đó, mà trong phần dẫn nhập cho Chuyện Phiếm Đạo Đời Tập 5, chúng tôi kính mời quý độc giả theo dõi những tâm tình đó của tác giả Trần Ngọc Mười Hai.

Trần Ngọc Mười Hai bắt đầu viết Chuyện Phiếm Đạo Đời rất đều đặn, từ cuối năm 2007, trước khi đi Hoa Kỳ. Trong một lần ghé Cali, tác giả được hân hạnh gặp gỡ một trong những người anh em phụ trách trang “www.Thanhlinh.net” là anh John Trần Chung, ở Los Angeles và cả hai đều thấy rằng đây là loại hình suy niệm nên tiếp tục để chuyển tải các tư tưởng về thần học – kinh thánh của các đàn anh bậc thày mà mình thụ giáo.

Nguồn hứng sáng tác Trần Ngọc Mười Hai có được là từ ân huệ của Chúa. Triết gia Blaise Pascal từng nói: “Tất cả là ân huệ”. Ân huệ ở đây, là các đặc sủng từ Chúa Thánh Thần. Ân huệ ấy, ai cũng đều nhận được lúc này lúc khác, trong cuộc đời của mỗi người. Thế nhưng, vấn đề là biến ân huệ ấy thành hành động cách nào đó có lợi cho anh chị em thành viên trong Hội thánh.

Tính hấp dẫn của các Chuyện Phiếm Đạo Đời môt phần nào có được là nhờ tác giả rất ý thức về sự Nhàm Chán. Bởi lẽ, cái mà mọi người, trong đó có giới trẻ, sợ nhất đó là sự nhàm chán. Từ đó, thấy có yêu cầu phải làm một cái gì đó khác lạ để người nghe và đọc không thấy nhàm thấy chán, hoặc “biết rồi nhưng vẫn cứ muốn nghe”. Nên, vấn đề là làm thế nào để người nghe và đọc không thấy nhàm chán và nhất là những lời dạy của Tin Mừng, dù nghe nhiều lần mà cứ như là mới. Từ đó, tác giả ra sức tìm tòi loại hình thì thấy rằng thơ và nhạc là món ăn tinh thần không thể thiếu và không dễ nhàm chán.

Về sự khác biệt trong cách viết giữa bài Suy Niệm Lời Chúa và Chuyện Phiếm Đạo Đời, thì có thể nói rằng: Suy Niệm Lời Chúa là một bản dịch không hơn không kém. Thế nhưng, trước khi chuyển và dịch các tư tưởng của các bậc thày – thường có nội dung rất khô và rất cứng – thì Trần Ngọc Mười Hai đã phải tìm cho ra một hình thái nào đó có thể lôi cuốn/hấp dẫn thính giả hoặc độc giả chịu nghe và đọc nhưng gì mình viết. Cảm nhận được chuyện đó, tác giả tìm cách đánh trúng vào yếu điểm này bằng những giòng nhạc và thơ.

Còn về chuyện phiếm, thì khác. Với chuyện phiếm, kinh nghiệm của Trần Ngọc Mười Hai là phải đưa vào đó không những nguồn hứng khởi của bản thân, mà còn cả thì giờ và công sức. Đề tài bàn luận phải là vấn đề chính mình thích thú hoặc mọi người bận tâm, muốn biết. Và khác biệt thấy rõ giữa hai loại hình suy tư và cảm nghiệm Lời Chúa nằm ngay trong ngôn ngữ mà mọi người đặt tên. Suy niệm là phải suy tư rồi tụng niệm. Tức, có thinh lặng và nguyện cầu, rất nghiêm chỉnh. Còn, chuyện phiếm cũng với mục đích đó, thế nhưng theo khuôn khổ và loại hình nhẹ nhàng thư giãn hơn. Một khác biệt thực tế khác nữa là: khi viết và dịch bài suy niệm, tác giả dẫn bằng thơ trước và kết thúc bằng loại nhạc hùng tráng đưa người đọc đi đến một quyết tâm thực hiện Lời Chúa, trong cuộc đời.

Trong Chuyện Phiếm Đạo Đời tập 5 thì tất cả cũng đều là những chuyệm phiếm và phiếm. Mà, đã là phiếm thì nếu gặp đề tài đang là chuyện nổi cộm trong đời, thì cũng nên góp giọng mà phiếm đôi ba phút cho phải phép, thế thôi. Vì chuyện gì, đề tài gì mà chẳng là chính cuộc sống của người đi Đạo trong hành trình kiếm tìm Đức Kitô trong cuộc đời. Sở dĩ linh mục John Flader là một trong những cây viết khá “cứng” của tuần báo Đạo ở Tổng Giáo Phận Sydney – được nhắc nhở đến là vì sống ở Sydney thì thiết tưởng không thể quên sót một tay viết sừng sỏ như thế. Ngoài tác giả này ra, Trần Ngọc Mười Hai cũng thường hay trích dẫn các người viết về Đạo ở Úc là môi trường Đạo mà tác giả đang sống. Tóm lại, tất cả là vì thực tế sống Đạo giữa đời và trong đời. Mà đời ở đây là đời người ở Sydney, Úc Châu.

Có một điều mà tác giả Trần Ngọc Mười Hai chỉ tâm sự nơi chốn bạn bè thân quen, đó là trước đây, trong thời gian còn viết ít, và viết ngắn, thì Trần Ngọc Mười Hai vẫn tin vào sự thông cảm của độc giả cho những sai sót lỗi lầm của mình. Chứ một khi các bài viết được phổ biến trên báo điện, phát tán đi khắp nơi thì cũng phải cẩn thận. May cho Trần Ngọc Mười Hai và đây cũng là một đặc sủng lớn, đó là đã tìm được một cộng sự viên rất đắc lực, luôn hỗ trợ ở mọi nơi, vào mọi lúc. Nếu không có cộng sự viên chuyên lo hiệu đính, thì dù mỗi bài viết từng sửa đi sửa lại đến 5 lần vẫn còn sai sót. Người xưa có nói: bên cạnh và đằng sau mỗi con người hoạt động bao giờ cũng có một bông hồng khả ái, giúp mình rất nhiều. Có thể gọi đó là “Người hùng trong bóng tối”. Không cần nói, ai cũng biết người đó là ai rồi. Ai trồng khoai đất này?

Có thể nói, ước mơ của Trần Ngọc Mười Hai lúc này là chú trọng đến các loại hình truyền thông kiểu mới qua CD và/hoặc MP3, “ipod” và sau này có thể là “podcast”, vv… chứ không phải chỉ bằng sách vở. Vì thế, dường như Trần Ngọc Mười Hai không dám nghĩ đến một lần ra mắt sách khác.

Trên đây là đôi điều mà chúng tôi tóm gọn qua một buổi hàn huyên với Trần Ngọc Mười Hai. Hy vọng quý độc giả thân thương khắp nơi sẽ tiếp tục đón nhận Trần Ngọc Mười Hai như là một người bạn đồng hành trên con đường tìm kiếm chân dung đích thực của Đức Kitô giữa đời.

Nhân dịp này cũng xin ghi nhận sự đóng góp của các giọng đọc trong các CDs Chuyện Phiếm Đạo Đời như: Mai Đàm, Lệ Mai, Tuyết Lê, Tuyết Trinh, Thanh Xuân, Mỹ Linh, Uông Thế Công, Quang Thắng, Thành Quang, Công Khanh, Văn Thành.

Một lần nữa xin thay mặt độc giả cám ơn tác giả Trần Ngọc Mười Hai.

Vũ Nhuận

Những ngày đầu năm Tân Mão 2011

1. Hôm qua đến tìm em”
Anh thấy hoa xuân rơi đầy, trước thềm
Bâng khuâng bước nhẹ êm
Sợ làm tan bao giấc mơ hoa, triền miên.”

(Hoàng Trọng – Đẹp Giấc Mơ Hoa)

2Tm 3: 2-4

Tôi có người yêu, giống hệt như tôi. Tôi có người yêu, rộn rã như tôi. Suốt một cuộc đời. Vẫn yêu nhiều. Yêu nhiều thứ. Chứ không chỉ, mỗi cái “tôi” của người-yêu-tôi. Hay, của chính tôi. Tính chất đẹp mà tôi nhận thấy, nơi người yêu tôi, là: “người” cũng yêu thơ. Yêu nhạc. Và yêu Chúa. Yêu cả Đức Chúa hiện diện ở thi ca/âm nhạc. Như tôi. Yêu rất nhiều. Nhưng thực hiện chẳng được bao nhiêu. Dù, thơ hay nhạc. Dù, chỉ yêu những người-thích-nhạc. Và thơ. Rất lơ mơ.

Yêu thơ và nhạc, là điều mà người-yêu-tôi, và tôi, vẫn cứ thích/cứ yêu các nhạc bản có nhịp Tango, tựa hồ như “Tango cho Em”. Cho anh. Tức, cũng trích thơ và nhạc có Tango xanh/đỏ, rất “Việt” mình, như câu “Hôm qua đến tìm em”, của Hoàng Trọng.

“Đến tìm em”, không chỉ tìm có mỗi em, người mà tôi yêu. Tìm, là tìm rất nhiều thứ. Nhiều, cả ở trong Đạo lẫn ngoài đời. Như chuyện đời. Nhiều, cả những chuyện có dáng dấp, rất Đạo. Cứ lạo xạo, như thấy “Hoa Xuân”, “ở trước thềm”. Hoa Xuân, nay còn đó vẫn chờ. Và đợi. Chờ đợi, cả người-tôi-yêu lẫn người-yêu-tôi. Ấy thế mà, tôi và người-yêu-tôi vẫn chưa tìm, đã thấy. Bởi thế nên, hoa xuân những rơi đầy, rày lại hát: “Sợ làm tan bao giấc mơ hoa triền miên”. Rất nhẹ êm. Bãng lãng.

Xuân triền miên, nay còn là tâm tình của người em ở đời, rồi sẽ hát:

“Anh yêu nét hồn nhiên

Yêu biết bao khi em ngồi khuất rèm

Đôi tay nhấp đường kim

Làn môi hé cười thần tiên.”

(Hoàng Trọng – bđd)

Nét hồn nhiên, mà bạn và tôi, ta vẫn yêu, phải chăng là như thế? Hay, vẫn như lời thánh Phaolô tông đồ lại đã diễn giải cho bạn thân mình, là đồ đệ Timôtê rất thân và rất mến, như sau:

“Quả thế,

người ta sẽ ra ích kỷ,

ham tiền bạc, khoác lác,

kiêu ngạo, nói lộng ngôn,

không vâng lời cha mẹ,

vô ân bạc nghĩa, phạm thượng,

vô tâm vô tình, tàn nhẫn, nói xấu,

thiếu tiết độ, hung dữ, ghét điều thiện, phản trắc,

nông nổi, lên mặt kiêu căng,

yêu khoái lạc hơn yêu Thiên Chúa;

hình thức của đạo thánh thì họ còn giữ,

nhưng chính cái chính yếu thì lại chối bỏ.

Anh hãy xa lánh cả những người ấy.”

(2Tm 3: 2-4)

Nên chăng, ta hãy lánh xa cả người ta yêu, lẫn điều ta mến? Có phải, điều ta yêu và người mà ta mến, là “tình tự” được diễn tả, rất như sau:

“Lòng bồi hồi mơ ước

Đường hoa thắm đôi ta cùng chung bước

Đời chẳng còn thương nhớ

Vì duyên ta đẹp tình thơ”.

(Hoàng trọng – bđd)

À thì ra, Những gì ta yêu mến, dù người hay vật. Chim khuyên, hay muông thú, vẫn là những tâm tình, rất tự sự, được “vua Tango” diễn bày bằng lời thơ rất âm vang thi tứ như lời ca, ta hát tiếp:

“Hương thơm ngát đồng xanh

Ta sống yên vui trên mảnh đất lành

Đêm đêm ngắm trời xa

Tình quê thấy lòng nở hoa.”

(Hoàng Trọng – bđd)

À thì ra, là như thế. Tình yêu, với lòng người. Và, lòng người đối với tình yêu, vẫn là tình tự rất “hương thơm ngát đồng xanh”. Rất, “sống yên vui trên mảnh đất lành”, của quê nhà. Ta vẫn hằng yêu dấu. Là, Nước Trời dấu yêu, ở trần gian. Lan man, một trìu mến

Yêu như thế, phải chăng là yêu rất nhiều?

Hy sinh như thế, phải chăng là mất đi tình yêu? Thứ tình rất hy sinh, mà nhiều người đã tìm thấy nơi truyện kể, rất ngắn gọn. Ở bên dưới:

“Truyện rằng:

Người đọc báo bất chợt nhận ra mẩu quảng cáo nhỏ, có giòng chữ gọn nhẹ, đại để cùng mang một ý nghĩa gẫy gọn sau đây:

-“Em đây vẫn muốn chồng, bạn nào giới thiệu có được không?”

Tức tốc hôm sau, người rao vặt nhận được cả trăm thư trả lời. Rất rối bời. Như sau:

-Em đến mà nhận chồng chị đi! Đừng lo lắng chuyện tiền bạc. Hoàn toàn miễn phí.”

Truyện kể ở trên, thoạt nghe tưởng chừng như “hư cấu”. Đời này, làm gì có chuyện tặng-không/biếu-không, những ông chồng. Nói thế há bảo rằng: yêu, vẫn chỉ là miễn phí? Và, kiếm tìm người yêu lại là chuyện dễ làm? Nếu thế, kiếm tìm “Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu”, thì sao? Hỏi ở đây, phải chăng: đã trả lời?

Có thể lắm. Nhưng, trả lời của ai đó, vẫn mang tính đa dạng. Chuyển biến. Rất không thuần. Thuần sao được, khi ý kiến của phần đông các người trẻ, vẫn đa dạng. Như người trẻ ở Úc có tên là Eng Chan, đã tự thuật về quãng ngày dài thiếu tình yêu. Thiếu những điều, như sau:

“Tất cả bắt đầu từ cái ngày mà mọi người ở quê tôi gọi là Đầu Năm niên lịch Kampuchia. Tôi sống 4 năm liền, dưới chế độ của người Khmer Cộng sản. Bấy giờ, không ai kiếm đâu được của ăn. Thức uống. Mọi người đều nhận lệnh: phải rời nhà chỉ vài ngày thôi, sẽ về lại. Chẳng có gì đáng ta ưu tư/thắc mắc, hết. Thế nhưng, sự thật thì khác. Bốn năm trời ròng rã, bọn tôi đã thiếu rất nhiều. Thiếu cả tình yêu. Điều đó, hiện rõ nơi tâm tư bé nhỏ của chúng tôi. Làm sao quên được cảnh người dân hiền lành ở Căm Bốt, cứ bị dắt ra nơi đồng không mông quạnh, mà bắn bỏ. Giữa ban ngày ban mặt. Khi ấy, mọi sự đều bị hủy hoại. Tất cả, đều nghèo đói. Thiếu tình người. Vì quá đói, bé em nào cũng phải lò mò đến từng nhà, mà xin ăn. Mỗi ngày, bọn tôi mỗi người chỉ được phép nhận chừng lưng bát cơm. Và một chút sữa đặc có đường. Thế thôi. Chẳng ai lý gì đến bọn trẻ chúng tôi. Và, cũng chẳng còn ai biết thương ai. Còn lại, chỉ là giết chóc. Bạo tàn. Bất nhân, vẫn diễn ra hằng ngày. Ở quê tôi” (x. Sophie Seuk, Australian Catholics, Spring 2010, tr. 23)

Tâm tư người Khờ-me trẻ, là như thế? Còn, tâm tư của nghệ sĩ mình, lại như sau:

“Một mái tranh nghèo, lo gì nắng mai hay mưa chiều

Mộng ngát đôi lòng trăng, hạnh phúc ta cùng soi bóng

Đồng lúa thơm lành, ta cầy cấy chung lo gia đinh

Cuộc sống thanh bình

Ôi bài hát muôn đời thắm tình.”

(Hoàng trọng – bđd)

Lúa thơm lành. Thanh bình. Là thế đó. Có là chốn ấm êm nhà Đạo, ở Nước Trời? Ở nơi ấy, người đời vẫn tha thiết với giá trị của tình thương yêu, không? Yêu đằm thắm. Lắm tình người. Nơi gia đình. Nơi mọi người vẫn cứ ăn và cứ uống. Vẫn thương yêu. Nguyện cầu. Như mọi lúc. Đó, là tâm tình được người viết mang tên Elizabeth Gilbert đưa vào phim có tựa đề, là: “Ăn uống. Nguyện cầu. Và, thương yêu”, lấy bối cảnh Ấn Độ làm nền cho truyện kể để nêu lên.

Cũng trong chiều hướng tìm hiểu về đời thường, của mọi người, vừa qua cơ quan nghiên cứu có tên là The National Marriage Report bản doanh đặt tại Đại Học Đường Virginia, Hoa Kỳ đã thực hiện một khảo sát mang tên “Hôn Nhân Cùng Nhau Nguyện Cầu: Giòng Giống, Sắc Tộc, Tôn Giáo và Phẩm Chất Tương Quan Giữa Những Người Trưởng Thành” xuất hiện trên tờ Journal of Marriage and Family số tháng 8/2010 cùng với hai nhà xã hội học mang tên Christopher G. Ellison và W Bradford Wilcox, đã bày tỏ ý kiến đúc kết về thương yêu/hạnh phúc của các cặp phối ngẫu trong đời, như sau:

“Các cặp phối ngẫu da mầu nào không cùng nhau nguyện cầu, thường dễ thực hiện nhiều điều tồi tệ hơn các cặp hôn nhân da trắng. Khảo sát, nay cho thấy tôn giáo vẫn là yếu tố làm dịu bớt sự rẽ chia mang tính sắc tộc. Đó là nói về phẩm chất của các tương quan giữa người với người. Tại Mỹ. Sức sống ở đời người Mỹ gốc Phi Châu đem đến cho họ một lợi thế hơn hẳn các người Mỹ khác, đó là nói về quan hệ bình thường. Lợi thế, mà họ thấy mình hơn hẳn các cặp phỗi ngẫu khác nói chung, ở nơi này.

Thông thường, nhiều người vẫn có thói quen bảo rằng: tôn giáo chẳng đem lại lợi lộc gì cho hôn nhân, hết. Nhưng, cặp phối ngẫu nào thấy xung khắc trong niềm tin tôn giáo; và nhất là các cặp trong đó chỉ một bên chịu đến nhà thờ sinh hoạt đều đặn, thì khảo sát cho biết: các cặp ít đi sinh hoạt, sẽ thấy hạnh phúc của mình kém cỏi hơn. Với các cặp phối ngẫu da mầu/sắc tộc, thì: khác biệt trong sinh hoạt tôn giáo là nguồn gốc dẫn đến mọi căng thẳng. Điều này chứng minh được, là: do họ ít bỏ giờ ra mà ở với nhau, để cùng nhau làm một việc gì đó có tính tập thể, như nguyện cầu. Hoặc, do họ có khác biệt trong cung cách nuôi dạy con cái, hoặc qua việc sử dụng quá nhiều rượu bia, nhiều thứ khác nữa.” (x. Carolyn Moynihan, Mercator Net 24/8/2010)

Nói như thế, là nói về tình thương yêu có khác biệt. Về sắc tộc. Khác niềm tin, giáo dục và gì gì nữa, vẫn rất nhiều. Nhưng, có khác chăng về bản chất đạo đức? Một lần nữa, hỏi ở đây tức: đã trả lời rồi. Trả lời, theo góc độ/nhân sinh quan mình nhận xét. Theo tâm trạng mình đang có, lúc nhận định. Dù sao đi nữa, cũng nên nghe thêm nhận định khác của nghệ sĩ trích ở trên, từng vui hát:

“Hôm qua đến tìm em

Anh thấy hoa xuân rơi đầy trước thềm

Bâng khuâng bước nhẹ êm

Sợ làm tan bao giấc mơ hoa triền miên.”

(Hoàng trọng – bđd)

Nói và hát những lời như thế, tức: vẫn bảo với người-tôi-yêu, hoặc người-yêu-tôi, rằng:

“Anh yêu nét hồn nhiên,

Yêu biết bao khi em ngồi khuất rèm,

Đôi tay nhấp đường kim,

Làn môi hé cười thần tiên.”

(Hoàng trọng – bđd)

Nếu bảo rằng, với nghệ sĩ ở đời, một khi họ đề cao/tuyên dương “tình yêu” đến như thế, thì chắc hẳn chàng và nàng đã là thánh nhân rôì? Gọi họ là thánh nhân, là bởi: nếu ta chịu khó làm một thứ tam-đoạn-luận bỏ túi như sau để bảo rằng: Thiên Chúa là Tình Yêu. Vậy thì hễ ai ngợi khen/tuyên dương Tình Yêu, chắc chắn người ấy/vị ấy đã tuyên dương/ngợi khen Thiên Chúa, rồi. Và trên đời, chỉ có thánh nhân mới hiểu biết hoặc đề cao/tuyên dương Thiên Chúa đến thế, mà thôi. Có là thánh nhân, mới cảm nhận ý/từ rất Tango, mỗi khi hát câu “Làn môi hé cười thần tiên.” Và, hạnh phúc cuộc đời có là gì, nếu không biết “hé cười thần tiên” ở mọi nơi, trong mọi lúc?

Để minh hoạ cho những gì mà tôi và bạn, ta vừa đặt dấu chấm hỏi cho tam-đoạn-luận ở trên, tưởng cũng nên đưa thêm dăm ba truyện kể nhè nhẹ. Ý nhị. Nhưng không dị. Như sau:

“Ngày nọ, có nhà tỷ phú dắt người con cưng về chốn dân dã xem thiên hạ sống thế nào mà sao họ không thấy họ bị căng thẳng thần kinh, rất linh tinh, như người thị thành. Hai cha con về sống vài ngày tại nơi mà người dân thị thành cho rằng đời sống rất khó khăn. Hôm trở về, người cha bèn gọi con lại hỏi anh xem có nhận xét gì về chuyến đi ấy:

-Con thấy thế nào? Chuyến đi vừa rồi có đem đến cho con điều gì khác lạ không?

-Dạ, con thích lắm, ba.

-Thế hả? Con thấy cuộc sống của người miền quê, cũng hạnh phúc đấy chứ? Có khác dân thành thị mình hay không, thế?

-Dạ khác lắm, ba.

-Đâu khác chỗ nào, con nói cho ba nghe coi!

-Theo con thấy, thì như: ở thành thị, ta chỉ nuôi nổi một hai chó con thôi. Còn ở nơi dân dã, họ nuôi tới ba bốn con, cũng không lấy làm nhiều. Ở thành phố, ta chỉ lo nổi mỗi hồ bơi nhỏ, ở giữa vườn. Còn họ, họ có rất nhiều khúc sông, quanh năm nước chảy mút mùa lệ thủy. Ở đây, ta vẫn cứ phải nhập cảng bóng đèn điện để gắn nơi vườn, cho nó sáng. Còn họ, họ đâu cần gì đến đèn với đóm, đã có ngàn sao lấp lánh chiếu sáng ban đêm, rồi. Ngồi trước nhà, ở đây ta ta chỉ thấy những là cổng trời nho nhỏ, mà thôi. Còn họ, ngồi trong nhà, mà đã thấy đủ mọi thứ kéo đến từ chân trời rộng lớn. Ta có mỗi vuông đất rất chật bao quanh căn nhà rất nhỏ bé. Còn họ, lại có gần như cả một thửa ruộng cò bay thẳng cánh, chẳng ai ham. Ở chốn thị thành, ta luôn cần đến mấy chị “Ô-shin” để sai vặt. Còn họ, họ cứ tự lo lấy cho nhau, chẳng nhờ vả chi ai. Ta bỏ ra biết bao nhiêu là tiền của để mua sắm đồ ăn cùng thức uống, để nuôi thân. Còn họ, họ vẫn tự túc nuôi trồng, tự lo sống. Nhà cửa ở chốn thị thành, ta vẫn phải có tường rào bao quanh, sợ mất mát. Còn họ, họ chẳng cần gác dan hay bảo vệ mà lúc nào cũng có bạn bè tốt luôn giúp đỡ, yêu thương như người nhà…”

Yêu thương như người nhà. Chung sống an hoà, như bà con. Phải chăng, là hạnh phúc? Phải chăng ý kiến của người con là nhận định rất chính xác về hạnh phúc sống ở đời? Và một phải chăng nữa, cũng nên hỏi, là: có nên thêm đây lời của khảo-sát-gia W. Bradford Wilcox nói trên, để có một nhận định khá vững về những hiện thực trong cuộc sống rất Đạo của nhiều người? Như sau:

“Về với cơ ngơi/mái ấm tình người của nhà mình, kết quả cho ta thấy: nếu tích lũy tình thương yêu thật rõ nét, nhiều ý nghĩa, ta sẽ nhận ra rằng: nghĩ suy và thực hiện niềm tin yêu nguyện cầu, rồi ra ta sẽ đạt thành công, thôi. Trong quá khứ, có nhiều nghiên cứu/khảo sát cho thấy: tha thứ, vẫn có ảnh hưởng rất nhiều đến quan hệ vợ chồng. Đến, cả tương quan giữa người với người. Đến cuộc sống gia đình và cả những sinh hoạt lao động nơi sở làm của mình, nữa.” (x. Carolyn Moynihan, bđd).

Bởi thế nên, hỡi bạn và tôi, ta cứ vui lên mà nguyện cầu. Vui mãi, mà thương yêu trong mọi tình huống hoặc thời khắc của cuộc đời. Cứ vui đi, rồi ra ta sẽ thấy rất khá. Khá, về Đạo. Khá, cả về đời. Nhất là hãy làm thánh nhân ngơị khen Thiên Chuá bằng quyết tâm đề cao và thực hiện Tình yêu như tam đoạn luận ở trên nhé.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn kêu gọi bầu bạn

và cả tôi nữa,

hãy cứ thế nhận thức.

Và hiện thực

cho đời mình

2. “Ta còn những người ngồi quanh đây, trán in vết nhăn”
Ðêm nằm nghe lòng quặn sôi lên giữa cơn mộng lành
Ôi vì thâm tình cùng con dân sống trong chiến tranh
Ôi cùng đau lòng, cùng hoang mang giữa khi khó khăn

(Nguyễn Đức Quang – Xin chọn nơi này làm quê hương)

Mt 25: 40

Lời ở trên, là giòng nhạc du ca, rất nổi cộm. Là, giòng chảy rất âm nhạc, của người viết có tên rất Đức và cũng rất Quang, giòng họ Nguyễn. Tên anh nổi cộm một thời. Nhạc anh chộn rộn nhiều nơi. Hồi thập niên ’60. Thời, mà dân con trong huyện/thành miền Nam, vẫn gọi mọi sự, là quê hương. Gọi, chùm khế ngọt. Lưng cơm. Tấm áo. Con ngõ trơn. Gì gì, cũng gọi quê hương, thương cũng như ghét. Cứ vun về với mình. Từng chữ. Rất đáng yêu.

Thậm chí, người nghệ sĩ còn hứng chí, gọi mọi người cùng ông, hãy cứ chọn:

Xin chọn nơi này làm quê hương, dẫu cho khó thương

Ta cùng lo chạy từng lưng cơm, áo che thân tàn.

Khi mùa mưa về cùng lem nhem, bước trên ngõ trơn,

Khi dịch lan tràn, cùng lo âu trắng đôi mắt đen.”

(Nguyễn Đức Quang – bđd)

Hôm nay, chẳng còn dịch nào dám lan tràn, trên quê hương tôi, hay quê bạn. Có chăng, là dịch tư tưởng. Ngôn ngữ. Chữ viết. Thứ dịch, mà ngay đến các quan thẩm phán, cũng chào thua. Chào rồi, xin thua. Như truyện kể ngăn ngắn, ở ngay dưới:

Truyện rằng:

Hai tù nhân, một già một trẻ, cùng nhau chung sống kiếp nằm hộp, ở phòng giam. Cả hai, nói

chuyện khá tâm đắc về ý nghĩa và lý do, khiến “ủ tờ”:

-Này đằng ấy, tội tình gì mà bị quan cho vô đây làm bạn cùng giun dế với tớ, thế?

-Chẳng giấu gì bác, em đây bị “người ta” kết mỗi tội nhỏ, là bỏ vợ. Dạ, thế thôi.

-Chà! Lạ nhỉ. Tớ đây sống từng này tuổi, thêm vài buổi nữa cũng “thiều quang nhẫn nhục, đã

ngoài chín mươi”, mà nào có nghe luật pháp luật Tây nào kết tội ấy bao giờ. Có chăng là…là…

-Dạ thưa, em bỏ nó rơi từ lầu 10 xuống đấy, cụ ạ.

-À ra thế!

-Thế còn cụ, tuổi này mà sao cụ cũng vô đây. Cụ bị chúng gán tội gì thế?

-Tớ đây, bị chúng thưa mỗi tội … hãm hiếp!

-Trời đất! Bằng này tuổi, “xí-oách” đâu mà hãm với hiếp!

-Ấy, vì sợ bọn nó chê ta già, không còn “xí oách” nữa, nên khi con bé hàng xóm vu khống…

thế là đây nhận tội ngay. Cho chúng biết…tay!

Thế đó là quê hương? Phải chăng là chữ nghĩa? Thật ra, quê hương với chữ nghĩa, cũng chẳng là thế. Quê hương là thế hay không thế, vẫn cứ là nơi đi/chốn về, của nhiều người. Của “những khung trời mở rộng” Mở, không gian. Mở, thời gian. Tràn lan, không biết cơ man nào là ý tưởng. Và, truyện về quê hương cũng mỹ miều, huê dạng như bao truyện khác. Truyện, về “Phật” tính khung trời, đời con nhện. Mà, giới nhà Phật có tích cổ, viết như sau:

Trước miếu Quan Âm mỗi ngày, vô số người đến lễ bái, hương nghi ngút. Trên xà ngang trước

miếu, có chú nhện giăng tơ, mỗi ngày ngập đầy hương khói. Với lời cầu đảo. Nhện dần dà đã

có Phật tính. Nghìn năm tu luyện, nhện đã linh. Ngày nọ, Phật dạo thăm ngôi miếu nhỏ, thấy

khói hương rất vượng, hài lòng lắm. Lúc rời miếu, thấy nhện. Phật dừng lại, hỏi:

-Gặp ngươi, hẳn là có duyên. Ta hỏi một câu, xem ngươi tu luyện một nghìn năm nay đã thông

tuệ gì không?" Thế gian này, gì quý nhất?

-Thưa, thế gian này quý nhất là những gì mình không có và những gì mình để mất".

Phật gật đầu, rồi đi. Nghìn năm sau, Phật tính của nhện đã mạnh hơn.

Ngày nọ, Phật đến trước miếu, hỏi nhện: "Ngươi có nhớ câu hỏi nghìn năm trước của ta

không? Nghìn năm qua, ngươi suy nghĩ thêm được gì? Thế gian này, gì quý nhất?"

-Thế gian này quý nhất là cái không có và mất đi."

-Tốt, ngươi nhận thức như thế, ta cho ngươi một lần vào sống cõi người!

Vì thế, nhện được đầu thai vào nhà quan lại, thành tiểu thư đài các, bố mẹ đặt tên cho nàng là

Châu Nhi xinh đẹp. Yểu điệu. Duyên dáng. Hôm đó, tân Trạng Nguyên Cam Lộc đỗ đầu, được

vua quyết định mở tiệc mừng ở vườn ngự uyển. Nhiều người đẹp tới dự, trong đó có Châu Nhi

và Trường Phong công chúa. Trạng Nguyên trổ tài thi ca khiến các thiếu nữ phải lòng. Nhưng

Châu Nhi không hề lo lắng cũng không ghen. Bởi nàng biết chàng là mối nhân duyên Phật đem

tới, dành cho nàng.

Ít ngày sau, tình cờ Châu Nhi theo mẹ lên miếu lễ Phật, cùng lúc Cam Lộc cũng đưa mẹ tới

miếu. Sau lễ, hai vị mẫu thân ngồi nói chuyện. Châu Nhi và Cam Lộc cũng có dịp tâm sự, Châu

Nhi vui lắm, nói với Cam Lộc:

-Chàng nhớ không? Mười sáu năm về trước, có nhện con ở miếu Quan Âm?

-Châu cô nương, cô thật xinh đẹp, lại có trí tưởng tượng khá dồi dào, sao cứ chuyện nhện?

Nói đoạn, chàng cùng mẹ rời miếu, ra về. Châu Nhi về nhà, nghĩ: Phật an bài nhân duyên, sao

không để chàng nhớ chuyện cũ. Cam Lộc sao không có cảm tình với mình? Vài ngày sau, vua

ra chiếu chỉ truyền cho Cam Lộc sánh duyên cùng Trường Phong, Châu Nhi sánh duyên cùng

thái tử Chi Thụ. Tin như sấm động giữa trời quang, nàng chẳng hiểu vì sao Phật lại tàn nhẫn

với nàng đến thế. Châu Nhi bỏ ăn bỏ uống, nằm khô nhắm mắt nghĩ ngợi. Ít ngày sau, hồn

nàng rời thân xác, sinh mệnh thoi thóp. Thái tử Chi Thụ biết tin, vội tới, phục xuống nói:

-Hôm đó, trong những cô gái giữa bữa tiệc ở vườn thượng uyển, ta gặp nàng đã thấy yêu. Ta

khốn khổ cầu phụ vương cho phép cưới nàng. Nếu nàng chết, ta còn sống nữa mà làm gì.

Nói đoạn, rút gươm định tự sát. Vào lúc ấy Phật xuất hiện, nói với linh hồn sắp rời khỏi thể xác

của Châu Nhi:

-Nhện Nhi, ngươi có biết rằng giọt sương Cam Lộc là do ai mang đến với ngươi chăng? Gió

Trường Phong mang tới đấy. Gió đến, gió lại đi. Cam Lộc thuộc về Trường Phong, anh chỉ là

khúc nhạc thêm ngắn ngủi cho sinh mệnh của ngươi thôi. Còn thái tử Chi Thụ mới chính là loài

cây nhỏ trước miếu. Chính anh đã ngắm ngươi ba nghìn năm. Yêu ngươi ba nghìn năm. Thế

mà, ngươi chưa hề một lần cúi xuống nhìn anh. Nhện nhi, nay Ta lại đến hỏi ngươi: thế gian

này, gì quý nhất?

-Thưa, thế gian này quý nhất không phải là thứ không tạo được và mất đi, mà là hạnh phúc

mình đang có!"

Nói xong, Phật đi mất. Hồn Châu Nhi quay về lại với xác thân. Mở mắt ra, thấy thái tử Chi Thụ

định tự sát, nàng vội đỡ thanh kiếm. Quyết lấy chàng.

Câu chuyện đến đó là hết.

Và lời bàn của người kể truyện, là: "Thế gian này quý nhất không là thứ mình không tạo ra được và mất đi, mà là: hạnh phúc ta đang có!" Suốt đời, ta gặp ngàn/vạn loại người. Để yêu một người, không cần cố gắng. Chỉ cần có "duyên" là đủ. Nhưng để tiếp tục yêu người ấy, phải cố gắng. Tình yêu như sợi dây, hai người cùng kéo ở hai đầu, chỉ cần một người kéo căng hoặc bỏ lơi, tình yêu ấy sẽ căng thẳng hoặc chùng xuống. Vậy muốn kiếm người ở đầu dây bên kia, hãy cẩn thận mà cân nhắc. Hoặc, mình quá nhiều tình cảm. Hoặc, cứ liên tục tìm cái mới. Khi dây đứt, mình sẽ không còn đủ can đảm hoặc lòng tin để kiếm tìm tình yêu. Bất kể thế nào, khi dây đứt, mình chỉ mất đi một người không yêu mình. Nhưng, người ấy lại mất đi một người từng yêu họ. Mất một người không biết trân quý mình, có gì đâu mà buồn. Bởi, mình vẫn còn cơ hội để gặp người mà biết chắc rằng mình vẫn trân quý họ, trên cõi đời.“(Trang Hạ dịch, theo Saycoo-ĐL)

Truyện cổ tích nào ta kể, cũng đều như thế. Quê hương nào ta gọi, cũng vẫn như vậy. Chí ít, là quê hương Nước Trời, mọi người nêu. Mọi người kể. Ở muôn nơi. Nước Trời Quê hương ta, còn là Tình Chúa yêu thương, gửi đến muôn người. Là, sự thật Chúa bảo. Vào thuở trước:

Ta bảo thật các ngươi:

mỗi lần các ngươi làm thế

cho một trong những anh em bé nhỏ

của Ta đây,

là các ngươi làm cho chính Ta vậy."

(Mt 25: 40)

Làm cho chính Ta, là làm những điều tốt lành. Yêu thương. Làm cho “người anh em bé nhỏ”. Hay, cho mọi người. Làm cho Ta, là làm cho Cha. Cho, Chúa là Cha. Cha của Tình yêu. Cha của mọi người. Còn nhớ, có lần nhân sĩ hiền lành lâu nay được gọi là Phật-sống, từng nói những lời rất hiền từ. Quân tử, như sau:

“Hãy nhớ: quan hệ đẹp nhất chính là tương quan ta có, vẫn đậm đà tình yêu thương ta dành cho nhau. Hơn là, nhu cầu cần có nhau.” (Thông điệp Đức Đạt Lai Lạt Ma)

Vào dịp khác, Đức Đạt Lai lạt Ma cũng đã nói:

Không khí yêu thương tràn ngập ngôi nhà mình, đó là nền tảng cuộc đời, của mỗi người. Cho

mọi người. ” (Thông điệp Đức Đạt Lai Lạt Ma)

Nay, gọi “ngôi nhà mình” là quê hương, thì chắc đôi lúc, ta cũng không nên quá ư mà thắc mắc hoặc cứng ngắc về hoạt động của Đức Đạt Lai Lạt Ma, rất “Phật sống”. Bấy lâu nay. Bởi, “Quê hương ta đó”; hoặc, “ngôi nhà mình ở”, với người nghệ sĩ ở trên, vẫn còn đó lời kiêu sa. Rất lạ. Như sau:

Ta còn những người thật yêu nhau, biết bao thiết tha.

Chưa gặp bao giờ mà đã quá, uống máu ăn thề.

Giam mình trong lòng thành đô kia, sống nơi ấp quê.

Nhưng tình cao vời đòi yêu thương, khắp luôn thế gian.”

(Nguyễn Đức Quang-bđd)

Đúng thế. Tình cao sang vời vợi, ta gọi đó là “quê hương”, vẫn đòi yêu thương. Khắp mọi chốn. Bởi, chốn gian trần, dù gì đi nữa, có là nhện tiên hay thái tử. Là, giọt sương Cam Lộc, hoặc gió Trường Phong gì gì đi nữa, hễ dính tới người phàm là còn chuốc những “Tham-Sân-Si”. Vì thế, vẫn luôn còn thắc mắc, rất đủ thứ. Đủ chuyện. Cả những chuyện về vị Phật sống, rất Đạt Lai Lạt Ma.
Vừa qua, có người còn cả gan dám gọi tên ông bằng những từ những ngữ, như: “Tiếp thị Lạt Ma”. Nghĩa là, vẫn coi các hoạt động của ông, Đức Phật sống, như những chuyện tiếp thị. Chính trị. Kinh tế. Rất lễ mễ. Dây dưa. Suốt đời. Bỏ qua một bên, các yếu tố gây tranh cãi/cãi tranh nhau về hoạt động rất hiền và rất nhân, của vị Phật rất sống, bạn và tôi, ta thử nhìn sự việc bằng cặp mắt khác. Cặp mắt rất nhân và rất hiền. Xem sao.

Xem như thế. Nói như sau, thì: “Không cần biết em là ai”, con trai hay con gái. Nay đã già, hay vẫn còn trẻ. Cao to hay be bé. Thì em và tôi, ta hãy cứ chuyển tải/rao truyền Tình Yêu Cao Vời Vợi, của Thiên Chúa. Và bất cứ ai làm thế thì tôi và em, ta cũng sẽ gọi người đó/vị đó là Phật sống. Rất thánh nhân. Gọi, là gọi có căn. Có gốc. Tức, nói có sách mách có chứng. Chứng, là chứng cứ rất Kitô. Như Ngài bảo:

Quả thật, Tôi bảo các ông,

Những gì các ông đã không làm cho người nào,

trong các kẻ hèn mọn nhất,

là các ông đã không làm cho chính Tôi.”

(Mt 25: 46)

Vậy thì, hôm nay đây, có Phật sống/thánh nhân từng làm cho những người be bé/mọn hèn, là tôi và bạn, tức là vị ấy đã làm cho chính Chúa. Dù, vị ấy có là Đức Đạt Lai Lạt Ma, hay chỉ là giáo dân hạng thứ, mỗi thứ dân như tôi. Như bạn. Cũng đã là việc cao cả. Của thánh nhân, rồi.

Với Phật sống hay thánh nhân, là những vị sống vô tư. Không vị kỷ. Mọi sự không tập trung vào bản vị của một người. Một ngã thể. Một văn hoá, Ở trời Tây, mọi việc cứ xô đẩy, đổ dồn một ý thức hệ. Một phong trào. Văn minh và văn hoá, của thời đại.

Thời hôm nay, người người quá chú trọng vào bản ngã riêng tây, của cá thể. Vẫn be bé. Tách biệt. Chứ, không nhắm vào một tập thể. Hay thôn làng. Bộ tộc. Như khi trước. Từ đó, ngôn từ/sắc tộc, rày đổi thay. Xưa là giống giòng Ariens. Quốc Xã. Phát xít. Nay, chỉ tập trung chú trọng, nơi một người. Hoặc, thần tượng. Hoặc, quỷ thần chưa thành tượng. Dù, tượng ấy nằm ở địa hạt chính trị. Xã hội. Hoặc tôn giáo, mà thôi. Ngày nay, người người đã bớt dần quan niệm về cộng đoàn/tập thể. Dù cộng đoàn ấy có là cộng đoàn Nước trời. Nhưng, lại quá đề cao một nhân vật. Có khi trở thành siêu sao. Siêu nhân. Thánh sống.

Do hiện tượng, quá đề cao một cá nhân, nên người người vẫn chuẩn bị sơn phết/đánh bóng khá kỹ cho cá nhân ấy. Đôi khi còn đề (bạt quá) cao vị ấy nữa, là đàng khác. Đề cao cách quá đáng. Quá tải. Bạt mạng. Khiến vị ấy/người ấy dám tự coi mình như đấng bậc, ở trên cao. Không còn be bé/thấp hèn nhất thiên hạ. Như Chúa dặn.

Trở về với câu truyện của nhện tinh/nhện chằng, có Phật tính, có thể nói rằng: cái quý nhất của thế giới hôm nay, là những gì mình không có và để mất. Chứ không là thứ mình tạo ra. Cho riêng mình.

Về với niềm tin, Chúa dạy. Tin như Chúa răn bảo, là: sự tin tưởng chỉ be bé như hạt cải ở ngoài đồng. Nhưng, có sức thuyết phục/đổidời cả núi Thái sơn. Hoặc hơn nữa: cả đại dương bao la. Bởi, đại dương này hoặc Thái sơn kia, vẫn là lòng người sừng sững/lững lờ, nhiều đất đá. Giòng chảy. Nhiều uẩn khúc. Rất trơ trơ.

Trở về với giòng chảy của các vị tự coi mình còn be bé, mọn hèn như triết nhân người mình tên Thế Tâm-Nguyễn Khắc Dương, đã có những giòng nhè nhẹ chảy xiết, như sau:

“Một cách khiêm hạ, tôi nghĩ rằng: Thiên Chúa đã làm nơi tôi những sự kỳ diệu.”Vì suy cho

cùng, tất cả mọi sự đều là những sự kỳ diệu do Chúa làm nên! Bất cứ ai, bất cứ gì: bậc tài đức

cũng như người tầm thường, muôn vàn tinh tú cũng như cỏ mọn hoa hèn, tất cả đều kỳ diệu, vô

cùng kỳ diệu, trên hết mọi sự kỳ diệu có thể hình dung được, đó là: sự sáng tạo từ hư không và

sự tái tạo từ tội lỗi. Chỉ có Quyền năng vô hạn và Từ ái vô biên của Thiên Chúa, mới có thể làm

nên hai sự kỳ diệu vô cùng kỳ diệu ấy, thôi!”

Do đó, bất cứ người nào, bất cứ việc nào, bất cứ hữu thể nào, dù tầm thường đến đâu, dưới cái nhìn trần tục của người phàm –thì dưới cặp mắt của Thiên Chúa và của những ai được đức tin soi sáng- đều kỳ diệu cả!” (Thế Tâm, Quia respexit humilitatem meam, Bản in nội bộ , tr. 3)

Sự diệu kỳ mà triết nhân Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương gọi, cũng là “hạnh phúc”. Có người gọi. Hạnh phúc ấy, vẫn sờ sờ trước mắt mọi người, mà sao dân con của Thiên Chúa vẫn kiếm tìm. Là, “quê hương” của người nghệ sĩ, đã từng viết:

Xin chọn nơi này làm quê hương, dẫu đang chiến tranh.

Xin chọn nơi này làm quê hương, dẫu chưa thanh bình.

Xin chọn nơi này làm quê hương, dẫu đang khó khăn.

Xin chọn nơi này làm quê hương, dẫu chưa ấm êm”

(Nguyễn Đức Quang – bđd)

Ấm êm. Khó khăn. Dẫu chưa thanh bình. Vẫn là những nỗ lực trong tìm kiếm. Tìm hạnh phúc/ kiếm diệu kỳ, Chúa phú ban. Ngài vẫn ban cho trẻ bé/kẻ mọn hèn. Cho hết mọi loài. Vấn đề là, mọi loài chưa nhìn ra, đó thôi. Muốn nhìn. Muốn thấy, phải biến mình thành kẻ mọn hèn, be bé như triết nhân Thế Tâm. Nhện Nhi. Hoặc, bất cứ ai biết mình còn be bé, mọn hèn, mới thấy mới nhìn ra. Nhìn, để ca tụng Thiên Chúa, Đấng cao cả vô cùng tận đã tạo ra. Chứ không do mình mang đến. Vì mình chẳng là gì cả. Còn, Ngài là tất cả. Và, “Tất Cả” đã tự hạ. Cho, những con và những vật, không là gì cả. Ở trên đời.

Trần Ngọc Mười Hai

Luôn cầu mong

để biết được mình không là gì cả,

dù đã hoặc chưa làm được gì.

3. “Tình yêu, đã vỗ cánh rồi.

là hoa rót mật cho đời.”
(Trần Trịnh – Lệ đá)

Mt 6: 9-11/Lc11: 2-4

Hỡi bạn. Hỡi tôi! Nay, ta thử làm một màn biện luận. Lai rai. Suốt chiều dài, cuộc đời. Để, vào lúc nào đó, ta cũng nói leo và nói trèo, theo Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI, mà bảo:“Thiên Chúa là Tình yêu”. Và, ta thầm thì thêm câu hát, rất ở trên. Để rồi cứ lải nhải đôi ba câu nhại, mà rằng:

“Này đây, Chúa vỗ cánh rồi!

Ngài luôn rót mật cho đời,

Chắt chiu. Kỷ niệm. Dĩ vãng.

Em nhớ gì không em ôi?”

(Hát nhại lời ca của Trần Trịnh-giống như trên)

Lai rai hát “nhại” như trên, chỉ để nhắc bạn và nhắc tôi, mình có nhớ? Nhớ Chúa dặn, lời rằng:

“Vậy các ngươi hãy cầu nguyện thế này:

Lạy Cha chúng tôi,

Đấng ngự trên trời,

Ước gì Danh Cha hiển thánh,

Nước Cha trị đến,

Ý Cha thành sự dưới đất cũng như trên trời.”

(Mt 6: 9-10)

Rõ ràng, dịch giả Sách Thánh qua tiếng Việt, như Lm Nguyễn Thế Thuấn, CSsR hoặc Ủy Ban “Các Giờ Kinh Phụng Vụ”, gọi đó là: “cầu nguyện”. Nhưng, khi đặt tiêu đề cho lời cầu trên, có dịch giả gọi đó là “Kinh” Lạy Cha. Nói nôm na, thì: lầm rầm hoặc đọc lớn tiếng “lời cầu” này, ta sẽ bảo: mình đọc Kinh “Lạy Cha”. Nhưng thực ra, chỉ là động thái “cầu nguyện”, như thánh Mát-thêu lại đã ghi:

“Cầu nguyện,

thì các ngươi chớ lải nhải như người ngoại!

Chúng tưởng: hễ nói nhiều thì sẽ được nhậm.”

(Mt 6: 7)

Đó là thánh Mátthêu. Còn, thánh Mác-cô lại cũng viết:

“Và khi đứng cầu nguyện,

các ngươi hãy tha thứ,

giả như các ngươi có bất bình với ai,

ngõ hầu Cha các ngươi, Đấng ngự trên trời,

cũng tha thứ cho các ngươi.”

(Mc 11: 25)

Thế nghĩa là, “lời cầu” ở trên chắc chắn không là lời “kinh”, để ta lai rai mà đọc mãi. Đọc hoài hoài. Hoặc, để bạn và để tôi, ta cứ thế mà nói bằng lời trong các buổi “tôn vương”, ở đâu đó. Bởi, cả hai thánh sử đều không nhắc nhở ta phải “đọc” trong lúc “cầu nguyện”, mà là: “làm”, khi nguyện cầu. (x. Pascal Marin, www.retraitedanslaville.fr 24/02/2010)

Trong khi đó, cố giáo sư kinh thánh, Lm Nguyễn Thế Thuấn, CSsR lại quả quyết:

“Kinh Lạy Cha là chủ chốt của lời rao giảng. Nghĩa là, nếu muốn biết ước nguyện, chủ đích sâu thẳm nhất của một tâm hồn tôn giáo, thì cần phải biết lời cầu nguyện của người ấy là gì? Vì thế, Kinh Lạy Cha cho thấy mối bận tâm chính, đã chiếm đoạt tất cả Chúa Yêsu là gì? Một tác giả đã nói Kinh Lạy Cha là “toát yếu của tất cả Tin Mừng”.

Hiểu được lời giảng của Chúa Yêsu chừng nào là tùy biết cầu Kinh Lạy Cha với Ngài chừng ấy. Và, cầu Kinh Lạy Cha ấy theo tinh thần của Chúa Yêsu, là tùy việc nghe Ngài giảng. Hai điều này gần như mâu thuẫn nhau, nhưng thực sự, tựu chung lại, là đã được nên chung sống với Chúa Kitô thế nào! Hai điều đó, có phản ứng trên nhau, là nguyên nhân, lẫn cho nhau. Càng đi vào lời giảng, thì càng biết đọc Kinh Lạy Cha, như Chúa Yêsu muốn. Và càng đọc Kinh Lạy Cha theo tinh thần của Chúa Yêsu, thì cũng mới nghe được lời giảng của Ngài.” (x. Lm Nguyễn Thế Thuấn, CSsR Hiến Chương Nước Trời, tr. 151)

Nói như thế, là nói. Là, chú giải Lời Chúa, theo kiểu dân con nhà Đạo. Còn, hát ca/ngâm nga lời thơ ý nhị, của người nghệ sĩ ở ngoài đời, thì thế này:

“Bài hát ca dao, theo tôi vào đời

Và giữ cho tim, tôi xanh nụ cười

Nào biết trong em, còn nhiều trống vắng

Trái yêu đương, chỉ là trái đắng,

Gã tật nguyền buông trôi niềm tin.” (Trần Trịnh-bđd- lời 2)

Ca dao ấy. Bài hát nọ. Vẫn cứ theo tôi/theo bạn, đi vào đời. Nhưng đời tôi/đời bạn còn nhiều “trái đắng”, “trống vắng”, “tật nguyền” hay không, là vấn đề khác. Vấn đề là, “Trái yêu đương”, khiến kẻ “tật nguyền” là tôi (chứ không là bạn), đôi lúc thấy mình như “Trôi niềm tin”. Trôi, cả niềm riêng, yêu đương. Là thế. Ấy niềm tin.

Trôi, là bởi: tôi vẫn “đọc” kinh. Vẫn sống. Nhưng vẫn rời xa, chạy khỏi lời giảng giải, của Đức Chúa. Chạy và rời, lời dạy từ Chúa, có thể vì:

“Thuở ấy, tôi như con chim lạc đàn

Xoải cánh cô đơn bay trong chiều vàng

Và ước mơ sao trời đừng bão tố

Để yêu thương càng nhiều gắn bó

Tháng ngày là men say nguồn thơ…” (Trần Trịnh-bđd-Lời 1)

Nguồn thơ đây, chắc không là “thơ” tình? Cũng chẳng là “Tình Thơ”, của Đức Chúa? Bởi, nếu tôi và bạn, một khi đã quyết yêu thơ và yêu thương, rồi còn “thêm nhiều gắn bó” với Lời Thơ/Lời Chúa, ắt hẳn ta cũng sẽ hát thêm lời 3 của bài ca khi ấy, như sau:

“Lạy Chúa Ba Ngôi, nghe con nguyện cầu.

Và giúp cho con, quên đi tình sầu,

Lời thánh ru êm, giọt đàn thống hối,

Chúa trên cao mỉm cười thứ lỗi.

Những giọt đàn vang trong trời tin.”

(Trần Trịnh-bđd-Lời 3)

Người xưa có câu “trí lớn gặp nhau”. Trí ở đây thật sự không lớn. Mà, chỉ là trí của người bình thường. Rất dễ thương. Trong/ngoài huyện. Nơi, có những người cũng biết yêu. Nhưng lại là:

“Từ lúc yêu trăng, tiêu hoang cuộc đời,

Từ phút say hoa, tương tư biển trời,

Muội rót cho huynh, ngọt ngào mắt biếc,

Ðắm say trên, từng hàng chữ viết,

Cũng muộn phiền, suốt kiếp chưa vơi.”

(Trần Trịnh-bđd-Lời 5)

“Tiêu hoang cuộc đời”. “Muộn phiền suốt kiếp”. Phải chăng vì bạn/vì tôi, ta vẫn yêu trăng? Không yêu Thơ. Yêu Chúa. Qua, nguyện cầu? Phải chăng vì muội, vì huynh vẫn muốn nhờ vả thần/thánh cho mình nguồn vui. Tìm không thấy? Niềm vui rất nhè nhẹ, như truyện kể ở bên dưới:

“ Sáng mùng Một Tết, cặp vợ chồng 60 tuổi nọ đang cúng bái, bỗng dưng thấy bà tiên xuất hiện. Rất đột xuất. Tiên Bà cảm kích tình yêu thương giữa hai người, bèn ban cho mỗi người một nguyện ước, ngày đầu xuân. Cho vui. Người vợ hiền, bèn tỏ bày: muốn đi du lịch vòng quanh thế giới, chỉ một chuyến. Xong ngay! Lập tức chị có hai vé trong tay, không tốn tiền. Ông chồng liếc nhanh cặp mắt diều hâu, thấy không ổn, bèn ước khác:

-Ước gì tôi có cô vợ trẻ hơn tôi, những 30 tuổi.

Úm bà là! Thế là, Tiên Bà vung đũa thần, biến hoá cho ông chồng trở thành một lão gia, tuổi chừng 90, rồi biến mất…”

Tiên già/tiên trẻ, nay biến hết. Chẳng thấy ai. Biến, là vì cả huynh lẫn muội đều cứ ước. Cứ nguyện. Mà chẳng cầu. Chẳng thực hiện gì những lời kinh. Bằng tha thứ. Chẳng yêu thương gì. Như Tiên Bà/thần thánh vẫn cứ mong.

Không yêu thương – tha thứ, mà vẫn “cầu kinh” linh tinh khấn vái, lúc nguyện cầu, chỉ là cử chỉ của người chưa hiểu. Và chưa biết. Kinh “Lạy Cha”. Thành ra, cố giáo sư kinh thánh Nguyễn Thế Thuấn, chú giải thêm:

“Chúng ta thấy, chỉ những ai nghe Chúa Yêsu giảng và bị chinh phục, đến nỗi tư tưởng và ước nguyện của họ bị chi phối bởi những ưu tư căn bản của Chúa Kitô, kẻ đó mới cầu kinh Lạy Cha, được. Kẻ bị chinh phục thật sự, bởi lời giảng của Chúa Kitô, đã mặc lấy cho mình những ưu tư căn bản của Ngài. Chứ không phải, là chịu lấy công thức mà nhận lãnh ưu tư của lòng Chúa Kitô, khi nghe Ngài giảng giải. Kẻ nào bị chinh phục thật, như thế đã quay đầu lại, lật ngược cả đời mình, thì kẻ đó mới cầu nguyện Kinh Lạy Cha, như Chúa Yêsu muốn họ cầu nguyện.” (x. Lm Nguyễn Thế Thuấn, CSsR sđd tr. 150)

Nói theo kiểu thời đại bây giờ, là nói có truyện kể. Có phim tập nhiều giả tưởng, về nguyện cầu. Nguyện cầu “Lạy Cha”, là nói và kể về truyện tích thời đại, rất như sau:

-Lạy Cha chúng con ở trên trời…

-Ta đây, con gọi gì thế?

-Con đang đọc kinh, xin đừng cắt ngang!

-Thế, ai gọi Ta vậy?

-Dạ, đâu ai gọi. Con đang đọc kinh mà…

-À thì ra, là con?

-Là con? Ngài nói gì thế?

-Chẳng phải là con gọi Ta sao? Chính con vừa gọi: “Lạy Cha chúng con ở trên trời” là gì. Thì, Ta đây. Ta nghe con gọi mà.

-Con đâu có gọi. Con đọc kinh mà! Ngày nào, con cũng đọc kinh “Lạy Cha”, như đã dạy. Có đọc, mới yên lòng. Đọc, như bổn phận. Ngày nào quên, con thấy làm sao ấy.

-Sao con có thể gọi tên Cha, mà không chỉ nghĩ rằng tất cả các con đều là anh em? Sao con có thể nói: “Cha chúng con ở trên trời” mà không biết rằng: “trời” đây là sự an bình. Là, tình yêu đối với mọi người?

-Đó là điều con chưa hiểu. Chưa được bảo cho biết.

-Thôi được. Cứ tiếp tục đi!

-Danh Cha hiển thánh!

-Khoan đã! Con muốn nói gì thế?

-Ý con là … làm sao con hiểu được những điều cao siêu ấy? Thú thật, đây chỉ là lời kinh mà thôi…

-“Hiển thánh”, là: công nhận Cha ban sự sống cho hết mọi loài. Là, công nhận Ngài rất đáng kính. Rất thánh. Đấng làm ta đặt hết tin tưởng. Chứ, không giống như tin vào các công ty bảo hiểm, ở ngoài đời…

-Giờ, thì con hiểu thế nào là hiển thánh. Thế nào là Nước Cha trị đến. Ý Cha thành sự, dưới đất cũng như trên trời…

-Con có nghiêm túc không đó?

-Dạ, nghiêm lắm chứ. Sao thế ạ?

-Tức là, con có mong cho việc ấy xảy ra không?

-Con nào làm gì được. Và, cũng chẳng làm được gì. Đây, là một phần của lời kinh sớm tối. Nhưng con hiểu, điều này hẳn có nghĩa, là: Cha chế ngự mọi sự vẫn cứ xảy ra ở trên trời và dưới đất.

-Thế, Ta có khống chế cuộc đời con, chút nào không?

-Vâng. Con vẫn đi nhà thờ đấy.

-Ta đâu đòi hỏi con chuyện ấy. Ta chỉ muốn biết cách thức con đối xử với người đồng loại. Con sử dụng của cải/tiền bạc ra sao. Sử dụng thời gian như thế nào để theo dõi báo đài, truyền hình, vi tính, và quảng cáo đến là như thế. Con chừa lại độ dài thời gian là bao nhiêu, cho Ta, thôi.

-Có thể nào, Ngài ngưng lại, đừng phán xét con, có được không?

-Này con. Sao con vẫn đọc: “ý Cha thành sự”. Nếu điều này là ước vọng của con, thì với những người cũng cầu nguyện và chấp nhận ý của Ta. Chấp nhận mọi sự, từ việc trời hực nóng, trời lạnh căm, mưa bão. Chấp nhận thiên nhiên, trời đất. Và chấp nhận, cộng đoàn… nữa.

-Dạ rất đúng. Con chưa từng chấp nhận ý của Ngài. Bởi vì, con vẫn than phiền về những điều Ngài gửi đến cho con. Khi Ngài cho mưa cho gió, con lại đòi cho được trời có nắng. Khi trời nắng ráo, con lại than rằng trời quá nóng bức. Lúc giá lạnh, con cũng lại than. Con đòi có sức khoẻ. Nhưng không chịu chăm chút. Ăn uống, thì chẳng điều độ. Lúc thì tham ăn khi lại nhịn đói…

-Con biết thế, cũng là điều tốt. Giờ thì, Cha con mình cùng hành động. Có lúc được, lúc thua. Cha hài lòng về thái độ mới của con.

-Lạy Cha. Xin để con xong lời cầu này đã. Cầu nguyện như thế này, tốn nhiều thì giờ hơn thường lệ. Xin để con tiếp tục: “Xin cho con lương thực hằng ngày.”

-Hãy khoan đã! Con xin Ta lương thực vật chất, đấy hả? Con người đâu chỉ sống bằng bánh, mà bằng Lời của Ta. Khi xin cơm bánh, con hãy nghĩ đến những người không có gì để ăn. Con xin Ta điều gì cũng được. Ta là người Cha thương con cái. Thôi bây giờ, hãy nghe tiếp lời cầu của con.

-“Xin tha tội nợ chúng con, như chúng con cũng tha khách nợ”

-Cả người anh người chị, mà con vẫn coi rẻ nữa, chứ?

-Lạy Cha, họ luôn dèm pha/chỉ trích, những điều không đúng. Con quyết không tha.Thế nào cũng phải trả đũa, thôi.

-Thế, con nói gì trong câu kinh? Con đang kêu gào gọi tên Ta. Này, Ta đây. Ta muốn con hoàn toàn đổi mới, sau khi gọi. Ta muốn con sống rất lương thiện. Nhưng cũng đừng để lòng mình trĩu nặng, một hờn căm. Con hiểu chứ?

-Con biết lòng mình sẽ nhẹ nhõm hơn, nếu trả thù.

-Không. Như thế, con sẽ thấy rằng mình không được tốt. Trả thù, không tốt lành như con tưởng. Hãy nghĩ về cơn sầu buồn con tạo ra. Hãy liên tưởng đến nỗi buồn con cảm nghiệm. Cha có thể thay đổi tất cả, để cho con. Chỉ cần con thực sự muốn thay đổi.

-Xin Ngài làm con thay đổi. Nhưng làm cách nào để đổi thay bây giờ?

-Hãy tha thứ hết mọi người. Rồi con sẽ cảm nghiệm được ơn tha thứ của Ta. Con sẽ thấy mình trở nên nhẹ nhõm.

-Nhưng lạy Cha. Con thật tình không thể làm được như thế!

-Vậy thì đừng đọc kinh này nữa…!

-Ngài có lý. Thoạt đầu, con muốn trả thù. Nhưng tình thực, con chỉ muốn được bình yên. Thôi được, con sẽ cố thứ tha cho hết mọi người. Nhưng, xin Ngài hãy giúp con. Xin chỉ cho con đường đi nước bước. Để con theo.

-Những điều con xin, thật tuyệt! Ta vui lòng ở với con. Còn con, nay con thấy mình ra sao?

-Dạ rất tốt. Thật ra, con thấy mình khoẻ khoắn. Nhẹ nhõm, hơn bao giờ hết. Thật tuyệt diệu, con mà lại được phép hầu chuyện cùng Chúa. Cùng Cha.

-Nào, ta kết thúc lời nguyện cầu. Tiếp tục đi.

-“Và chớ để chúng con sa cơn thử thách, nhưng cứu chúng con khỏi mọi sự dữ.”

-Tuyệt! Ta sẽ làm thế. Nhưng, con đừng đặt mình trong tình huống dễ bị thử thách.

-Ngài muốn nói gì?

-Hãy ngưng lại. Con đừng kết bạn với những người đưa con vào những chuyện bỉ ổi. Hãy từ bỏ tính hờn căm, hung dữ. Tất cả những thứ đó đều đưa con đến con đường sa đoạ. Đừng dùng nó như lối tắt để vượt qua thử thách, trong cấp kỳ…

-Con chưa hiểu ý Ngài!

-Chắc chắn con đã hiểu! Con từng làm việc ấy với ta, rất nhiều lần. Con từng chọn con đường sai lạc, rồi kêu cầu, Ta đến cứu.

-Con xấu hổ lắm. Xin Ngài tha cho con.

-Dĩ nhiên, Ta tha cho con. Ta tha thứ cho cả những người tự hạ mình để cho Ta tha thứ nữa. Nhưng lần sau nếu có gọi Ta, con hãy nhớ lời Ta chuyện vãn với con hôm nay. Hãy nhớ những lời con thưa với Ta. Bây giờ, con hãy kết thúc lời cầu, của con đi.

-Kết thúc? Vâng. AMEN.

-Amen là gì, con hiểu chứ?

-Thưa, con chưa hiểu. Đó, chỉ là lời kết thúc thôi mà.

-Con nói lời AMEN mỗi khi chấp nhận những gì Ta mong muốn. Cả khi con tỏ ra hài hoà với ý muốn của Ta. Cả khi con tuân thủ giới lệnh, Ta ban ra. Bởi vì, AMEN có nghĩa là: MONG ĐƯỢC NHƯ VẬY. Là, đồng ý với những gì mình vừa nói. Vừa đọc.

-Tạ ơn Ngài. Đã dẫn giải cho con hiểu lời cầu này. Tạ ơn Ngài đã cho con biết cách đọc những lời kinh.

-Ta yêu hết mọi con cái của Ta. Ta hài lòng với những kẻ muốn bước ra khỏi chốn lầm lạc. Xa rời, nơi phạm lỗi. Ta chúc phúc cho con. Hãy ở lại trong Bình an Ta vẫn ban.

-Tạ ơn Ngài, ôi lạy Cha. Nay con hiểu rằng con được trở thành người bạn của Ngài.”

Thế đó, là truyện kể. Một cổ tích, buổi bây giờ. Thế đó, là nguyện cầu “Kinh Lạy Cha”. Hiểu được lời kinh hay không, cũng nên nghe thêm một vài lý giải của lời cầu, như cố linh mục Nguyễn Thế Thuấn, đã từng viết:

“Kinh Lạy Cha, là cả một mặc khải về Thiên Chúa. Và, về mối liên lạc giữa Chúa Yêsu và Thiên Chúa. Có một cái gì tuyệt đối, mà người khác không thể nói được. Đó, là điều mà khi đọc Tin Mừng, chúng ta sẽ thấy: sự khác biệt của Chúa Yêsu khi xưng Mình là Con một cách tuyệt đối trước mặt Thiên Chúa. Dù, thánh Mát-thêu đã nói, sau khi Chúa sống lại: “Đâu có hai, ba người họp lại nhân danh Ta, thì có Ta ở đó, giữa họ. (Mt 18: 20). Họ cầu xin là Ngài cầu xin với họ. Tuy thế, những lời đem về Chúa Yêsu và liên hệ Ngài với Cha Ngài không bao giờ để đồng hành với kẻ khác, bao giờ. Vậy, ta thấy có một nghĩa tuyệt đối, mà chỉ có thể thực hiện cho mình Ngài…” (x. Lm Nguyễn Thế Thuấn, Hiến Chương Nước Trời, sđd, tr. 159)

Nguyện cầu khi xưa, hoặc lời kinh hôm nay, vẫn còn đó một quyết tâm. Quyết, am hiểu điều mình cầu. Quyết, thực hiện việc mình muốn. Hiểu và muốn, những thanh tao. An hoà. Hạnh phúc.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn muốn học và muốn hỏi

về những điều mình chưa hiểu.

Nhưng vẫn muốn.

4. “May Mà Có Em”

May mà có em”.

(Nguyễn Thiện Bản – MayMà Có Em)

Mt 6: 33

Chính đó, là tựa đề và ý từ của nhạc bản do người viết nhạc “Đạo vào đời”, rất tài tử. Nhạc của anh tuy không chuyên, nhưng rất đạt. Tên anh là Bosco Nguyễn Thiện (rất) Bản, người anh em trong đại Gia Đình An Phong ở Mỹ mà bần đạo quen từ lâu, nhưng chưa một lần gặp mặt.

Dù chưa gặp mặt hoặc diện kiến dung nhan còn rất trẻ của anh, bần đạo cũng biết ý/từ anh sáng tác, là tư tưởng gợi hứng từ Đạo Chúa, mà anh gọi bằng “Em”. Em đây, đích thị là người em của anh, trong Đạo. Cũng có thể, là chính Chúa hiện diện nơi tâm can bạn bè ở Nước Trời. Là tôi. Là bạn. Là chính chúng ta. Là ai nữa, vẫn xin gửi đến anh rất Thiện Bản tràng pháo nổ dòn. Rất cảm kích.

Cứ sự thường, bần đạo có thói tật không được hay cho lắm là: ít chịu “bốc thơm” người nhà mình. Chí ít, là người anh/người chị ở đâu đó, có Nước Trời. Bởi, ai lại cứ nghe “Em hát chị khen hay” bao giờ. Nhưng, ở đây người em hay hát -và hát rất hay- thuộc dân con nhà Đạo, ở Nước Trời. Bởi, anh đã nhận được thần hứng hứng từ nhiều thứ. Nhiều nơi. Trong đời. Từ chính trị/thời sự, cho đến thần học/tu đức. Rồi, biến nó thành ca khúc, dẫn người nghe vào cõi “mê” có chúc tụng, ngợi khen Chúa. Không tin ư? Xin bạn và tôi, ta nghe tiếp lời nhạc như sau:

“Từ khi quen biết em

Đời anh thấy vui hơn.

Em như cánh hoa thắm

Giữa vườn tình muôn sắc.

Tô thắm đời xinh đẹp,

Toả hương yêu dạt dào.”

(Nguyễn Thiện Bản – bđd)

Sự thật là thế đó. Nếu bạn và tôi, ta đồng ý với người viết nhạc họ Từ tên rất ư là Công Phụng, khi ông bảo: hễ người nghệ sĩ ới gọi tên “Em”, thì người ”em” đó không chỉ là “em tôi”. Mà là, người nghe hay người đọc, rất vân vân. Với nhạc bản hôm nay, “Em” còn có nghĩa là ”cành hoa thắm”. “Gió trong đêm”. Là, “con sông dài”, “áng mây trôi”, và gì gì nữa, nếu hát thêm:

“Em như nắng ấm quê ta,

Cho anh mơ ước bao la.

May mà có EM

Em như tiếng hát trong ta

Hương yêu thơm ngát muôn hoa.

May mà có EM

May mà có EM

May mà có EM.”

(Nguyễn Thiện Bản – bđd)

“May mà có Em”, là có những người, làm bạn/làm tôi thêm phấn chấn. Có những người tuổi rất nhỏ đang lưu lạc, ở đâu đó. Khiến mọi người, cả em lẫn tôi, ta vẫn kiếm tìm. Kiếm, một tình tự. Tìm, sự thân thương. Đã luột mất.

“May mà có Em”, cũng may là: vẫn còn đó, người anh/người chị đi trước, cứ khắc khoải/ưu tư về người “em” hôm trước, có còn ở thế gian. Chốn phàm trần. Đầy sự sống? Với giòng chảy ưu tư những tìm và kiếm, rất khắc khoải của một Marie Choquet, trong “Le Monde Magazine”, thì bạn và tôi ta đã bắt gặp giòng chảy tư tưởng qua chuyến Pháp du 24/7/2010, vừa qua:

“Từ lâu lắm, chừng như ta chẳng còn tìm hiểu gì đến giới trẻ, ở quê nhà. Chẳng còn biết họ đang ở nơi đâu. Chốn nào. Nay, mới lại tìm hiểu con người họ, qua lăng kính. Rất hiển vi. Sự thể là, ta lại đặt ra rất nhiều vấn đề, mà trước đây chẳng hề thấy. Tưởng chừng như đó là câu chuyện còn mới mẻ. Rất trầm kha. Sa đà. Cần ra tay tiếp cứu. Sa đà, vì người trẻ hôm nay chỉ biết những là bột trắng. Với tự vẫn. Cứ gia tăng rất đều. Mà thật ra trong đời họ chỉ thấy mỗi gia tăng, những là bạo lực.

Lâu nay, bạo lực đã trở thành vấn đề hệ trọng, mãi đến năm 2000, ta mới biết. Thế nhưng sau đó lại thôi, không đề cập đến. Thật hết sức. Nay, hãy thử suy tư về những gì ta có như một dữ kiện hiện rõ từ năm 1993, thời khắc có đến 1% số người trẻ trong nước vẫn gánh chịu nhiều bạo lực. Cả về giới tính. Cũng từ đó, ta lại thấy nó như một hiện tượng rất mới mẻ. Phải chăng đang có cái gì đó, vẫn đổi thay? Phải chăng, đây là dấu hiệu cho thấy người trẻ nay đang sa đà, tuột dốc? Không hẳn thế đâu. Bởi, điều này còn tùy vào góc độ, ta nhận xét. Thử xét về cái-gọi-là “bột trắng” lấy từ cây gai dầu mà xem.

Từ thập niên ’90, người ta đã nêu vấn đề này lên rất nhiều. Rồi cứ thế mà thiết lập/cài đặt một hiện tượng. Nay, thì chuyện ấy đã giảm sút. Chỉ mỗi điều, là nhiều người nay đâm ra lo âu. Sầu lắng. Hỏi han. Trong số những người ấy, có tôi. Lo rằng, ngày nay người ta thích tạo ra ảnh hình về người trẻ đang “sa đà”, làm cho thế hệ già đi trước, phải hoảng sợ. Ảnh hình tồi tệ, là làm thế sẽ tụt giảm phẩm giá của người trẻ. Và, đấng bậc mẹ cha, sẽ không còn biết quan tâm đủ về lớp người này, như trước.” (x. Marie Choquet “L’Image du jeune fait peur aux adultes”, Le Monde Magazine 24/7/10 tr. 24)

“May mà có Em”, còn là cái may ta vẫn được nghe. Được ngắm. Được gửi gắm đến bạn bè rất thân và rất thương, những lời nhạc dễ thương sau đây:

“Từ khi quen biết em,

Cuộc đời đáng yêu hơn.

Em như vị sao sáng

Giữa biển đời bao la,

Soi sáng trời tươi đẹp,

Tình yêu thương đậm đà.

Từ khi quen biết em,

Mọi người thấy như quen,

Em như ánh trăng thanh,

Lung linh ngàn sắc đẹp, bình yên.

Em như đêm trăng rằm

Thắp sáng tâm hồn anh,

Em như chút men say

Dạt dào sóng vỗ tim anh.

(Nguyễn Thiện Bản – bđd)

Tim anh. Và cả đến tim em. Vẫn là trái tim êm đềm. Trong sáng. Rất men say. Con tim chân chính ấy, vẫn lan toả nhiều mối tình. Tình Chúa thương, toả chiếu hồn em. Tình em yêu đương đậm đà tình Chúa, như được nhắc rất nhiều ở lời vàng Kinh Sách, rất như sau:

“Hãy tìm kiếm Nước

trước đã,

và sự công chính của Người.

Và, các điều ấy

sẽ được ban thêm

cho các ngươi.”

(Mt 6: 33)

“May mà có Em”, là cũng rất may, vì nay vẫn còn những người Em và Anh vẫn rất thánh. Cứ tìm kiếm “Nước” ở nhiều nơi. Kiếm và tìm, như thánh nhân ngoài luồng/trong Đạo, hằng ra sức. Ở đâu đó.

“May mà có Em”, lại cũng rất may, vì nay đang có người em/người anh vẫn kiếm tìm sự lặng thinh. Để trầm tĩnh. Tựa như tác giả Bernard Toutounji, ở Sydney, cũng đã một lần tìm kiếm an bình/hiền. Cũng nói câu “May mà có Em”, như sau:

“Tuần rồi, tôi lái xe cả trăm cây số về mạn Nam Sydney để tìm về miền đất rất trầm và rất tĩnh, có đan viện. Đan viện tôi kiếm tìm, là một viện tu cho nữ giới Ḍòng Biển Đức ở Jamberoo, để lưu trú ít ngày. Viện Dòng chuyên tu tôi tìm đến, là chốn miền trước kia tôi từng đặt chân, rất lặng thinh. Im ắng. Tịch mịch. Thật sự, thì ít lâu nay tôi để mất cái thói quen tìm về nơi thanh vắng mà nguyện cầu, như Chúa dạy. Nay tìm được nơi này, tôi như người mở bung đôi cánh rút về chốn vắng, rất ấm êm. Xa và vắng, khỏi mọi hệ lụy của cái thế giới ồn ào. Náo nhiệt. Chỉ tranh giành.

Đến với lặng thinh mà chiêm và ngắm, tôi mang trong đầu một đoạn Kinh Sách trong đó có ghi rõ Phêrô thánh nhân cũng tìm đến với Thầy mình, những bồng bềnh trên mặt nước. Trong một phút rất căng, thiếu bình tĩnh lặng thinh nơi tâm hồn, thánh nhân đã lặn ngụp trong nghi nan. Đa đoan. Thất bại. Tôi cũng thế. Nhiều tháng ngày trước đó, tôi cũng bị ngập ngụa trong thách đố, có từ cuộc sống. Thách và đố đến mức độ, tôi phải viết vào nhật ký nguyện cầu, những giòng chảy đượm những tình tự ra như ngập chìm trong tăm tối. Đắm đuối. Rất kiệt sức.

Trong tình huống buồn như thế, tôi tự nhủ: thay vì tìm vào lời kinh oang oang đầy tiếng động, tìm cộng hưởng, như nhiều người vẫn làm, tôi chỉ tìm chốn ắng im. Chìm ngập trong ca hát. Những thánh vịnh. Lời ca. Của Hội thánh. Và cứ thế, trong bốn ngày tham dự đầy đủ các giờ kinh hôm, ban sớm. Rất nhẹ nhàng. Thanh thoát. Tôi ngồi đó, để hồn mình bay bổng. Lắng đọng. Để lòng mình bay theo cung nhạc thần thánh. Rất thanh tao. Của viện tu. Dòng nữ. Có tiếng hát rất thiên thần từ cộng đoàn Nước Trời, ở nơi đây, nay cảm hoá linh hồn tôi. Theo cung cách của giọt nước nhiễu trên đá tảng, đang rớm lệ.

Đúng như vị linh mục Dòng Biển Đức nọ từng ghi chú: “Nguyện cầu với thánh vịnh, ta cứ tưởng mình chỉ có thể cảm hoá cuộc sống của người nào đó, thôi. Nhưng, có thể là, ta đã thay đổi cả tầm nhìn của thế giới. Đổi và thay, cả những quyết định có tính kinh tế, chính trị, cũng không lâu.”

Cảm nghiệm ấy, tôi đã đạt chỉ trong vòng có 4 ngày trời ngắn ngủi. Thế cũng đủ. Đủ, để tôi thấy được chính con người của bản thân tôi. Đủ, để cùng với lời ca/câu hát, qua thánh vịnh, tôi kết hợp chính mình với thế giới thiên thần mà con người đương đại không thể mang lại cho một ai. Kim đồng hồ thế giới vẫn cứ quay cuồng, nhiều tình tiết. Nhưng, chừng như nó đã dừng lại, nơi tôi.

Từ những kinh nghiệm riêng tây, tôi trộm nghĩ: Phải chi mọi người, từ già đến trẻ. Đã có gia đình, hoặc còn độc thân. Ta cứ cùng nhau hợp quần, vứt bỏ thì giờ uổng phí. Bỏ tất cả. Bỏ mọi người, chốn ồn ào đầy tranh chấp. Mà đến với Chúa. Trong lặng thinh. Chỉ cần bỏ ra một ít tháng ngày. Phút giây. Mà, tìm về với thinh lặng. Im ắng. Để nguyện cầu. Với Chúa. Với nhau. Rồi ra, ta sẽ bắt gặp lời mời của Chúa khi xưa nói với Phêrô thánh nhân, rằng: Con hãy bước ra khỏi con thuyền chòng chành đầy nghi vấn. Cứ vững tin mà bước tới, ta sẽ thực hiện được nhiều điều ta mong ước.” (x. Bernard Toutounji, An opportunity to walk on water, The Catholic Weekly 22/08/2010 tr. 13)

“May mà có Em” hôm nay, là đã có bạn/có tôi, ta được nghe tâm tình nhiều bạn hữu, tuy chưa biết, nhưng đã quen. Quen như tiếng hát, ta từng nghe rất nhiều, thời buổi trước. Quen như giòng chảy thi ca/âm nhạc, nhiều thể loại. Dù, nó có là thể loại nào đi nữa. Dù, nó có là lời bạn của bạn bè người thân như lời nhận định của ai đó trong truyện kể, để thư giãn và minh hoạ, ở bên dưới:

“Truyện kể, để hỏi bạn hỏi tôi, ta đang dùng thể loại âm nhạc nào, để ca hát. Cho mọi người.

Truyện rằng:

Vào giờ học Anh ngữ, cô giáo cho học sinh tập tành việc giao tiếp với giới âm nhạc rồi ghi vào báo cáo. Để mọi người còn biết mà đặt tên. Nghe hỏi, hai bạn bảo nhau :
- Mày thích loại nhạc gì?
- Nhạc Hip Hop đó .
- Còn mày thích nhạc nào?
- Disco.
- Được rồi. Bọn mình cứ ghi vô.
- Nhưng chữ ấy, viết làm sao?
- Tao đâu biết.
- Đúng rồi, đó là tên mà tụi Tây nó dùng để chỉ loại nhạc kích động, mình chỉ ghi phiên âm thôi
- Ừ đúng thế! Với lại bà thày có lấy điểm đâu mà mình lo….
Thằng bạn gật gù, ghi vào báo cáo: "Thể loại nhạc tôi ưa nhất là: Híp hóp và Đi đi Cô" !!!!

Thể loại nhạc ta ưa hát, có là thánh vịnh hoặc bình ca cũng đều được. Miễn là, cất lên lời kinh nguyện cầu dù có nhịp điệu, hay nhạc giựt Disco, hoặc xô bồ gì gì đi nữa cũng đặng. Đặng, là vì chắc chắn trong nguyện cầu luôn có giòng chảy của âm nhạc. Của lặng thinh. Thì, cũng vẫn đưa mình đến với Chúa, trong kiếm tìm. Tìm đến Ngài để ca hát. Chúc tụng. Chúc rằng: May mà có Em. Có Anh. Có Chúa, trong đời mình. Mọi sự sẽ trở nên tốt đẹp. Hạp ý Chúa. Vừa ý mình. Là được.

Trần Ngọc Mười Hai.

Xưa nay vẫn muốn hát

những giòng nhạc lặng thinh.

Rất kiếm tìm một tình yêu.

Chí ít là khi được tin người anh ruột

vừa chấm dứt một tìm kiếm

rất lặng thinh.Trong đời.

Về với Cha. Là với Chúa.

5.“Chiều một mình qua phố,”

âm thầm nhớ nhớ tên em,
có khi nắng khuya chưa lên

mà một loài hoa chợt tím.”
(Trịnh Công Sơn – Chiều Một Mình Qua Phố)

2Ph 1: 13-15

Phố xá anh qua, có là nhà Đạo ở quận/huyện, anh chợt đến? Quê nhà chị đến, có là trời cao chốn vắng, rày hay quên? Quên/nhớ chốn trời cao/phố vắng, là chuyện bình thường. Thường và bình, là chuyện “một mình qua phố”, để “âm thầm nhớ tên em”. Nhớ loài “Hoa chợt tím”. “Gót chân mềm”. “Chiều một mình qua phố” rất bình thường, còn gợi buồn cho mình và cho người một giòng thơ. Mơ huyền. Trầm tĩnh.

Giòng thơ mơ huyền, nay lại đến với bần đạo, nhân có buổi “chiều một mình qua phố”, đến nhà Đạo. Nhưng, phố xá mà bần đạo mới vừa qua, lại là phố Đạo bình thường. Rất dễ thương. Cũng nhắc nhớ “tên em”. Rất êm đềm. Tên, của người anh/người chị, với những tình tự dễ thương. Dễ nhớ. Nhớ và thương, một ký ức, tức tình tự của đấng bậc lành thánh. Rất sốt sắng. Linh đạo.

Sống ở nhà Đạo lại qua phố, bần đạo cũng có ước mơ, tự sự nghe nghệ sĩ hát, rất quen quen:

“Chiều một mình qua phố

âm thầm nhớ nhớ tên em

Gót chân đôi khi đã mềm

gọi buồn cho mình nhớ tên.”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

Và, “một mình qua phố”, bần đạo cũng qua là để “nhớ tên em”, rất âm thầm. Người của Hội thánh. Nhớ tên em, là tình tự mà bần đạo nhận ra được ở lời thơ còn hát tiếp:

“Chiều qua bao nhiêu lần môi cười, cho mình còn nhớ nhau

Chiều qua bao nhiêu lần tay mời, nghe buồn ghé môi sầu.

Ngày nào mình còn có nhau, xin cho dài lâu.

Ngày nào đời thôi có nhau, xin người biết đau.

(Trịnh Công Sơn – bđd)

Cùng với người nghệ sĩ trên, bần đạo cũng đã “một mình qua phố”, với môi cười. Để rồi sẽ “nghe buồn ghé môi sầu”. Chuyện “dài lâu”. “Người biết đau”.

Ấy đó, là chuyện đời. Chuyện của người nghệ sĩ, cũng bon chen. Nhưng, không thoát phận hèn. Niềm đau. Ấy đó, là tâm tình của dân con nhà Đạo, cũng hay xục xạo như bần đạo. Cũng từng “một mình qua phố”, nhưng không phải chốn phố chợ. Đường đời. Mà, phố Đạo. Nhà Đạo. Để rồi, cứ khờ khạo. Chẳng để tâm/lưu ý gì tâm sự của vị đại lão trưởng tràng cộng đồng dân Chúa, từng có lời kinh hôm. Rất thúc bách. Như sau:

“Tôi thiết nghĩ:

bao lâu tôi còn sống cuộc đời chóng qua này,

tôi phải nhắc nhở để thức tỉnh anh em,

đó là điều phải lẽ,

vì biết rằng sắp đến thời tôi phải bỏ lều này,

như Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta,

cũng đã tỏ cho tôi biết.

Nhưng tôi sẽ cố gắng, để trong mọi trường hợp,

sau khi tôi ra đi, anh em có thể nhớ lại các điều ấy”

(2Ph 1: 13-15)

Điều thúc bách hôm nay, không là lời thơ hay tự sự về những buổi “một mình qua phố” mà là gợi nhớ cả lời kinh/tâm tình hầu “thức tỉnh anh em”, về “điều phải lẽ”.

Điều phải lẽ, hôm nay là: cần nhớ những gì Chúa đã tỏ cho mình biết. Cần nhớ thêm cả đôi điều người nghệ sĩ hôm xưa khắc khoải, chịu đựng. Nên mới hát:

“Chiều một mình qua phố, âm thầm nhớ nhớ tên em

Gió ơi gió ơi bay lên, để bụi đường cay lòng mắt

Chiều một mình qua phố, âm thầm nhớ nhớ tên em

Áo xưa chưa quen phong trần, đợi mùa thu vàng áo thêm.

(Trịnh Công Sơn – bđd)

Chiều một mình qua phố Đạo hôm nay, không chỉ có mỗi bần đạo mà chắc nhiều người cũng thấy có tình huống rất tương tự. Khi được nghe biết sử hạnh của chị Mary MacKillop và thời gian đợi chờ để được Hội thánh ngó ngàng, mà vinh danh thành hiển thánh. Cả thời gian, khi chị bị Vatican dứt phép thông công.

“Chiều một mình qua phố”, còn là động thái của nhà Đạo vẫn cứ âm thầm mà đợi chờ để được các đấng vị vọng “nhớ tên em”, mà cứu xét. Cứu xét kỹ, mới tấn phong thành bậc hiển thánh, rất đáng nhớ. Nhớ đến chuyện tấn phong hiển thánh cho Mary MacKillop, ở Úc. Nhớ và đợi, thu vàng áo thêm” mà tầm nguyên/nghiên cứu mọi việc cho kỹ lưỡng. Nếu không, sẽ bị cho là hấp tấp. Thiếu chính xác.

Về thời gian đợi chờ, nơi đây lại có lời nhắn dân con nhà Đạo, rằng: mười năm hoặc trăm năm, đâu đã dài. Đâu cứ bậc hiển thánh nào, cũng chờ lâu. Nhớ, là nhớ trường hợp Mẹ Têrêxa Calcutta, được phong Chân phước nhanh nhất lịch sử?

Nhớ, là nhớ rằng Mẹ qua đời năm 1997. Chỉ hai năm sau, Đức Gioan Phaolô Đệ Nhị đã bãi bỏ điều lệ năm năm, cho phép mở cuộc điều tra về đời của Mẹ. Và, chỉ sau giỗ đầu của Mẹ, tức năm 2002, Toà thánh đã công nhận phép lạ Mẹ làm. Và, chỉ sáu năm sau ngày Mẹ qua đời, Đức Gioan Phaolô Đệ Nhị lại đã công bố Mẹ là Chân phước, năm 2003,.

Trường hợp của Mary MacKillop, thì khác. Mary MacKillop qua đời ngày 8/8/1909. Ngay vào ngày an táng chị, Đức Hồng Y Moran, Tổng Giám Mục Sydney, lại đã tuyên bố rằng chị sẽ được phong thánh, ngày rất gần. Bằng chứng là, vào ngày an táng chị, nhiều người đem chuỗi tràng/cỗ hạt, cùng ảnh tượng sờ chạm vào thi hài chị, để hưởng ơn lành phước hạnh. Có vị còn đến mộ chị đem đất lành cùng đá sỏi về làm báu vật. Hy vọng tương lai mình cũng được hưởng ơn lành từ đấng thánh.

Đến năm 1925, tức hơn ba mươi năm sau, Đức Tổng Giám Mục Kelly, đấng kế vị Hồng y Moran, mới nhớ đến việc tái lập toà án phong thánh cho chị. Và, đến năm 1931, thì tiến trình phong thánh cho chị bị khựng lại vì một trục trặc nhỏ, là: tài liệu quan trọng để duyệt xét, đã thất lạc. Không thấy lưu giữ ở văn khố.

Hai mươi năm sau, tân Tổng Giám Mục Sydney là Đức Hồng Y Gilroy, mới tìm lại được tài liệu này và chính ngài đã tái lập toà án điều tra việc phong thánh cho chị. Suốt từ năm 1951 đến 1961, toà án đã điều tra rất kỹ các nhân chứng ở Sydney và nơi khác như: Brisbane, Adelaide, tức những nơi chị từng đặt chân đến, để cứu xét.

Năm 1973, giới chức Hội thánh ở Sydney lại thu thập thêm nhiều dữ kiện quan trọng gửi về La Mã để mong toà thánh có đủ dữ kiện mà quyết định. Và rồi, nhân dịp ghé Sydney vào độ ấy, Đức Phaolô Đệ Lục đã quyết định mở lại toà điều tra, tiếp tục cứu xét một số yếu tố có liên quan đến đời lành thánh của chị Mary MacKillop, ở Úc. Và không lâu sau đó, lm Aldo Rebeschini được giao cho trách nhiệm rất quan trọng ấy. Linh mục Rebeschini đi khắp đó đây, không chỉ Rôma thôi, mà cả Anh Quốc, Ái Nhĩ Lan để có thêm bằng chứng, mà cứu xét.

Kết quả được đúc kết trong một tài liệu gọi là Positio nhằm xác định xem nữ tu Mary macKillop có sống đời nhân đức theo cung cách anh hùng như Hội thánh qui định không. Việc này được giao cho một linh mục Dòng tên khác là cha Paul Gardiner, làm Cáo Thỉnh Viên, có sự hợp tác của lm Peter Gumpel cũng Dòng Tên từ năm 1984 đến năm 1989. Từ đó, cả hai vị có trọng trách báo cáo về Toà thánh, nhận ý kiến.

Năm 1989, các đấng bậc có trọng trách đã đệ trình sự việc lên Thánh Bộ Phong Thánh để kịp thời cứu xét. Không đầy ba năm sau, tức vào ngày 13/6/1992, Đức Gioan Phaolô Đệ Nhị đã long trọng tuyên bố Mary MacKillop là đấng bậc sống đời nhân đức rất mực của đấng bậc lành thánh, nên được Giáo hội chuẩn thuận nâng lên bậc Đáng Kính.

Kế đó, Toà thánh cũng công nhận phép lạ do lời cầu bàu của Đấng Đáng Kính Mary MacKillop mà nữ phụ nọ sống ở Úc đã khỏi bệnh ung thư máu, gian đoạn chót. Sau đó ít lâu, các chuyên viên y khoa tiếp tục cứu xét sự kiện xảy đến với một bệnh nhân khác, có từ năm 1961. Và, ngày 6/7/1993, Đức Gioan Phaolô Đệ Nhị khẳng định: đây là phép lạ do Đấng Đáng Kính Mary MacKilop thực hiện.

Cũng từ quyết định này, Toà thánh tiến đến giai đoạn tiếp phong Chân Phước cho Mary MacKillop. Nhân dịp Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới tổ chức tại Sydney, năm 2008, Đức Giáo Hoàng Bênêđíchtô 16 đã chính thức phong Chân Phước cho Đấng Đáng Kính Mary MacKillop và từ đó, cho phép Hội thánh ở Úc, chọn ngày mừng kính chân phước để đưa vào lịch phụng vụ. Lễ kính Chân Phước MacKillop được ấn định vào ngày 8 tháng 8, tức ngày chị đi vào cuộc sống miên trường. Vĩnh cửu.

Muốn được phong thành hiển thánh, các Chân phước phải có thêm một phép lạ nữa mới kiện toàn đủ thủ tục. Trường hợp chân phước MacKillop, đã có thêm bằng chứng cho thấy một nữ phụ khác bị bướu độc ở phổi đã chạy lên não bộ thần kinh, khiến y khoa bó tay từ chối giải phẫu. Và, các bác sĩ khẳng định là bệnh nhân này chỉ sống được vài tháng, là tối đa. May nhờ bạn bè khuyến khích, người bệnh đã tìm đến Chân Phước MacKillop để khẩn cầu. Kết quả là, 10 tháng sau đó, tình trạng sức khoẻ của bệnh nhân đã cải thiện, trông thấy. Bướu độc biến mất. Bệnh nhân thực sự khỏi bệnh.

Với phép lạ thứ hai này, Đức Giáo Hoàng Bênêđíchtô 16 đã chuẩn thuận cho phép giới chức Toà thánh lo liệu phong thánh cho Chân phước MacKillop. Nghi thức phong thánh cho chị được diễn ra tại Quảng Trường thánh Phêrô ở Rô-ma hôm 17/10/2010, vừa qua.

Xét cho cùng, những câu hỏi người nghệ sĩ trên nêu ra: “ngày nào mình còn có nhau, xin cho dài lâu, có nên áp dụng vào tiến trình phong thánh cho nữ tu Mary MacKillop, không? Và, “xin cho dài lâu” ở đây, có là niềm vui khôn tả xiết, với Hội thánh ở Úc? Chắc chắn việc phong thánh cho nữ tu Mary MacKillop sẽ tạo ảnh hưởng “dài lâu” lên cuộc sống của thành viên trong Giáo Hội. Ở đây. Sau này. (x. Lm Gardiner, Mary MacKillop, Saint in the Making Trung Tâm Giáo Dục Công Giáo Sydney).

Nay, có lẽ sẽ có người hỏi: việc phong thánh cho chị kể như đã xong. Thế còn, ảnh hưởng của sự việc này, rày đã thấy? Thấy hay không, cũng chẳng rõ. Chỉ rõ mỗi một điều, là: cuộc sống ở đời, hay trong Đạo, vẫn có những tình huống giống như câu hát của người nghệ sĩ trên “cuộc đời còn có nhau, xin cho dài lâu”. Tức, ở vào tình và huống của buổi “chiều, một mình qua phố”, hẳn là: người người vẫn “âm thầm nhớ nhớ tên em”, nhớ suốt ngày. Nhớ khôn nguôi.

Nhớ tên em, là nhớ cả tên của vị thánh nhỏ đầu tiên của Úc, hoặc nhớ gì đi nữa, vẫn có thể là tình huống rất nhớ và rất âm thầm như câu truyện ở bên dưới:

“Truyện rằng:

Một hôm, có vị samurai người Nhật đến thu nợ của người đánh cá nọ. Người đánh cá gặp chủ nợ, xin khất nợ rằng: “Tôi xin lỗi, năm vừa qua công việc làm ăn đến là tệ, tôi không có đủ tiền để trả nợ cho ngài.”

Vị samurai nổi giận, bèn rút kiếm ra định giết chết người đánh cá ngay lập tức. Rất nhanh trí, người đánh cá vội phân bua: “Tôi cũng từng học võ nhưng sư phụ của tôi lại khuyên không nên cãi vã/đánh nhau lúc mình đang nổi nóng.”

Vị samurai nhìn anh dân chài một lúc, sau đó ông từ từ hạ kiếm xuống. “Sư phụ của ngươi rất khôn. Sư phụ ta cũng dạy như thế. Ðôi khi ta không kềm chế được cơn giận của mình. Ta sẽ cho ngươi thêm một năm nữa mà tìm cách trả nợ nần. Lúc đó, nếu ngươi chỉ thiếu một xu thôi, ta cũng sẽ giết ngươi, vì lỗi hứa.”

Vị samurai về nhà, lúc ấy cũng đã muộn. Ông nhẹ nhàng bước vào bên trong, không muốn đánh thức vợ. Nhưng bất chợt, ông thấy vợ mình và kẻ lạ mặt mặc phẩm phục samurai đang nằm trên giường. Điên lên vì ghen tức, ông rút kiếm khỏi bao định giết cả hai người, nhưng đột nhiên nhớ lại lời người đánh cá văng vẳng bên tai: “Sự phụ tôi dặn: Ðừng hành động khi còn giận dữ.”

Vị samurai ngừng lại, hít thật sâu đầy buồng phổi. Sau đó, ông cố tình gây tiếng động để cảnh báo. Vợ ông nghe tiếng, vụt dậy ngay lập tức. Kẻ lạ mặt cũng ngồi. Nhìn kỹ kẻ lạ mặt, vị samurai mới nhận ra đó là mẹ của ông. Suýt bị ông giết.

Ông gào lên:

-Thế này là thế nào đây? Suýt nữa thì con đã giết chết cả hai người!”
Vợ ông phân trần:

-Vì sợ kẻ gian lẻn vào, nên thiếp đã để mẹ mặc áo của chàng hầu đánh lạc hướng bọn chúng.”

Năm sau, người đánh cá gặp lại vị samurai chủ nợ của mình, bèn thưa.

-Năm vừa rồi công việc làm ăn của tôi, thật tuyệt vời. Nay, tôi đến là để trả nợ cho ngài đây, cả tiền lãi nữa! Đây, ông hãy cầm lấy số tiền này, như đã định.

Vị samurai thấy anh dân chài thật lòng, bèn nói:

-Anh đã trả nợ cho tôi đầy đủ rồi. Thôi hãy ra về, mà sống đời hạnh phúc. Khỏi lo lắng chuyện nợ nần gì nữa hết. ”

Truyện ở trên, xem ra cũng có chút gì gọi là đã kết hậu. Cũng ngắn gọn. Chẳng dông dài. Lại ý nghĩa. Và, người kể còn rút ra bài học nhỏ, là: ở hoàn cảnh nào cũng thế, đừng nên hành động khi đang nóng giận. Bởi có câu: 3 điều làm hỏng con người, là: Rượu, lòng tự cao tự đại, và sự gận dữ. Xét theo truyện ở trên, thì chỉ một câu van xin khất nợ thật thà của người quê, cũng đã giúp vị samurai tránh được cái hoạ tày trời là giết người, cả vợ lẫn mẹ, nữa.

Ngoài ra, người kể cũng lại thêm lời bàn khác, là: ở hoàn cảnh nào đi nữa, ở ngoài đời hay trong Đạo, cũng chớ gượng gạo mà thắc mắc/hỏi han bằng những câu âu sầu. Rầu rĩ. Như câu hát: “Ngày nào mình còn có nhau, xin cho dài lâu”. Như, đợi chờ việc phong thánh cho nữ tu nọ hay ai đó. Khá dài ngày.

Nói: chớ gượng gạo, vì như lời truyền tụng nọ vẫn quả quyết: hồi Đức Bênêđíchtô thứ 16 còn là Hồng Y Ratzinger, ngài từng tuyên bố một câu “rất xanh rờn”, nhưng không mấy thuyết phục rằng: “Úc là đất nước trần tục nhất hành tinh.” (x. Michael Cook, MercatorNet 19/10/2010 tr.1)

Không cần biết, nhận định trên đúng đến cỡ nào. Chẳng cần hỏi, chuyện ấy ảnh hưởng đến người sống ở Úc ra sao? Xét cho cùng, ai cũng nhận ra, là: truyền thông Úc, lâu nay vốn là đệ tứ quyền chuyên kình chống/uý kỵ Hội thánh Chúa. Chí ít, là Hội thánh Công giáo. Chẳng thế mà, khi có sự kiện gì xấu xảy đến với Hội thánh ở đây thì truyền thông Úc lập tức nhảy xổ vào, để ăn có. Hoặc, chỉ để thổ lộ những phẩm bình như câu hát: “Ngày nào đời thôi có nhau, xin người biết đau.”. Dài lâu. Rất âu sầu.

Đến đây, hẳn bạn cũng đồng ý là vị samurai nọ cũng là đấng nam nhi quân tử vì ông đã hành xử theo như câu nói ở đâu đó, về đạo làm người quân tử, có bốn điều. Đó là: mạnh dạn khi làm điều nghĩa; nhũn nhặn khi nghe lời can gián; lo nghĩ khi nhận bổng lộc; và cẩn thận với việc sửa mình. Đến đây, bần đạo lại liên tưởng đến chuyện “xin cho dài lâu” một vận hội. Lễ hội. Và, đại hội. Tức những hội và những lễ được tổ chức rất cao sang. Hoành tráng. Sục sôi. Để rồi, khi “ngày vui qua mau”, ta sẽ lại thấy đau thương cứ kéo dài, rồi sẽ hát:

“Chiều một mình qua phố,

Nghe giòng nước vẫn vây quanh

Bước chân nghe quen cũng buồn

Lạy đời, xin còn tuổi xanh.”

(Trịnh Công Sơn –bđd)

Rõ ràng là, người có kinh nghiệm về hệ quả của những ngày dài hội lễ, cũng rất đại. Dù “đại” ấy có là thánh hội mà dân con Đức Chúa vẫn cứ mừng, và cứ kính. Dù, chỉ là hội lễ mười năm. Trăm năm. Hoặc, ngàn năm rất mây bay. Đó, cũng là hội lễ rất tưng bừng. Hưng phấn. Những là, rồng bay phượng múa. Kiệu rước linh đình, đầy đủ cả. Trong khi dân con Đức Chúa chỉ cần “âm thầm nhớ nhớ tên em”. Âm thầm, nhớ tên của thánh nhân hôm trước từng dặn ḍ:

“Bao lâu tôi còn sống cuộc đời chóng qua này,

tôi phải nhắc nhở để thức tỉnh anh em…”

(2Ph 1: 13)

Thánh Phêrô có nhắc hoặc có nhủ, ngài cũng chỉ muốn nhắc anh và nhắc em, dân con Đức Chúa, hãy nhớ rằng:

“Anh em hãy gia tăng lòng nhiệt thành,

và lo sao để nhờ lòng tin thì đạt thêm đức độ,

nhờ đức độ lại thêm giác ngộ,

nhờ giác ngộ lại thêm tiết tháo

nhờ tiết tháo lại thêm đạo đức,

nhờ đạo đức lại thêm tình huynh đệ,

nhờ tình huynh đệ lại thêm đức mến.

Vì các điều ấy, một khi đã có và có cách dồi dào,

tất không để anh em ở dưng, vô hiệu trên đường trí tri

về Chúa chúng ta, Đức Giêsu Kitô.”

(2Ph 1: 1: 5-9)

Hôm nay, ngồi nhớ những lời âm thầm nhắnvà nhủ như thế, bần đạo đã thấy sợ. Vì sợ, nên tự kiểm và tự thấy: dân con Đức Chúa, xưa nay được dặn dò rất nhiều lần, mà sao có nhớ cũng chẳng được bao nhiêu. Vẫn sục sôi, hoành tráng sống đời phô trương nhiêu lễ hội. Chẳng hề biết “âm thầm nhớ nhớ tên em”. Và, nhớ tên đấng bậc anh hùng, rất lành và rất thánh, từng nhắc nhớ.

Ngồi nhớ cảnh trời Tây hôm ấy, ở Rô-ma có buổi phong thánh hoành tráng. Sục sôi. Tốn phí. Bần đạo thấy người mình bần thần, lẩy bẩy. Bèn, vào phòng nhẩm hát lời ca ở dưới, làm kết đoạn:

Còn một mình trên phố,

Âm thầm nhớ nhớ tên em,

Ngoài kia không còn nắng mềm

Ngoài kia, ai còn biết tên.”

(Trịnh Công Sơn –bđd)

Trần Ngọc Mười Hai

Với những khắc khoải

kéo dài nhiều buổi chiều

cứ âm thầm ngồi nhớ.

Nhớ tên người em/người chị

các vị rất lành và rất thánh.

Ở nhiều nơi.

6. “Như hoa đem tin ngày buồn”
Như chim đau quên mùa xuân

(Lê Uyên và Phương – Tình khúc cho em)

Mt 11: 29

Ngày tháng đó, có người anh/người chị hát lên bài “tình khúc cho em”, những ngày buồn. Tình khúc những ngày buồn, còn là tình tự của người anh, người chị thân thương, vương vấn chốn nhà Đạo rất thánh. Và, cũng rất đạo. Ở Đà Lạt. Đà lạt, ngày tháng đó, là ngày bọn tôi mấy đứa, lấm la lấm lét, ngồi thưởng thức giòng chảy thân thương của nhạc buồn, ngày tháng lạ. Cả vào mùa Đông.

Giòng nhạc ấy, đã có lúc đưa đẩy bọn tôi về với ý/lời, của câu thơ:

“Xin cho thương em thật lòng,

xin cho thương em thật lòng.

Còn có khi lòng thôi giá băng…” (Lê Uyên và Phương – bđd)

Cứ bỏ qua một bên, những cụm từ anh và em/em và tôi để rồi ta sẽ thấy, những tôi và em ấy vẫn cứ là người bạn thân thương, thuở thiếu thời. Thuở, có tấm lòng “thôi giá băng”, rồi hát tiếp:

“Cho tôi yêu em nồng noàn!

Cho tôi yêu em nồng nàn!

dù tháng năm buồn vui, bàng hoàng.” (Lê Uyên và Phương – bđd)

Quả rất đúng. Trong quá trình sống yêu thương, vẫn có những ngày “buồn vui/bàng hoàng”, khiến bạn và tôi, ta thẫn thờ/hờ hững với những mối tình bàng hoàng, của người anh người chị mà hôm nay, ta gọi là “thánh”. Ở chốn dân gian.

Bởi, chốn dân gian hôm nay, rất nhiều trường hợp, có người trẻ vẫn cứ ôm bom lăn xả vào chốn phồn-hoa-đô-hội có địch thù hoặc tình thù xao xuyến ấy, để phá rối cuộc sống đi đạo khác phái, khác kiểu của mình. Gọi họ là cực đoan. Khùng điên. Ngoan cố. Cũng tuỳ nơi. Tuỳ chỗ.

Với đạo Hồi, thế giới của những người chuyên thần tượng hoá đám trẻ -đa số là trai chưa vợ- vẫn có khuynh hướng coi họ là các thánh “tử vì đạo”. Cho đạo. Nói nôm na, ta bảo: họ chết là chết cho thần linh thánh ái. Đấng mà nhà Đạo của ta gọi là Đức Chúa. Tức, Chúa Tể mọi loài, trong hoàn vũ. Và, người đạo Hồi, lại gọi ngài là Đức Thánh Allah.

Với thế giới đạo Hồi, ôm bom vào chỗ chết, tức vào lòng đạo cực đoan của quân phản thần/hại thần như thế, để được gần Đấng Allah rất thánh, rồi sẽ làm thánh. Thánh “tử vì đạo”. Cho đạo. Với Kitô-hữu, cũng có người lại chọn hình thức chết-cho-chính-mình, kiểu khác. Tức, chết cho thói tật như hờn ghen , đố kỵ hàng giây hàng phút, nhưng xác thịt vẫn cứ sống. Sống chuyên chăm, chốn tu trì. Chỉ để trở thánh thánh nhân. Như, động thái của vị thánh bổn mạng của gia đình lành thánh, các bà mẹ, là thánh Giêrađô Magella, Dòng Chúa Cứu Thế, cũng hơn một lần xác quyết: “Chào mẹ, con đi làm thánh đây!”

Xem như thế, thì làm thánh hoặc thành người lành thánh, mang ý nghĩa cũng lành và rất thánh. Rất thiện. Còn nhớ, có lần cô giáo một trường nhỏ, lên tiếng hỏi học sinh trong lớp: xem các em hiểu về chữ “thánh”. Thế là, chẳng kịp mở tự điển/tự vị ra, các em đã thi nhau phát biểu:

-Anita, 8 tuổi: Làm thánh giống như thiên thần, chẳng lấy vợ. Chẳng muốn có con. Cứ ở vậy!

-Jo, 7 tuổi: thánh, là người điên, tối ngày lầm rầm đọc kinh liên miên, không mỏi mệt!

-Beth 10 tuổi: Thánh là như mấy cha ở nhà thờ, tối ngày chỉ giảng đạo và xin tiền!

-Maria 9 tuổi cũng xin nói: Theo em, thánh là người hiền lành, ít nói, ai cần gì đều giúp ngay…

Ôi chao! Có hỏi thêm, hoặc trích dẫn nhiều, cũng không sao kể hết được các ý kiến đa dạng về: đấng thánh hiền. Bởi thế nên, nay xin bạn và tôi, ta cứ tầm nguyên xem xét, hẳn sẽ thấy. Thấy, là thấy rằng: đấng thánh hiền/hiền lành và rất thánh, chỉ là các đấng được nghệ sĩ trên định nghĩa:

“Vì, đâu mê say phồn hoa

như áo gấm sáng lóng lánh

ôm rách nát không tâm linh,

ôm tiếng hát, không hơi rung, nghèo nàn! “ (Lê Uyên và Phương – bđd)

Thật ra, không phải thế. Lời nghệ sĩ, chỉ là lời kể, về tâm linh người anh người chị đã từng sống với tâm linh. Nay linh hiển chốn trên cao. Tự hào. Sáng chói. Sự thật, về các đấng lành thánh rất hiển linh, là các đấng hy sinh đời mình. Có tâm linh. Đức độ. Thân thương nhiều bề.

Với nhà Đạo, sống tâm linh lành thánh là trở nên quà tặng phô triển và trao ban cho người khác. Trao ban, để tạo sức sống cộng đoàn. Sống như các vị thánh trong Hội thánh, từng hấp dẫn dân con về với Chúa, qua cung cách sống theo Lời Chúa. Sống theo đường lối có Chúa đổi thay con người mình. Chẳng thế mà, khi chúng nhân nhìn vào nhà Đạo, họ đều hân hoan thấy rõ, sao Chúa làm điều kỳ lạ, cho nhà Đạo. Chẳng hạn như câu nói cửa miệng ta nghe nhiều, vẫn là: “kìa ra mà xem, người Công giáo họ yêu thương nhau. Đoàn kết biết chừng nào!”

Người ngoài Đạo vẫn cảm và kích cung cách sống của người Công giáo. Chí ít, là khi họ bị cấm cách. Bắt bớ. Hành hạ. Như các vị chết vì Đạo, thời xưa cũ. Gương sống lành thánh của các vị sống chết cho Đạo nay tuy không thấy nhiều, ở xã hội duy vật này nữa. Nhưng, gương sống của các vị lành và thánh ấy vẫn tồn tại. Mãi mãi. Gương, là gương hy sinh mọi sự cho mọi người. Gương sống của các vị như Mahatma Gandhi, Têrêxa Calcutta. Và nhiều nữa. Ở mọi nơi. Mọi thời.

Gương lành thánh của chúng nhân hôm nay, được thể hiện qua cung cách lôi cuốn mọi người về với niềm tin đi Đạo. Cung cách sống được thể hiện qua đời sống thường nhật. Nơi phố chợ. Ở sở làm. Hoặc, ở ngay trong nhà. Với Giáo Hội thời ban sơ, thì gương lành thấy rõ nhất là cộng đoàn tín hữu được gọi là Hội (của các) thánh, do việc các ngài đưa mọi người về cùng Chúa. Sống với Chúa.

Chuyện nêu gương lành như thế, sao gọi đó là “Như hoa đem tin ngày buồn”, rồi còn hát:

“Thương em khi yêu lần đầu

thương em lo âu tình sau

dù gương xưa không được lau…”

(Lê Uyên và phương – bđd)

Không. Gương xưa vẫn được lau. Lau rất kỹ, nên nghệ sĩ mới hát câu:

“Cho tôi yêu em nồng nàn

cho tôi yêu em nồng nàn

dù biết yêu tình yêu muộn màng.”

(Lê Uyên và Phương – bđd)

Quả có đúng. Tình yêu tuy muộn màng, nhưng vẫn là yêu. Yêu nồng nàn. Tha thiết. Và, da diết đến độ “dù tháng năm buồn vui bàng hoàng.” Buồn vui hôm nay, tuy không còn bàng hoàng, hoặc ngỡ ngàng. Nhiều năm tháng. Nhưng vẫn là tình yêu. Tình lành thánh. Của thánh nhân. Ân cần. Kiên định. Yêu như Đức Chúa yêu nhân trần. Yêu như người trần, cần yêu Chúa. Tình lành thánh ấy, vẫn thấy lộ diện ở nhiều nơi. Trên thực tế. Chốn văn thơ. Âm nhạc tình tứ, như sau:

“Nếu anh biết lần đó là lần cuối,

được nhìn em trong giấc ngủ mê say,

hẳn là anh đã ôm hôn thật chặt,

để rồi xin Chúa giữ hồn em.

Nếu biết rằng, lần đó là lần cuối

thấy em cất bước đi khỏi hiên nhà,

hẳn là anh đã ôm hôn một từ giã

gọi em lại để được mãi ôm hôn.

Nếu anh biết lần đó là lần cuối

nghe giọng em cất tiếng ngợi ca,

hẳn là anh đã thu băng ghi từng lời,

Để nghe mãi suốt quãng đời còn lại.

Nếu biết rằng, lần cuối đó gặp em

hẳn là anh đã ở lại thêm vài phút,

để dừng lại anh nói lời “yêu em”,

vẫn chẳng nghĩ rằng em đã chợt biết.

Nếu ngày mai ấy chẳng bao giờ đến nữa

và những gì anh hiện có hôm nay,

sẽ tha thiết nói lời “yêu em lắm”

và hy vọng anh mãi chẳng còn quên.

Ngày mai ấy, chẳng khi nào hẹn ước

cho riêng mình, cho cả riêng ai

trẻ/già, trai/gái cơ hội cuối,

vẫn ghì chặt người anh tha thiết yêu.

Nếu ai từng mong đợi ngày mai ấy,

sao không từng tha thiết với hôm nay?

ngày mai ấy chẳng bao giờ đến nữa

để ta cùng kluyến tiếc ngày hôm nay…

Ta không dành thêm thời gian nữa

để trao tặng nụ cười, vòng tay ấm

nụ hôn tròn, quá bận nên lặng quên

quên ước nguyện, người thân vẫn trông chờ.

Xiết chặt hơn, hỡi người anh dấu yêu

cứ thì thầm bên tai người yêu nhỏ,

rằng anh yêu, yêu mãi thiết tha nhiều

giữ trong lòng, ảnh hình của người thân.

Rồi nói mãi, những lời “xin lỗi” ấy,

lời “cảm tạ”, và cả lời nói “yêu em”

Bởi, mai ngày ấy, chẳng bao giờ đến,

để ta còn nuối tiếc, chuyện hôm nay.

Thật ra thì, nuối tiếc chuyện hôm nay, còn là tiếc nuối cơ hội sống lành và sống thánh, như các thánh. Cõi đời này. Hối tiếc nhiều, còn là chuyện quên sót không bám gót nghe theo lời Chúa phán. Ở một ngày. Thời hôm ấy. Có lời phán bảo, từ Đức Chúa, Đấng Hiền Lành và thánh thiện dường bao. Như sau:

“Hãy học với Tôi,

vì Tôi có lòng hiền hậu

và khiêm nhu.

Tâm hồn anh em

sẽ được nghỉ ngơi. Bồi dưỡng."

(Mt 11: 29)

Nói cho cùng, thánh nhân là những vị đã học được nhiều điều từ Đức Chúa rất lành và rất thánh. Học nơi Ngài, sự hiền lành. Thánh thiện. Của người con. Có như thế, người người mới sống quảng đại, lành thánh. Như các thánh. Ở trần gian.

Trần Ngọc Mười Hai

vẫn mong rằng

bạn và tôi

ta còn học được nhiều điều

ở các thánh.

7.“Chiều rơi trên đường vắng, có ta rơi giữa chiều,
Hồn ta theo vạt nắng, theo làn gió đìu hiu.

(Phạm Duy – Đường Chiều Lá Rụng)

Mt 22: 23-33

Thôi chết rồi! Bần đạo lại phải thú thật với bầu bạn, là: lúc này, sao bản thân bần đạo cứ loanh quanh luẩn quẩn với ba chữ “Chiều. Chiều. Rồi lại chiều.” Chắc có bạn, vốn là bạn bè của bần đạo hoặc của bè bạn, lại sẽ hỏi: lão gia, nay sao nói nhiều về “chiều” đến thế? Chắc, cuộc đời của lão hẳn cũng đã xế chiều, rồi nhỉ? Ấy chết. Không phải thế đâu. Bần đạo chưa từng gia nhập hội người có tuổi. Chưa cao nhiên. Vẫn còn được liệt kê vào nhóm “Trẻ người non dạ”. Vẫn cứ yêu. Yêu da diết. Yêu đến độ, mới có vài buổi “đường chiều lá rụng”, mà thôi. Này đây, bần đạo xin minh chứng bằng những buổi chiều, nhưng không chiều.

Số là, buổi tập hôm ấy có hát có hò, cho người vui. “Hát sĩ” lại đã khước từ, không hát nữa. Nói không, vì nhạc bản có câu kết, hết sức “nản”. Không hợp lẽ tình nhà Đạo, như sau:

“Chiều tan trên đường tối, có ta như rã rời,

Hồn ta như gò mối, đang chờ phút đầu thai.”

(Phạm Duy- bđd)

Mới thử hát câu kết: “đang chờ phút đầu thai” thôi, mà hát sĩ ấy đã ngần ngại. Ngại và ngần: là người Công giáo, ta có nên hát những điều mà người viết, chủ trương khác? Khác niềm tin. Khác chính kiến không? Nghe hỏi, bần đạo chẳng dám trả lời, ngay tức thì. Nhưng chiều nay, ngay giờ lễ, bần đạo bắt chụp được lập trường/tư tưởng của ai đó. Rất dễ nghe. Nghe, không như khám phá mới. Nghe, như một ngầm hiểu. Hiểu, để biểu dương. Nghe, là nghe thế này:

“Bạn hữu tín đồ người Thiên Chúa giáo, có lần họ bảo với tôi: họ vẫn coi tôi như tín đồ rất tốt lành, của Đạo Chúa. Tôi, thì tôi lại nghĩ: họ mới là Phật tử thuần thành, giống như tôi. Bởi, chúng ta tuy có khác, nhưng vẫn đeo đuổi cùng một ý hướng, rất tương tự.”(Phát biểu của Đức Đạt Lai Lạt Ma, The Australian Catholics, Summer 2010, tr. 9)

Lời của vị Phật Sống, Đức Đạt Lai Lạt Ma, đẹp là thế. Thế nghĩa là, lời của đức ngài là lời rất sống. Rất thật. Nhiều Phật tính. Cũng đành thế, nhưng lời của đấng bậc linh mục, rất Dòng tên, lại cũng giông giống như sau:

“Tôn giáo, là điểm son của mọi thứ. Mọi sự. Nhưng, tôn giáo còn có điểm khá tệ hại, của nhiều người. Tức, những thứ/những người tuỳ nguồn hứng. Nguồn rất hứng, nhận từ Tình yêu của Thiên Chúa. Hoặc, từ tình thân thương, của mọi người. Những thứ, gợi từ niềm hãi sợ hoặc ghét ghen. Nếu tôn giáo được tạo hứng từ những cảm xúc có hận thù. Hoặc ghen ghét. Thì, tự nó đang huỷ diệt chính mình. Tự nó, đang gây hại cho mọi người.” (x. Lm Andrew Hamilton sj, The Australian Catholics, bđd tr. 17)

Xem thế thì, lời của vị Phật Sống. Của linh mục. Hoặc, của người viết nhạc, đâu khác gì câu ca, ta vẫn hát:

“Hoàng hôn mở lối,

rừng khô thở khói

Trời như biển chói,

Từng chiếc thuyền hồn lướt trôi

Neo đứt, một lần cuối thôi.

Cho cánh buồm lộng gió vơi, gió đầy.”

(Phạm Duy – bđd)

Vấn đề là, người hát chưa nhập cảnh và nhập hồn với tư tưởng, của người viết. Rất chính Đạo. Đạo của ông, không là đạo “ta bà”, nhiều đường lối. Hoặc, đạo rất rối. Của Trung cổ. Thời Đồ Đá. Tức, ban sơ nhiều thế kỷ. Đạo, mà ông nghĩ, không phải và không chỉ là “chờ phút đầu thai”, như bạn của tôi từng hiểu. Những tưởng thế. Nhưng, đạo ấy là Đạo của “Tình yêu”, như ông viết. Vào hôm ấy:

“Lúc này tôi yêu đời lắm. Nhưng tôi vẫn nói tới cái chết. Chẳng hạn, qua những kiếp lá trên đường trong bài “Đường Chiều Lá Rụng”. Lá, đang như những chiếc thuyền rung rinh trong ngọn gió, bỗng nghe đất gọi về. Lá rơi xuống, để trở thành những ngôi mộ úa, trên đường chiều. Nơi đó, có tôi và người yêu đang đi trong cuộc tình.” (x. Phạm Duy Tổng Quát, http://www.phamduy.com)

Với lá, ta bảo là “đất gọi về”. Với người, thì người và nơi (tức, chốn miền mà “hồn tôi đang chờ phút đâu thai”) lại là “nơi có tôi và người yêu đang đi, trong cuộc đời”. Xem thế thì, nơi nào có những người vẫn hằng yêu đương. Yêu, Đức Chúa của Tình Yêu. Là, mình đang về với nhau, trong cuộc tình. Ở nơi đó, có “phút đầu thai”, để mình sống. Sống, kiểu sống mới. Kiểu, mà người Công Giáo (còn gọi là kẻ tin vào Đức Kitô) bảo là “Sống lại”. Tức, duyên kiếp, tiền kiếp hay hậu kiếp. Là, cơ duyên của con người con/người con của Đức Chúa. Một khi chết.

Bạn và tôi vẫn cứ không tin, ư? Đây này, bần đạo dám đề nghị với bạn và với tôi, ta thử tìm về cội nguồn của ngôn ngữ, có những chữ, rất như sau:

“Các ông lầm,

Các ông không tường Sách thánh

và quyền năng của Thiên Chúa.

Quả vậy,

thời phục sinh, người ta không còn cưới vợ lấy chồng,

nhưng như thiên thần

ở trên trời.”

(Mt 22: 29-30)

Như thiên thần, là lối nói của thánh sử. “Chờ đầu thai”, là lối viết nhạc và kiểu ca hát, của nghệ sĩ. Người đời. Thậm chí, của nhà Phật. Của Đấng Allah. Chắc chắn, các Vị không là quỉ thần/tà ma, gì đâu hết. Về điều này, vị linh mục mang tên trích ở trên, đã ghi lại một nhận định rất hài hoà của đấng bậc khác am hiểu Phật pháp/Phật học, hơn. Vị đó, là Thượng Toạ Hsin Tao. Vị này, có lời như sau:

“Tôn giáo, có chức năng thể hiện mục tiêu của mọi người, trong cuộc đời. Và, hiểu thấu đáo những việc ấy. Ở đó, tôi tìm ra sự khôn ngoan. Hiểu biết. Từ đó, với sự hỗ trợ của một số thượng toạ khác, tôi hội nhập được mọi thứ. Tôi có được hoằng pháp mà hiểu thêm được nhiều điều tự tại. Của tâm thân. Sự thật.

Bản thân tôi, cũng nhận ra rằng: ngày nay, nhiều tôn giáo đã trở thành phổ biến trong xã hội. Nhưng, nhiều người cũng bắt đầu lẫn lộn về nhiều thứ. Do đó, không hiểu được sự thật.” (x. Lm Andrew Hamilton, Conversation with a master bđd tr. 10)

Để giúp bạn và tôi am hiểu điều mà thượng toạ trên muốn diễn tả, lm Andrew Hamilton, sj lại đã có thêm những lời lẽ rất thêm thắt, như sau:

“Như Đạo Chúa thời hưng thịnh, Phật giáo cũng nhấn mạnh đến “lối mòn bản thân” hầu giúp ta lướt vượt những điều nổi bật ở phần trên/bên ngoài. Lướt và vượt, ngõ hầu đi sâu vào phần sắc nét nhất của cuộc đời. Nơi mọi người. Cả hai Đạo/hai niềm tin trên cũng đều có điểm ‘nhấn’ về các tác động thâm sâu nơi con người. Đó, là một kết nối hài hoà với người khác. Những người đang sống quanh ta. Xem thế, thì Đạo của Phật, hay Đạo Chúa, vẫn mê say tin tưởng. Vẫn có giá trị, rất cao vời.” (Lm Andrew Hamilton sj, bđd)

Đạo của Chúa. Của Trời Phật. Vẫn có những buổi chiều, nhưng không “về chiều” chút nào hết. Dù, cũng ở buổi xế, nhưng không “chiều”. Chiều ở đây, tuy chưa hẳn là “chiều chuộng”. Hoặc, có chiều nhưng chẳng chuộng. Hoặc, vẫn cứ là tịch liêu. Tịch dương. Hay tịch mịch. Cũng tịch nhiên, rất liên miên.

Tịch gì thì tịch, tu tịch hay viên tịch cũng đều là “tịch”, nhưng xin đừng tịch biên, tịch tín hoặc tịch Đạo, là được. Không tịch biên, “tịch” Đạo của bạn đạo khác, ta cũng nên nghe thêm ý tưởng của người Phật tử uyên thâm Phật pháp, đã có lời hoằng pháp rất như sau:

“Người trẻ hôm nay, cũng phải và cũng nên chuyên chở/thực hiện sự tịch mịch/tịch liêu của trời đất. Lẫn tâm tư. Hãy đem tịch liêu/thinh lặng mà chăm chút cho địa cầu, đất lành mình đang sống. Cũng rất nên.” (Lm Andrew Hamilton sj, bđd, tr. 10)

Nói như tăng ni/Phật tử của thời đại, khác gì nói lời nghệ sĩ năm xưa, vẫn từng hát? Hát, một tâm linh/tâm sự, của cuộc đời:

“Chiều ôm vòng tay, một bó thuyền say, thuyền lơ lửng mãi.

Từng chiếc, xào xạc lá bay

Là tiếng, cội già khóc cây

Hay tiếng, lòng mình khóc ai,

giờ đây? (Phạm Duy – bđd)

Vẫn “chiều ôm vòng tay”. Có lá bay. Có, cội già khóc cây. Khóc, không hẳn vì chiều buồn. Có chết chóc. Khóc ở đây, là khóc vì vui sướng. Vui và sướng, là bởi “lá (đã) rụng về cội”. Về, với Chúa. Có, vòng tay ôm. Khóc, vào buổi chiều, còn là:

“Chiều không chiều nữa, và đêm lần lữa

Chẳng thương chẳng nhớ,

để những lệ buồn cánh khô,

rơi rớt từ một cõi mơ,

nghe đất gọi về tiếng ru,

hững hờ.” (Phạm Duy – bđd)

Cõi mơ, hay Nước Trời sau nỗi chết, như thế đó. Là thế đó, có tiếng gọi từ cội đất, Chúa vẫn chờ. Là, “đất cội”. “Tình thơ”. “Vòng tay ôm”. Là, “lá vàng khô”, chí ít là “gò mối” của hồn ta. Chúa vẫn chờ. Ngài chờ, để tình già biến thành nhựa sống. Ngài chờ, cả những cành khô/lá úa, thời buổi trước. Một thời, còn có bon chen tình đời. Quên lãng. Ngài chờ, để “hồn ta như vụt biến, bay vờn trong đời tiên”, rất thơ. Ôi chao! Thần học nào, lại huyền mộng, như lời thơ. Thơ, của nghệ sĩ. Thơ, của Đạo?

Quả thế, Đạo vốn dĩ rất thơ. Những thơ và nhạc. Muôn thời. Muôn thuở. Thuở, có buổi chiều vàng rất trìu mến. Trìu mến, là trọng tâm của thần học Đạo Chúa. Trìu mến, là chủ trương của Đạo. Của Chúa. Bởi, Đạo Chúa, không chủ trương lý và luận, rất trừu tượng. Niết bàn. Đầu thai. Sự sống mới. Sau khi chết. Đạo Chúa, chỉ và vẫn chủ trương sự trìu mến rất thân thương, cả đời này. Lẫn đời sau.

Đạo Chúa, giống như mọi đạo, vẫn chủ trương chuyên chở Tình yêu vĩnh cửu đến với mọi thành viên, rất người. Dù, người ấy còn trăn trở. Ở ngoài Đạo. Dù, người này được gọi là Phật tử, con cháu Đấng Allah, hoặc dân con Đạo Chúa. Cũng như nhau. Đạo của tình trìu mến, được gửi đến với mọi người. Đạo đến, với ước mong sao người người, sống hạnh phúc. Vui tươi. Không tranh cãi. Cũng chẳng nghi ngờ. Húy kỵ.

Do thái xưa, là dân/người Chúa vẫn chọn. Nhưng, Chúa nào chọn/nào thương chỉ mỗi người Do thái? Dù, nay ta có gọi người ấy/dân tộc nọ là Công giáo, Chính Thống, Tin Lành hay Bà La Môn, Phật tử, gì gì nữa. Nếu không, thì người nữ phụ Samari, nào đã được cứu. Nếu không, nào đến lượt Phêrô, Phaolô cùng các thánh, được Ngài gọi.

Có lẽ nên bảo: đã qua rồi, thời của những Pharisêu/Biệt phái/kinh sư vẫn cứ tự hào người mình, dân của Chúa. Có lẽ vì thế, đấng bậc nọ mới chễm chệ ở nguyện đường, mà cầu nguyện. Cầu cho mình, mà thôi. Để rồi, lại quên mất bà goá nhỏ kia, những người be bé sống ngoài Đạo rất chuẩn, mới là người được Chúa đoái thương. Rất nhiều.

Hôm nay đây và mai ngày, chắc rằng Chúa vẫn cứ phải ngang qua nhiều thảm kịch đỏ, về những cách chia, của con dân trong Đạo. Phân biệt. Phân biệt, khi ban phát ơn cứu rỗi. Phân và biệt, ai toàn tòng. Ai ngoại giáo. Ai đáng được cứu. Ai phải ai trái. Ai ở lại. Ai, đi chỗ khác chơi. Mà, phải hiểu rằng: Chúa cứu, Ngài không chỉ cứu mỗi giới Đạo thuần thành, gốc Do Thái. Chúa cứu độ, là Ngài cứu hết mọi người. Không chỉ riêng ai. Dù, là Do thái. Hay dân ngoại.

Nếu thế, cũng đừng hãi sợ khi thấy người khác Đạo/khác tôn giáo nói về Tình yêu/sống lại, ở đời này và đời sau, dù khác ta. Nếu thế, cũng đừng quên rằng, “tứ hải (vẫn) giai huynh đệ”. Vẫn có ý nghĩa, cả niềm tin. Bởi, người khác đạo/khác chính kiến về Đạo, vẫn có thể nói cho ta nghe về Đạo của Chúa. Về Chúa. Nói, tức nhận thức về những khía cạnh rất khác, về các bí tích huyền nhiệm của Đạo. Của Đức Chúa. Họ khác mình, là chỉ khác cung cách diễn tả niềm tin riêng, thôi. Khác, về thực hiện niềm tin ấy. Khác hay không, vẫn như thế. Vẫn là người con, cùng một Tạo Hoá. Ta gọi Chúa.

Thế nên, khi nghe người khác đạo, dù Phật tử hay đạo Hồi cực đoan, nói về niềm tin – yêu giữ đạo, tất cả vẫn dẫn về Thương Đế. Tất cả, vẫn bổ sung/làm giàu niềm tin-yêu ta có, với Chúa. Xem thế thì, người đạo Hồi vẫn tiếp tục tin rằng Thượng Đế mặc khải về Ngài, qua Đấng Allah. Người Công giáo, cũng tiếp tục tin Chúa hiển linh chính mình Ngài, qua Đức Kitô. Cả hai, ta đều kêu cầu Chúa dẫn dắt mỗi người và mọi người về với sự thật. Rất đậm sâu. Rất ý nghĩa.

Vì thế, khi ai mời ta dự buổi nguyện cầu, chung cùng họ. Thì hãy xem đây chính là đặc ân Trên ban, để ta hưởng. Đây, là cơ hội để ta san sẻ đặc ân nguyện cầu. Để, mọi người sẽ hiểu nhau hơn. Yêu nhau hơn. Và, một khi tình thương lan tràn khắp chốn, lúc đó sẽ không có chiến tranh. Không bạo lực. Kình chống. Bao giờ nữa.

Khi đó, khác biệt lại trở thành điểm son, của mọi đạo. Bởi, tuy có khác biệt nơi cung cách nguyện cầu. Nơi phương thế thực hiện niềm tin. Tựu trung, ta vẫn phổ biến khắp nơi, Tình yêu rộng khắp, hết mọi người. Là người dấn bước theo Chúa, ta được gọi mời gặp gỡ người khác đạo. Khác tôn giáo. Nhưng tất cả đều vẫn tin. Tin rằng, tình thương giải quyết, hết mọi sự. Giải quyết cả khác biệt. Của niềm tin. Nơi Đạo. (x. Lm Andrew Hamilton sj, God in other Faiths, bđd, tr, 17-20)

Để làm bằng cho điều nói ở trên, cũng nên tìm đến truyện kể, để minh hoạ. Như sau:

“Truyện kể rằng:

Hôm ấy, có ba vị: một linh mục Công giáo, một mục sư Tin Lành, và vị kia, là thày giảng Do thái giáo, cả ba cùng nhau bước vào tiệm rượu, để thư giãn. Người bán rượu thấy thế, bèn bảo:

-Cái gì thế này? Tiếu lâm chăng?

Tiếu lâm hay không, phải đọc truyện bên dưới, mới rõ. Truyện, là truyện rằng:

“Hai người trẻ tính chuyện đáp lời mời gia nhập Dòng Tên, bèn thưa và hỏi:

-Có gì khác biệt giữa tu sĩ Dòng Tên và Dòng Đa Minh không nhỉ?

-Chẳng có gì khác nhau đâu. Cả hai đều do các vị bên Tây Ban Nha thành lập, thôi. Này nhé, thánh Đa Minh lập dòng thánh cho tu sinh Đa Minh. Còn, thánh Y Nhã lập Dòng cho tu sinh Dòng Tên của Chúa. Cả hai, đều chiến đấu chống bè lũ rất rối. Tu sinh Dòng Đa Minh cũng chống đối bè rối thuộc phái An-bi-gen. Còn, tu sĩ Dòng Tên lại chống đối đoàn người Thệ Phản. Tức, có thề và có phản.

-Vậy thì, có gì khác nhau giữa hai Dòng này đâu?

-Có chứ. Khác là, sau đó cả hai, khi gặp bất cứ người An-bi-gen ở đâu đó, vẫn cứ vui.”

Lời cuối cho em. Cho bạn. Và cho tôi, là: cuối cùng rồi ra, ta cũng gặp nhau, ở đời sau. Cùng một cõi. Dù cõi đó, bạn có gọi là chốn Niết Bàn. Dù chốn đây, ta cứ gọi là thiên đàng, đời sau hết. Cuối cùng thì, điều cần thiết, là: Tình dành cho em. Cho anh. Cho tôi và bạn, là tình Đạo yêu thương.

Trần Ngọc Mười Hai

nay cũng rõ

sự thật đều sáng tỏ.

Để thêm yêu.

8. “Chiều qua, bao nhiêu lần môi cười,”
Cho mình còn nhớ nhau.
Chiều qua bao nhiêu lần tay mời,
Nghe buồn ghé môi sầu.
Ngày nào mình còn có nhau, xin cho dài lâu.
ngày nào đời có nhau, xin người biết đau.”

(Trịnh Công Sơn – Chiều Một Mình Qua Phố)

Ph 3 : 8-14

Chiều hay sáng, cũng là những buổi sớm/muộn vẫn chợt đến/chợt đi. Cứ đi qua. Và đi mãi. Nhưng, nào đã thấy làn môi cười. Môi có cười, cũng chỉ cười khi ta nhớ. Nhớ nhau. Nhớ, những “lần tay mời”. Mời ăn. Mời nhậu. Mời xem phim. Và nhảy nhót. Mời và xin, còn có nhau. Cho dài lâu. Mời đây, là mời bạn/mời tôi, ta đến với nhau. Đến một lần, để cho biết.

Biết gì đây? Chắc chắn không để biết đau, như nghệ sĩ họ Trịnh từng diễn tả. Biết ở đây. Hôm nay, là biết rằng mình cũng từng được mời. Từng đưa tay, hân hoan chào đón. Từng mời mọc, rất thân thương. Rất vui mừng, mọi người đến. Mời và mọc, hôm nay còn là tạo dịp để ta tạo lại quan hệ gần gũi. Thân quen. Như từng thể hiện, nhiều như trước.
Mời một lần, để biết và để nhớ. Nhớ và biết, như lời người nghệ sĩ còn viết thêm:
“Chiều một mình qua phố,
âm thầm nhớ nhớ tên em.
Bước chân nghe quen cũng buồn,
lạy trời xin còn tuổi xanh.”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

Đúng thế. Mời hay gọi, vẫn luôn là gọi mời mọi người hãy nhớ tên em. Tên người. Tên của bước chân. Âm thầm. Của, những “áo xưa chưa quen phong trần, đợi mùa thu vàng áo thêm.” Thì ra. Đời người, vẫn cứ là mời và gọi. Để mọi người, còn có những “lần môi cười.” mà nhớ. Nhớ, rằng mình vẫn có nhau. Bên đời. Dù, “một mình qua phố”, chợt nghe câu truyện kể. Về mùa Chay, như sau:
“Truyện rằng:

Bạn đạo nọ, thuộc giống giòng hào kiệt, xứ Ái Nhĩ lan. Qua đây, thấy buồn bèn

ngày ngày ghé bến uống bia, sương sương ngày 3 cữ. Nơi thôn làng hẻo lánh, bé

nhỏ. Ở Sydney. Bạn có cái tài này –thật ra phải gọi là cái cố tật mới đúng- mỗi

khi ghé câu lạc bộ thôn làng, chàng chỉ uống mỗi 3 chai. Vẫn một mình. Lần nào

cũng thế, người bán rượu thấy bạn ta đến, cứ lẳng lặng lấy 3 chai, để bạn lai rai.

Chẳng hỏi.

Uống đến quen, cả làng đều biết tiếng, gọi “Bạn” là “Người Bạn 3 chai bia”. Bạn,

nghe đồn thế, chẳng lấy làm điều. Cứ đều đều gọi 3 chai, sau khi đi làm về.

Tuần lễ sau, Bạn cũng lại theo thói quen, ghé câu lạc bộ gọi 3 chai, rồi chẳng nói

chẳng rằng, lẳng lặng uống hết. Rồi ra về. Thấy thế, người làng nhờ người bán

rượu chặn “Bạn” lại hỏi: Dân làng ở đây cứ thắc mắc: sao Bạn lại chỉ uống mỗi

lần có 3 chai. Sao không phải là 3 lần 3. Hoặc, chỉ một chai một, cho riêng

mình?”
Nghe hỏi, Bạn bèn trả lời: “Chả là, em có hai anh trai. Một người nay đi Mỹ.

Người kia sống ở Anh. Cả hai anh, chẳng có dịp để hàn huyên bia bọt, chiều

chậm đến.” Dân làng nghe vậy, đều hiểu được vì sao Bạn lại có tên gọi quái gở

ấy. Rồi, chuyện cũng qua đi. Chẳng ai buồn để ý đến chàng trai 3 chai, để làm

gì.

Một hôm, theo lệ thường, “Chàng trai 3 chai” lại đến quầy uống rượu, gọi bia uống. Nhưng lần này, thay v́ 3 chai, Bạn chỉ gọi mỗi hai, thôi. Dân làng thấy thế, từng người lại từng người cứ đến mà bắt tay chia buồn, chẳng dám hỏi. Sợ phật lòng. Duy, có tay người bán rượu dám bạo miệng hỏi “Bạn”, tại sao thế? Thì, “Bạn” thành thật trả lời: “Chẳng có chuyện quá vãng hay chết chóc một ai đâu. Chả là, mùa này là Mùa Chay, nên “Qua” đây bèn quyết tâm hãm mình nhịn miệng, cho riêng mình. Và chỉ thù tiếp mỗi hai người anh. Chỉ thế thôi!…”
Ừ nhỉ.Mùa Chay là mùa gọi mời bà con mình sống đời thực tế. Có chay kiêng. Thực tế

cuộc đời, cũng lại có những lời gọi mời rất thực và cũng tế nhị, như lời mời gọi rất như sau:
“Đức Giáo Hoàng Bênêđíchtô XVI thôi thúc các Giám mục Anh (trong chuyến

viếng Rôma theo cung cách “ad limina”) cứ tiếp tục biện hộ cho Hội thánh quyền

giáo huấn trong đời thường. Ngài thêm rằng: các Giám mục ở Anh có quyền

‘được tham gia vào cuộc tranh luận trên toàn quốc qua ngã đối thoại có tôn kính

lẫn nhau. Đối thoại với các thành phần khác của xã hội đời thường. Một khi là

thành viên tham dự các cuộc bàn thảo công khai trước công chúng, các giám

mục ở Anh vẫn duy trì được truyền thống tự do tư tưởng và phát biểu. Cả thứ tự

do lên tiếng về quyền của người thường dám tin vào những điều chính đáng,

nhưng không có khả năng hoặc phương tiện để phát biểu.
Đức Giáo Hoàng cũng nói: ‘Khi số người rất đông đảo dám tuyên xưng niềm tin của mình nơi Đức Kitô, thì tại sao ta không để cho mọi người có cơ hội được bày tỏ quyền cho mọi người biết đến Tin Mừng của Ngài? Trung thành với Tin Mừng không có nghĩa là hạn chế quyền tự do của người khác.

Trái lại, việc ấy còn có nghĩa phục vụ quyền tự do của mọi người. Tự do được tiếp cận sự thật ”.(Carol Glatz, Church has right to bring Gospel values to debate, The Catholic Weekly 7/02/2010, tr.7)
Gọi và mời như trên, khác chăng lời thở than của nghệ sĩ họ Trịnh, khi hát tiếp:
“Còn một mình trên phố,
âm thầm nhớ nhớ tên em.
Ngoài kia không còn nắng mềm,
ngoài kia ai còn nhớ tên.”

(Trịnh Công Sơn – bđd)
Nắng mềm không còn nữa. Tên em, chẳng buồn nhớ đêm. Vẫn cứ là, tâm trạng của những người hôm nay đang bị cuốn hút vào giòng chảy cuộc đời, rất thực tế. Dễ đê mê, chuyện tầm phào. Lạo xạo, đời vật chất.
Nắng mềm vẫn còn đó. Nếu em, biết tìm đến đúng chỗ. Đúng nơi. Những nơi, có sự thật “phơi bày trên mái nhà”. Mái, của thế giới nhân trần. Thế giới Đạo hạnh. Của Đức Chúa. Ta có thói quen gọi đó là LỜI. Là, Tin Mừng. Của Chúa. Cho con người.
Nắng mềm ngoài kia, nay được gọi là Kinh Thư, Kinh rất Thánh. Thế mà, nhiều người vẫn chưa nghe biết. Hoặc biết rồi, nhưng vẫn chưa hiểu. Hoặc, chưa giữ được LỜI. Chưa rao truyền/san sẻ cho mọi người.
Nắng mềm nơi ấy, nay mai sẽ có những bạn, những bè từng hỏi đến. Hỏi, như độc giả nọ ở Sydney, đã từng hỏi. Hỏi để rồi sẽ được nghe “đức thầy” nhà Đạo, có lời đáp, rất như sau:
“Các câu bạn hỏi về: “Nguồn gốc của Thánh Kinh? Đạo mình có thể tồn tại được không,

nếu không sống Lời Chúa? Kinh thánh được chọn lựa cách nào để trở thành Sách cần

thiết và quý báu như thế?vv. ” là những vấn đề nền tảng. Rất quan trọng. Thường thì

người Công Giáo vẫn coi Kinh Thánh như một quà tăng cho không/biếu không. Có

người chẳng tha thiết gì chuyện đọc và suy niệm Sách Thánh như kim chỉ nam cho đời

mình. Nhiều người đọc Kinh Thánh bằng tất cả niềm tin, nhưng chẳng bao giờ tìm hiểu

xem Sách này phát xuất từ đâu. Bao giờ? Xin tóm tắt đôi hàng để trả lời bạn.

Trước nhất, ta phải nhớ là Sách Thánh gồm 46 cuốn thuộc Cựu Ước, ta nhận

được từ người Do Thái trước và vào thời đại Chúa sống. Còn Tân Ước gồm 27

cuốn. Tức, bao gồm các đoạn văn, thư nói về Đức Kitô, cũng như về Hội thánh

thời tiên khởi.
Về Cựu Ước, cả Đức Giêsu lẫn các thánh Tông đồ đều sử dụng các sách thánh

thiêng của dân Do Thái, coi như sách được Chúa Thánh thần hướng dẫn cho

các thánh viết. Chẳng hạn như, các đoạn trong đó Chúa và các thánh tông đồ

đều quả quyết: “Người đã ra đi, như đã chép về Ngài” (Mt 21: 42, 26: 24) và các

Ngài đã tỏ ra tôn trọng những gì được viết trong Sách Thánh.
Thánh Phêrô còn mạnh dạn chứng tỏ đầy lòng tin tưởng rằng Sách Thánh của

người Do Thái đã được Chúa Thánh Thần tạo nguồn hứng, khi thánh nhân nói

với cộng đoàn tín hữu như sau: “Thưa anh em, Kinh Thánh phải được ứng

nghiệm, lời Thánh Thần đã dùng miệng Đa-vít để tiên báo về Giu-đa, kẻ dẫn

đường cho những người đến bắt Đức Giê-su.” (Cv 1: 16)
Kinh Thánh là Sách mà người Do Thái vẫn đọc vào các buổi lễ ở hội đường,

ngày Thứ Bẩy. Và mọi người đều trân quý Sách Lời Chúa. Hội thánh tiên khởi

đã chấp nhận mọi Sách Thánh của người Do Thái theo Bản Bẩy Mươi. Tức là,

Bản dịch từ tiếng Do Thái qua Hy Lạp từ thế kỷ thứ 3 và thứ 2 trước Công

Nguyên. Bản này được tất cả mọi người Do thái thời của Chúa, sử dụng rất phổ

cập.
Bản Bẩy Mươi gồm 46 cuốn. Nay ta gọi là Cựu Ước. Dù, vào thời Cựu Ước

cũng có các bản văn khác được lưu truyền giữa người Do Thái, nhưng theo

cách thế còn nhiều điều khó hiểu, thì chính Chúa Thánh thần hướng dẫn mọi

người chấp nhận một số cuốn trong đó như được thần hứng. Có cuốn không.

Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo có nói về Cựu Ước, như sau: ”Tín hữu Đạo

Chúa rất tôn kính Sách Cựu Ước coi Sách này là chính Lời Chúa. Hội thánh

luôn thẳng thắn chống đối ý kiến phản đối Sách Cựu Ước, nại cớ rằng Tân Ước

mới làm cho Kinh thánh lìa bỏ chủ thuyết Marcion”. (GLHTCG #123)
Các sách Tân Ước được viết từng thời kỳ một, vào thập niên 50 và 60 sau Công

Nguyên. Riêng các sách do thánh Gioan viết, trong đó kể cả sách Khải Huyền,

được trước tác vào cuối thế kỷ thứ nhất. Tuy thế, cũng giống như Cựu Ước, vào

thời ấy cũng có nhiều bản văn của Đạo được lưu truyền trong các Giáo hội vào

thế kỷ thứ nhất. Trong đó, có sách Điđakê, tức “Giáo huấn của các thánh Tông

Đồ”, và thư của Barnaba, qua đó Chúa Thánh thần cũng hướng dẫn Hội thánh

để các ngài biết mà chấp nhận hoặc bác bỏ xem Văn bản nào được thần hứng,

sách nào không.
Các bản văn được gọi là có thần hứng được ghi chép cẩn thận và phân phát

cho các cộng đoàn, để họ dùng đó làm bài đọc, trong thánh lễ. Như, Lời của

Chúa. Giống như ta hiện đang làm.
Mặc dù thế, từ thế kỷ thứ nhất sau công nguyên, đã có nhiều bất đồng về việc

có một số bản văn được đưa vào danh sách các văn bản có thần hứng. Vào

năm 382, nghị quyết De explanatio fidei (Về Diễn giải niềm tin) có đưa ra danh

sách gồm 27 cuốn sách, đến nay gọi là Tân Ước.
Về câu hỏi: “Có cần đến Kinh thánh không?” rõ ràng là 20 năm đầu thời Hội

thánh tiên khởi, không có dấu hiệu gì cho thấy đã có bản văn Kinh Thánh nào

được viết ra. Mặc dù thế, Hội thánh Chúa vẫn có khả năng lớn mạnh và sinh

hoạt bình thường dựa trên Truyền Thống Giáo hội, bằng phương cách truyền

khẩu.
Dù Chúa không có ra lệnh cho môn đệ Ngài viết lại sử sách –nhưng ít ra là

những gì được ghi chép và coi như Lời của Chúa trong Kinh Thánh- vẫn là

chuyện tự nhiên để ta hiểu là: các thánh Tông đồ và các vị khác vẫn muốn viết

lại những gì mình nhớ lại là đã xảy ra; cũng như giòng chảy suy tư của các ngài

về các sự kiện ấy, ngõ hầu gìn giữ cho các thế hệ về sau. Và, có điều chắc chắn

là Chúa Thánh Thần đã khích lệ các thánh để làm việc này.

Với những bản văn thánh như thế, Hội thánh Chúa càng có được nhiều nguồn

phong phú/sung mãn hơn. Chính vì thế, ta nên thường xuyên đọc Kinh Thánh

bằng sự tôn kính, thân thương, biết rằng chính Chúa nói với con người, ngang

qua Kinh Thánh. (x. John Flader, The Catholic Weekly, 07/02/2010, tr.10)

Nói theo ngôn từ của người nghệ sĩ “ngày nào mình còn có nhau, xin cho dài lâu”, thì chuyện lâu dài, của Hội thánh vẫn là chuyện dài, cần Kinh Thánh. Cần, không chỉ là cần có văn bản rất thánh, đặt để ở đâu đó, mà trưng bày. Như triển lãm. Cần, là cần dân con nhà Đạo, cứ hãy trân trọng Lời Chúa. Cứ, thường xuyên đọc. Thường xuyên suy tư, niệm tụng. Mà gìn giữ. Và thực hành.

Xin cho dài lâu, còn là yêu cầu rất bức bách của thời đại, như lời Đức Cha rất thánh Biển Đức thứ XVI từng căn dặn hôm gặp gỡ các Giám mục nước Anh, vào chuyến “Ad Limina” 2010, rằng:

“Xin các bào huynh hãy cẩn thận mà chuẩn bị cho hàng ngũ giáo dân của quý vị biết chuyển

tải giáo huấn của Hội thánh một cách chính xác và dễ hiểu. Đồng thời cũng xin tỏ ra rộng

lượng trong việc thiết lập lương thực dự trữ, cho họ.”(x.Carol Glatz, bđd, tr.7)

Thành thử, nếu bạn và tôi đã trót hát bài “Chiều một mình qua phố”, cho người mình nghe, thì cũng nên hát cho trọn lời cuối của người viết họ Trịnh, có câu kết, như sau:

Chiều một mình qua phố,

âm thầm nhớ nhớ tên em.

Áo xưa chưa quen phong trần,

đợi mùa thu vàng áo thêm.”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

Thu vàng áo. Chưa quen phong trần. Vẫn cứ âm thầm nhớ nhớ tên em. Dù, tên ấy có là tên của ai đó. Một người. Một cuốn sách. Chí ít, là Sách Thánh. Chớ nên quên.

Trần Ngọc Mười Hai

vẫn không quên tên

của Kinh Sách từng là giải đáp

cho mọi người.

Trong mọi sự.

9. Nơi em về ngày vui không em
Nơi em về trời xanh không em
Ta nghe từng giọt lệ
Rớt xuống thành hồ nước long lanh
.

(Trịnh Công Sơn – Như Cánh Vạc Bay)

2Th 3: 1

Nếu có hỏi, nơi đi/chốn về của người em, mà lại hỏi kiểu đó, thì e rằng người em mình sẽ cho cả ông anh lẫn anh ông đi Tây, chín tầng mây. Cho được việc. Đi Tây, là: thướt tha những “đi tướt”/rớt đài về chốn miền đầy lả lướt. Để mà cứ nghêu ngao ba câu hát. Trong lành. Lanh chanh. Đỏng đảnh.

“Đi Tây” đây, còn là lao xao vài ba câu hát, nơi khu làng tỉnh lẻ rất Nước Trời. Ở miệt dưới. Rất Sydney. Lao xao, ngày đầu năm chưa vui, đã thấy rầu. Đúng hơn, phải nói: vui buồn lẫn lộn. Vui, vì được tổ chức thánh lễ Tân niên vào Chủ nhật. Rầu, vì đầu năm/đầu tháng “đức thày” vừa xin Chúa xá tội xong, đã phiền lòng vì ban phụng vụ chọn không đúng bài đọc. Nên, “người” cứ giảng và dạy về “chay lòng”, “kiêng thịt”. Có phạt xác, ngày Lễ Tro. Phạt xác, theo đức thày, vì xác phàm mình quá tội lỗi. Và, con dân xứ đạo được nghe đức thày dạy về luật với lệ; mà chẳng nói về Lời Chúa. Phúc Âm.

Thôi thì, bạn và tôi, bà con mình hãy để lại đằng sau, chuyện phạt hay không phạt “Đền thờ của Chúa Thánh Thần”, mùa Chay kiêng. Chỉ xin hầu chuyện bà con/bầu bạn, ba câu chuyện về tâm tịnh, mà đón chào Lời Chúa. Như người nghệ sĩ viết về giòng suối “đón từng bàn chân em”, như sau:

“Suối đón từng bàn chân em qua,

Lá hát từ bàn tay thơm tho,

Lá khô, vì đợi chờ

cũng như đời, người mãi âm u.”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

Chẳng cần biết, có phải “đời người mãi âm u” là vì “bàn chân em qua”, hay em đến. Lá có khô vì đợi chờ. Chờ ngày vui. Người trông ngóng hay không. Nhưng, thật ra, lá có khô hay ướt chắc cũng chẳng vì cuộc đời của người cứ âm u. “Đi tướt”. Mà, có lẽ do người người cứ nhìn đời và nhìn trời, từ một góc độ rất khác biệt. Khác, như một nhận định hơi khang khác, từ vua/quan ở truyện kể, bên dưới:

“Có vua nọ, quyết treo giải cho hoạ sĩ nào vẽ tranh đẹp, về bình yên. Tâm tịnh. Nghe chiếu chỉ vua ra, nhiều vị hoạ sĩ quyết ra tay cố vẽ cho được bức tranh đẹp. Vua ngắm kỹ, chỉ thích mỗi hai bức. Tuy có thích, nhưng vua chỉ chọn bức nào tuyệt kỹ nhất, thôi.

Một trong hai bức tranh vua chọn, là bức nói về nước hồ êm ả. Có mặt hồ, tuyệt cảnh. Có núi non chót vót. Có, trời xanh. Mây trắng. Bềnh bồng. Rất lững lờ. Người chiêm ngắm đều thấy tranh “yên bình”, quả thật tuyệt.

Tranh thứ hai, có núi có rừng trùng điệp. Cả đá tảng. Chơ vơ. Ở trên đó, là bầu trời đầy giận dữ. Đã đổ mưa. Rất sấm sét. Ồn ào. Náo động, cả một cõi. Ngay cạnh vách núi, là giòng thác cuồn cuộn, bọt trắng xoá. Chẳng bình an. Cũng không thanh cao. Chút nào.

Vua ngắm tranh yên bình rất lâu. Bỗng, thấy ngay sau giòng thác chảy, có bụi cây nhỏ mọc từ khe nứt, của đất đá. Ở nơi đó, giữa giòng thác giận dữ trút nước, có con chim mẹ thản nhiên đậu trên cành, cạnh bên tổ. Bên cạnh đó, có chim con đầu đàn tíu tít, về với mẹ. Cảnh bình yên. Tâm rất tịnh.

Vua tuyên bố: “Ta chọn bức này. Rất bình và cũng yên. Bình và yên, đâu chỉ mỗi chốn vắng, không ồn. Nhiều giận dữ. Yên và bình, nằm ngay cảnh đầy phong ba/giận dữ ấy. Bình yên/thanh tịnh, chỉ hiện diện nơi trái tim mình. Đó, mới là ý nghĩa đích thực, của bình yên.”

Nếu vua kia, là nhà giảng thuyết rất đức độ, hẳn vua còn sẽ bảo: thế đó, là chay lòng. Tịnh tâm. Của Chay mùa. Có Đức Chúa. Thế đó, là bình yên. Rất thanh và rất tịnh. Trong tranh. Bình yên cuộc đời, còn hơn thế. Và, đây cũng là câu hỏi, mà nhiều người từng hỏi. Và, từng nói. Vào buổi lễ thanh cao. Có chay lòng. Tâm tịnh. Nhiều vị bảo: bình yên/tâm tịnh, là trạng thái về với Thơ. Rất yên. Và cũng rất tịnh. Chính đó là Lời Chúa. Chính đó, như đã có người từng gạn hỏi, ở bên dưới:

“Tôi lớn lên, ở khung trời thanh tịnh/bình yên trong một gia đình Công giáo toàn tòng. Lúc nào trong nhà cũng Kinh. Cũng Sách. Nhưng chẳng thấy ai lần giở trước đèn. Để đọc. Nay, tôi thấy rất nhiều người, Công giáo cùng Chính thống, biết bỏ giờ ra, mà suy và đọc. Đọc và suy, xong còn tìm hiểu. Rất thích thú. Nay, xin ngài giải thích sao có chuyện đó, vừa xảy ra, hôm nay? (Lại thêm một người gạn hỏi, nhưng không ký tên).

Hỏi, mà không ký. Tức, cũng chẳng quyết điều gì. Nhưng, vẫn được “đức thầy” họ Flader tên gọi là John, rất Sydney, như sau:

“Tôi đây kinh nghiệm cũng rất từng trải, từ một gia đình Công giáo, lúc nào cũng có Thánh kinh để trong nhà. Luôn mở ngỏ. Sách rất to. Đặt nơi cung kính, để người trong nhà có thể chiêm ngưỡng. Suy tư. Tôi nhớ không lầm, thì chính tôi cũng chưa một lần để mắt đến. Và, chẳng có ai trong gia đình, theo tôi biết, đã sờ chạm và đọc những gì viết trong đó. Bởi, sự thể là Sách quá to. Không di chuyển được. nên chẳng khuyến khích ai cầm lên mà đọc hết.

Nhiều Sách thánh để trong nhà, là cốt để mọi người nhớ đến ngày mình rửa tội, thêm sức, cùng rước lễ lần đầu, có ghi rõ trong đó. Chừng như, đó là mục đích tiên khởi, của người đặt Sách.

Sách thánh ghi Lời Chúa, thường đặt để ở vị trí trang trọng trong nhà, còn mang ý nghĩa xác nhận một kiểm tra căn cước. Nhận rằng: nhà này là Công giáo. Tựa như treo thánh giá gỗ hoặc ảnh Lòng thương Xót Chúa, ảnh Mẹ. chứ đâu phải để cho mình đọc và suy ngắm. Chuyện ấy đâu đã cần. Ðặt nhý thế, là ðể nhắc mình, nhắc khách viếng, chúng tôi là người Công giáo, chánh gốc. Có Phúc Âm. Đàng hoàng.

Điều vừa kể, xem ra có hơi hài hước. Nói như người đời, là: chuyện tưởng như đùa. Nhưng có thật. Một sự thật, mà nhiều người Công giáo vẫn có kinh nghiệm từng trải, nhiều thế kỷ.

Quả là, thái độ này bắt nguồn từ các nhà Cải cách người Thệ Phản, hồi thế kỷ thứ 16. Từ bỏ Giáo hội –nhiều khi các vị này nghĩ Giáo hội Công giáo La Mã có sai sót, thối nát. Và nhiều trường hợp, nói cũng đúng- nên mới bỏ cả truyền thống vốn có từ ngàn xưa. Các vị bèn về với Thánh Kinh, để biết và hiểu điều Chúa muốn, với con người.

Đây là nguyên tắc mà tiếng Latinh gọi là “sola scriptura”, tức: chỉ có Kinh Thánh mới là nguồn cội của niềm tin và Mặc khải từ Thiên Chúa. Và, người Công giáo vẫn biết là chỉ với Kinh thánh thôi, cũng không đủ. Như tôi từng nói, Truyền thống sống động của Hội thánh mới cho ta Sách Thánh Kinh vào đầu hết. Và, có Chúa Thánh Thần soi sáng, Hội thánh mới có thẩm quyền dẫn dắt ta hiểu thấu đáo Thánh Kinh. Nên, khi người người tìm cách dẫn giải Kinh thánh, tự khắc gây ra nhiều tranh cãi, không bao giờ chấm dứt.

Đó, cũng là lý do mà tại sao ngày nay có đến cả chục ngàn nhóm hội đoàn thể vẫn cam quyết rằng niềm tin của mình đặt căn bản trên cùng một Sách thánh.

Để phản bác lại những sai lầm của nhóm Cải cách hổi thế kỷ thứ 16, người Công giáo được khuyến khích hãy nghe theo lời giáo huấn của Hội thánh. Chỉ Hội thánh mới xứng đáng dẫn giải về Kinh thánh cho mình. Giáo dục mình, về những điều mà Chúa muốn mình am tường.

Kết quả là, suốt 4 thế kỷ sau đó, người tín hữu không được khuyến khích đọc thẳng Sách thánh, mặc dù có sự kiện là các nhà in/nhà xuất bản đều vẫn muốn Sách thánh được phổ biến tràn lan, khắp chốn.

Dầu sao đi nữa, người Công giáo vẫn quen thuộc Sách thánh, qua các bài đọc hàng tuần, vào thánh lễ Chúa nhật. Vào khi bẻ bánh Lời Chúa, ta được nghe cả Cựu Ước lẫn Tân Ước. Sau đó, còn được linh mục chủ tế hoặc thầy phó tế dẫn giải bằng các bài chia sẻ hoặc thuyết giáo, như vẫn gọi. Cùng một lúc, trẻ em cũng được học hỏi các phần quan trọng trong truyện tích Sách thánh, tại trường hoặc tư gia, có phụ huynh dẫn dắt.

Công Đồng Chung Vatican II cũng đã đem lại luồng gió mới trong thái độ đón nhận và đọc Sách thánh, mà lâu nay giáo dân vẫn thực hiện. Đặc biệt là chương cuối của Hiến Chế Tín Lý về Mặc Khải từ Chúa có tên gọi là Dei Verbum (Lời Của Chúa) đã khích lệ mọi người nên đọc Sách thánh, một cách tích cực. Trong đó, Hiến chế có lời như sau:

“Đại để, Thượng Hội Đồng rất thánh đã mạnh dạn và đặc biệt khuyến khích các tín hữu Đức Kitô, hãy biết cách mà học hỏi những gì thánh Phaolô từng xác quyết:‘mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi’ (Pl 3: 8). Đó là do năng đọc Sách thánh, như tổ phụ Giêrônimô đã minh chứng: “Không biết Sách thánh, là chẳng biết gì về Chúa hết.” (Thánh Giêrônimô, Comm. in Isaias, Lời bạt)

Thành thử, có ham đọc và học hỏi sách tu đức thánh thiêng, thì “Lời Chúa mới mau chóng được phổ biến và tôn vinh” (2Th 3: 1). Có như thế, kho tàng Chúa mặc khải vốn gắn liền với Hội thánh, mới lấp đầy tâm can con người.” (x. Dei Verbum, 25-26)

Ngày nay, con số nhóm hội/đoàn thể học hỏi Sách thánh trong Giáo Hội Công giáo gia tăng một cách đáng kể. Nhiều giáo dân, đã tham gia các khoá dẫn giải Kinh thánh theo nhóm hoặc theo từng cá nhân riêng lẻ.

Cũng là chuyện nên làm, nếu người Công giáo quyết bỏ ra mỗi ngày vài ba phút để đọc Kinh thánh, ít ra là Tân Ước. Đó là điều tốt. Có như thế, mọi người chúng ta, cũng như toàn thể Hội thánh và xã hội, sẽ được chúc phúc. Rất nhiều.” (x. John Flader, The Catholic Weekly 14/2/10, tr.10)

Nói theo bài bản, tức: nói có sách mách có chứng, thì như thế. Nhưng nói theo lý lẽ/sự việc và cuộc sống hằng ngày, ở huyện, như chuyện “Nơi em về, ngày vui không em”, còn là nói và hát, những lời người nghệ sĩ đã mừng mừng tủi tủi, hát như sau:

“Gió sẽ mừng vì tóc em bay,

cho mây hồn ngủ trên đôi vai.

Vai em gầy guộc nhỏ,

Như cánh vạc về chốn xa xôi.”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

Và, nói theo lời một linh mục còn-khá-trẻ ở Nữu Ước, nước Hoa Kỳ là nói về tình hình có tâm rất tịnh hay không tịnh, ở một số người Công giáo đó đây, như sau:

“Có nhiều người rất thích linh mục đến giảng tĩnh tâm và đặt tay chữa bệnh. Phần tĩnh tâm thì không cần thiết lắm. Phần nhận ơn và chữa lành mới là phần quan trọng. Chính tôi đã thấy, gần giờ kết thúc các buổi tĩnh tâm, có nhiều người tìm đến chỉ để được chữa bệnh và xin ơn.” (x. Lm Giuse Trần Việt Hùng pp, Đặc Sủng Về Ơn Lạ: Cứu cánh không biện minh cho phương tiện, www.giadinhanphong.blogspot.com , DIA số 69)

Và, nói về tâm tịnh có suy và có niệm, là nói rất nhiều. Dù, làm chẳng bao nhiêu. Bởi, đời người thường nói nhiều, chứ đâu làm nhiều. Chí ít, là khi tâm mình chưa tịnh để cứ làm mà không nói. Làm, là làm theo Lời Chúa. Nói, thì nên để Chúa nói cho mình. Cho người. Dù, người ấy có là người trong Đạo, hay ngoài đời. Suốt cả đời.

Trần Ngọc Mười Hai

vẫn cứ xin

nghe, học hỏi, hiểu biết

rất nhiều điều.

Hơn là nói.

10. “Ước gì anh ở đây, giờ này,”

ước gì anh cùng em chuyện trò
Cùng nhau nghe sóng xô ghềnh đá

ngàn câu hát yên bình”

(Jim Brickman/Võ Thiện Thanh – Ước Gì)

Lc 10: 2-3

Thì, em vẫn sống. Ðấy chuyện thật. Thì, anh ở đây. Giờ này. Vẫn cứ ước. Ước, là ước những chuyện thật gần, rất dễ làm. Như: chuyện trò. “Nghe sóng xô gềnh đá”. “Ngàn câu hát yên bình.” Thế nhưng, mộng ước của anh. Và của em. Đôi khi tưởng cũng dễ. Nhưng sự thật, ít hiện thực. Như chuyện mới xảy ra, ở giải Túc Cầu Thế Giới FIFA 2010 ở Nam Phi, nghe đến sợ:

“Tin cho biết: Một người đàn ông đứng tuổi sống miền quê hẻo lánh phía Bắc nước Nam Phi, mê xem trận túc cầu giữa Đức và Úc trên truyền hình, không để vợ con xem chương trình lễ lạy, như mọi ngày. Đã tranh nhau, giành giựt thiết bị điều khiển từ xa, đến xô sát. Ông đã chết trên đường đến bệnh viện tỉnh. Phát ngôn viên Cảnh sát nói: Ông tên David Makoeya, 61 tuổi sống ở làng Makweya, thuộc tỉnh Limpopo, đã bị người vợ là Francina và hai con là Collin và Lebogang tấn công, dập đầu ông vào tường để giành lại thiết bị ông cứ giữ khư khư trong tay. Hôm ấy là ngày Thứ Tư đen 16/6/2010. Cảnh sát cũng nói: ông là người luôn sống đời vui vẻ. Hạnh phúc. Một người có rất nhiều mộng ước (?).” (X. Tin trên mạng Yahoo7Sport 18.06.2010)

Ước gì, anh ở đây: để tham dự thánh lễ và xem bóng đá, vẫn cứ là những nguyện và những ước chính đáng. Tuy, nhỏ nhoi. Trong cuộc sống hàng ngày. Nhưng mà sao kết quả dẫn đến, lại não nùng, đến thế? Thế mới biết, đó mới là những điều lạ kỳ trong sống đời thường nhật. Ở đời. Thế mới biết, ước vọng hay nguyện ước, đôi khi tuy rất nhỏ. Nhưng, khó thực hiện.

Uớc nguyện của giới trẻ hôm nay, trong sinh hoạt cộng đồng của Nước Trời, cũng là mộng ước giản đơn. Không tranh giành giành. Cãi vã. Đấu tranh. Nhưng chỉ là những nguyện và những ước đơn thuần. Mộc mạc. Như, đã diễn tả ở bài hát, với câu ca đơn thuần. Nhưng khúc chiết:

“Người yêu em hỡi!

Ước gì em đã không lỡ lời

ước gì ta đừng có giận hờn

Để giờ đây cô đơn vắng tênh

đời em đã vắng anh rồi…”

(Jim Brickman/Võ Thiện Thanh – bđd)

Vâng. Mộng ước của người trẻ hôm nay là như thế. Đôi lúc, cũng cô đơn. Vắng tênh. Cứ chiếm lĩnh linh hồn anh. Linh hồn, của cả em. Thế nên, mộng ước xem ra khá giản dị cũng khó thành. Chí ít, là khi mộng ước ấy, vẫn là những ước và mộng của một đời vẫn muốn sống chuỗi ngày dài lâu. Rất thọ. Như truyện nhỏ, ở bên dưới:

“Bác sĩ nọ, cứ giữ thói quen hằng ngày, vẫn lang thang tản bộ trên con đường đá sỏi nhiều hàng cây râm mát, vào buổi sáng. Bất chợt ông gặp một nữ phụ có dáng cao niên. Hiền lành. Đức độ. Nghĩa là, cụ làm gì thì làm, chẳng muốn phiền hà một ai, ngoài chính mình. Nữ phụ cứ lặng lẽ ngồi trên ghế đá công viên, chậm rãi phì phà điếu xì-gà còn mỗi khúc cuối, vẫn không vứt bỏ. Thấy thế, bác sĩ nhà ta bèn đến gần, lên tiếng khẽ hỏi:

-Xin cho phép tôi hỏi một câu hơi lẩn thẩn, nghĩ mãi không ra. Nhìn kỹ, tôi đoán biết bà chị đang có đời sống bình lặng. Rất ư là hạnh phúc. Vậy đâu là bí kíp, để được thế?

-Chẳng có gì ghê gớm lắm đâu, thưa ông. Ban ngày, tôi chỉ lưa thưa hút có mười điếu. Cỡ bằng này. Tối về, tôi dặm thêm mỗi điếu chót. Chẳng là bao. Mỗi tuần, tôi cố nốc chút rượu cũng chỉ được mỗi chai huýt-ki Johnny cuốc bộ. Thời gian còn lại, tôi chỉ kịp đánh chén toàn thức ăn nhanh, cho nó lẹ. Thế thôi. À quên, mỗi ngày cuối tuần tôi lại có thói quen lai rai vài viên thuốc lắc. Xập xình, chỉ vài điệu nhún. Có thế thôi.

-Lạ nhỉ. Bí kíp sống thọ như kiểu này, thú thật là lần đầu tôi mới nghe, thôi. Thế, năm nay cụ nhà thọ được bao nhiêu thế?

-Tuần tới đây, tôi tròn ba tám. Đâu đã ngán.”

Hai truyện kể. Hai thái cực. Vẫn nói lên một thực tại về những ước và nguyện, của nhiều người. Nguyện và ước, không đơn điệu. Giản đơn. Như, mơ ước của nghệ nhân, trong đó có ý/lời nhạc bản, trích dẫn thêm. Như sau:

“Ước gì anh ở đây, giờ này.

ước gì em được nghe giọng cười

Và hơi ấm, đã bao ngày qua mình luôn sát vai kề!”

(Jim Brickman/Võ Thiện Thanh – bđd)

Ở nhà Đạo, cũng có chuyện tương đối giản đơn, đầy mộng ước, nhưng thực hiện được không phải dễ. Chuyện ấy, như sau:

“Người bảo các ông:

Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít.

Vậy anh em hãy xin

chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.

Anh em hãy ra đi.

Nay Thầy sai anh em đi

như chiên con đi giữa bầy sói.”

(Lc 10: 2-3)

Dĩ nhiên, lời Chúa ở trên không là mộng ước, nhưng là lệnh truyền. Một mời gọi. Ngài mời và gọi người người hãy có được những ước vọng gặt hái mọi thành quả Ngài gieo vãi, suốt bao năm.

Về những ước vọng của nhà Đạo, nhiều đấng bậc vị vọng lại có thói quen cứ nhìn vào số lượng người mình dự thánh lễ, để biết mùa lúa có chín rộ?Hoặc nhìn vào số linh mục tại chỗ, vẫn tràn đồng, để biện luận rằng “ơn kêu gọi” ở nhà Đạo. Đâu xa sút! Nhưng, đó mới chỉ là số lượng của vụ gặt. Của lúa chín. Hoặc thợ gặt. Thế còn, tay nghề của thợ gặt? Và chất lượng của vụ mùa ấy, giờ này ra sao?

Trả lời cho câu hỏi trên, người nghệ sĩ ở ngoài đời, bèn nhanh nhẩu đáp, bằng câu hát:

“Em xa anh, đã bao ngày rồi,

Nghe như tháng năm ngừng trôi.

Đi xa, em nhớ anh thật nhiều.

Này người,

Người yêu em hỡi!”

Em xa anh, có thể là thánh lễ của anh. Ở nhà thờ. Cũng có thể, là: xa cả tình yêu đối với anh. Với chị. Ở Nước Trời. Thế thì, xá gì một mộng ước. Thế thì, vội gì mà cãi tranh. Tranh và cãi, về ý nghĩa. Lý lẽ, của Tiệc Thánh. Của nghi thức phụng vụ ở nhà thờ.

Đấy kìa, cứ thử nghe ý kiến của bạn Đạo ở Sydney, vẫn muốn bàn và muốn luận về tình huống các lễ thánh hoặc thánh lễ, có linh mục “bụi” Chris Riley đại diện cho giới “Bụi đời” ở Sydney, về thánh lễ. Như sau:

“Có những điều khả dĩ có thể thu hút giới trẻ “bụi” đến với thánh lễ. Hầu hết, có thể kể ra như sau:

Về lời sẻ san, còn gọi là “chia sẻ”:

“Lớp trẻ bây giờ, chỉ thích nghe những lời nào khả dĩ đánh động tâm can họ, thật mạnh. Chí ít, là những lời phù hợp với cảnh sống thực tế của họ. Tức, những gì khiến họ bỏ mọi sự lại đằng sau, mà đến với thánh lễ. Được như thế, họ sẽ đến với nhà thờ, ngay lập tức. Nói cách khác, phải tạo ra những gì thật sự lôi cuốn đám trẻ. Một chút gì đó, có cảm xúc. Thách thức. Tức, ai trong giới trẻ, cũng đều muốn mình được nuông chiều, nuôi dưỡng, bằng nhiều cách. Khác nhau.”

Về âm nhạc, ở thánh lễ:

“Bình thường, người người vẫn tìm đến các buổi hội ngộ, có tuyên dương. Có ca khen. Chúc tụng. Bằng nhạc cổ điển. Nhè nhẹ. Bởi, khi nghe loại nhạc này, ta không ngờ rằng, nhạc nhẹ cổ điển vẫn tiềm tàng trong văn hoá/văn minh, là mạch chính. Của mình. Ý tôi muốn nói, là: loại nhạc như thế, vẫn đẩy đưa/lôi kéo hết mọi người. Nói cách khác, âm nhạc và ca từ sử dụng ở nhà thờ nếu quá dở, sẽ làm mọi người dần dà chán ngán, mà bỏ đi. Đi nơi khác. Thích thú và sảng khoái hơn.”

Về lớp người trẻ:

“Giới trẻ ngày nay có nhu cầu muốn nối kết với mọi người. Vào thánh lễ, nếu ta làm sao thu phục giới trẻ, thì rồi ra chắc chắn cũng sẽ cuốn hút được nhiều người. Bởi, người trẻ nào cũng muốn cảnh báo mọi người, là: họ không là đám người trẻ độc nhất đến với thánh lễ. Rất nhiều người cũng muốn đến ghê lắm, nhưng họ chỉ chưa tỏ bày đấy thôi.”

Về sự lặng thinh:

“Theo tôi nghĩ, mình cũng nên có nơi êm ả. Thinh lặng. Khả dĩ có thể thu hút được lớp người trẻ đến với thánh lễ, mình cử hành. Một phần, vì xã hội hôm nay không còn chỗ để mình ở yên lặng, như thời trước. Đúng ra, cũng nên làm thế, mỗi tuần một lần. Tìm đến những nơi như thế, người trẻ vẫn có thể giữ lặng thinh. Để chứng tỏ là mình cũng làm được những việc như vậy.” (X. The Australian Catholics, Easter 2010, p.9)

Thật cũng đúng. Và, cũng phải. Phải và đúng, bởi hầu hết người mình đều muốn giới trẻ kéo đến mà tham dự Tiệc Thánh, chứ đâu muốn thấy số lượng người đi lễ chỉ để khỏi xưng tội. Hoặc, có đến tham dự đấy, nhưng lòng trí cứ để đâu đâu ấy.

Phải và đúng, còn là ý kiến: về lời lẽ chia sẻ. Chia và sẻ sao để dễ kết hợp/phản ánh kinh nghiệm thực tế, của mỗi người. Hơn là, chỉ thuyết giảng về những giáo điều hoặc luân lý/đạo đức cũ/ xưa, rất nhiều năm. Về nhạc thánh… và thót, làm sao tạo được nét vui tươi, gây sức sống từ ca từ cho chí cung cách diễn tả, làm sao cho thích hợp với ý nghĩa “Phục Sinh”, rất Tiệc Thánh. Hơn là, chỉ ỉ ôi. Âu sầu. Rầu rĩ. Dù mùa Chay.

Phải và đúng, như ý kiến phản ánh kinh nghiệm của một đấng bậc vị vọng khác cũng ở Sydney, tuy không nổi tiếng bằng đấng bậc going họ Riley, nhưng là đấng bậc kiên trì. Dòng Tên. Về, đồng lúa Nước Trời nói đến, ở thánh lễ. Như sau:

“Mỗi khi được hỏi: sao ta cứ phải tham dự thánh lễ, lề mề như thế. Rất thường xuyên. Mỗi tuần? Tôi, thì tôi thích cụm từ “Tiệc Thánh Thể” để diễn nghĩa, hơn “Thánh lễ, hoặc lễ tế”. Bởi, cụm từ “Tiệc Thánh” mang ý nghĩa sâu xa qui về đoạn Kinh Thánh có những chi tiết giúp ta hiểu được việc ấy xảy ra ở bàn tiệc, Chúa tham dự. Tiệc, là tiệc tưởng niệm về một hy sinh Chúa chấp nhận, cho riêng Ngài. Cộng thêm vào với ý nghĩa của tự vựng ta bàn luận, là cụm từ “tương quan”. Tương quan, là những gì khả dĩ có thể giúp cho quan hệ giữa ta với Chúa, được phát triển. Đậm sâu. Với thời gian.

Tương quan nào cũng là quan hệ mật thiết. Vẫn triển nở, và lớn mạnh. Ở nơi đó, có quyết tâm. Quan hệ nào, cũng có lúc thăng lúc trầm, như mực độ lên xuống, của đời người. Quan trọng, là làm sao cố gắng tạo cho được một liên tục. Nhuần nhuyễn. Cứ thế tiến thẳng theo chiều hướng tốt. Cũng quan trọng không ít, là: hãy tự hỏi lòng mình xem mình mang những gì đến với quan hệ ấy. Trong đời, nhiều lúc ta cũng cứ phải quyết định xem có nên hay không nên xúc tiến quan hệ với Tiệc Thánh Thể, rất như thế. Nghĩa là, thay vì hỏi tại sao thế này, tại sao thế nọ. Bởi, có hỏi mãi như thế, cũng chẳng đi đến đâu. Tốt hơn, hãy suy nghĩ xem nên làm cách nào để ta có thể lớn mạnh trong tương quan đằm thắm với Đức Kitô, bằng Tiệc Thánh. Qua Bữa Tiệc.” (x. Edward Dooley sj, The Australian Catholics, Easter 2010,m tr. 9)

Nghe thế rồi, lời cuối nói sao đây? Nói để thuyết phục,có lẽ vẫn nên nói. Dù chỉ một lời. Nói, là cốt chuyển đến bà con mọi người, một đề nghị. Nói, để cùng nhau mình có quyết tâm. Bởi, hẳn là bạn cũng như tôi, ta sẽ nghĩ: làm sao thuyết phục được mọi người hãy nghe Lời Thầy Chí Ái, rồi thực hiện. Nên chăng, ghi thêm ở đây câu hát tiếp, làm đoạn kết cho bài phiếm rất hôm nay?

“Em đã sống những đêm trời có ánh trăng chiếu vàng,

Em đã sống những đêm ngoài kia, biển ru bờ cát!

Ước gì Anh ở đây. Giờ này…”

(Jim Brickman/Võ thiện Thanh – bđd)

Vâng. Lại một chữ “Vâng”. Của những “ước gì”, đầy hy vọng. Bởi, “ước gì” đây, chỉ là những ước và mộng về những gì bạn và tôi, ta đã biết. Đã hiểu. Nhưng chưa quyết. Thế thì, hôm nay, mời bạn và mời tôi, ta cứ ước. Ước rất mực. Ước khôn nguôi. Ước rôì , để rồi ta lại hát câu ca cuối, làm lời kết gửi đến những người anh/người chị ở Nước Trời, không xa. Vẫn cùng ước và nguyện rằng :

“Ước gì, cho thời gian trở lại,

Ước gì, em gặp anh một lần.

Em sẽ nói em luôn nhớ anh,

Và em chỉ có anh thôi.”

(Jim Brickman/Võ Thiện Thanh – bđd)

Cuối cùng thì, chỉ còn anh và em. Trong nỗi ước, của cuộc đời. Rất thật. Như sự thật. Ở đời.

Trần Ngọc Mười Hai

Cũng từng ước.

Nhưng chỉ ước

những chuyện không thật.

Thế mới chết.

11. “Ai đang đi, trên đường đê,“

tai lắng nghe muôn câu hò đê mê
Vô đây em, dù trời khuya anh nhớ đưa em về.”

(Hoàng Thi Thơ – Gạo Trắng Trăng Thanh)

1 Cr 15: 20/Côl 1: 18

Nếu nhủ rằng, cuộc đời đi Đạo và giữ Đạo của tôi và của bạn, là hành trình phom phom “trên đường đê” của niềm tin, thì hẳn là: tai tôi và tai bạn, sẽ còn mãi nghe “muôn câu hò đê mê”, cũng rất hứng? Hứng thú đây, không là hứng khởi vì được mời “vô đây”, chốn Đạo/đời, nhiều kỷ niệm. Mà là, “dù trời khuya anh nhớ đưa em về”. Về, với kỷ niệm, rất Đạo. Có sống đạo. Với đời.

Kỷ niệm Đạo, rất đẹp. Ở nơi đó, người người sẽ hát câu “trên đường về quê” nghe rất dễ:

“Trên con đường về quê,

mà vắng bóng Mẹ,

Con biết cậy vào ai,

biết nương nhờ ai.”

(Nguyễn Khắc Xuyên – Trên Đường Về Quê)

Vắng bóng Mẹ”, trên đường quê. Trong Đạo. Ngoài đời. Vẫn nhiều vị, cứ coi Đức Mẹ quyền hành và oai phong đến độ: Mẹ, không chỉ là “Đấng Quan Phòng”, lo lót Chúa đủ điều. Mà, Mẹ còn có trọng tâm ngang bằng Chúa. Ngang bằng, đến độ có đức thày người rất Tây ở Sydney chẳng biết lấy luật Phụng vụ ở đâu mà cứ yêu cầu “bổn đạo” đọc chung một kinh “Kính Mừng” ngay sau tuyên xưng đức tin, rất Tin Kính. Có vị khác, còn níu kéo bổn đạo ở lại thêm dăm ba phút để làm tuần tam/tứ/cửu nhật kính Đức Mẹ, trước khi ban phép lành kết lễ. Rồi cho về.

Thật ra thì, thờ Chúa kính Mẹ, cách nào cũng đặng. Miễn đừng hò hụ hò khoan rày câu hát:

“Muôn câu hò, hò hò khoan

Đang mãi vang, trong đêm dài.

Gái trai làng, chiều hôm nay,

Đang mải say, theo tiếng chày…”

(Hoàng thi Thơ – bđd)

Tiếng chày/tiếng giã, mải say chắc chắn không là tiếng cãi vã của người nhà Đạo về vai trò Mẹ có bằng Chúa không. Mà chỉ là: tiếng hát/hò hụ khen trai tài/gái sắc rất ăn khách. Ăn tiền cả với giới mộ điệu một thời, là cặp uyên ương hết-còn-trẻ Ngọc Cẩm-Hữu Thiết. Bởi thế nên, tác giả họ Hoàng Thi rày ghi thêm tâm tình đậm nét, rất thân thương, hôm nào:

“Riêng tặng hai bạn Nguyễn Hữu Thiết, Ngọc Cẩm đôi giọng ca Nam Thương đã gieo tràn trên giải đất đầy chim chóc nầy vô vàn âm thanh, đậm lòng như những bát cơm quê hai mầu khoai sắn…” (Hoàng Thi Thơ – Tập Thể Dân ca)

Cơm quê một khoai hai sắn, bà con đất Sài-thành rày vẫn như còn nghe cặp song ca Cẩm-Thiết cứ ráo riết hát bài “Gạo (rất) trắng, trăng (rất) thanh”, vào buổi ấy khiến người dân quê Gia Định quen tai đến độ cứ hát nhại, đôi ba chữ rất tình tứ, như sau:

“Ai đang đi, trên cầu Bông,

Té xuống sông, ướt cái quần nylông..

Vô đây em, dù trời khuya,

ba má anh đưa em…dzìa.”

(Thu lượm lời hát nhại)

Hôm nay, nhớ lại câu hát nhại, để nói rằng: lời ca/câu hát, càng đậm tình quê hương bát ngát một dân tộc, sẽ càng thấm nhập vào lòng người, hơn ai hết. Thấm, đến độ có người quên cả chuyện sống Đạo. Với đời. Quên, cả ý nghĩa Lời Thơ Văn rất thánh, là Kinh thánh. Rất nhà Đạo.

Hôm nay, người đời cũng đang gặp nhiều chuyện lúng túng khiến dân con nhà Đạo, quên cả sống Lời Chúa, chỉ biết sống với đời. Nhiều lời. Nhiều tranh chấp. Mà, vẫn thiếu những ý/lời thanh cao. Thi tứ. Ý nhị. Của niềm tin. Tin rằng: Đức Chúa khi thực hiện ơn cứu độ, Ngài cũng rõ:

“Trước lễ Vượt qua,

Đức Giêsu biết rằng

đã đến giờ Ngài qua khỏi thế gian này

để về cùng Cha,

đã mến yêu các kẻ thuộc về Ngài trong thế gian

thì Ngài yêu mến họ đến cùng.”

(Ga 13: 1)

Hôm nay, người người vẫn bon chen. Tranh sống. Sống rất mạnh. Và cũng rất nhiều. Những tháng ngày dài đầy bương chải. Mà thực ra, vẫn cứ thiếu. Thiếu hiểu biết, chuyện thực tế. Cũng rất cần. Cho mình. Cho người. Những sự thực ở đời, mà có lẽ vì mải mê với những “có thực mới vực được Đạo”, nên đã quên. Quên, chuyện thực tế trong Đạo, là: sống Đạo.

Trong hành trình “về cùng Cha”, có người cứ hát mãi câu “trên con đường về quê” hoặc “quê trời” có Chúa. Có Mẹ, đang đón chờ. Thế mà, người người cứ hiểu chữ “quê” và chữ “Trời”, theo nghĩa rối bời. Của “Thiên Đàng”, nghĩa rất đen những chữ là chữ. Rất “bóng quê”. Như câu ca, vào thời đó:

“Trời đêm vắng sao sương về,

Đường xa thăm thẳm khuất bóng quê

Con băn khoăn đưa mắt trông tìm đây đó

có ai bạn đường cùng đi khỏi lo.

Mẹ ơi! bóng đêm rợn rùng,

vực sâu đang gầm dưới lá rung.

Con lao đao sắp ngã trên đường nguy khốn,

đoái thương con cùng. Mẹ Đấng Chí Tôn.”

(Nguyễn Khắc Xuyên – bđd)

Chẳng thế mà, có độc giả cứ mải mê với những chữ “vắng sao”, “sắp ngã” là thế, lại đã ngần ngại thấy “bóng đêm rợn rùng”, những “vực sâu”, “nguy khốn”, nên thắc mắc rất nhiều về tình tự của Đức Chúa, sau khi chết. Cứ tự hỏi: chẳng biết Chúa Sống Lại, Ngài có lại sống, giống như trước? Tức, sau khi trỗi dậy từ cõi chết, Ngài ra sao?

Thắc mắc nhiều, nên người giáo dân thấy còn thiếu một giải đáp cho thắc mắc “khó ngủ yên”, bèn hỏi “đức thầy” ở Sydney, những câu khá lấn cấn. Lẩn thẩn. Rất như sau:

“Qua Phúc Âm, tôi được biết là: tiếp theo sau ngày Chúa đi vào cõi chết, hôm Thứ Sáu, Ngài đã trỗi dậy và hiện đến với các thánh tông đồ, ở Giêrusalem. Ta hiểu sự việc này như thế nào, mỗi khi đọc lời trình thuật như thế ấy? Chúa có thực sự “hiện đến” với các thánh, hay không? Ngài có thực sự trỗi dậy từ cõi chết và khởi đầu lại cuộc sống thực tế của Ngài, như khi trước? Xin giải thích cho biết. Để còn tin.

Thì ra, là như thế. Độc giả hay độc thiệt này từng đọc suốt rất nhiều lần, kinh Tin (rất) Kính. Vẫn nằm lòng. Vào thánh lễ. Và, cả khi lần chuỗi Mân Côi kiểu mới đến 4 “sự”, mà vẫn hỏi. Hỏi, như người chưa tin. Chưa từng hiểu biết. Cũng may là, “đức thầy” giòng họ Flader hiền lành/phúc hậu, đã không quản ngại trả lời/trả vốn những vấn nạn. Những vấn và nạn, nhý mình từng hiểu biết, đến như sau:

“Xin cho tôi được phép bắt đầu câu chuyện bằng cách xem xét đoạn Tin Mừng thánh Mát-thêu từng đã viết: “Mồ mả bật tung, và xác của nhiều vị thánh đã an nghỉ được trỗi dậy. Sau khi Chúa trỗi dậy, các ngài ra khỏi mồ mà vào thành thánh, và hiện ra với nhiều người.” (Mt 27: 52-53)

Với sự kiện đầy huyền nhiệm này, thì quả thật rất khó mà hiểu cho rõ. Thật không may, ta chẳng có được đoạn Sách thánh hoặc huấn dụ nào của Hội thánh, khả dĩ soi dọi chút ánh sáng, cuối đường hầm. Dù sao đi nữa, tưởng cũng nên thận trọng mỗi khi ta tìm cách giải thích, chuyện như thế.

Có ba cách giải thích sự kiện trên. Cả ba, đều dựa vào hiểu biết của các nhà chú giải trổi trang trong Hội thánh.

Thứ nhất, người chết không trỗi dậy theo nghĩa chính xác như mọi người thường hiểu; mà là “hiện ra” với người còn sống, theo lẽ thường mọi người đồng thuận với ý niệm về một “hiển hiện”. Khi chuyện này xảy đến, thân xác của người chết vẫn nằm yên trong mồ, nhưng linh hồn của người ấy, có thể là trường hợp của vị thánh đã tấn phong, cũng hiển hiện theo hình thù của ai đó, còn ở dưới đất.

Giải thích này, xem ra không phù hợp tương xứng với văn bản của Sách Thánh. Bởi, tuy Kinh thánh có nói đến tình trạng mộ phần được mở ngỏ và chính xác phàm của những người đó đã trỗi dậy. Theo Kinh thánh, rõ ràng như có hình thái nào đó đặc thù hơn chỉ là chuyện “hiện ra” hay “hiện đến”, rất đơn giản.

Giải thích thứ hai, cho rằng: những người như thế đã thực sự trỗi dậy, từ mộ phần của họ. Và, họ khởi sự sống trở lại, thêm lần nữa. Có nhiều ví dụ để kể về chuyện này, ở Cựu Ước cũng như Tân Ước.

Cựu Ước có nói đến trường hợp người con trai của bà goá Zarêpát được tiên tri Ê-li-a cho trỗi dậy (x. 1V 17: 22). Trường hợp khác, là người con trai của Su-na-mai cũng được tiên tri Ê-li-sha cho sống lại (x. 2CV 4: 32-35) và người chết được vực dậy từ nơi mộ phần của Ê-li-sha (x. 2V 13: 21)

Trong Tân Ước, chính Đức Giêsu cũng đã làm cho ba người trỗi dậy từ cõi chết, đó là: Ladarô (x. Ga 11: 38-45), con bà goá thành Naim (x. Lc 7: 11-17) và con gái ông Gia-ia, viên trưởng hội đường (x. Lc 8: 40-42, 49-56).

Tất cả những người này đều bắt đầu lại cuộc sống của mình. Và, dĩ nhiên, cũng sẽ lại chết lần sau nữa.

Lối giải thích này xem ra thích hợp với ý tứ của Sách thánh hơn. Nên, được thánh Âu Tinh, Giêrônimô và Tôma Akinô chấp nhận. Thánh Giêronimô cho rằng những người được trỗi dậy từ cõi chết, không cần phải chết một lần nữa. Trong khi thánh Âu Tinh và Tôma Akinô quả quyết là những người ấy đều chết lại (x. Thánh Tôma III, 53, 3)

Dù sao đi nữa, thánh Tôma quan niệm là tất cả những người đã trỗi dậy từ cõi chết trước Đức Kitô đều như ảnh hình về sự Sống Lại của Chúa. Thánh nhân có nói: Việc Chúa Sống Lại khác với những người trỗi dậy từ cõi chết ở điểm này: Chúa Sống Lại cách tuyệt hảo.Trọn vẹn. Ngài không còn phải chết nữa. Trong khi đó, mọi người đều phải chết lần thứ hai (sđd).

Sách Giáo Lý La Mã ban hành sau Công Đông Triđentinô cũng biện giải một kiểu như thế khi trích dẫn lời thư thánh Phaolô với cộng đoàn Rôma, rằng: “Thật vậy, chúng ta biết rằng: một khi Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi, đối với người.” (Rm 6: 9; GLLM I, 5)

Cuối cùng, theo lối giải thích thứ ba, thì việc những vị trỗi dậy từ cõi chết đều là sự sống lại rất vinh hiển về thể xác như “bậc thánh”, đúng như Giáo huấn của Hội thánh Chúa về việc “thân xác mọi người sẽ sống lại, ngày sau hết.” Bằng vào sự sống lại như thế, thể xác sẽ lại được đoàn tụ với linh hồn, chốn Nước Trời.

Lối giải thích này xem ra khó mà hoà hợp với Lời Kinh Thánh nói: Đức Kitô đã lại sinh ra từ cõi chết. Tỉ như đoạn: “Nhưng không phải thế! Đức Kitô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu.” (1Cr 15: 20; Cô 1: 18)

Thánh Tôma Akinô khi trước có trích dẫn một đoạn trong cuốn “Tổng Luận” đã nói rằng: Đức Kitô thực sự tái sinh từ cõi chết. Nói thế để hiểu rằng sự Sống Lại của Ngài là trọn hảo. Ngài không còn phải chết một lần nữa. Trong khi đó, mọi người đều bất toàn; nên vẫn cứ phải chết đi, như sự thường.” x. John Flader, The Catholic Weekly 04/04/2010, tr. 11)

Nói theo kiểu nghệ sĩ viết nhạc ở trên, về đường đê, hay đường về quê, là nói và hát như thế này:

“Ai xa xăm, ai buồn chăng,

nghe hát vang muôn câu hò thênh thang

Chân băng ngang, vào nơi đây,

chấp mối duyên lỡ làng. “

(Hoàng Thi Thơ – bđd)

Duyên lỡ làng, có thể hiểu là duyên và tình đã hết. Cũng có thể, là: đời người đã chết. Không còn duyên. Chẳng còn tình. Sống làm chi. Thậm chí, là sống với những người đang sống nhưng vẫn như chết. Bởi sống mà không tin rằng Tình Yêu cứ sống mãi. Sống, cả vào khi thân xác đeo mang tình yêu ấy, nay không còn ở chốn sống còn, nơi dương thế. Hay còn gọi, là: chốn sống ở miệt trần thế, rất âm/dương”. Trong khi đó, tình yêu lại cứ tồn tại mãi, cả chốn dương rất “trần”, lẫn cõi âm.

Thành thử, ý niệm sống – chết theo luận lý/lý luận của triết gia/nhà hiền triết, là như thế. Sống – chết ở thơ văn/âm nhạc, sẽ cứ là:

“Trong đêm thanh, trăng tàn canh,

bao tiếng ca theo tiếng chày nhanh nhanh

Dư âm xa còn vang mãi trong ánh đêm trăng tà

còn vang mãi trong ánh đêm trăng tà

…còn vang mãi trong xóm nghèo làng ta …”

(Hoàng thi Thơ – bđd)

Và, ý niệm về tình thương có sống có chết, của nhà Đạo, cũng thanh thanh một lời cầu, như sau:

“Mẹ Maria nhân từ,

Mẹ như ánh trăng chiếu bóng đêm.

Bên tai con âu yếm tiếng Mẹ khuya sớm,

Chúng con lo gì sầu thương vấn vương .

Mẹ ơi, dẫu xa muôn trùng,

Mẹ thương đến hồn rất đáng thương

Con đây là giá máu con Mẹ yêu dấu

Vững tin ở Mẹ, thương đến con cùng.”

(Nguyễn Khắc Xuyên – bđd)

Nói cho cùng, chữ nghĩa chúng ta không đủ để diễn tả Tình Yêu có sống có chết, với người đời. Cho nên, để có thể sống Đạo trong đời một cách thoải mái, khá thư giãn, cũng nên kể cho nhau nghe một vài kể lể, rất dễ nghe. Và, cũng dễ cười. Như sau:

Tại quầy tiếp tân thuộc khách sạn khá lớn, ở Anh. Nhân viên phục vụ chợt nghe chuông reo, bèn nhấc ông nghe lên rồi lại đặt xuống, rất nhiều lần. Mỗi lần nhấc, lại cứ nghe như có tiếng người từ đâu đó, đều đều rót vào tai, những là:

-Tu ti tu tu tu tu

Nhân viên phục vụ rất bình tĩnh, nghe xong lại đặt máy xuống. Bỗng, lại có tiếng chuông reo. Và lần này, cũng chỉ mấy câu như chim hót:

-Tu ti tu tu tu tu

Nhân viên phục vụ tức điên người, nhưng dằn được cơn nóng giận, anh ta lại đặt ống nghe xuống. Chẳng nói năng. Dù một nhời. Ít phút sau, có khách thuê phòng người mình xuất hiện quầy, ngay trưc mắt. Khách nhìn vào nhân viên phục vụ mà quát lớn:

-Này anh phục vụ. Anh có hiểu tiếng Anh, thật không đấy? Tôi gọi những 3 lần, mà sao không làm theo lời tôi gì cả vậy?

-Thưa, khách yêu cầu hồi nào? Việc gì thế?

-Rõ ràng tôi bảo: Tu tit u tu tu tu tức: Two Tea to 222 là gì! Như thế chẳng phải là mang 2 ly trà tới phòng số 222, là gì sao?

-Dạ dưới này cứ tưởng “xếp” nói tiếng của loài chim hót, nên không hiểu.

Tóm lại, việc đời còn như thế. Huống hồ, là chuyện Đạo. Cứ giải thích theo ngôn ngữ của người đời hoặc tiếng của loài “chim hót” thì có sống có chết, cũng chẳng ma nào hiểu. Xem thế thì, chỉ có ngôn ngữ của thi ca/âm nhạc, là hay hơn hết.

Vậy nên, cũng xin đề nghị ta cứ dung âm nhạc mà trao đổi, là hay nhất. Thông điệp “Trên đường đê”, hoặc “trên con đường về quê”, là như thế. Rất vui. Rất mừng, dù nguy khốn. Vắng bóng Mẹ Hiền, ở bên trên.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn cứ nguyện cầu

Cho mình và cho người

Hiểu được ý nghĩa của Lời Chúa

Qua ngôn ngữ của con người.

Ở đời.

12. “Em đến thăm Anh chiều đông giá”

Em đến thăm Anh trời mưa gió,

Đường xa lạnh lùng.”

(Tô Vũ – Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa)

Cv 8: 1/20: 28-29

Chẳng có gì, bắt bạn và tôi, ta tin rằng: lời ca trên, quả thật rất đúng. Cũng một trật, không có gì buộc tôi và bạn, cứ bảo rằng: những gì viết ra ở đây, là sự thật. Rất tín điều. Tín điều là tin hay không, những chuyện rằng: các nhân vật lẫy lừng và tăm tiếng, thường để lại câu nói một thời, rất nổi cộm. Thượng thừa. Ngôn sứ. Như lời hỏi nhỏ. Táo bạo. Bậc cha/bác. Là, cố giáo sư kinh thánh Lm Nguyễn Thế Thuấn, Dòng Chúa Cứu Thế, trong cuộc mạn đàm bỏ túi, trên đồi Scala-Đàlạt 1967, năm ấy. Thấy rất rõ. Rõ, như phán quyết: Hà Nội của chú mày, chắc hẳn văn chương/thi phú, tuyệt cú nhỉ?

Bần đạo đây, sinh quán đất Hà Thành, ngàn năm văn vật. Cũng lật đật chào đời ở phố Huế. Chợ Hôm. Đường Hoà Mã. Rành rành, cũng như ai. Nhưng, đâu vì thế mà bày tôi và tớ đây dám kết luận: mình là thợ viết, văn hoa chữ nghĩa, rất đầy mình, đâu. Có chăng, chỉ dám lập lại lời của ai đó, cứ bảo rằng: Huế thâm. Bắc kỳ lém. Nam bộ rất “ruột ngựa”. Chứ, cái thứ văn chương bóng bảy xứ Hà thành, thì bọn tôi lần đầu, mới nghe thấy!

Nói gì thì nói, Hà Thành của tôi hôm nay, mang nhiều tiếng. Tiếng tốt, đã đành. Tiếng: lanh chanh. Lanh lợi. Lanh lẹ. Gì gì nữa, cũng cứ xin. Xin nhận tiếng ấy làm quê hương. Dẫu khó thương. Nhưng kỳ thực, có thương cũng không khó. Thế nên, mỗi lần hướng về Hà Thành, quê hương tôi đầy chất lanh chanh. Lanh lảnh. Bản thân bần đạo vẫn cứ thương. Và cứ nhớ. Nhớ, người nhạc sĩ họ Tô tên Vũ, từng nói hát lời thơ yêu thương. Lanh lảnh, một giòng chảy, rằng:

“Mặt nhìn mặt, cầm tay bâng khuâng không nói… một câu.

Lời nghẹn ngào, hòn anh như say như ngây… vì đâu?

(Tô Vũ – bđd)

Nghẹn ngào, như thấy có cái gì đó, đang ngăn tim. Chặn họng. Không cho dân Hà Thành, người anh tôi, chứng tỏ được tính lanh lẹ. Đầy tình người. Thôi đành hát:

“Có hay, lúc em về

Gót chân bước reo, âm thầm

Trên đường một mình ngoài mưa,

mưa, như mưa trong lòng anh…”

(Tô Vũ – bđd)

Mưa, trong lòng anh. Lòng tôi nữa. Vẫn còn mưa. Nhiều hơn. Khi anh và tôi, ta vẫn nghe. Và cứ thấy. Những điều rất trái khuấy, xảy đến với tôi. Với anh. Là, Hội thánh. Ở mọi thời. Nhất là thời, có những nhận định và ghi chép, buổi hôm trước:

“Hồi ấy, Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem

trải qua một cơn bắt bớ dữ dội.

Ngoài các Tông Đồ ra,

mọi người đều phải tản mác

về các vùng quê miền Giu-đê và Sa-ma-ri.”

(Cv 8: 1)

Hồi ấy, là giai đoạn đầu đời của Kitô giáo. Lúc, mà Hội thánh đang ra sức bành trướng, có sự đôn đốc của Chúa Thánh Linh, Đấng đã ngự xuống vào Lễ Ngũ Tuần. Hiện Xuống. Rất quang vinh. Đấng, luôn dẫn dắt các thừa sai Tin Mừng. Mà còn thế. Nói chi thời bây giờ.

Thời bấy giờ, nơi Hội thánh, đang thấy có những mũi dùi cả ở bên trong lẫn bên ngoài, lầm lừ chĩa tới. Khiến Phaolô thánh nhân, đã phải kêu:

“Phần tôi, tôi biết rằng khi tôi đi rồi,

thì sẽ có những sói dữ đột nhập vào anh em,

chúng không tha đàn chiên.

Ngay từ giữa hàng ngũ anh em

sẽ xuất hiện những người giảng dạy những điều sai lạc,

hòng lôi cuốn các môn đệ theo chúng.”

(Cv 20:28-29)

Buổi hôm nay, Hội thánh cũng không thoát những cảnh tương tự. Khá hung hãn. Hiểm hóc. Rất đáng khóc. Nhưng, khóc mà làm gì. Vì, như người nghệ sĩ xưa đã biết hát những lời lẽ tuy bâng khuâng. nhưng lại rất an vui. Hy vọng. Rằng:

“Lòng bồi hồi nhìn theo chân em, chìm trong ngày xanh.

Ta ước mơ một chiều thêu nắng,

Em đến chơi quên niềm cay đắng,

…và quên … đường về.”

(Tô Vũ – bđd)

Nghệ sĩ hát, bần đạo nghe như có điều gì đó, mang máng một khuyến khích. Rủ rê. Rất vỗ về. Không dám bảo, mỗi nghệ sĩ, người làm thơ hay viết nhạc đều vương vấn ở đâu đó đôi chút thi tứ. Thơ văn. Nhiều ngôn sứ. Mà, chỉ dám nhận rằng, tất cả “là ân huệ”. Là ân là huệ. Đến từ Thiên-Chúa-là-tình-yêu. Ngang qua, những con người rất mỹ miều. Có thi ca. Âm nhạc. Nhiều hạnh phúc.

Nếu cho phép bần đạo được nói lên lời lẽ người Hà-Thành rất lanh và rất lợi, nhưng lại chẳng màng những lợi lộc thành danh, thì bần đạo sẽ tìm lời lẽ của thi nhân/văn sĩ hoặc chỉ là người kể truyện, rất bình thường, thì bần đạo sẽ bắt đầu như sau:

“Bố của Trùm Phỉnh chết đi, để lại cho Phỉnh 3 tấm bằng Tiến sĩ khống chỉ, không biết chạy chọt mua được ở đâu, dặn rằng:

-Con xem lũ con cháu trong nhà, những đứa nào khôn ngoan hơn người thì điền tên chúng vào đây, để nhà mình cũng nở mặt nở mày với thiên hạ.

Một hôm Trùm Phỉnh cùng với anh con trai và người con rể cùng ngồi uống trà. Nhìn ra sân thấy con ngỗng đứng một chân, Phỉnh thử tài:

-Các con hãy đưa ra một lý thuyết trước cảnh con ngỗng một chân!

Anh con trai mau miệng nói ngay:

-Không nên lấy cái tạm thời trước mắt để lập thuyết, thưa cha!

Phỉnh quát:

-Thằng này láo. Mày muốn xét lại ý của tao à?

Người con rể chậm rãi thưa:

-Thưa cha, mọi thứ trên đời nếu có một thì ổn định. Có nhiều, sẽ loạn. Trời chỉ một trời. Đất chỉ một đất. Nhà chỉ một cha. Ngỗng một chân, là cái lẽ nhất nguyên của trời đất, đó thôi!

Phỉnh sung sướng rút ra một bằng tiến sĩ, trao cho con rể.

Buổi uống trà hôm sau, con ngỗng bình thường lại đứng hai chân. Phỉnh hỏi:

-Ngỗng hai chân ứng với thuyết gì?

Anh con trai nói:

-Thưa cha ngỗng vốn hai chân, có gì mà nói!

Phỉnh lại quát:

-Thằng này láo. Mày muốn chống lại vai trò của bố mày ở cái nhà này, phải không?

Người con rể lễ phép thưa:

-Thưa cha, một sẽ phân hoá thành hai. Thế giới còn lại, chia hai phe. Ngỗng hai chân, là cái thế lưỡng phân, ai thắng ai đấy ạ!

Phỉnh sung sướng trao cho người con rể bằng Tiến sĩ thứ hai.

Buổi trà sau đó, con ngỗng vừa từ biệt con bạn gái của nó, sừng sững đứng cả ba chân. Phỉnh bảo:

-Ôi, cảnh tượng kỳ khú. Ngỗng 3 chân là do thuyết gì?

Anh con trai nói:

-Thuyết gì thì ngỗng vẫn hai chân, đó bố ạ.

Phỉnh giận tím mặt, quát:

-Mày thấy bố mày dân chủ, nên lợi dụng hả?

Nói rồi, cầm gậy đuổi anh con trai chạy đi biệt xứ. Riêng người con rể vẫn ôn tồn, thưa:

-Ba, là số lẻ. Là, trở về với Triết học Á đông. Ngỗng 3 chân là thế giới đại đồng rồi. Đây

là thế “đa phương hoà nhập”, cũng là thế ổn định chân vạc. Nhưng tuy làm bạn với tất cả mọi người, ta vẫn phải đề phòng mặt trái của nó. Đấy cha xem. Cái chân thứ 3 kia cứ thập thập thò thò, mọi thứ lăng nhăng tiêu cực đều do nó sinh ra cả!

Phỉnh vui sướng đến cực độ, nên trao nốt cho con rể tấm bằng Tiến sĩ thứ ba.

Trong buổi ăn mừng 3 bằng Tiến sĩ, một người trong làng hỏi người con rể:

-Anh nói ba lần ba lý thuyết khác nhau, thế có mâu thuẫn không? Có “cõ hội” không?

Người con rể nói:

-Mọi thứ đều vận động. Nhận thức ngày một đi lên. Lòng vòng như cái chôn con ốc. Phép biện chứng của sự phát triển là thế. Khẳng định rồi phủ định. Lúc cần nói ngược, thì quân tử nói ngược. Lúc cần nói xuôi, thì quân tử nói xuôi. Ừ thì “cơ hội” đấy. Cứ nắm vững tính hai mặt mà chơi thì mâu thuẫn gì tôi cũng vượt qua được tuốt!

Người ấy lại hỏi:

-Bí quyết gì khiến anh ứng xử thành công trong cả ba trường hợp vậy?

Người con rể trả lời một cách khiêm tốn, nhưng uyên bác:

-Cực kỳ đơn giản thôi. Khi tôi đã nguyện một lòng theo bố vợ tôi, thì tài năng cứ tự nhiên xuất hiện, chứ nhà tôi trước đây có khoa bảng gì đâu. Truyền thống cũng có khi do mình biết chộp giựt mà ra.

Phỉnh chết. Cả gia tài đương nhiên để lại cho người con rể. Hắn được cả chì lẫn chài.”

(Kể theo lời Hà Sĩ Phu, Sáng Trăng, CE 2004, tr. 111-112)

Dùng truyện kể, để so sánh. Áp dụng. Trường hợp của Hội thánh trong quá khứ, lẫn hiện tại. Có thể là việc hơi táo bạo. Nếu không muốn nói là xấc xược. Tuy nhiên, truyện kể hôm nay, không chỉ kể để minh hoạ. Hay minh chứng, điều gì. Vẫn như, một dẫn nhập cho nhận định, bảo rằng: Hội thánh là hội của các thánh. Cũng có mặt tự nhiên rất “người”, của mình.

Trên thực tế, nhiều người hay lẫn lộn Hội thánh với thần quyền. Hoặc, quyền rất thần. Của các bậc vị vọng, nắm quyền sinh sát, hết muôn dân. Nếu hiểu thế, cũng nên nhớ: thần quyền Hội thánh La Mã rất Va-ti-căng, còn là thế quyền. Phàm trần. Vấn đề, là: khi nói chữ “Hội thánh”, cũng nên xem đó có là Hội thánh. Rất Công giáo, không? Hội thánh ấy, có bao gồm duy nhất chỉ các Giám mục, ở trên còn có Giám mục La mã, đấng làm đầu, không?

Với tư cách là người đứng đầu uy quyền trần thế, một thể chế, Đức Giáo Tông cũng có thể ra toà, vì các hành xử của ngài trong Hội thánh Công giáo. Trên thế giới. Trong khi đó, hội thánh địa phương, cũng có đấng bậc cầm đầu. Cũng tập trung, ở giáo phận. Giáo xứ. Và, giáo dân là thành viên chấp nhận Đức Giáo Tông, là đấng làm đầu Hội thánh toàn cầu. Rất mực. Đó, là Công giáo. Đó, là Hội (rất) thánh. Tức, Hội (gồm các thành viên) thánh thiện. Rất mực. Nhưng, thực tế.

Có điều là: khi nói về Hội thánh, người đời thường nghĩ nhiều về khía cạnh trần gian, như tổ chức. Ít ai nghĩ đến tính thần thiêng. Linh đạo. Rất thánh. Vì thế, dễ ngộ nhận. Vì thế, dễ bực tức. Trách móc. Giận hờn.

Thật sự, thì: Hội thánh lúc đầu gồm một nhóm các đấng dấn bước theo chân Chúa. Được Chúa thương yêu giao trọng trách ra đi bôn ba khắp hang cùng ngõ hẻm, mà công bố Tin Vui. Điềm Lành. Hội-thánh-người-của-Chúa được Thần Khí tái tạo. Giáo huấn. Chúc phúc. Cứ thế mà đi. Đi, để rao truyền Điềm Lành. Tin Vui ấy. Vào mọi lúc. Có lúc thăng lúc trầm. Như cuộc sống.

Cuộc sống của Hội thánh, nay phát triển như mọi xã hội, thời đại. Thế nên, Hội thánh luôn gặp nhiều tình huống rất bức bách, như con người. Thời hiện đại. Hiện đại, ở điểm: là thành viên Hội (các) thánh, ta cần minh chứng bằng cuộc sống phản ánh ý định của Thiên Chúa, với và trong thế giới hiện thời. Tức, thể hiện lòng thương yêu. Giúp đỡ. Hết mọi người. Không phân biệt giàu/nghèo. Chí ít, là những người mang thân phận tự ti. Thấp kém. Nghèo hèn.

Thành viên Hội (các) thánh, là nhóm hội của những người quyết đấu tranh/nguyện cầu cho công bằng. Sự thật. Bất cứ nơi đâu. Khi nào. Vẫn là việc khẩn thiết. Thành viên Hội thánh, còn phải chứng tỏ cho mọi người thấy: mình không là “người hành tinh”, từ trời rơi xuống. Nhưng, biết đau với cái đau của người bệnh. Khóc, với nỗi than và khóc của kẻ mất mát. Âu sầu. Buồn khổ.

Thành viên Hội thánh, còn phải biết khuyến khích hết mọi người, trong cũng như ngoài Đạo. Biết, san sẻ một phần cuộc sống của mình, cho những người. Những quốc gia. Hội thánh khác điều họ đang cần. Thành viên của Hội thánh Công giáo, không chỉ mang mỗi tên tuổi. Biệt hiệu. Rất riêng lẻ. Nhưng, biết hoà mình đến với mọi người. Để, nói cho họ biết: Thiên Chúa thương yêu mọi người. Rất hết mình.

Thành viên Hội thánh Công giáo, là người thuộc cộng đồng. Vẫn mang trong mình, những thắc mắc ưu tư, như lời của tác giả bài báo viết như sau:

“Về cảnh tình người Công giáo hôm nay, Flannery O’Connor có lần từng viết: ‘Chúng ta đang khốn khổ vì Hội thánh. Khốn khổ, vì đang bị tràn ngập những câu hỏi, từ những người cho mình là bạn với người Công giáo, như: “Làm sao bạn vẫn cứ ở lại với Hội thánh, thế?”

Trả lời cho những câu hỏi như thế, tôi thường nhấn mạnh vào ngôn từ thường làm cho mình đi trệch đường rày như dùng cụm từ “Hội thánh”, nhiều người nghĩ ngay đến: nào là “hệ cấp quyền bính”; “Giám mục’, hoặc “Toà thánh”. Những ai kinh qua thời kỳ rộn lên với cuộc chiến Việt Nam hẳn còn nhớ, là thời ấy, cũng có người vấn hỏi: “Làm sao các bạn cứ tự hào mình là người Mỹ, đến như thế?” Mỗi lần nghe hỏi, tôi đều bảo ngay: Bọn tôi đâu có là tòa Bạch Ốc! Cũng chẳng Ngũ Giác Đài. Lại cũng là những người phản đối chiến tranh, thôi.”

Hệt như thế, cụm từ “người Mỹ”, “Hoa Kỳ”, mang nhiều ý nghĩa hơn tự bao hàm. Sao tôi phải tin rằng Hội thánh vẫn cứ phải là Giáo Hoàng Bênêđíchtô 16 mà không là các nữ tu can đảm, từng thách thức các giám mục Hoa Kỳ về hệ thống y tế khi các vị cứ nhân danh người nghèo, để rồi làm chuyện này nọ? Nữ tu là những vị cống hiến cả đời mình cho Hội thánh, với tư cách là nữ tu. Là, y tá. Nhân viên viên xã hội.

Hội thánh có cả một lịch sử rất dài rộng. Lịch sử này bao gồm cả những tay vô tích sự lẫn các nhà anh hùng như thánh nữ Gioan thành Arc, như Giám mục Oscar Romero, đó là chỉ kể tên mỗi hai vị, thôi.

Hội thánh không phải là thể chế. Hội thánh là chúng dân. Là, những người hiện nay đang mang thương tích, với tai tiếng đủ loại. Tai tiếng không chỉ mỗi mặt lạm dụng tình dục, mà còn bao che. Phủ vùi. Năm 1959, khi Đức Gioan XXIII được bầu làm Giáo hoàng, người ta coi đó như một phép lạ, cho Hội thánh. Phép lạ từng xảy đến. Sẽ còn xảy đến như thế, một lần nữa. Bởi thế ta cứ nên hy vọng, dù mong manh, để phép lạ rồi sẽ đến với Hội thánh. Phải làm sao để mỗi người chúng ta có mặt tại nhà, khi phép lạ xảy đến.” (Mary C Gordon, Why I stay: a Parable From A Progressive Catholic, The Huffington Post, 6/4/2010)

Nói cho cùng, thì thành viên Hội thánh, là người biết hoà mình với người ở ngoài. Những trông chờ vào phép lạ cho chính mình. Vẫn cứ hy vọng trong ca hát. Hát và ca, bằng lời thơ ý nhạc rất đời thường, như :

“Em đến thăm Anh một chiều mưa,

Mưa dầm dề, đường trơn ướt. Tiêu điều.

Em đến thăm Anh. người em gái,

tà áo hương nồng, mắt huyền trìu mến.

Suởi ấm lòng Anh.”

(Tô Vũ – bđd)

Quả thật, thế giới hôm nay, có rất nhiều người Anh/người Chị trong Hội thánh, vẫn cứ chờ phép lạ, để người “em” đến thăm. Mà sưởi ấm. Bởi, lòng người anh/người Chị, nay chai đá. Chán chường. Chai, vì cuộc sống. Chán, vì người đời. Nên, cứ mong và hát những câu:

“Gió đưa cánh chim trời,

Đó đây, cách xa vời.

Chiều vui, mưa ướt cánh.

Khá thương kiếp bềnh bồng.

Dẫu khăng khít đôi lòng

Chiều nào em xa anh…”

(Tô Vũ – bđd)

Chiều vui. Mưa, dù ướt cánh. Anh và em, vẫn cứ thương. Cứ đến. Đến, như cánh chim, thương kiếp bềnh bồng. Khắng khít đôi lòng. Bởi, còn đó Hội thánh, thì người “em” là thành viên vẫn cần đến tình thương, hơn tranh chấp. Vẫn muôn đời. Cho mọi người.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn cứ mong và ngóng.

Một Hội thánh.

Rất như thế.

13. “Người ở đâu, ôi người ở đâu?”
Cỏ xanh, còn áp má những đêm sầu
Dế giun, còn tiếc mùa ân ái
Từng phiến trời mang, bao vết thương …

(Phạm Duy & Du Tử Lê – Tình Sầu)

Mt 19: 17

Có người trẻ. Ở quê người. Khi nghe người mình hát nhạc vàng/nhạc trẻ, bèn phán ngay một câu, rất xanh rờn. Câu ấy, như thế này: “Nhạc Việt mình, sao cứ ới gọi những đau thương!” Bần đạo đến nay chỉ học/biết láp nháp vài ba câu vui thú với lời bàn rất “Mao Tôn Cương” như ở trên, bèn thấy lòng mình xốn xang, đôi ba tình tiết. Rất phản bác.

Đã đành, nhạc Việt mình đôi lúc nghe hơi buồn. Hơi bị buồn một chút, thôi. Nhưng, nào ới gọi thương đau, với lại thương tích đâu nào nhỉ? Này, bạn trẻ! Thương đau/thương tích, có chăng chỉ vì lòng mình ngổn ngang trăm bề/trăm mối, tối nằm nghe. Chứ nào thấy thơ nhạc/nhạc thơ ngổn ngang trăm mối, khiến mình nổi cơn lên một mối, rất như ri:

“Người ở đây, ta cũng ở đây,

lòng không như mặt, mà lòng lệ tràn đầy.

Chân đi theo gió, sầu ba hướng,

Tay với một trời, trời mưa bay.”

(Phạm Duy & Du Tử Lê – bđd)

Trời mưa bay. Sầu mấy hướng. Mưa sầu – mây bay, thấy có đấng bậc vẫn cứ hỏi và hỏi. Hỏi rằng: phải chăng khổ đau lau nhau những sầu buồn, nay đã hiện diện, nơi nhà Đạo. Nhà rất đạo, nào đâu thấy cảnh sầu đau/đau đầu, nhiều nhân ái. Ưu ái cùng thân thương, Đạo mình vẫn cứ chung tình mừng vui an bình có Chúa cạnh bên. Rất nên tin.

Bằng chứng, ư? Dạ, không dám. Bần đạo chỉ dám ghi/dám chép nơi đây mẩu truyện ngăn ngắn, mới vừa nhận. Qua điện thư, như sau:

“Truyện kể đôi điều xảy ra ở phòng mạch. Có vị bác sĩ rất chuyên khoa hỏi/đáp, láp nháp chuyện trẻ con. Vẫn cứ thế:

-Cháu đây tên gì vậy?

-Dạ cháu nó tên Mai, thưa bác sĩ.

-Tên Mai à? Tôi đoán không lầm, thì: trước khi sinh cháu, chắc là chị thích hoa mai vàng ghê lắm nhỉ?

-Còn cháu này tên gì?

-Dạ thưa, con tôi tên Hồng!

-Lại một sắc mầu tuyệt đẹp nữa. Có phải trước khi có bầu sinh cháu, chị cũng thích hoa hồng lắm phải không?

-Thế, cháu này tên gì?

-Thưa, tên cháu chẳng có gì hay ho cả. Thôi, xin hẹn bác sĩ lần sau mẹ con tôi sẽ đến.

Cu ơi, thôi mình về đi con. Ở đây riết rồi bác sĩ với y tá cứ hỏi tên tuổi rồi đặt bày chuyện hiểu lầm cho mà coi…!

Hiểu, có lầm hay không, vẫn là thói quen của người mình, những hỏi han. Hỏi han, lan man nhiều thứ/nhiều chuyện, khiến ta nhớ. Nhớ chuyện lan man thuở trước, có tình tiết/thơ văn. Rất ngoài đời. Và nhà Đạo, nên bàn thảo cho rõ nghĩa.

Chính vì, sợ có hiểu lầm nên nhiều người đôi lúc cũng đã hỏi. Hỏi, như có người từng hỏi Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII về con số các vị đang làm việc tại Toà Thánh, Đức Gioan XXIII trả lời: “Chừng phân nửa!” Hẳn là, câu trả lời của Đức Gioan XXIII, chỉ nói lên phân nửa sự thật, về sự đời. Nhưng, về toàn bộ sự thật Toà thánh, chắc còn phải hỏi nhiều hơn.

Về những hỏi han, còn nhớ có vị từng hỏi Thầy Chí Thánh, với những câu:

Đức Giê-su nói:

Sao anh hỏi tôi về sự tốt lành?

Chỉ có một Đấng tốt lành.

Nếu anh muốn vào cõi sống,

thì hãy giữ các giới răn."

(Mt 19: 17)

Thật ra có hỏi han, mới am hiểu. Am hiểu tình hình sự việc. Am hiểu. Am hiểu cả những chi tiết, rất khó biết. Khó tường. Như câu hỏi về Toà Thánh, rất Vatican. Sau đây:

“Xin ngài giải thích cho biết, đôi chi tiết về cụm từ “Toà Thánh La Mã”, tức Vatican. Chẳng hạn như, có người bảo: Đức Giáo Hoàng sống ở “điện” Vatican. nhưng có người lại nói: các văn kiện này là do bên Vatican đề xuất, quyết định… Vậy thì, Vatican đích xác là gì?

Đã xin hỏi, thì hôm nay “đức ngài’ cũng sẽ thưa và sẽ đáp. Đáp rất mực. Thực chính xác, đó là điều nên làm. Và, nên thưa. Từ đấng bậc chuyên thưa thốt. Rất bài bản. Ở Sydney như sau:

“Như ông/bạn đề cập trong câu hỏi, cụm từ “Toà Thánh La Mã” (còn gọi là Vatican), đem đến cho ta một số những thực tại tuy có khác, nhưng rất liên đới.

Khi nói: Đức Giáo Hoàng đóng đô ở Va-ti-căng, là ta qui về phòng ốc, đất đai do Ban Quản Trị Hội Thánh, vẫn đứng trụ. Nói theo cung cách ngoại giao, thì phải nói: đó là Quốc Gia Va-ti-căng. Một quần thể/đất nước có đủ quyền lực như quốc gia, nhỏ nhất thế giới, với một diện tích rộng không đầy 40 héc-ta. Cung điện này, chứa đựng khoảng ngàn người, sống ở đó.

Điện Va-ti-căng gồm Đền Thánh Phêrô nổi tiếng thế giới. Ngoài ra, còn một số dinh thự/cao ốc, nơi Đức Thánh Cha ở, chiếm một phòng nhỏ, còn lại là các văn phòng thuộc Giáo triều Rôma, Bảo tàng viện Va-ti-căng, Nhà Khánh Tiết Phaolô Đệ Lục, và Vườn Thượng Uyển Va-ti-căng, vv.

Đất nước Va-ti-căng còn có chủ quyền trên một số cao ốc khác toạ lạc ở La Mã, trong đó phải kể đến Vương Cung Thánh Đường Gioan La-tê-ra-nô, nhà thờ Đức Bà Cả và đền thánh Phaolô, ở bên ngoài, các văn phòng dành cho các thánh bộ thuộc Giáo triều La Mã và biệt thự Castel Gandolfo, dành riêng cho Đức Giáo Hoàng, nằm ở phía Đông-Nam thành đô La Mã.

Quốc gia Va-ti-căng có vị chủ tịch nước, tức Đức đương kim Giáo Hoàng trị vì, nhưng được Uỷ Ban Giáo Hoàng coi về hành chánh cho toàn nước Va-ti-căng. Xem như thế, Đức Giáo Hoàng có hai vai trò chính: vừa đứng đầu Hội thánh Công giáo một cách hữu hình, vừa là Chủ tịch nước, cai quản quốc gia Va-ti-căng, trên thực tế.

Khi nói Va-ti-căng theo tư cách quốc gia, là nói như thế. Tức bảo rằng, Va-ti-căng có hệ thống tem bưu điện, có đội bảo vệ riêng, vv. Tuy nhiên, về ranh giới, nước Va-ti-căng được bao bọc bởi toàn bộ nước Ý, hoặc đúng hơn, phải nói là thành phố La mã. Và, nước này tuỳ thuộc khá nhiều vào phần lớn các dịch vụ, ở Ý.

Quốc gia Va-ti-căng được thiết lập, mới đây thôi. Tức là, từ năm 1929. Theo hiệp ước La-tê-ra-nô thì, kể từ niên biểu này, giữa Đức Thánh Cha và nhà cầm quyền nước Ý, có quan hệ rất mật thiết. Cũng theo hiệp ước này, thỉ Đức Giáo Hoàng dù là vị quốc trưởng tạm thời thôi, Ngài cũng có quyền cai quản các tiểu quốc thuộc Giáo triều của ngài trên phần đất rộng lớn ở Ý, mãi đến năm 1870, khi các tiểu vương quốc sụp đổ.

Hiệp ước La-tê-ra-nô công nhận Quốc gia Va-ti-căng như một thể chế chính trị biệt lập, có đất riêng tuy nhỏ, nhưng bảo đảm quyền tự trị của Giáo hội độc lập với bất cứ quốc gia nào khác.

Ai muốn đệ trěnh điều gì lên Đức Giáo Hoàng, hoặc ai sinh sống và làm việc cho Va-ti-căng, thì địa chỉ phải ghi ở bên dưới, là: Thủ đô Va-ti-căng. Và, địa chỉ điện thư hay trang mạng sẽ kết thúc bằng hai chữ “.va”, tức Va-ti-căng.

Khi nói Va-ti-căng đưa ra bất cứ văn kiện hoặc tuyên ngôn nào, là ta qui chiếu về Đức Giáo Hoàng và các thánh bộ hỗ trợ để ngài cai quản Hội thánh Công giáo. Còn, danh xưng chính xác nhất để gửi đến ngài, đều phải ghi: Trọng kính gửi Đức Thánh Cha.

Điều khoản 361 trong Giáo luật có nói: “Danh xưng Đức Giáo Tông hoặc Đức Thánh Cha không chỉ mang ý nghĩa qui về Đức Giám Mục thành La Mã, thôi; nhưng, ngoại trừ những gì có tính cách phản nghịch bản chất của vụ việc, hoặc bối cảnh về ngôn ngữ, thì danh xưng ấy là để chỉ Bộ Ngoại Giao Toà Thánh, Hội Đồng Công Vụ Toà Thánh và các thánh bộ thuộc Giáo triều La Mã.”Văn phòng các thánh bộ này đều chỉ về Giáo triều Va-ti-căng.

Nói rõ hơn, Hội đồng Công Vụ Toà Thánh nay sát nhập vào Bộ ngoại Giao Toà Thánh, như một phân bộ có nhiệm vụ giao dịch với các quốc gia khác trên thế giới.

Mỗi văn kiện, dù xuất từ văn phòng thánh bộ nào đó thuộc Giáo triều, tỉ như Thánh Bộ Truyền Giáo hoặc Tín Lý, Phụng Vụ, cũng được coi như do chính Đức Giáo Hoàng ban ra.

Điều này ghi rõ ở Giáo luật số 360, như: “Đức Thánh Cha thường cai quản mọi công việc của Hội thánh Công giáo trong Giáo triều, đều có tác dụng như do chính Ngài quyền làm thế, vì mục đích phục vụ toàn thể Hội thánh.”

Giáo triều La Mã gồm nhiều văn phòng thuộc các thánh bộ khác nhau, như các thánh bộ chính, trích ở trên. Ngoài ra, ta thấy có 9 thánh bộ, 3 toà hoà giải và 11 Hội đồng Toà Thánh. Tất cả đều phục vụ cho Giáo triều La Mã.” (X. John Flader, The Catholic Weekly, ngày 11/10/2009 tr. 10)

Thực tại trần thế, có bề thế như thực tại Toà Thánh La Mã rất Vatican. Cho nên, khi nói đến những điều thực tế rất “có thực mới vực được Đạo”. Và, Đạo Chúa còn thực tế hơn, khi Đức đương kim Giáo Hoàng, lại đề cập đến những thực tại trần thế, với tư cách là thế giới của thời đại thông số với truyền thông, như:

“Kỹ thuật truyền thông hôm nay là món quà quý báu cho nhân loại.

Chúng thăng tiến sự cảm thông và tình liên đới giữa con người.

Đặc biệt, với các cộng đoàn và những người cần giúp đỡ.”

(X. Tông Thư “Ngày Truyền Thông Thế Giới 2010”)

Thực tại trần thế ta vẫn gặp, sẽ còn như Đức Thánh Cha Biển Đức XVI từng nhấn mạnh:

“ Vai trò của Hội Thánh (trong vụ việc này), không phải để lấp đầy khoảng trống trên trang mạng. Mục tiêu Toà Thánh nhắm đến là để tỏ cho thế giới thông số biết rằng: “Thiên Chúa yêu thương dân Người qua Đức Kitô không chỉ như một dụng cụ thời quá khứ hoặc thuyết lý, nhưng như thứ gì cụ thể và duyên dáng, rất hấp dẫn.” (X. John Thavis, Pope Tells Priests to Use Video, Web, The Catholic Weekly 31/01/2010, tr.7)

Xem như thế, thì khi nói về và nói đến Toà Thánh là nói theo tư thế của người tín thác, rất yêu thương. Tin yêu ký thác mọi việc. Vào mọi nơi. Mọi lúc. Cả những lúc, có người nhận định rằng: mọi việc ở đời đều tùy thuộc vào cái tâm, của con người. Như câu truyện kể, nghe cũng dễ, ở bên dưới:

“Truyện rằng:

Thời xưa cũ, có cô lái đò đưa khách sang sông. Đò cập bến nhỏ, cô lái đò thu tiền từng người. Đến lượt nhà sư nọ người cuối, cô đòi tiền gấp đôi. Nhà sư ngạc nhiên, hỏi: tại sao lại thế? Cô lái đò mỉm cười đáp:

-Vì thày nhìn em…

Nhà sư bèn im lặng trả tiền, chẳng nói gì thêm. Hôm khác, nhà sư cũng lại có dịp lên đò qua sông. Lần này, cô lái đòi tiền gấp ba. Nhà sư lại hỏi: vì sao. Cô cũng lại đáp gọn lỏn:

-Vì, lần này thày nhìn em ở dưới nước.

Nhà sư cũng lẳng lặng trả tiền gấp ba, xong lên bờ. Một lần khác, nhà sư cũng lại có dịp qua sông, bèn dùng đò. Nhưng lần này, nhà sư biết phận chẳng dám nhìn. Cứ nhắm nghiền cặp mắt đăm chiêu kia, vào thiền định. Đò cập bến, cô lái lại thu tiền, đến gấp năm. Nhà sư cũng lại hỏi cớ sự vì sao, thì được biết:

-Lần này, thày không nhìn, nhưng lại cứ nghĩ đến em.

Nhà sư cứ ớ người, chẳng biết nói sao, cũng lại lẳng lặng đưa tiền rồi bước lên bến. Một lần khác, nhà sư có việc lại theo đò qua sông… Lần này, nhà sư nhìn thẳng vào mặt cô gái để xem sao. Đò cập bến, nhà sư cười và hỏi xem cô định thu bao nhiêu. Cô ta đáp:

-Em đưa thày qua sông, không lấy tiền.

Nhà sư hỏi:

-Vì sao thế?

-Dạ lần này, thày tuy nhìn nhưng không nghĩ tới em nữa. Vì thế, em chỉ xin đưa thày qua sông mà không tính tiền…”

Tác giả truyện kể hôm nay thêm lời chia sẻ rất phải lẽ: Mọi sự do Tâm mà ra. Sống ở đời, chữ Tâm kia mới đáng quý. Gọi là chia sẻ, nên người nghe cũng bàn góp. Góp, bằng giọng hát rất nhẹ. Có lời ca vang cũng rất nhẹ. Nhẹ, như tơ lòng. Tình sầu. Rất thương đau, nhà thơ viết. Tình sầu, là tình chẳng có tâm nên mới sầu. Mới hát như sau:

“Ta như sương cao mà người như hoa sâu

Ta giối gian nhau nên nát nụ hôn đầu

Tình đi từng bước, đi từng bước trên đầu gió

Gieo nhau lòng nhau ôi từng hạt thương đau.”

(Phạm Duy/Du Tử Lê – Tình Sầu)

Tình rất sầu, phải chăng người mình, chẳng có “Tâm”? Đời có thương đau, há chẳng phải vì người đời quên khuấy mất lời dặn dò, ngày xưa đó? Lời dặn của Thầy Chí Ái chừng như vẫn cứ văng vẳng ở đâu đây, rất ý nghĩa:

“Đức Giê-su bèn nói tiếp:

Nếu anh muốn nên hoàn thiện,

hãy đi bán tài sản của anh

và đem cho người nghèo,

anh sẽ được một kho tàng trên trời.

Rồi hãy đến theo tôi."

(Mt 19: 21)

Thực hiện điều Thầy dặn dò, chắc hẳn người thanh niên được kể trong Tin Mừng, hay cô lái được trích dẫn ở truyện kể, cũng sẽ thấy, rằng: có “Tâm” thôi, cũng chưa đủ. Còn phải biết bán tất cả, dù cái “Tâm”, mà theo Thầy, rồi sẽ thấy. Thấy những gì, mình tìm kiếm. Suốt một đời. Không ngưng nghỉ.

Trần Ngọc Mười Hai

mời bạn và mời tôi

ta cứ nghe và cứ tìm,

Suốt cõi đời.

Nơi trần thế.

14. “Chiều buồn len lén tâm-tư”
Mơ hồ nghe lá thu mưa
Dạt dào tựa những âm xưa
Thiết tha ngân lên lời xưa”

(Cung Tiền – Hoài cảm)

Mt 16: 18-19/Ga 21: 15-17

Bần đạo có người thầy, dạy môn triết, khi xưa từng cho biết: tâm lý người đời, thường nổi bật với những cãi vã. Đấu tranh. Giành giựt. Nơi đời người, có nhiều người đời, thường đấu tranh vào những “chiều buồn len lén tâm tư”, với giựt giành. Giành ăn. Giành gái. Giành quyền.

Ở đời thường hôm nay, lại có tác giả/tác thiệt, rày cũng viết. Ông viết nhiều. Về “quá trình lịch sử”, thời xưa cũ. Mới đây thôi, ông có viết: “Tại Orange County, có 3 mục tiêu mà những kẻ muốn kiếm ăn hay kiếm danh thường tìm cách đánh chiếm, đó là: hội chợ Tết, diễn hành Tết; và lễ Tưởng niệm ngày 30 tháng Tư.” (x. Lữ Giang, Chuyện Buồn Tháng Tư, motgoctroi.com 23/4/2010)

Hỡi bạn và tôi, nếu để lòng mình “len lén tâm tư” như nghệ sĩ, ta sẽ có đôi ba ý tứ, như sau:

“Quạnh hiu, về thấm không gian

âm thầm, như lấn vào hồn.

Buổi chiều, chợt nhớ cố nhân.

Sương buồn, lắng qua hoàng hôn.”

(Cung Tiến – bđd)

Nhớ cố nhân hôm nay, bầu bạn vài nơi nay cứ hỏi: có chăng một thái độ: giành ăn và giành quyền, ở nhà Đạo? Còn chăng: những cãi tranh. Giành giựt. Quyền hành xử? Tức, quyền để hành và để xử? Nói cho nhẹ, thì: đâu là quyền của Đức Giáo Hoàng? Và, Giám mục. Trong Hội thánh?

Với câu này, có người Tây/người Úc cũng đã từng gợi ý. Gợi một ý, chỉ để nêu ra thắc mắc/ưu tư, vẫn thường gặp. Trong đời. Đời đi Đạo. Và, giữ Đạo. Gợi ý đây, là gợi lên một ý nghĩ cỏn con của giáo dân nọ, ở Sydney. Tức, người anh/người chị có những hỏi han, rất như sau:

“Vừa rồi, đọc tin/bài trên báo ở đâu đó, thấy có một nhận định, bảo rằng: quyền uy tối cao trong Hội thánh, nay thuộc về Đức Giáo Hoàng và các Đức Giám mục, vẫn cùng nắm. Theo tôi, chỉ duy Đức Giáo Hoàng mới là đấng bậc chốn cao sang trên ấy, mới là người độc nhất nắm giữ quyền bính ấy, chứ nhỉ? Viết thư này, rày xin hỏi: nhận định như thế, có vội vã lắm không? Xin ngài giải thích cho biết, để còn theo. (người hỏi chẳng ký tên)

Lại thêm một câu hỏi, không ghi tên tuổi và điạ danh, người thắc mắc. Nơi nào. Hỏi han/thắc mắc, có thể do người viết, tự nghĩ ra. Có thể, là do người đọc vừa biết đến. Thôi thì, ai hỏi/ai nói, mà chẳng được. Hỏi hay nói, cũng vẫn cần lời giải đáp công khai. Minh bạch. Vậy nên, câu hỏi tự khắc được chuyển đến đấng bậc thành thạo, của nhà Đạo. Thuộc cơ quan truyền thông báo chí rất Đạo mình có tên gọi nghe quen, là: Đức thầy John Flader, đấng chủ quản mục hỏi/đáp của Tuần Báo The Catholic Weekly Sydney, với lời dẫn như sau:

“Tôi thiết nghĩ, đa số người Công giáo chúng ta, đều cùng một ý nghĩ, như anh/chị. Tức là, trên thực tế, Đức Giáo Hoàng và các Giám Mục đều được uỷ thác quyền bính tối cao, như anh/chị nghĩ. Nhưng, để vấn đề được sáng tỏ, tôi mạn phép đưa ra một giải đáp, cho câu hỏi này.

Khi xưa, Chúa lập nên Hội thánh, Ngài bắt đầu bằng việc chọn mười hai Tông đồ, rất hăng say. Chúa trao cho Tông đồ Ngài, bài sai: hãy ra đi thâu nạp muôn dân. Giảng giải. Và, thanh tẩy họ. Đồng thời, hãy truyền cho họ dấu ấn của nhiệm tích thánh, để nhận lãnh. Và, hãy trở nên mục tử chăn dắt chiên đàn Hội thánh, của Ngài.” (Mt 28: 18-20)

Và rồi, trong các Tông đồ Chúa chọn, thánh Phêrô được chỉ định làm đá bục nền tảng cho Hội thánh. Chúa cũng uỷ thác cho Thánh nhân quyền uy tối thượng là biểu tượng đặt nơi chìa khoá Vương Quốc Nước Trời. Thánh nhân có quyền cầm buộc ai và tháo gỡ mọi đường dây/mối nhợ về quyền bính, nơi Hội thánh.” (x. Mt 16: 18-19)

Sau Phục Sinh, Chúa còn đặt để Thánh nhân làm Mục tử đầu đàn hầu chăn dắt Hội thánh của Ngài, nữa.” (x. Ga 21: 15-17).

Kể từ đó, các thánh Tông đồ, đặt dưới quyền điều động của vị trưởng thượng là thánh Phêrô, đều đã tuân phục quyền bính tối cao của ông, trong Hội thánh. Điều này, được nêu rõ tại “Công Nghị Giêrusalem”. Vào thời đó.

Tại Antiôkia, đã nổi lên một vài thắc mắc có liên quan đến các vị trước đây là dân ngoại, nay hồi hướng về với Đạo Chúa, các ngài buộc phải chịu phép cắt bì, thì khi đó vấn đề trên được chuyển đến các tông đồ/nhân sĩ trong Đạo ở Giêrusalem, hầu giải quyết.

Sau khi vấn đề trên được công khai tranh luận, thánh Phêrô bèn đứng lên đề nghị một giải pháp, lúc ấy nghị trường im ắng. Lắng nghe. Trong tuân phục. Đề nghị của Thánh Phêrô sau đó được chấp thuận. Và, một số vị được đề cử làm đại diện cho Công nghị đi Antiôkia cùng với thánh Phaolô và Banaba ngõ hầu chuyển đạt nghị quyết, của các ngài. (x. Sách Công vụ 15: 1-35).

Xem như thế, ta thấy: vấn đề nào có tầm mức quan trọng, ảnh hưởng lên đời sống của Hội thánh, đều được các Tông đồ Chúa giải quyết, dưới sự lãnh đạo của thánh Phêrô, đấng làm đầu.

Nhiều thế kỷ sau đó, Giám mục là những vị kế tục các thánh Tông đồ, cũng đã gặp nhau tại Công đồng Đại kết dưới sự lãnh đạo của Đức Giáo Hoàng, là đấng trực tiếp kế vị thánh Phêrô, giúp ngài giải quyết tốt đẹp các vấn đề có tầm mức rất quan yếu.

Tuy nhiên, mối tương quan giữa Đức Giáo Hoàng và Giám mục, không phải lúc nào cũng sáng tỏ. Được hiểu rõ. Vào thế kỷ thứ 12 và 15, các vị phụ trách viết luật Hội thánh, lại đã tranh cãi về điều-gọi-là Học thuyết Công Đồng”, theo đó thì Công Hội Giám mục có quyền trên cả Đức Giáo Hoàng. Và, đôi lúc lại có cả quyền bãi nhiệm ngài, nữa. Thời Công Đồng Vatican II đang diễn biến, một số nghị phụ cũng có ý định đề nghị Công Đồng Chung bàn cả về mối tương quan giữa Đức Giáo Hoàng và hàng Giám mục. (x. J. Herranz, En las Afueras de Jericó, Rialp Madrid 2007, tr. 72)

Rất may là, Công Đồng Vatican II đã nhanh chóng giải quyết vấn đề này bằng Hiến chế về tín điều Hội thánh, mang tên Ánh Sáng Muôn Dân, được các nghị phụ bỏ phiếu với tổng số 2134 phiếu thuận và chỉ có 10 phiếu chống, mà thôi.

Văn bản trên rõ ràng nói: cả Đức Giáo Hoàng lẫn hàng Giáo phẩm đều có quyền lớn lao đối với Giáo hội toàn cầu. Tuy nhiên, Đức Giáo Hoàng là thủ lãnh có chức năng thi hành quyền bính tối thượng, lại không bị uy lực nào cản trở. Cũng không cần hội ý các Giám mục. Trong khi đó, các giám mục chỉ thực hiện quyền uy của mình với sự đồng thuận của Đức Giáo Hoàng, thôi.

Về quyền của Đức Giáo Hoàng, Hiến Chế ghi rõ: “Quyền của Đức Giáo Hoàng ở trên mọi quyền bính nào khác, đối với các vị chủ quản, cũng như giáo dân. Quyền của Đức Giáo Hoàng luôn ở vị trí vẹn toàn. Không suy thoái. Bằng vào tư cách của đấng được Chúa uỷ thác việc cai quản Giáo hội, Đức Giáo Hoàng có trọn quyền bính tối thượng trên hoàn vũ, đối với toàn thể Giáo hội. Ngài luôn ở trong tư thế tự do, ngõ hầu ngài có thể sử dụng quyền lực này, cách trọn vẹn.” (H/C Ánh Sáng Muôn Dân # 22)

Với hàng giám mục, Hiến Chế cũng viết: “Các Giám mục, là những vị có quyền kế vị các Tông đồ và thể hiện sức sống của Hội thánh, cũng có thực quyền lớn lao và trọn vẹn tương tự đối với Giáo hội, miễn là mọi người phải hiểu rằng các Giám mục cùng với vị thủ lãnh Giáo hội là Đức Giáo Hoàng mà thi hành quyền. Và, không bao giờ vắng mặt Đức Giáo hoàng khi thi hành quyền này. Các giám mục chỉ thi hành quyền lực khi có sự đồng thuận của Đức Giáo Hoàng, mà thôi.” (H/C Ánh Sáng Muôn Dân #22).

Các Giám mục cũng thực thi quyền bính của các ngài với toàn Giáo hội, trong khuôn khổ của Công đồng đại kết, nhưng Đức Giáo Hoàng vẫn làm việc chung với các ngài để mọi quyết định được phổ biến trên toàn thế giới, khi ngài triệu tập để có được hành động tập thể hoặc ít ra, chuẩn thuận nghị quyết của tập thể Giám mục. (x. H/C Ánh Sáng Muôn Dân #22).

Nói tóm lại, cả Đức Giáo Hoàng lẫn hàng Giáo phẩm đều có quyền tối thượng trong Hội thánh. Nhưng, các Giám mục chỉ thực thi quyền của mình theo qui cách kết hợp với uy quyền tối cao của Đức Giáo Hoàng, là đấng làm đầu của các ngài”. (x. John Flader, The Catholic Weekly 25/4/2010, tr.12)

Rõ ràng là, uy và quyền trong Hội thánh, đều minh bạch. Rạch ròi. Là như thế. Mỗi vị, một địa hạt. Mỗi cụ, một chức năng. Không ai lạm dụng. Đụng độ. Hoặc, dẫm chân nhau. Vẫn cứ, tương kính như tân. Như vào thời khắc Chúa uỷ thác. Minh định. Bởi thế nên, hội thánh vẫn tồn tại. Triển nở.

Hội thánh, là hội của các thánh. Sống ở trần gian. Chốn phàm tục. Người đời gọi đó là xã hội. Là tập thể qui tụ nhiều nhóm người cùng chung một sinh hoạt. Hội thánh, tức xã hội “thánh”, một tập thể gồm các thánh nhân sống đời hiền hoà, thờ phụng Chúa. Thế nên, vai trò của (xã) hội thánh là thánh hoá xã hội mình đang sống. Xã hội phàm trần gặp nhiều vấn đề, thì đương nhiên các thánh sống trong tập thể/xã hội cũng bị vướng mắc. Hệt như thế.

Vướng mắc gần đây nhất, là những vướng và mắc, rất đời thường. Của xã hội. Ở (xã) hội thánh, mới vừa xảy đến vài vướng mắc mà người đời thường gọi là “lạm dụng quyền lực”, như nhận định của sử gia người Anh, Michael Walsh sj, như sau:

“Vấn đề thực sự là lạm dụng quyền lực. Nhiệm vụ chăm sóc, mà các vị mục tử phải làm với chiên con. Điều đó bị lạm dụng và đó là bê bối lớn nhất, là vấn đề hệ thống, hơn là chuyện lạm dụng tình dục…” (x. Aidan Lewis, Đằng sau vụ bê bối tình dục Công giáo, BBC News 4/5/2010)

Có chuyện lạm dụng quyền lực trong Hội (của các) thánh hay không, vẫn không là chuyện ta ưu tư thắc mắc. Bởi, có thắc mắc cho lắm, cuối cùng cũng chẳng đạt cửa ngõ cuối đường hầm, đầy tăm tối. Chi bằng, cứ ung dung mà suy và nghĩ về những điều tích cực mà hội (của các) thánh mình đang làm. Có như thế, mới ung dung, lại rung đùi mà hát tiếp lời của nghệ sĩ dẫn ở trên, từng hát:

“Lòng cuồng điên vì nhớ

ôi đâu người, đâu ân tình cũ?

Chờ hoài nhau trong mơ.

Nhưng có bao giờ, thấy nhau lần nữa

Một mùa thu xa vắng.

Như mơ hồ về trong đêm tối.

Cố nhân xa rồi, có ai về lối xưa?

(Cung Tiến – bđd)

Về lối xưa. Có, ân tình cũ. Là, những thứ mà bạn và tôi, ta cứ “cuồng điên vì nhớ”. Nhớ người. Nhớ Lời. Nhớ Đấng bậc từng dạy bảo, sau lúc trao quyền tối thượng cho Phêrô thánh nhân:

“Đức Giê-su Ki-tô tỏ cho các môn đệ biết:

Người phải đi Giê-ru-sa-lem,

phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục,

các thượng tế và kinh sư gây ra,

rồi bị giết chết,

và ngày thứ ba sẽ sống lại.”

(Mt 16: 21)

Thì ra, có được quyền Chúa trao ban, cũng phải kinh qua nhiều khổ ải, như Thầy mình.

”Thời gian tựa cánh chim bay,

qua dần những tháng cùng ngày.

Còn đâu mùa cũ êm vui?

Nhớ thương biết bao giờ nguôi?”

(Cung Tiến – bđd)

Có lẽ, là như thế. Thời gian, chứ không phải không gian. Nơi chốn. Địa vị/quyền lực, là cung cách giúp ta cảm nhận được kinh nghiệm, và tình tự theo sau tình huống có quyền và có hành. Những kinh nghiệm mà thành viên nọ trong hội (của các) thánh đã nhớ về tình trạng của Hội thánh Chúa ở Lithuania, thời Cộng Sản, như sau:

“Có một điều mà những người bức bách Hội thánh không thể kiểm soát được, là: tinh thần và tính khí của con người. Hội thánh ở đây từng sống sót trong thời điểm và nơi chốn có những vụ việc “đâm sau lưng” từng cá nhân hay tập thể. Bởi hội thánh gồm những vị dám chối từ, quyết không đầu hàng gạt bỏ niềm tin, yêu và hy vọng của họ. Chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được tên tuổi hoặc con số các tín hữu Đạo Chúa đã anh hùng cứu vớt con số ít oi vẫn duy trì niềm tin còn lại tại các nước khác nhau trên thế giới…

Nhằm phỉnh lừa dân chúng mãi về sau, dân quân Xô Viết còn dựng ra cái-gọi-là Hội Đồng Tôn Giáo Sứ Vụ, qua Tổng Giám mục Tamkevicius, để bảo rằng họ quyết huỷ diệt niềm tin tôn giáo của dân chúng.” (x. Sheila Liaugminas, MercatorNet 07/04/2010).

Đúng thế. Thời gian, chứ chẳng phải không gian. Địa vị. Quyền hành. Sẽ, làm ta nhớ về cuộc Phục Sinh của Đức Chúa. Chúa đã Phục Sinh sau khi chấp nhận nhiều đau buồn khổ ải xảy đến cho chính Ngài và Hội thánh của Ngài. Chính Phục Sinh, đã hoá giải mọi tội lệ, của muôn người. Nhờ vào Phục Sinh, mà Hội thánh Chúa đã và vẫn kinh qua nỗi chết. Của sợ hãi. Bách hại. Để rồi cùng với Chúa Phục Sinh, Hội (của các) thánh cũng sẽ chết cho chính mình. Vượt thắng chính mình để đạt đến sự sống. Có tự do. Yêu thương. Hy vọng.

Để minh hoạ và minh chứng điều này, dưới đây là lời kể của một đấng bậc thần học gia nọ ở Brazil từng bày tỏ về cuộc trao đổi giữa ông và Đức Đạt Lat Lạt Ma như sau:

“Nơi bàn tròn hội thảo về tôn giáo và sự tự do, hôm ấy tôi có hỏi ngài một câu rất cắc cớ mà tôi nghĩ là mình sẽ thích thú được thấy Đức Lạt Ma, khá lúng túng:

-Thưa ngài, đạo nào là tôn giáo tốt đẹp nhất?

Hỏi xong, tôi cứ nghĩ là ngài sẽ nói ngay, là: “Phật giáo Tây Tạng” hoặc, “Các tôn giáo ở Phương Đông, vì có nguồn gốc cổ xưa hơn Đạo Chúa Kitô”. Không phải thế. Đức Đạt Lai Lạt Ma bỗng ngừng lại, có thoáng chốc mỉm cười, rồi nhìn thẳng vào mắt tôi… chừng như thấy được điều cắc cớ tôi muốn tạo ra, nơi câu hỏi. Ngài bèn nói:

-Tôn giáo tốt đẹp nhất là Đạo đưa ông gần gũi với Thượng Đế nhất. Là, Đạo khả dĩ biến ông trở thành người tốt đẹp hơn nữa.

-Thưa, theo ngài, thì cái gì có thể làm cho tôi trở thành người tốt hơn?

-Là những gì làm cho ông có được lòng trắc ẩn hơn. Dễ bén nhạy. Vô tư thông thoáng.Yêu thương. Nhân đạo. Có trách nhiệm. Luân thường đạo đức hơn. Đạo nào làm được việc ấy cho ông, là tôn giáo tốt đẹp nhất.

Nghe thế, tôi im lặng một khoảnh khắc, kinh ngạc và ngay đến hôm nay vẫn còn nghĩ tới câu trả lời khôn khéo, không mang tính tranh luận bài bác như sau:

-Ông bạn ạ, tôi không mấy quan tâm đến tôn giáo của ông, cũng chẳng muốn biết xem ông có đạo hạnh hay không. Điều quan trọng với tôi là cung cách ông hành xử đối với cộng đoàn. Đồng hương/đồng cảnh, mình chung sống. Với gia đình. Cộng đoàn. Sở làm. Với thế giới. Xin hãy nhớ cho rằng: vũ trụ này vang vọng hành động và ý nghĩ của ta. Luật hành động và phản tác không chỉ thuộc bình diện vật lý mà thôi đâu.

Về giao tế nhân sự, cũng thế. Nếu ta hành động tử tế, ta sẽ nhận điều tốt. Nếu ta hành xử độc ác, ta cũng sẽ lĩnh hội chuyện ác độc.

Những gì tổ tiên nói với ta vẫn là sự thật trinh trong. Ông bạn sẽ có ðược những gì chính mình muốn cho người khác có.

Sống hạnh phúc không là vấn đề của tiền định. Mà là vấn đề của chọn lựa.”

(trích đối thoại giữa thần học gia Ba Tây và Đức Đạt Lai Lạt Ma)

Không cần biết, bạn và tôi có được những nhận thức sâu sắc như nhà thần học người Ba Tây hay vị Phật Sống đất Tây Tạng, hay không. Chẳng cần hỏi, mình sẽ làm được những gì cho xã hội. Cho Hội thánh. Hoặc người đời. Rồi một mai. Điều mà bạn và tôi, ta vẫn nên làm. Vẫn cứ bận tâm, là hãy tạo dựng cộng đoàn thế giới, có niềm vui. Niềm vui ấy, sẽ không mang hình thái/sắc mầu đầy xung khắc. Cãi tranh. Giành giựt. Dù giành đó, có là giành ăn. Giành bánh. Hay, giành quyền.

Trần Ngọc Mười Hai

Lại cứ mong cho riêng mình

nhận chân được giá trị

của quyền lực đích thực

trong Hội thánh.

Để rồi sẽ an tâm,

mà tuân phục.

15. “Xuân Xuân ơi, Xuân ới, Xuân ơi !”
Xuân ơi, Xuân ới, Xuân ơi!

(Phạm Duy – Xuân ca)

Co 3: 30

Ơi ới gọi Xuân ơi, không phải cứ mãi gọi. Cứ nêu tên, chỉ một người. Ơi ới gọi Xuân ơi, vẫn cứ thân tình như gọi tên một người. Tên người bạn. Người tình. Có hình có tượng. Hoặc, chẳng chân dung. Cũng chung tình. Như, gọi tên nhân vật ở phim dài nhiều tập, có đầu đề: “Dù gió có thổi”. Gọi hát bài Xuân ca, là gọi ai đó, hỡi Chúa Xuân. Chúa Tể, của mùa Xuân. Của Tình người. Hoặc, người tình. Người và Tình, tuy chưa một lần giáp mặt. Gọi hát bài Xuân Ca, còn là gọi mừng Xuân bất diệt. Xuân có tình. Hoặc, Tình Xuân có ta ca hát. Cả bài tình ca, vẫn cứ là:

“Xuân lên cao, chóp Xuân buông nhịp xuống sâu.

Hồn Xuân, hồn thiêng ngút lên từ lâu cõi Xuân còn dài.

Xuân trong ta, đã muôn ngàn lần đã qua.

Mặc cho, mặc bao những cơn buồn thương, những cơn giận hờn.”

(Phạm Duy – Xuân Ca)

Gọi Xuân cao. Gọi, “chóp Xuân buông nhịp”, còn diễn tả tình tự thân thương. Vương vấn. Những tình thân. Của người nghệ sĩ viết nhạc, cứ lòng thòng đôi giòng chảy, cả sau khi đã hát:

“Cũng trong dòng nhạc soạn cho cuộc đời, trong đó tôi có người tình, tôi soạn bài XUÂN CA, lần này không phải là hành khúc hay âu ca, mà là dân ca phát triển. Trong bài này, tôi muốn nói mùa Xuân của tôi đã có ngay trong đêm tân hôn của cha mẹ tôi. Xuân như mặt trời nổ trong lòng mẹ, rồi từ đó, tôi ra đời, góp chung câu gào thiết tha cho mùa Xuân vĩnh cửu. Nếu tôi chết đi, xin cho tôi được tái sinh nhiều lần để tôi tiếp tục đi mãi trong mùa Xuân. Bài XUÂN CA, được soạn theo ngũ cung Việt Nam.” (X.Phạm Duy Tổng Quát, www.phamduy.com )

Gọi Xuân ơi! không chỉ gọi người mang tên Xuân. Mà, còn gọi tình Xuân chan chứa. Của cha. Của mẹ. Gọi mẹ cha, cả khi mình lúng túng, như Kinh Sách đà nói đến:

“Kẻ làm con hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự,

vì đó là điều đẹp lòng Chúa.”

(Cô 3: 20)

Gọi Xuân ơi! hay gọi tên mẹ cha, còn là báo hiếu, một mối tình. Rất cao cả. Mối tình, làm đẹp lòng Cha. Như nghệ sĩ nhà ta, vẫn còn hát:

Xuân tôi ơi! sức Xuân tôi còn khát khao

Dù nay, dù mai cũng như mọi ai, chết trong địa cầu

Xuân muôn năm, có ta Xuân còn hỡi Xuân

Thì xin, thì Xuân hãy cho tình nhân, sống thêm vài lần.(Phạm Duy – bđd)

Nói cho cùng, gọi mùa Xuân Vĩnh Cửu. Hay, tên cha. Tên mẹ. Còn, để tỏ bày tình thân thương/hiếu thảo, ta vẫn có. Có, ngày Xuân sang. Xuân đến. Có, cả vào lễ hội đình đám, Tết nhất vui. Vui ngày Tết, có Xuân vĩnh cửu, là hội lễ rất Tết của Hội thánh hân hoan tình Đại kết. Tình đoàn kết rất vĩ đại. Với Giáo hội bạn. Giáo hội của Chúa. Của, đấng bậc cùng thờ một Chúa. Nhưng, khác phụng vụ. Là, tình tự mà toàn thể Hội thánh mình và Giáo hội người, vẫn trân trọng.

Cũng vào dịp Tết, nhưng là Tết Tây, Tết Mỹ, Tết rất Ý, Đức Giáo Hoàng Bênêđíchtô XVI đã thân hành đến để thăm -như kiểu ăn Tết của người mình- để gọi Mùa Xuân Chân Chính tới với người anh, người em bên đối tác. Giáo hội khác. Giáo hội cùng thờ Chúa kính Cha, gốc Do thái. Ở Rôma.

Gọi mùa Xuân nhân ngày Tết, còn có tâm tình thân thương của người con trong gia đình, hai thế hệ. Hai Đạo giáo, cùng thờ Chúa. Như, Michael Coren ở Úc, đã viết:

“Đó là đề tài (người Công giáo đối với lò thiêu sống người Do thái) tôi từng nghiên cứu học hỏi suốt một quãng thời gian dài. Bỏ ra ngoài, tình cốt thiết gia đình. Hoặc, cảm xúc. Tôi, là người Công giáo có cha là người theo đạo Do thái. Đã từng sống trong một gia đình đạo gốc, rất Ba Lan. Với tôi, vai trò của Đức Giáo Hoàng Piô XII và Hội thánh, thời Đệ Nhị Thế Chiến là tâm điểm của một căn cước. Của, lòng thuỷ chung. Của, sự thật.

Nhiều lãnh đạo Do thái cho rằng Đức cố Giáo Hoàng Piô XII nói rất ít. Ngài làm còn ít hơn, hầu có thể ngăn chặn không để cho người Do thái ở Châu Âu bị thâu tóm, đưa vào lò thiêu sống. Nhiều nhà hoạt động không là người Do Thái -đa phần là người Công giáo thông thoáng, thời buổi này, dám đấu tranh bằng nhiều cách, cốt chống lại tấn thảm kịch Lò Thiêu Sống- quyết sao cho uy tín của Đức Giaó Hoàng Piô XII phải suy giảm. Họ làm theo cách bảo rằng: Đức Giáo Hoàng đã để quên một bên, uy tín đạo đức của ngài. Ở nơi nào đó.

Và các Đức Giáo Hoàng kế tục, đã phải lĩnh nhận hậu quả tệ hại, rất mạnh mẽ. Điều này, dẫn đến câu hỏi: phải chăng chuyện xấu xảy ra là vì Đức Piô XII đã lặng thinh? Có phải, vì Hội thánh mình dửng dưng, rất lãnh đạm? Phải chăng, vì bản tính chính thống của mình, nên Giáo Hội đã chống đối công bằng xã hội? Dù gì đi nữa, điều đáng nói ở đây, là: vấn đề ấy lại nổi lên. Vào lúc này. Sự chính thống rất chính đáng của Hội thánh, đang làm cho thế hệ già vào thuở trước, được tiếng là thông thoáng, nay hoảng sợ. Và họ đang dùng lịch sử như lá bài đấu tranh, bằng mọi giá.

Sự thật thì khác. Trước khi trở thành Giáo Hoàng Piô XII, Đức Hồng Y Pacelli đã thảo Tông thư lên án chủ nghĩa phân biệt chủng tộc của Quốc Xã. Và, ngài cũng đã truyền cho các linh mục đọc thư ấy, tại nhà thờ. Và, toà thánh cũng từng sử dụng tài sản của mình để cứu người Do thái khỏi mọi đe doạ xuất phát từ đám Quốc xã. Chính các ngài, từng thiết lập đường hầm để giải thoát và che giấu một số gia đình người Do thái, dưới dinh Castel Gondolfo. Tất cả việc này được chuyên gia lỗi lạc người Do thái như B’rith’s Joseph Lichten, từng xác nhận.” (X. Michael Coren, MercatorNet.com, ngày 24.01.2010)

Gọi Mùa Xuân Vĩnh Cửu, là gọi và nói về những điều tương tự như thế, ngày đầu năm. Năm rất mới. Có Chúa Xuân. Ở Ý. Ở trời Tây. Mừng Xuân Vĩnh Hằng ở quê nhà, hay nơi nào nữa, là gọi gì? Sao chẳng ai mừng? Mừng hay không, câu trả lời không từ bạn. Từ tôi. Những người đang kiếm tìm. Đang hỏi.

Duy có điều, là: Mùa Xuân Miên Trường mình gọi mừng, vẫn còn gặp ở khắp nơi. Những nơi, có Tin Mừng Chúa được rao truyền. Từ ngõ ngách, tận cùng của đất trời. Từ hẻm nhỏ, ở đâu đó. Rất thánh thiêng. Nhân duyên, Hội thánh. Ở nơi đó, có truyện kể về “Chúa Xuân” theo kiểu sống Đạo giữa đời, rất như sau:

“Ngày xưa, có ông phú hộ nọ, có bốn người con trai. Khi biết mình sắp chết, ông gọi cả bốn người con lại, dặn dò các con phải gia tài cha để lại làm bốn phần đều nhaụ. Bốn người hứa tuân theo lời cha trăn trối. Chôn vừa xong, ba người con đầu đã vội làm khác ý của người cha, tức là dành phần gia tài cho mình nhiều hơn. Chỉ chia cho người em út mảnh đất cằn cỗi không đáng gì.

Người em út, phần vừa thương nhớ cha, phần thì buồn nỗi các anh đối xử tệ bạc với mình, bèn ngồi khóc trước mảnh đất cằn cỗi. Bỗng, một tiên bà từ mặt ao gần đó hiện đến bảo:"Thôi con đừng khóc nữạ. Khoảng đất thuộc về con có chứa một kho tàng mà các anh con không biết. Kho tàng đó là những mầm mống của một loài hoa vô giá. Mỗi năm cứ đến mùa xuân là nó đâm chồi, nảy lộc, nở những hoa từng hàng chi chit, trên phần đất của con. Con hãy hái nó đem đi bán rất được giá. Nhờ đó mà con sẽ trở nên giàu có chắc chắn hơn các anh." Người em út ngạc nhiên mừng rỡ chưa kịp cám ơn thì tiên bà đã biến mất.

Mùa xuân năm ấy, đúng như lời tiên bà nói, mảnh đất cằn của người em mọc lên một loài hoa trắng nõn, ngào ngạt hương thơm. Để nhớ đến công ơn của tiên bà, người em đặt tên cho loài hoa này là: Thủy Tiên.

Các nhà giàu có trong vùng bắt đầu biết đến đã rủ nhau tranh mua loài hoa quý hiếm này với giá rất đắt. Chẳng mấy chốc người em út ngày càng có nhiều tiền bạc. Và mỗi lần Tết đến, người em út lại càng có dịp làm giàu thêm. Hơn hẳn cả ba người anh lớn tham lam. Người ta cho rằng loài hoa Thủy Tiên đem lại sự phát tài và thịnh vượng cho người thưởng lãm. Chơi hoa. Và, tục lệ chơi sắm hoa Thuỷ Tiên đã trở thành ra tục lệ mới, đón chúa Xuân. Nhiều người sành sõi còn chăm sóc Thủy Tiên để hoa nở đúng vào lúc giao thừa, mang lại mọi sự may mắn cho mọi nhà. Mùa Xuân mới.”

Quan niệm mừng đón Chúa Xuân, của người đời, là như thế. Còn, người nhà Đạo sống giữa đời, chào đón Chúa Xuân ra sao? Chúa Tể càn khôn của vũ trụ đầy mùa Xuân, có được tưng bừng đón tiếp, như người người tiếp đón loài hoa quý hiếm, mùa Xuân chăng?

Hỏi thì hỏi thế, chứ người hỏi vẫn biết sẽ có người bảo rằng: có bao giờ họ thấy Chúa Tể Xuân mùa của vũ trụ đâu, mà mừng đón?

Cũng lại bắt chước Michael Coren ở trên, xin trích dẫn đây một động thái của vị thương tế Do thái ở La Mã tên là Israel Zolli, đã cả gan ôm trọn Đạo Chúa của người Công giáo, vào đầu năm 2010. Rất công khai. Chẳng sợ hãi. Không sợ và cũng chẳng hãi, vì ông có quyết tâm hồi hướng rất đặc thù. Vẫn ngưỡng mộ động thái quả cảm của vị Giáo Hoàng từng giấu và từng cứu người gốc Do thái ở Ý, năm xưa.

Và, người viết mang tên Michael Coren, kết thúc chuyện bàn ngày đầu năm, và bảo rằng: Cuộc chiến tạo lại uy tín cho Đức Giáo Hoàng Piô XII còn tiếp diễn. Dĩ nhiên, vẫn còn đó những bất bình giữa người Công giáo và Do thái giáo về việc tạo lại mùa Xuân thiện chí. Hy vọng. và, tiến bộ, trong Hội thánh. Dù, xuân nay hoặc mai rày, vẫn còn đó nỗi buồn, một rẽ chia. Chia rẽ giữa người cùng chí hướng. Giữa bên trong và bên ngoài chí hướng, rất người mình.

Chúa Xuân của vườn hoa nhà Đạo, trong đời đã và đang đổ tràn hồng ân/hy vọng cho mọi loài. Trong cuộc đời. Hy vọng, mỗi ngày. Mỗi giờ. Suốt cuộc đời của con người. Có mùa Xuân. Hôm nay.

Trần Ngọc Mười Hai

Nhân ngày xuân dân tộc

lại suy nghĩ thêm

về hy vọng

Chúa Xuân đã đem đến.

16. “Ngày đó, có em đi nhẹ vào đời”
Và mang theo trăng sao

đến với lời thơ nuối.”

(Phạm Duy – Ngày Đó Chúng Mình)

Yn 12: 35-36

Đi nhẹ vào đời, người đời rày có em. Nơi nhà Đạo. Ở nơi đó, vẫn có người anh chuyên lanh chanh. Xục xạo. Tạo tình tự thân thương, cũng rất gần. Đi nhẹ vào đời, còn đó một tình tự rất thân và rất thương của người em linh mục còn rất trẻ, gặp nhau chỉ mới một lần, đã thân thưa đôi lời rất ngọt:

“Chân thành cảm ơn Bác đã chia sẻ lá thư thật mùi mẫm. Con và cha Nguyễn Quang Duy, thì chả biết viết thư hoặc bài bản gì hay ho như vậy, dù cảm xúc có khi còn nhiều hơn thế! Vậy là từ nay Tỉnh Dòng mình sẽ sẻ san thư cha Giám Tỉnh hàng tháng cho Gia Đình An Phong các nơi để mọi thông tin đều đến với anh chị em “ngoài Tu viện”.

Con đi đây đi đó cũng khá nhiều, nhưng phải công nhận là tình cảm của gia đình An Phong mình bên đó là number 1.”(trích thư người em linh mục nhà đề ngày 06/06/10)

Đi nhẹ vào đời hay đi vào nhà Đạo rất nhè nhẹ, là “mang trăng sao”, có “lời thơ nuối”. Để rồi, bạn và tôi, ta lại hát:

“Ngày đôi ta ca vui tiếng hát vói đường dài

Ngâm khẽ tiếng thơ, khơi mạch sầu lơi

Ngày đôi môi, đôi môi đã quyết trói đời người

Ôi những cánh tay, đan vòng tình ái.”

(Phạm Duy – bđd)

Ngày ấy, đi vào đời nhè nhẹ, những tôi và bạn lại đã gặp được tình tự của người anh/người chị tuy vừa chợt thân, đã thấy thương. Thương tình rất thân, là tình bạn hiền ở phương trời xa nơi đất Mỹ, kể khá kỹ:

“Đệ có một tay bạn làm nghề thầy thuốc. Trong lúc ngồi quán café nhả khói (tay này tuy là thầy thuốc vẫn thường hay khuyên nhủ mọi người hãy bỏ thuốc, nhưng chính mình lại cứ điếu này đến điếu kia tiếp không ngừng, đệ có hỏi anh một câu, như sau:

-Này bạn, tôi đây hơi nặng cân nặng ký chút ít, máu hơi cao, mỡ cũng không thấp. Tôi muốn xin bạn một lời khuyên cho tôi, có được không?

Sau khi phun cao làn khói ngoằn ngoèo dài những thuốc, chàng y sĩ bạn của đệ cứ thư thả nói:

-Mọi chuyện chữa trị của thầy thuốc đều dựa vào khoa học thực nghiệm. Qua quá trình nghiên cứu và giảo nghiệm, tôi thấy mình cũng chẳng nên khuyên bạn bè điều gì, duy chỉ một điều là: vẫn muốn tặng bạn một cái nhìn rất ư là thực tế để bạn tự liệu mà sống. Này nhé: bạn có thấy ông bà nhà mình không? Các cụ đều là người Việt. Sống rất ư là nguyên tắc. Thể thao, thì hăng say không có gì để chối cãi. Ăn uống, lại kiêng khem đủ mọi thứ. Bạn lấy làm ngạc nhiên ư? Này nhé, mới 5 giờ sáng các cụ đã chẳng trỗi dậy để tập thể dục là gì? Các cụ lại còn tập đến nơi đến chốn nữa là đàng khác. Cứ là 5, 6 tiếng đồng hồ. Có khi đến 7, 8 tiếng một ngày, là chuyện thường. Ăn, thì ăn toàn những rau là rau. Thịt mỡ, các ngài chê tới bến. Kẹt lắm, các cụ chỉ dùng chút nước mắm để có chất đạm, thôi. Ấy thế mà được mấy vị sống tới 70 đâu? Các cụ ngày xưa từng bảo: “Nhân sinh thất thập cổ lai hy” đấy thôi! Bạn chưa hiểu điều tôi muốn nói ư? Bạn có chạy cả ngày cũng đâu bằng các cụ thường vác cuốc ra đồng, chạy không ngừng nghỉ. Và, tiền đào đâu ra để các cụ cứ là thịt cá ê hề như bọn mình, phải thế không? Trong khi đó, thì người Tây –chí ít là người Mỹ ở xứ này- bạn thấy không bọn họ tối ngày hết bơ sữa, rồi lại thịt bò bí tết, gà quay khoai tây chiên, thuốc lá xì-gà thì lúc nào cũng phì phà gắn chặt trên môi. Ấy vậy, mà tay nào tay nấy vẫn cứ khỏe như voi. Có vị còn sống trên trăm tuổi, nữa là.

Thử nghĩ mà xem! Hãy liệu mà sống cho bản thân, sẽ biết thân …..

Đệ nghe nói cứ há hốc mồm, thấy cũng có lý! Bèn đứng dậy bắt tay người bạn vàng thầy thuốc để tỏ bày niềm cảm kích rất hăng say, rồi ra về. Từ nay, quyết thụ hưởng đệ nhất thú vui trên đời…. Vợ con thấy ông chủ nhà ta hôm nay sao hung hăng “con bọ xít” đến thế! Đĩa thịt bò bí tết thơm phức, cứ thế đệ “sực” chẳng còn lý gì đến báo cáo y khoa lẫn thư cảnh báo của bệnh viện từng căn dặn thế nào đi nữa, cũng mặc. Người nhà đệ hôm ấy cứ là đi ra đi vô, bốn mắt nhìn nhau rất ư dài lâu. Thật kinh ngạc. Riêng phu nhân Hoàng Dung của đệ, lâu lâu lại sờ trán xem nhiệt độ của đệ tăng lên cỡ nào – nét mặt nàng biểu hiện nỗi lo trông thấy …

Đệ đem chuyện "khoa học giảo nghiệm" của bạn hiền thầy thuốc ra mà thuyết phục rất hùng hồn… rồi ngồi vào bàn tiệc cứ thế mà ăn với ngốn rất ngon lành. Rồi còn nghĩ: lâu rày mình kiêng với khem nhiều quá – thật rất uổng!

Thằng con thấy thế ái ngại nhìn bố một lúc rồi thủng thẳng đưa ý kiến, ý cò mà rằng:

“It is not right” – dad không nghĩ rằng người Mỹ họ sống dai là nhờ vào y khoa và thuốc men sao? Có thờ có thiêng, có kiêng có lành chứ bố!!! (trích thư điện của bạn Hoàng Dung/Quỳnh Tín đề ngày 13.7.2010)

Đi nhẹ vào đời, vẫn là đi như thế. Cũng rất lẹ. Đi nhẹ vào đời, là dám có ý kiến ý cò, so đo cả đời người. Để rồi, cuối cùng thì, hối tiếc. Hối rằng: đời mình lâu nay sao thấy uổng phí. Những kiêng khem. Đi nhẹ vào đời, còn là lời thơ/ý nhạc của nghệ sĩ nọ cũng từng mơ. Và mộng. Ở đời. Nơi có tiếng hát:

“Ngày đó, có ta mơ được trọn đời

Tình vươn vai lên khơi, tới chín trời mây khói.

Ngày đó, có say duyên vượt biển ngoài,

Trùng dương ơi!

Giữ kín cho lâu dài, tình đôi.”

(Phạm Duy – bđd)

Có mơ được trọn đời, thì bạn và tôi, ta vẫn cứ mơ về cõi nhà Đạo. Vẫn cứ “vươn vai” “lên khơi”, “tới chín trời mây khói”. Mơ về Đạo, trước nhất và nổi nhất, là đi nhẹ vào với ý kiến/ý cò của đấng bậc ở đâu đó, nói về thơ. Về nhạc. Nhưng không nói đến Chúa. Đến Trời.

Đi nhẹ vào đời, là cứ đi vào. Vào, để biết ý kiến ý kiến/ý cò của đấng bậc vị vọng nào đó chủ trương có giòng chảy âm nhạc rất nổi cộm, nhưng thiếu thơ. Thiếu Đạo. Thiếu tất cả. Đi nhẹ vào đời, là đi “xùng xục” thẳng vào quan điểm của Đấng Bậc trên cao rất Đạo, ở Sydney, khi đức ngài nhận định về động thái của nhóm nhạc quậy mang tên rất nổi cộm The Beatles hôm ấy, rất như sau:

“John Lennon từng là thành viên rất nổi của ban The Beatles có lần dám cho rằng nhóm hát của anh được mọi người biết nhiều hơn chính Đức Giêsu Kitô.

Thời gian nay như đã đổi thay. Hôm nay, thế hệ của tôi tuy đã lụ khụ nhưng vẫn nhớ rất nhiều thành quả của ban nhạc có một thời mang danh “tứ quái” đi khắp nơi. Hát rất nhiều. Quậy cũng không thiếu. Ban ấy có thời từng nổi hơn thiên tài nào đó, ở trời Tây. Thế nhưng, lúc đó, họ cũng đã tạo ra nhiều điều tệ hại về đạo đức khi viết lên một số nhạc bản nhằm chống đối tôn giáo. Chống cả tinh thần ái quốc, hợp quần. Chống mọi qui ước. Phản lại ý tưởng về tư bản. Đó là chỉ nói đến thiên tài âm nhạc là John Lennon, thôi.

Trong nhạc bản khá ăn khách có tên “Imagine” (“Cứ tưởng tượng mà xem”) John Lennon từng thôi thúc người nghe hãy mơ và ước về một thế giới trong đó không còn có thiên đàng, hoả ngục. Cũng chẳng còn tôn giáo, quốc gia. Không có gì để mà giết hoặc chết đi, cho lý tưởng.” John Lennon quyết tạo một sự bình an nào đó vốn là kết quả của sự kiện không còn tôn giáo trong cuộc sống của con người.

Hoa quả hôm nay ta đạt được từ tư tưởng lầm lạc trên đây là gia đình đổ vỡ, hiện tượng ma túy, chích choác, bệnh giang mai/hoa liễu, giới trẻ tự tử. Hành vi chối bỏ 10 điều giáo lệnh của Chúa, từ bỏ cả chuyện cần thiết phải tự nghiêm minh, kỷ luật không thể đem đến một bình an tự tài nào cho ai, và càng làm suy yếu hoặc hủy phá sự bình an hiền hoà trong xã hội.” (x. George Cardinal Pell TGM Sydney, The Catholic Weekly 18/7/2010 tr. 6)

Đi nhẹ vào đời nay còn có Đạo, dù không thấy nghệ sĩ ngoài đời nhắc đến Đạo, vẫn chỉ nghe:

“Ngày đó, có anh mê mải tìm lời

Tìm trong đêm rách rưới, cơn mê nào lẻ loi?

(Phạm Duy – bđd)

Đi nhẹ vào đời, với Đạo, được nghe thêm ý kiến mà đấng bậc nhà Đạo từng táo bạo đề cập như trên, sẽ lại dẫn dắt người thưởng ngoạn, nghe câu tiếp:

“Ngày đôi ta chôn vơi tiếng hát đã lạc loài

Chôn kín tiếng thơ rơi, ngậm ngùi rơi…”

(Phạm Duy – bđd)

Chôn vơi, tiếng hát đã lạc loài, phải chăng còn là ý kiến của một nhà Đạo khác, từng thắc mắc. rất như sau:

“Trong thời gian làm việc cho cộng đồng quốc tế ở Rôma từ 1985-1990, trước khi về với Rustenburg, Nam Phi nhận chức vụ chủ quản, thì một trong các trọng trách của tôi là cố dựng xây công cuộc thừa tác vụ cho giới trẻ, tại các nước ở trời Âu. Khi ấy, đã thấy rất nhiều người trẻ đã rời bỏ Hội thánh. Tôi làm việc với hàng trăm người trẻ Công giáo hăng say cởi mở biết tìm đến với bất công, nghèo đói trên thế giới. Họ đã nhìn ra và thấy được là các hệ thống kinh tế chính trị ở các nước có cấu trúc bất công, đang áp đảo thế giới. Lúc ấy, người trẻ không chỉ có cảm giác rằng Hội thánh “chính mạch” đã mất đi quan hệ thực tế với thế giới, thôi. Họ còn thao thức kiếm tìm một kinh nghiệm khác lạ về Hội thánh. Nói cách khác, họ vẫn tin rằng Hội thánh vẫn còn sống thích hợp để có thể ăn nói và làm chứng cho Chúa, trong thế giới đầy thách đố.

Những người trẻ nói ở trên nay đã rời bỏ Hội thánh rất nhiều. Cùng một lúc, đã và đang có hiện tượng về một lớp người trẻ Công giáo khác, gồm linh mục, tu sĩ và giáo dân, nay chỉ muốn tái tạo mô hình Hội thánh cổ xưa, có trước thời Công Đồng Vatican II.

Hiện nay, lại thấy có sự gia tăng các nhóm hội/đoàn thể rất bảo thủ xuất hiện nơi Hội thánh suốt hơn 40 năm qua. Thái độ của những người này dẫn đến hiện tượng mà bản thân tôi thấy khó mà đối đầu. Chẳng hạn như, nhìn vào bên trong Thánh hội, tôi đã thấy lo ngại cho thái độ chống đối/nghịch thù với thế giới phàm trần, kéo theo cái nguy của một chủ thuyết tương đối về mọi mặt; nhất là về sự thật. Đạo đức. Một Hội thánh tạo cho người ta cái cảm giác chỉ muốn “nấp dưới bóng cây đại thụ”. Tức là, chỉ muốn tin tưởng và tập trung vào quyền bính trung ương để đảm bảo sự đoàn kết có chung một kiểu cách để mà tin; ngõ hầu giáp mặt với hiểm nguy tư bề, đang rình mò. Chực sẵn. Họ lo sợ rằng: nếu không có được sự chỉ dẫn kềm chế; nếu cứ tự do mà quyết định cả đến những vấn đề ít hệ trọng hơn, thì rồi ra ta sẽ càng mở cửa cho một rẽ chia/đổ vỡ làm suy thoái sự kết đoàn trong Hội thánh”. (x. Gm Kevin Dowling CSsR, Reflects on trends in the Church, bài phát biểu với giáo dân hàng đầu ở Capetown, Nam Phi hôm 01/06/2010)

Đi nhẹ vào đời, với nhà Đạo, chẳng phải chỉ là xục xạo tìm biết những ngõ ngách, mà chỉ trích hoặc có ý kiến ý cò gì. Mà là, có thái độ như nghệ sĩ già nhà ta, thường cứ hát:

“Ngày đôi môi thương môi đã xé nát nụ cười

Ôi những cánh tay ngỡ ngàng tả tơi…”

(Phạm Duy – bđd)

Và, đi nhẹ vào đời, để thấy được Đạo, bạn và tôi, ta có tạo ra những khúc mắc, ỉ ôi. Nhiều chấm hỏi, như thế chăng? Đi nhẹ vào đời, với nhà Đạo, còn là xục xạo tìm cho ra ánh sáng cuối đường hầm, dù ngán ngẫm. Ánh sáng ấy, vẫn có thể là hy vọng. Là, nhận định về một ngõ thoát, rất như sau:

“Ngay nơi đây, vẫn còn vấn đề của lương tâm con người. Là người Công giáo, ta vẫn cần làm cho mọi người tin tưởng để có được nhận định, dù không chính thức, về sự làm chứng tá của ta. Về cung cách diễn tả niềm tin. Về lòng Đạo. Lời cầu. Về, cả những chuyện như ta tham gia vào với thế giới. Tất cả, vẫn đặt nền tảng cho một lương tâm, có khai triển.

Ở nơi đây, cũng nên nhớ lại lời mời của thần gia gia Josf Ratzinger, nay là Giáo Hoàng Biển Đức thứ XVI, khi ngài nói đến vai trò của lương tâm như sau: “Trên cả Đức Giáo Hoàng khi ngài diễn tả một đòi hỏi ràng buộc vào thẩm quyền trong Giáo hội phải có quyết định này khác, vẫn còn đó chỗ đứng của lương tâm, buộc ta phải tuân thủ, đứng trước mọi thứ. Điều này tập trung nơi giá trị của từng người. Bởi lẽ, lương tâm buộc người ấy đối đầu với toà án tối cao và chung thẩm. Toà án cuối cùng họ tìm đến sẽ vượt quá đòi hỏi của mọi nhóm hội của xã hội bên ngoài, dù nhóm đó có là Hội thánh chính mạch. Điều đó, tạo ra nguyên tắc cần có để ta đối chọi với khuynh hướng độc tài, đang gia tăng.” (x. Gm Kevin Dowling trích dẫn Hồng Y Ratzinger trong Commentary on the Documents of Vatican II tập V, . 134 (nxb H. Vorgrimler, New York, Herder and Herder, 1967)

Hôm nay đây, bạn và tôi, ta đang đi nhẹ vào đời, có cả Đạo vẫn thấy đời và thấy Đạo mình có những chuyện, hệt như thế. Vấn đề là, lương tâm của mọi người lâu nay vẫn bị bỏ quên hoặc bị để một nơi không thể lấy ra mà giúp ta tiếp tục “đi nhẹ vào đời”. Đi, để rồi sẽ cùng với người nghệ sĩ già, ta hát tiếp:

“Ngày đó có bơ vơ lạc về trời

Tìm trên mây xa khơi, có áo dài khăn cưới.”

(Phạm Duy – bđd)

Người nghệ sĩ bơ vơ lạc về trời, trong khi người nhà Đạo lại dứt quyết thích nghi/thích hợp với đời người, nhiều hơn nữa. Cuối cùng, nên tin ai? Để trả lời, có lẽ hãy nên nghe lời vàng ở Kinh Sách, vẫn nhắn nhủ:

“Hãy lo mà đi,

bao lâu các ngươi còn có sự sáng,

kẻo tối tăm bắt chợp các ngươi;

ai đi trong tối tăm, thì không biết mình đi đâu.

Bao lâu các ngươi còn có sự sáng,

hãy tin vào sự sáng,

để các ngươi nên con cái sự sáng.

Đức Giêsu đã nói thế,

rồi Ngài bỏ đi và ẩn mình khỏi họ”

(Yn 12: 35-36)

Đi hay không, trong sự sáng, đã là vấn đề. “Đi nhẹ vào đời”, với “sự sáng” hay không, lại là vấn đề khác. Vấn đề rất sáng và rất lạn. Sáng lạn của đời người, nơi đó còn có những lời ca, được đúc kết làm câu chót của nhạc bản mà nghệ sĩ già, đà nhắn nhủ:

“Ngày đó, có kêu lên gọi hồn người

Trùng dương ơi! Có xót xa cũng hoài mà thôi.”

(Phạm Duy – bđd)

Xót xa. Hoài mà thôi. Là, vẫn cứ hoài một lời nhắn rất nhủ, từ đấng bậc vị vọng ở nhà Đạo, lẫn ngoài đời. Rất chơi vơi. Rạng ngời. Cần ghi nhớ.

Trần Ngọc Mười Hai

Thấy cũng cần

cần ghi và cần nhớ

những nhắn nhủ

của Đấng Bậc lành thánh trong Đạo.

Ngoài đời.

Rất lên khơi.

17. “Ngày em thắp sao trời”
Chờ trăng gió lên khơi

(Lê Uyên và Phương – Dạ Khúc Cho Tình Nhân)

Cv 23: 1

Rất nhiều lần, người anh em rất trẻ trong hàng ngũ linh mục, ở nhà Đạo, từng nhắn nhủ với bần đạo, rằng: lần sau anh có viết và có lách, có trích dẫn các nhạc tình làm bình phong, xin hãy trích cho em bài gì đó của Lê Uyên Phương. Bài, có ca từ như “thắp sao trời”, “mưa gió tơi bời”. Lên khơi. Hay gì đó. Rất trữ tình.

Nghe bạn nhủ, bần đạo nghĩ mãi không ra, ba đầu đề nhạc bản, làm dẫn nhập. Bần đạo tuy thích nhạc của đôi uyên ương, rất Uyên Phương này, nhưng vẫn không tài nào nhớ nổi bài có câu hát, ở trên. May thay. Trong một lần nghe biết ưu tư da diết của bần đạo, bạn trẻ nọ bèn mách nước bảo: đó là “Dạ Khúc Cho Tình Nhân”, đấy anh ơi. Thế là, như bắt được vàng, bần đạo bèn chui ngay vào Google.com, tìm ra ngay lời ca vũ bão. Mưa sa. Của nhạc bản, có ý/từ đầy hứng thú, như sau:

“Mà mưa bão tơi bời

Một ngày mưa bão không rời.

Trên đôi vai thanh xuân

Ướp hôn nồng bên gối đắm say

Ánh sao trời theo gió rụng rơi… đầy.”

(Lê Uyên và Phương – bđd)

Lại mới đây, cũng có người bạn trên đời, lại cũng gởi cho bần đạo, những lời ca ý nhạc khác về cặp uyên ương nói ở trên, như sau:

“…Những năm đầu thập kỷ 1970, từ Đà Lạt vào Sài Gòn, Lê Uyên và Phương đã đem một luồng gió mới đến với âm nhạc. Trong những năm khốc liệt nhất của cuộc chiến Việt Nam, Lê Uyên và Phương, với những ca khúc nồng nàn, khắc khoải đôi khi bàng bạc, triết lý đã được giới trẻ đón nhận nồng nhiệt…

So với nhạc tình của các bậc trưởng lão khác như Trịnh, Văn Cao, Phạm Duy, nhạc tình của Lê Uyên Phương không chỉ còn là tình si mà là tình điên, âm nhạc của Lê Uyên Phương không những gợi cảm từ ca từ mà cả cách biểu diễn với giọng hát của hai người cứ quyện lấy nhau. Chỉ có trong nhạc của Lê Uyên Phương mới có cái cảnh đôi tình nhân rã rời sau khi xoắn xít vào nhau…” (Phạm Duy: Hồi Ký )

Thế đó, là lời bình. Bình nhạc. Bình thơ. Hay, bình văn. Vẫn cứ là lời bình rất an. Hay, lời an vui cũng rất bình. Về người mình. Tức, người yêu nhạc. Yêu thơ. Một đời người. Đời người, còn những người đời cũng biết yêu thơ, yêu nhạc, lại yêu văn. Như, lời văn rất bình và rất luận của một bạn trẻ ở nhà, đã có lời bình văn, băn khoăn nhiều suy nghĩ, như sau:

“Trong dịp tuyển sinh đại học năm 2004, giám khảo nọ bắt chộp được đoạn bình luận văn thơ nộp thi vào Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Thành Phố, như sau:

1. Bác Hồ là một hột giống tốt cần được bảo quản.

2. Bài thơ “Chiều Tối” của Bác Hồ làm ta nhớ đến câu thơ của Nguyễn Du “Chim hôm thoi thóp về rừng”, hay câu: “Ngàn năm gió cuốn chim bay mỏi” của Bà Huyện Thanh Quan. Nhưng so sánh ta thấy rõ chim Bác Hồ khác hẳn chim Nguyễn Du, và còn khác hơn chim Bà Huyện Thanh Quan. Chim Bà Huyện tự nhiên mỏi. Còn chim Bác Hồ là con chim phi thường, nó mỏi có mục đích: “Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ”.

3. Qua bài thơ “Chiều tối”, ta thấy Bác Hồ đã dùng chim để mô tả nội tâm. Làm sao Bác biết chim mỏi? Nó nói với Bác chăng? Không. Nó không nói với Bác. Mà chỉ cần nhìn Bác cũng biết nó mỏi…” (điện thư của một nhà giáo viết từ Sàigòn ngày 19/01/2010 với đầu đề “Chuyện vui đầu năm”)

Đúng là chuyện vui ngàn năm, chứ không chỉ đầu năm, hay năm đầu, mà thôi. Mạn phiếm, hay tản mạn những phiếm Đạo vào đời và trong đời, không nhất thiết phải tìm đến những đề tài có liên quan đến niềm ngày đầu năm hay nỗi buồn buổi tất niên. Vẫn có thể liên tu, bất tận. Miễn, có tình có tiết, rất bình an. Bình và an, cả vào tháng ngày hoang. Mộng tàn. Như câu ca, ở bên dưới:

“Cùng rót bao nhiêu ngày hoang

Cùng đếm bao nhiêu mộng tàn

Ru người yêu dấu trong vùng trời đêm.”

(Lê Uyên và Phương – bđd)

Trong quá trình tìm kiếm nỗi niềm bình an, trong tâm hồn, chừng như nhiều người vẫn gặp sự việc rất bình thường. Cũng, u uẩn. Lẩn khuất. Như câu hát:

“Vừa hoa nở tươi môi

Tình nhân đã xa xôi

Ðời ngăn cách nhau hoài

Một lần thôi đã không thôi

Yêu nhau trong lo âu

Biết bao lần tha thiết nhớ mong.”

(Lê Uyên và Phương – bđd)

Đúng thế. Khi đã “yêu nhau trong lo âu” rồi, chắc hẳn bạn và tôi, ta sẽ rất “tha thiết nhớ mong”. Nhớ và mong, những gì đã nói và đã làm trong yêu thương. Mong và nhớ, cách thế mình xử sự, cả khi xa xôi. Ngăn cách. Nhớ mong/mong nhớ, để rồi mình cũng sẽ không hề e thẹn với lương tâm. Của chính mình. Như các thánh nhân từng quả quyết:

“Phaolô nhìn thẳng vào Công nghi mà nói:

Thưa quí vị đồng bào,

với một lương tâm hết sức ngay lành,

tôi đã đi đứng trước mặt Thiên Chúa

cho đến ngày nay.”

(Cv 23: 1)

Thì ra. Có nói năng, đi đứng. Có, bình văn/thơ hay bình luận gì gì đi nữa, cũng phải như thánh nhân ở trên, dám “đi đứng trước mặt Thiên Chúa”, “với một lương tâm hết sức ngay lành”. Đâu ai dám bảo: các nhà bình luận văn thơ/âm nhạc: không ngay lành, với chữ nghĩa. Đúng lương tâm? Thế nhưng, giữ đúng lương tâm, có lẽ cũng nên tin nên theo nhận định của Hội thánh, rất như sau:

“Lương tâm là phê phán có thực chất lý lẽ ngang qua đó, người phê phán nhận thức được phẩm chất giá trị về luân lý của hành động cụ thể mà người nào đó sắp thực thi, đang thực hiện, hoặc đã hoàn tất trong quá khứ.” (X. Giaó Lý Hội Thánh Công Giáo #1778)

Xem như thế, lương tâm con người không chỉ là tiếng nói ở bên trong. Để rồi, theo cung cách nào đó, âm thầm chỉ dẫn cho ta biết cách thức mà hành xử. Hoặc, tránh né, những việc không nên làm. Chính đó, đích thực là một phê phán có lý lẽ hẳn hòi. Một phê phán cúa ý thức. Có trí tuệ. Rất không sai.

Để có thể phê phán không sai lạc, lương tâm sẽ giúp con người cân nhắc nhiều yếu tố, rất khách quan. Ngõ hầu dẫn dắt người phán và phê đi đến kết luận, rất thực tiến. thực tiễn, là: thúc giục người phê và phán là chính mình phải có quyết định đúng đắn. Không sai chạy. Hầu cho phép hoặc cấm đoán làm điều gì.

Lương tâm là quà tặng Cha ban, ngang qua Thần Linh Thánh Ái của Ngài. Quà Ngài ban, cho riêng mỗi con người. Để, các người con của Ngài biết đường mà xử sự sao cho phù hợp với thiên nhân, vạn vật. Để, con của Người đóng góp vào việc biến thiên nhiên vạn vật được “trăm hoa đua nở”, thật rực rỡ. Tốt đẹp.

Lương tâm, còn là toà án cá nhân. Bên trong. Giúp con người nhận ra điều phải/trái mà suy xét. Đắn đo. Lo toan, sống phải lẽ. Sống xứng hợp với tư cách người con của Chúa. Do Chúa tạo dựng, giống như Người.

Với nhà Đạo, thì như thế. Với người đời, thì chỉ như ca từ của nghệ nhân, xưa từng viết:

“Lá hoa rừng mau xóa đường quay về

Làm ánh sao đêm lẻ loi

Màu tối gương bên đèn soi

Ân tình sâu vẫn trong ðời thủy chung.”

(Lê Uyên và Phương – bđd)

Và, bởi nhiều người thời nay quên mất sự hiện diện của lương tâm, bên trong mình, nên mới có những cảnh tệ hại xảy đến cho mình. Cho người. Tệ hại nhất, là: quên rằng những điều tốt đẹp Chúa dạy mình nơi giới răn. Ở Tin Mừng. Nay, ra hư luống. Công cốc. Phản thùng.

Bởi có hư luống, phản thùng, nên các thánh Giáo phụ như Bônaventura, đã từng lên tiếng, với mọi người về chức năng và uy lực của lương tâm như sau:

“Lương tâm là như sứ giả của Thiên Chúa. Lương tâm không là quan chức có quyền sai bảo con người làm theo thẩm quyền của mình, nhưng lương tâm có chức năng khyên nhủ con người làm những điều từ quyền năng của Thiên Chúa phán dạy. Tương tợ như, vị sứ giả không chỉ chuyên chở mỗi bài sai hoặc chiếu chỉ của vua quan, thôi. Chính vì thế, nên lương tâm cũng có cái uy lực buộc người nghe phải thi hành.” (X. II Librium Sent., dist. 39, a.1, q.3)

Nghệ sĩ ngoài đời, diễn tả những tê hại đến từ hành động sai trái lương tâm, một cách khác:

“Ðời mãi mãi mãi cách xa

Dòng nước mắt nóng tiễn đưa

Xin cho lần cuối

Tình ấy đắm đuối thiết tha

Vì qua bao nhiêu điêu linh

Xót xa

đắng cay

trong đời…”

(Lê Uyên và Phương – bđd)

Xót xa. Đắng cay, trong đời. Là, tệ hại kéo đến từ một đổ vỡ, kết quả của những thực hành trái với lương tâm. Trái lương tâm, còn dẫn theo những thực tại tai hại khác, mà mọi người vẫn thường thấy, ở nhà Đạo. Ngoài đời.

Với nhà Đạo, xót xa/cay đắng có thể tựa như những tệ hại không chỉ cho riêng mình. Mà còn đem đến với người khác. Những nạn nhân của một lạm dụng, về tình. Vẫn thường thấy, rất đầy dẫy. Vào hôm nay. Xót xa/cay đắng, còn có thể là giận dữ. Cách chia. Xảy đến cả với đấng bậc vị vọng, trong Đạo. Cụ thể, như chuyện xảy đến với Giáo hội, ở địa phương. Phương Tây. Đây đó.

Và vì thế, nhà văn/nhà thơ, nay không còn bình và luận nữa. Nhưng đã hát. Hát những mộng ước, rất như sau:

”Màn đêm mở huyệt sâu

Mộng đầu xin dài lâu

Một vì sao lạ rơi,

nghe hồn tê tái

trên dòng hương khói bay.”

(Lê Uyên và Phương – bđd)

Hát rồi, nhà thơ/nhà văn nay lại nhắn:

”Ái ân ơi đừng phụ lòng ta

Nhớ thương sâu xin gởi người xa

Khóc nhau trong cuộc đời.

Giấc mơ xưa khăn phủ vành sô

Có yêu nhau ngọt ngào tìm nhau

Chết bên nhau thật là hồn nhiên!

Nhưng, anh không chết đâu em. Em cũng chẳng chết đâu anh, dù anh dù em cứ hồn nhiên, hành xử trái với lương tâm. Của chính mình. Vì có làm trái với lương tâm, người-làm-trái chắc cũng chỉ chết trong lòng một ít, rồi thôi vì đâu có lãnh hậu quả gì trừ phi phạm đến luật pháp. Vấn đề là, làm sao để người ấy biết hồi hướng. Trở về. Về, với lương tâm. Về với Đấng tạo dựng ra lương tâm.

Khi ấy thì chắc chắn là mọi việc sẽ lại tốt đẹp như trước. Sẽ lại nghe theo tiếng lương tâm, mà hành xử. Và, khi đã nghe và thực hiện theo tiếng ấy, em và anh, cũng như tôi. Như bạn. Ta sẽ ngâm nga câu thơ nhạc bản của ai đó, ở đoản văn mang tên “Chẳng còn Boléro nữa”, như sau:

“Nói thế nào nhỉ

Khi không còn chốn ấy để tình anh chất đầy?

Chất cả đời người.

Một phần đời em vẫn là cả đời tôi.

Cái đêm hè nóng cháy hôm ấy

đã sụp đổ trên tôi

khi ánh mắt dịu hiền

không còn nhìn lên tôi

Cả bầu trời sụp đổ

trên tôi.

Ôi thôi, chẳng còn Boléro nữa.

Chỉ một mình tôi

Rất đơn côi

Lạnh lùng.

Vì khi em đi rồi

Tôi sẽ chẳng còn điệu Boléro nào nữa

Chẳng còn đêm hè đoàn tụ

có em và tôi, ta cùng nhảy.

Vẫn chỉ là đêm dài hiu hắt

Vắng bóng người em yêu.

Vắng cả nhịp tiếng Boléro

Người em tôi yêu…”

Quả đúng thế. Một khi Boléro Lương Tâm không còn ở với anh/với tôi nữa. thì, đời anh và đời sẽ chỉ là quãng ngày dài vô vị. Quãng ngày, có anh và tôi mải nhìn ngắm sao trời, chờ em thắp. Chờ trăng gió lên khơi. Ngày đẹp sẽ lại tới. Với em. Và với tôi.

Trần Ngọc Mười Hai

Mong ngày còn lại

sẽ không là ngày mải ngắm sao trời,

mà nuối tiếc.

18. Một chiều gió mưa
Anh về thăm chốn xưa.
Non nước u buồn, nào đâu bóng cố nhân, lòng xót xa tình xưa.”

(Dương Thiệu Tước/Minh Trang Bóng Chiều Xưa)

Ga 24: 1

Chiều, mà lại là “chiều gió mưa”. Say, mà lại “say hồn ta bao lần”. Điều này, chắc chỉ những người có tâm hồn nghệ sĩ như “cặp bài trùng” trích dẫn ở trên, mới như thế. Bần đạo không là nghệ sĩ. Cũng chẳng là thi nhân. Nhưng, bần đạo cũng có những kinh nghiệm và cảm nhận về buổi chiều. Về say. Như ở trên.

Như trên, là vì trong một tuần, mà bần đạo có được diễm phúc nhận đến hai ý kiến phản hồi của hai người bạn khác nhau. Bạn đọc. Bạn nghe đọc bài viết, nhưng chưa một lần gặp mặt. Bần đạo chỉ biết tên hai vị, qua thư từ. Một vị mang họ Võ, ở đâu đó. Bên quê nhà. Còn vị kia, họ Việt, tên thánh rất Tây. Ở trời Tây. Vị họ Võ, viết cho bần đạo ngắn gọn như thế này:

“Thầy Mười Hai viết rất hay. Tôi tuy không phải là người có đạo, nhưng rất thích những lời thầy viết. Và, rất thích nghe những bài phiếm “đạo đời” của thầy. Nghe vừa thấy vui, vừa thấm thía cuộc đời. Rất mong thầy tiếp tục viết phiếm nhiều nữa, để tôi có thêm nhiều dịp thưởng thức, học hỏi.” (trích thư điện của một bạn chưa quen biết, đã có thư)

Còn, bạn đọc họ Nguyễn cũng viết cho bần đạo. Không trực tiếp. Nhưng, qua người bạn cùng lớp. Cùng trường. Rất thân thương. Như sau:

“Xin cảm ơn anh chị Mai Tá thật nhiều, vì anh đã cho Anna nhớ lại rất nhiều kỷ niệm hơn 40 năm về trước, Anna sống lại những kỷ niệm thật đẹp và quý yêu của ngày xưa. Qua những bài thơ. Qua những tên tuổi mà anh nhắc tới (như Gs Nguyễn Ngọc Lan). Anna đọc thấy vui và hấp dẫn. Cứ muốn đọc cho hết để biết là anh muốn nói gì. Tuy có chỗ phải suy nghĩ một chút, nên cũng hơi mệt cái đầu! Khi Anna đọc tới bài “Vì tôi là linh mục”, thật sự Anna rất cảm động, vì thuở ấy Anna rất quý mến chiếc áo chùng thâm của các cha Dòng Chúa Cứu Thế…!

Anna nhớ các vị như: cha Roy người Canada, là người có trách nhiệm cho Anna, khi Anna ở nội trú Couvent de Oiseaux, cha Bùi Quang Diệm, giáo sư triết của Anna. Cha Nguyễn Quang Kiêm, cậu của Anna, người Huế. Gs Nguyễn Ngọc Lan, thầy của Anna, cha Nguyễn Văn Sơn, thầy Tiến Lộc, thầy Cao Đăng Minh… và nhiều thầy khác trong ban Allêluia-Ca Vào Đời, thời 1968.

10 năm vừa qua, Anna có dịp trở lại Việt Nam để cố “đi tìm” nhưng rất tiếc, không gặp một ai. Chỉ nhớ là các cha Dòng Chúa Cứu Thế và các thầy ở Đà Lạt hồi đó có nói: “Nhất quỉ, nhì ma, thứ ba là “lũ quái” “Couvent des Oiseaux”. Thật sự trong đám quái này cũng có Anna, rất hay phá các cha Dòng và các Thầy. Nhưng tuy có phá có phách, vẫn quí yêu chiếc áo Dòng đen và yêu luôn các ngài.

Anna về Việt Nam có nghe người ta hát: ”Làm người khó lắm em ơi, làm người chưa được sao đòi làm tiên”. Anna nghe mà không biết của ai, nhưng nghĩ rằng: tiếng Việt mình rất chí lý!

Anna xin anh chị tha lỗi và cảm thông cho, vì Anna cũng ngu si lắm nếu có gì không phải xin anh chị thứ lỗi cho nhé. Vài lời kính thăm và cảm ơn anh chị thật nhiều vì đã cho Anna đọc những bài do anh chị viết. Anna thấy mình chịu đọc nên hiểu tiếng Việt dễ dàng hơn. Và cũng hiểu về Chúa nhiều hơn.

Mặc dầu Anna chưa được gặp anh chị, nhưng cũng cảm thấy như đã quen thân lắm rồi. Theo Anna nghĩ: mình sống chân thật, thì có xa cũng như là gần; và tuy không biết nhau thì đọc bài anh chị viết cũng như đã biết rồi.”

Cũng tuần này, bần đạo bất chợt gặp được một tư tưởng của nghệ sĩ khá lớn, cũng có những lời trần tình trên tập nhạc mang tựa đề “Trên Ngọn Tình Sầu”, có lời quý hoá như sau:

“Tôi nhớ, tình cờ đọc ở đâu đó, có một câu của nhạc sĩ Phạm Duy, in trang trọng trên trang đầu tuyển tập nhạc tình của anh, đại ý tỏ dấu tiếc đã không dành hết quãng đời viết nhạc của anh cho sự ngợi ca tình yêu.

Tôi thú vị lắm, phải nói thế, khi đọc lời tâm sự buồn bã nhưng thực chất của người làm nhạc lớp trước này. Vì tôi vẫn cho rằng nếu chim muông chỉ có một thời để ca hót, nếu cỏ cây chỉ có một thời để xanh tươi, thì chúng ta cũng chỉ có một đời để yêu và một đời để chết.

Tình yêu nói bằng cách nào đó, chính là khuôn mặt chập lại, sáng lên của sự sống và lẽ chết.” (x. Từ Công Phụng, sđd bìa tr. 4)

Hôm nay, bần đạo trích dẫn lời lẽ trên, chỉ để nói leo và nói theo bạn bè gần/xa. Trong/ngoài nhà. Về cái tật và bệnh của bần đạo, từng mắc phải. Cái tật cố hữu mà bần đạo cố lắm nhưng chưa chừa, chỉ hay lẻo đẽo nói theo rồi thêm thắt. Thêm cả những từ ngữ, lẫn ý tứ. Để cho vui. Những từ ngữ và ý tứ, như lời lẽ của Đức Cha rất thánh khi ngài tuyên bố “Thiên Chúa là Tình yêu”, thì bần đạo cứ nói theo và nói thêm đôi ý, mà rằng: Tình yêu thật ra không là Thiên Chúa. Nhưng tình yêu đưa ta về với Thiên Chúa. Là, thánh nhân. Cũng rất gần. Đấy thôi.

Vậy hôm nay, xin phép bạn/xin phép tôi, cứ cho bần đạo tiếp tục thực hiện cái-gọi-là một thời để phiếm và phiếm. Bần đạo hứa, sẽ không phiếm bạo hoặc phiếm loạn, về nhiều đề tài rất cao siêu. Mà, chỉ phiếm lai rai. Phiếm đường dài, về chữ Đạo. Và chữ “yêu”. Mà thôi.

Xin rồi, nay ta phiếm. Rất như sau.

“Một chiều bên nhau

một chiều vui sống quên phút tang bồng.

Anh ơi nhớ chăng xa anh em hát

khúc ca nhớ mong.” (Dương Thiệu Tước/Minh Trang –bđd)

Xem như thế, thì người trong/ngoài nhà Đạo hễ có cơ hội là những nhớ và mong. Mong và nhớ, những chiều bên nhau. Ở đâu đó. Trong/ngoài nhà thờ. Đọc cho nhau nghe, những giòng chảy vui sống. Những sống vui, phút tang bồng.

Còn nhớ: có lần bần đạo đọc được tư tưởng của một tác giả trên mạng mang tên là John Powell, khi ông nói: “Đời người, vẫn thấy tiềm ẩn hai bi kịch của cuộc sống. Đó là: sống mà không biết yêu. Và: yêu mà chẳng biết nói lên rằng mình đang yêu và đang nhớ.” (Ronald Rolheiser, Living in the face of Mortality, 03-01-2010)

Nếu diễn rộng, thì từ ngữ I-ê-u “yêu” có thể vẫn đính kèm chữ “thích”. Thích nghe. Thích đọc. Thích giữ lại những tình tự thân thương, mình vẫn yêu. Tuy nhiên, cả chữ “yêu” và “thích” vẫn luôn mỏng dòn. Dễ cạn và dễ mất. Cạn và mất, cả những tình tự “ái ân”, “say sưa”. Thời xưa, để rồi nay cứ hát những tâm tình u buồn, mất mát. Mất, vì lơ là, nên gió cuốn. Như lời nghệ sĩ viết tiếp:

“Một chiều gió mưa,

Em về thăm chốn xưa.

Non nước u buồn, nào đâu bóng cố nhân

lòng xót xa tình xưa.” (Dương Thiệu Tước/Mình Trang-bđd)

Với nhà Đạo, cũng thế. Có những thiếu sót, mất mát. Không thể tìm gặp lại. Dù, tình xưa. Người xưa. Xót xa và mất mát, là bởi đời mình chỉ là chuỗi dài trạng huống rất mỏng dòn. Dễ tang thương. Bất ổn. Dễ thương tổn. Có khi còn biến dạng. Chết chóc. Rất đáng khóc.

Với nhà Đạo, còn hơn thế. Hơn, là bởi: người nhà Đạo vẫn sống và vẫn biết. Sống, theo kinh nghiệm. Có đủ “Hỉ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục”, rất thất tình. Nhà Đạo vẫn biết đời người là thế. Và hơn thế. Như và hơn, là bởi người nhà Đạo vẫn được nghe biết những Lời vàng, như sau:

“Anh em đừng xao xuyến!

Hãy tin vào Thiên Chúa

và tin vào Thầy.”

(Ga 14: 1)

Nói của đáng, có “tin vào Thầy” mình, người người mới có được cuộc sống rất phải. Lại rất biết. Biết rằng mình đã sống rất mực. Sống, không sợ sệt. Sống, không ngại ngần những khổ đau. Âu sầu. Mất mát. Dù, mất đó có là mất đi một mối tình. Dù, sầu đây có là sầu buồn vì mình còn yếu kém. Không đạt được cả đến những gì là tối thiểu. Cuộc đời người.

Tin vào Thầy, đâu chỉ là tin như Tin Kính, mỗi chỉ đọc kinh. Tin vào Thầy, đâu là tối ngày lo lễ lạy với chầu lượt. Chẳng lý gì đến cuộc tình của người mình. Nhà mình. Rất khiếp kinh. Tin vào Thầy, cũng chẳng là tin rồi lại không tin, như xem xiếc. Những ảo thuật. Lúc thì tin, Chúa có mặt ở Nhà Tạm. Nơi Mình Thánh. Chứ không tin, Chúa đang ở với nghèo hèn. Người rất nghèo. Rất hèn kém. Đang “ăn xin”, ngoài đường. Đang bán vé số. Đang bị hất hủi, vì phân rẽ. Bè phái. Rất hãi kinh. Cho đời mình.

Tin vào Thầy mình, là tin rằng vẫn có Thầy, nơi người tớ. Ở bên cạnh. Ngay sát nách. Mà chẳng biết. Tin vào Thầy mình, là tin rằng Thầy chính là Tình yêu của hai người. Của nhiều người. Đối với mình. Với nhau. Ở đâu đó. Nơi xó xỉnh. Chứ đâu nào, ở nơi xa. Chốn tháp ngà. Cung điện La Mã. Rất Rôma. Chốn cao sang. Quyền quý. Đáng kính sợ.

Tin vào Thầy mình, là tin rằng ở đời này vẫn còn có người rất buồn sầu khổ đau. Nhưng, vẫn sống. Sống, để chứng minh rằng: Lời Thầy nói đúng. Mà lắm người chẳng chịu nghe. Lời Thầy nói khi xưa. Ở Lời Chúa. Tin vào Thầy, là tin rằng khi xưa Thầy từng nói:

“Thầy bảo thật anh em,

ai tin vào Thầy,

thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm.

Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa.”

(Ga 14: 12)

Hôm nay đây, Lời Thầy áp dụng cả vào những lời rất Đạo, nhưng vẫn lạo xạo trong đời. Ở thơ văn. Ở âm nhạc. Như lời nhạc, ta trích dẫn. Chỉ để nghe:

“Lâng lâng chiều mơ,

một chiều bâng khuâng đâu Nguồn Thơ.

Mây vương sầu lan

Gió ơi đưa hồn về làng cũ

nhắn thầm lời nguyện ước trong chiều xưa.”

(Dương Thiệu Tước & Minh Trang – bđd)

Nguyện, là nguyện cầu buổi chiều xưa, khi Thầy bảo:

“Ngày đó, anh em sẽ biết rằng

Thầy ở trong Cha Thầy,

anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em.”

(Ga 14: 20)

Xem như thế, Tin vào Thầy, là tin rằng Thầy đang ở trong ta. Ở lời thơ ý nhạc, rất người đời. Thầy còn ở, cả nơi truyện kể trong đời vẫn lẫn lộn những chuyện đáng nên tin, mà lại không tin. Hoặc, những chuyện không nên tin, mà lại đáng tin, như truyện kể hơi dài, lại ở dưới:

“Một lần Khổng Tử dẫn học trò đi du thuyết từ Lỗ sang Tề. Trong đám học trò đi với Khổng Tử có Nhan Hồi và Tử Lộ là hai học trò yêu của Khổng Tử.

Trong thời Đông Chu, chiến tranh liên miên, các nước chư hầu loạn lạc, dân chúng phiêu bạt điêu linh, lầm than đói khổ … Thầy trò Khổng Tử cũng lâm vào cảnh rau cháo cầm hơi và cũng có nhiều ngày phải nhịn đói, nhịn khát. Tuy vậy, không một ai kêu than, thoái chí; tất cả đều quyết tâm theo thầy đến cùng.

May mắn thay, ngày đầu tiên đến đất Tề, có một nhà hào phú từ lâu đã nghe danh Khổng Tử, nên đem biếu thầy trò một ít gạo … Khổng Tử liền phân công Tử Lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau, còn Nhan Hồi thì đảm nhận việc thổi cơm. 

Tại sao Khổng Tử lại giao cho Nhan Hồi – một đệ tử đạo cao đức trọng mà Khổng Tử đã đặt nhiều kỳ vọng nhất – phần việc nấu cơm? Bởi lẽ, trong hoàn cảnh đói kém, phân công cho Nhan Hồi việc bếp núc là hợp lý nhất.

Sau khi Tử Lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau, Nhan Hồi thổi cơm ở nhà bếp, Khổng Tử nằm đọc sách ở nhà trên, đối diện với nhà bếp, cách một cái sân nhỏ.

Đang đọc sách bỗng nghe một tiếng “cộp” từ nhà bếp vọng lên, Khổng Tử ngừng đọc, liếc mắt nhìn xuống … thấy Nhan Hồi từ từ mở vung, lấy đũa xới cơm cho vào tay và nắm lại từng nắm nhỏ … Xong, Nhan Hồi đậy vung lại, liếc mắt nhìn chung quanh … rồi từ từ đưa cơm lên miệng …

Hành động của Nhan Hồi không lọt qua đôi mắt của vị thầy tôn kính. Khổng Tử thở dài … ngửa mặt lên trời mà than rằng: “Chao ôi! Học trò nhất của ta mà lại đi ăn vụng thầy, vụng bạn, đốn mạt như thế này ư? Chao ôi! Bao nhiêu kỳ vọng ta đặt vào nó thế là tan thành mây khói!”

Sau đó, Tử Lộ cùng các môn sinh khác mang rau về … Nhan Hồi lại luộc rau … Khổng Tử vẫn nằm im đau khổ …

Một lát sau rau chín. Nhan Hồi và Tử Lộ dọn cơm lên nhà trên; tất cả các môn sinh chắp tay mời Khổng Tử xơi cơm.

Khổng Tử ngồi dậy và nói rằng: “Các con ơi! Chúng ta đi từ đất Lỗ sang Tề đường xa vạn dặm, thầy rất mừng vì trong hoàn cảnh loạn lạc, dãi nắng dầm mưa, đói khổ như thế này mà các con vẫn giữ được tấm lòng trong sạch, các con vẫn yêu thương đùm bọc nhau, các con vẫn một dạ theo thầy, trải qua bao nhiêu chặng đường đói cơm, khát nước …

Hôm nay, ngày đầu tiên đến đất Tề, may mắn làm sao thầy trò ta lại có được bữa cơm. Bữa cơm đầu tiên trên đất Tề làm thầy chạnh lòng nhớ đến quê hương nước Lỗ. Thầy nhớ đến cha mẹ thầy … cho nên thầy muốn xới một bát cơm để cúng cha mẹ thầy, các con bảo có nên chăng?

Trừ Nhan Hồi đứng im, còn các môn sinh đều chắp tay thưa:

-Dạ thưa thầy, nên ạ!”

Khổng Tử lại nói:

-Nhưng không biết nồi cơm này có sạch hay không?

Tất cả học trò không rõ ý Khổng Tử muốn nói gì nên ngơ ngác nhìn nhau. Lúc bấy giờ Nhan Hồi liền chắp tay thưa:

-Dạ thưa thầy, nồi cơm này không được sạch.

Khổng Tử hỏi:

-Tại sao?

Nhan Hồi thưa:

-Khi cơm chín con mở vung ra xem thử cơm đã chín đều chưa, chẳng may một cơn gió tràn vào, bồ hóng và bụi trên trần nhà rơi xuống làm bẩn cả nồi cơm. Con đã nhanh tay đậy vung lại nhưng không kịp. Sau đó con liền xới lớp cơm bẩn ra, định vứt đi … nhưng lại nghĩ: cơm thì ít, anh em lại đông, nếu bỏ lớp cơm bẩn này thì vô hình chung làm mất một phần ăn, anh em hẳn phải ăn ít lại. Vì thế cho nên con đã mạn phép thầy và tất cả anh em, ăn trước phần cơm bẩn ấy, còn phần cơm sạch để dâng thầy và tất cả anh em …

Thưa thầy, như vậy là hôm nay con đã ăn cơm rồi … bây giờ, con xin phép không ăn cơm nữa, con chỉ ăn phần rau. Và … thưa thầy, nồi cơm đã ăn trước thì không nên cúng nữa ạ!

Nghe Nhan Hồi nói xong, Khổng Tử ngửa mặt lên trời mà than rằng: “Chao ôi! Thế ra trên đời này có những việc chính mắt mình trông thấy rành rành mà vẫn không tin là đúng sự thật! Chao ôi! Suýt tí nữa là Khổng Tử này trở thành kẻ hồ đồ!”

Khổng Tử là bậc thánh hiền, thấy “sự việc đành rành” như thế, mà cũng không tin. Không tin và không hiểu, theo kiểu “sự thật”, đến như vậy. Thì, sá gì những người bình thường và tầm thường, như tôi, như bạn. Như chúng ta.

Để kết hậu, xin mượn lời của bạn bè, ai đó, có những câu nói “rất để đời”, như sau:

“Cuộc đời nào cũng ngắn ngủi. Bởi thế nên, cứ bỏ đi cái “vị kỷ” khá ly kỳ. Ngạo mạn. Hãy mau mắn, mà thứ tha. Hãy cứ tà tà, chầm chậm mà tín thác-yêu thương. Tin từ từ. Nhưng, yêu thật sự. Cứ cười lên thật to. Rồi hãy nhớ: đừng bao giờ bỏ qua những cơ hội làm mình mỉm cười, rất đáng yêu. Rồi, cũng nên tâm niệm một điều: sáng sáng thức dậy, hãy cứ hỏi: có chăng hôm nay, bí kíp gì tạo thành công, trong cuộc đời. Vào lúc này? Và đây, là câu trả lời, ở chung quanh:

Chiếc quạt trên trần nhà, bảo: hãy trở nên tươi mát, sẽ dễ chịu.

Mái ngói căn nhà lại cứ nói: hãy đặt tầm nhìn mãi trên cao, cao hơn nữa.

Cửa sổ nhỏ, lại bảo khác: cứ đưa mắt nhìn đời, sẽ thấy mới.

Đồng hồ treo tường, chậm rãi nói: Mỗi giây mỗi phút, đều cực quí.

Gương soi, lại bảo: Cứ cân nhắc mà xem, trước khi làm.

Tấm lịch ngày, thì nói khác: Luôn phải nhớ cập nhật hoá, mới đúng cách. Mà sống sót.

Cánh cửa, lại khuyên khác: Cứ đẩy mạnh mọi tiến trình, sẽ đạt mục đích!

Lời khuyên thường như thế, tin hay không tin, là chuyện của mỗi người, mỗi thời. Suốt cuộc đời. Một đời người, còn có những đề nghị rất ngắn gọn, của người viết, nào đó, chẳng phải tôi:

“Hãy mang theo Con Tim, chưa từng biết hờn giận, và ghét ghen.

Hãy nhoẻn một nụ cười, không bao giờ tắt trên môi.

Hãy sờ chạm mọi thứ, cả đến sự thật. Nhưng tình thật, đừng làm ai đau đớn.”

Thế đó là vấn đề. Của tôi và của bạn. Rất hôm nay. Thời gian là của bạn. Quyết định là của tôi. Những tôi và bạn, vẫn cứ bên nhau mà dựa dẫm. Suốt đời. Ở mọi thời.

Trần Ngọc Mười Hai

vẫn cứ tin rằng

mọi sự thật được phơi bầy

trên mái nhà

để ta yêu.

19. “Em có bao giờ còn nhớ mùa xuân”
Nhớ tháng năm xưa của tuổi dại khờ.”

(Ngô Thụy Miên – Em Còn Nhớ Mùa Xuân)

Rm 6: 8

Về chữ “nhớ”, đúng ngày người mình tiễn biệt Thầy Chí Ái, vào Thứ Năm Thánh 2010, bần đạo được dặn: chớ quên buổi an táng người anh em bên Phật. Tại Nghĩa trang Botany, Sydney. Dự buổi an táng ở nghĩa trang. Ai cũng đều thấy bi ai. Thổn thức. Từ biệt. Giã từ biền biệt người chiến hữu ngoài Đạo, vẫn nhân ái. Bất khuất. Độ lượng. Và, đặc trưng buổi hôm ấy, là câu hát rất nghe quen của một thành viên tham dự, trước giờ “G”. Chốn về. Rất gợi nhớ.

Gợi nhớ ở trên, thoạt nghe đã thấy đẹp. Đẹp như một giòng thơ. Có nhạc kèm. Rất chân chất. Những thi ca. Nhạc nền. Đến độ, người nghe thấy lòng mình, như thẫn thờ. Hít thở từng lời thơ. Ý nhạc. Thanh thoát. Nhè nhẹ đi vào hồn người. Bình yên. Thoát tục.

Này hỡi bạn, và hỡi tôi. Nên chăng ta cứ thử đổi thay chỉ nét “x” ở từ “xuân”. Thử thay đổi, bằng những chấm phá đậm mầu. Viết chữ Hoa. Rất lớn. Thử rồi, ta sẽ có ngay một liên tưởng, về Chúa Xuân. Tức, Đức Chúa của Mùa Xuân. Của, Tình Yêu. Xuân Bất Tận. Hằng hiện hữu. Bằng, tình tự. Ý tứ. Rất thơ văn. Khiến văn nhân/thi sĩ cho chí người đặt nhạc, cứ liên tục nhân cách hoá, Thứ Tình rất Xuân. Có mặt ở mọi nơi. Tình rất thánh. Của, yêu thương. Nồng thắm. Nụ cười gần.

Gợi nhớ nhiều, để bạn và tôi, ta nhận ra rằng ở nơi đó có Mùa Xuân người đời vẫn cứ hát:

“Nơi ấy bây giờ còn có mùa Xuân?
Có dáng nghiêng nghiêng nụ cười thật gần,
Có mắt nai vàng ngời sáng tình xanh,
Em có bao giờ thấu cho lòng anh”.

(Ngô Thuỵ Miên – bđd)

Lại một lần. Ý tứ. Tình tự Mùa Xuân, là ý/là tình, cũng rất “xanh”. Có dáng nghiêng nghiêng. Có, nụ cười gần. Có nai vàng. Ngời sáng, mắt tinh anh. Của anh. Của em. Nay rất nhớ.

Không cần biết, anh hoặc em, là bạn/là tôi, ta có gọi nhau. Coi nhau như người anh/người chị có Xuân không, thì Chúa Xuân muôn đời là Đấng có “nụ cười gần”. Giọng hát trẻ. Như: “tiếng dương cầm”. Sáng, một tình xanh. Tinh anh. Mầu của biển. Của trời. Là, hy vọng ta đang có. Làm ta nhớ. Và thương. Thương nhớ Mùa Xuân. Mến Chúa Xuân.

Về nhớ. Về thương, lại cũng một lần từng nhắn nhủ ở lời ngỏ. Bên dưới:

“Em nhé, khi nào chợt nhớ mùa xuân,
Nhớ lá thư xanh, và chuyện tình hồng.
Nhớ nắng hanh vàng, nhuộm áo Hà Đông,
Anh ở nơi này, vẫn luôn chờ mong.”

(Ngô Thuỵ Miên – bđd)

Anh và em sống ở nơi này, vẫn luôn mong chờ Chúa Xuân như chờ mong điều tốt đẹp. Hệt như thế. Chờ và mong, như lời nhắn của đấng thánh thời giáo hội tiên khởi, lại cứ bảo:

“Con hãy nhớ rằng:

Đức Giêsu Kitô

từ trong kẻ chết

Người đã Phục Sinh.

Chúa (ư) là ơn cứu độ chúng ta

Nguồn Vinh Quang muôn đời của ta, (à)!”

(Nhạc Hoàng Kim – lời thư thánh Phaolô gửi Timôtê 2: 8-11)

Nay nhớ Lời, hẳn là người người vẫn nhớ nhiều, về sự sống. Nỗi chết. Sự sống lại. Cứ xảy đến với mọi người. Ở mọi nơi.

Nơi cuộc đời. Với con người. Luôn những gợi nhớ. Nhắn nhủ. Rất dễ thương. Ngoan cường. Quả quyết. Nhắn và nhủ, là Lời thân thương. Thuở trước. Rất trìu mến. Một dặn dò, rất như sau:

“Thật! Thầy bảo thật anh em:

tôi tớ không lớn hơn chủ nhà,

kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi.

Anh em đã biết những điều đó,

nếu anh em thực hành,

thì thật phúc cho anh em!

(Ga 13: 16-18)

Gợi nhớ/nhắn nhủ, không chỉ là như thế. Nhớ, là nhớ Lời Yêu Thương. Có, nhắn và nhủ. Nhắn và nhủ, là Lời Nhắn Thầy đã thêm cả quan niệm sống. Rất đúng. Quan niệm ấy. Nhận định này. Là, nhắn nhủ. Ở mọi thời. Rất như sau:

“Ứng nghiệm lời Kinh Thánh:

Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh

lại giơ gót đạp con.

Thầy nói với anh em điều đó ngay từ lúc này,

trước khi sự việc xảy ra,

để khi sự việc xảy ra, anh em tin là Thầy Hằng Hữu.”

(Ga 13: 19-20)

Buổi ấy, Hội thánh đã có những kẻ “giơ gót đạp”. Chống Chúa. Phản thần. Hôm nay, đồ đệ Chúa lại cũng gặp những kẻ/những vị hưởng “lộc thánh” từ dân con của Chúa, nay lại đã “giơ gót đạp” Hội (của các) thánh, bằng nhiều cách. Cách, mà người đời, thời nay, hay gọi bằng ngôn từ đã rất quen: “đâm sau lưng chiến sĩ”. Tức, hành động chống đối. Ra mặt. Chống đối, bạn bè cùng bàn. Ăn chung bánh. Vẫn lân la. Hưởng lộc. Từ nhà Đạo. Từ dân con của Đức Chúa.

Hôm nay, đi vào vườn nhà của Chúa để hưởng lộc thánh qua câu ca/điệu nhạc, mà bạn bè đang tin hay không còn tin Lời Chúa nữa. Ngang qua ý/tình trong sáng. Tuyệt diệu. Của hồn Thơ. Yêu kiều. Diễm lệ. Chợt thấy lòng mình đã về lại với “tình Xanh”. Bàng bạc. Lạc lõng nhiều vần. Nhiều điệu. Vần và điệu, là giòng chảy thơ văn, lạc lõng. Rải rác đó đây đôi cọng gai. Nơi loài hoa, ở đời thường. Vẫn tỏ lộ ở nơi ấy. Nơi có nhiều phản kháng. Khích bác. Phẫn uất. Dù họ đang đứng trước vẻ đẹp của hoa mầu đủ loại. Chúa tạo nên. Gai nhọn ở hoa. Trong đời. Nay đem nhiều tai hại. Khiến người thưởng lãm đâm lúng túng. Ngại ngùng. Khó chịu.

Chẳng thế mà, nghệ sĩ nhà ta, lại cũng viết:

“Trời Sàigòn chiều hôm nay

còn nhiều mây bay.

Nhiều đau thương

bi hận tràn đầy…”

(Ngô Thụy Miên – bđd)

Vườn hoa Đạo, nay không còn là “khung trời Sàigòn” đầy bi hận. Nhiều mây bay. Như vẫn thấy. Thấy, những chông gai. Nho nhỏ. Nhọn hoắt. Nhức nhối. Thấy, gai nhọn vẫn châm chích hoa vườn nhà Đạo. Tạo rối rắm. Gai rối, thường thấy đó kể từ ngày có cơn hấp hối và nỗi chết của Thầy Chí Thánh. Suốt nhiều thời.

Gần nhất, là thời hiện tại có những tên tuổi nổi cộm, một Richard Dawkins với “The God Delusion”. Một Christopher Hitchens, với “God is not Great”. Có cả Sam Harris với “The End of Faith”. Gai nhọn chích đau, xảy đến từ ngày Chúa chấp nhận khổ hình. Nỗi chết. Rất nhiệm mầu. Cứu độ.

Gai nhọn nay, rày đã thấy từ văn nhân gốc vô thần. Phản chống Chúa. Nhưng, người chống đối hôm nay, không thông minh. Cũng chẳng thuyết phục được nhiều người. Như, nhóm hội bè rối thời Trung Cổ, thế kỷ trước. Những người rỗi-hơi-tìm-giết-Chúa, ngồi viết sách cho bè nhóm thích kình chống. Chẳng muốn tin. Nhưng chỉ thích ngồi nhìn thiên hạ múa may quay cuồng, rồi loan tin thổi phồng, hơn kiếm tìm sự thật. Rất nghiêm. Rất chỉnh. Thế nên, gai nhọn chích vẫn muốn khích bác người chân thật. Yếu bóng vía. Vốn hãi sợ, nên thiếu tự tin. Thiếu phương cách thích hợp để phản bác. Cứu niềm tin, bị thử thách.

Thử thách từ gai nhọn nơi hoa vườn nhà Đạo, nay không là gươm đao. Súng ống. Những doạ dẫm. Mà, thách thức những điều mình đang tin. Tin Chúa hiện diện. Với mình. Không qua sách vở. Nhưng, bằng kinh nghiệm lịch sử. Bằng ghi chép. Ghi và chép, lịch sử người Do Thái. Bằng sử sách. Rất đáng tin. Tin Đức Giêsu thành Nadarét. Đấng đã chết cho cả kẻ tin lẫn người không biết.

Các sử gia thời trước, như Josephus của Do thái, Tacitus của La Mã từng viết sử thật nghiêm túc về Đức Giêsu khi ghi chép hành động tàn bạo và gian ác của cựu hoàng Nêrô chỉ thích vui say nhảy múa trước cảnh tình thành La mã cháy rực. Rồi đổ vấy cho người Công giáo, là thủ phạm.

Cả đến sử gia người La Mã là Seutonius cũng không quên đề cập đến Đức Giêsu đã hành trình qua Tibêriát được cả người khâm phục lẫn kẻ thù Đạo Chúa đều rất tin. Và, công nhận sự thật.

Thêm vào đó, còn có tổng trấn Pliny vùng Tiểu Á cũng đã nói đến Đức Giêsu. Đến người Đạo Chúa. Và tiếp đến, còn có chứng từ của Phúc Âm. Tức, lời tâm phúc từ những người theo bước chân mềm của Ngài. Và, rong ruổi đường dài, để truyền bá. Cứ thế, người nghe nay thấu hiểu Lời Ngài, càng học biết thêm. Đã chứng minh điều đó, có thực.

Không như Richard Dawkins từng nhận định rằng con người càng khám phá được nhiều thứ trong quá khứ với kỹ thuật khoa học tân tiến thì sẽ, lại ít tin hơn. Không phải như vậy, như bản chỉ bằng giấy thảo Ryland Papyrus sông Nile, Ai Cập cũng bao gồm nhiều đoạn nhắc đến Phúc Âm thánh Gioan, thời trước. Và, các nhà kinh điển nghiêm túc từng công nhận Lời của Chúa trong Phúc Âm, vào niên biểu 100, sau công nguyên. Xem như thế, người từng có mặt vào thời của Đức Kitô khi ấy còn sống vẫn làm chứng, và xác nhận, điều cần minh xác.

Quả thật, không nhà chú giải Kinh Thánh nào lại còn nghi ngờ việc Chúa có thật. Ngài tuyên bố chính Ngài là Đấng Mêsia bằng xương bằng thịt. Và, những ai biết Ngài đều đã tin. Tin rằng, Ngài đích thực là Con Thiên Chúa. Bởi nếu không, người nghe sẽ cho là Ngài nói dối. Hoặc mất trí. Thật ra, không ai tin tưởng vào người nói dối. Khùng điên. Hay, mất trí.

Không ai bắt buộc ta tin hết mọi chuyện. Nhưng, lý trí bảo cho ta biết: nếu không, ít ra cũng nên tự hỏi tại sao những người tin vào Ngài, lại đã chấp nhận cái chết. Chết vì Đạo. Nhiều đến thế. Đành rằng, người người có thể chết vì các lý tưởng chưa được xác minh. Nhưng ít ra, họ cũng đã nhận thức được các lý lẽ, rất đúng. Nên mới tin đến như thế. Điều cần nhớ, là: người từng biết và tin vào Đức Giêsu. Từng sống với Ngài. Từng thấy Ngài chết đi. Và, sống lại. Tất cả đều chấp nhận ra đi vào cõi chết. Rất vui vẻ. Mãn nguyện.

Cuối cùng, là thế này: đã có những người khá thông minh. Sống trên đời. Bằng cuộc sống, rất bình thường. Họ là dân chài. Hoặc, những người trước đây từng bách hại, các kẻ tin. Cả đến phường giá áo túi cơm. Đàng điếm. Quân thu thuế. Nhất nhất, đều chung một niềm rất vững tin. Họ là những người không cười mỉa vào niềm tin, của người khác. Như, kẻ chống Chúa. Phản thần. Ở đây, chẳng có gì chứng minh rằng kẻ tin vào Chúa là người ngu si. Thiếu hiểu biết. Ngược lại, họ vẫn khôn ngoan. Thông minh. Sáng suốt. Vẫn say mê. Tin vào Đức Chúa. Chứ không tin lời khoác lác. Với những thuyết trừu tượng. Không tưởng. Của giới vô thần. Phản Chúa. Chẳng đáng để tâm.

Cuối cùng, có lẽ nên diễn tả điều này, bằng lời thơ/ý nhạc của người ngoài, qua lời hát:

“Những thành phố em sẽ đi qua,

Đây Ba lê, đây Luân đôn, đây Vienna.

Nhưng có đâu bằng Sàigòn hôm qua

Nhưng có đâu bằng Sàigòn mai sau

Em có mơ ngày hát câu hồi hương?”

(Ngô Thụy Miên – bđd)

Nay thêm lời nhắn nhủ: nếu ta thay tên thành phố mình đã đi qua, bằng niềm tin mình vẫn có. Hẳn rằng, người người sẽ “hát câu hồi hương”. Hồi hương hay hồi hướng, vẫn là về với niềm tin, ta còn giữ. Về với tình thương ta trải dàn. Với mọi người. Thế cũng đủ. Bởi, tin là gì nếu không là yêu thương. Giùm giúp. Giúp cả người tin vào Đấng Ở Trên, lẫn kẻ vô thần. Phản chống Chúa.

Tin, là biết hát lời ca tuyệt đẹp mà nghệ sĩ trên từng nhắn nhủ, khi còn trẻ:

“Em có bao giờ còn nhớ mùa xuân”
Nhớ tháng năm xưa của tuổi dại khờ

Nhớ tiếng dương cầm, giọng hát trẻ thơ,

Có thấy bơ vơ, ngày tháng đợi chờ…”

(Ngô Thụy Miên – bđd)

Tin, là nhìn thẳng vào đời, có những người từng bảo cho mình biết. Từng kể cho mình nghe. Nghe, những truyện kể. Lễ mễ. Dông dài. Nhưng, rất ý nghĩa. Như sau:

“Truyện rằng:

Cô gái nọ, từng bị người mình yêu mến, bỏ ra đi. Thấy buồn, cô ra ghế đá công viên, ngồi khóc lóc. Khá thảm thiết. Bỗng, có nhà hiền triết đến gần bên. Nhè nhẹ hỏi:

-Sao thế? Sao cô lại ngồi khóc một mình, đến là thế?

-Em cũng chẳng hiểu tại sao người em yêu, sau một cãi vã. Khích bác. Nay bỏ đi.

-Cô thật khờ. Có gì đâu mà buồn với giận. Lại còn khóc!

-Tại sao không? Người em yêu, vẫn chống lại ý của em. Nay đã đi. Bác thì chê em khờ. Lại chỉ trích. Xin giải thích lý do là cớ gì.

Nhà hiền triết trả lời:

-Này nhé. Tôi bảo cô khờ, là vì đời người chẳng có gì đáng để cơn buồn kéo dài nỗi lo âu. Thực ra, kẻ buồn nhất phải là anh ta chứ nào là cô. Mất mát đây, với cô, chỉ là mất trong chốc lát. Chỉ mất đi người không yêu mình. Nhưng anh ta, dù có khích bác cô, cũng đã mất đi người hằng yêu mến anh ta. Cô có nhận ra điều ấy chứ?

Nghe giải thích, cô gái không trả lời, lẳng lặng mà đi. Đi về nhà. Không còn bị dằn vặt bởi sự thể có những người đã không yêu không thích, còn châm chích. Khích bác. Rồi bỏ đi.

Thời gian trôi qua, nỗi buồn người con gái đã dịu bớt. Nhưng người kia, nhân vật chính trong vụ cãi vã. Đả kích. Khích bác. Đả và khích, cả đến nhân sinh quan/lối sống của người khác. Nay đã nhận, là: mình chính là người ngày càng sống xa cách. Vò võ. Đơn độc. Dù, vẫn giữ lập trường rất tư riêng của mình. Rất tiếc và rất thương. Tiếc, vì đã để mất tình thương yêu. Quí mến. Từ những người đáng mến. Đáng yêu.

Mất mát tình thương yêu, là mất mát không thể tái tạo được. Để, cuối cùng, người ấy nay đã nhận ra rằng: điều quý trên đời, chẳng là chân lý/ý niệm, mình đang có. Đang quảng bá. Những thứ ấy, sẽ dần dần biến dạng. Với thời gian. Còn lại, điều quý giá/quan trọng nhất, vẫn là: biết nắm giữ hạnh phúc. Mình đang sống. Hạnh phúc ấy, là tình yêu. Là, tin rằng: Tình Yêu kia, là tất cả. Và, tình yêu chỉ có, nếu mình biết tin vào hạnh phúc. Vào Tình Yêu đích thực. Vẫn hiện diện. Vẫn đang có. Trên đời. Chí ít, là tin rằng: Đấng Có, là Đức Chúa luôn thương yêu hết mọi người. Chính đó là Niềm Tin. Chính đó là tình yêu. Chứ không phải sự nổi tếng. Với cãi cọ. Chống đối. Suốt mọi thời.

Truyện ở trên, hay hơn cả thiên triết thuyết. Về cuộc sống. Bởi, sống ở đời, mà không có Tình Yêu. Hoặc, không tin vào Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu, Đấng đang hiện diện với ta. Trong ta. Thì, cuộc đời thật vô nghĩa. Người sống trong đời, mà lại không có niềm-tin-yêu, thì cũng chẳng khác nào người đang chết. Nhưng vẫn thở. Thậm chí, có khi cũng không tin là mình đang hít thở, một Tình Yêu.

Trần Ngọc Mười Hai

cầu cho Tình yêu ở mãi với mình và với người

để mãi mãi sẽ còn tin.

Tin Thiên Chúa là Tình Yêu.

20. “Trên đường về nhớ đầy”
Chiều chậm đưa chân ngày
Tiếng buồn vang trong mây
Tiếng buồn vang trong mây..

(Dương Thiệu Tước – Chiều)

Lc 23: 34

Lời hát trên, có thể là câu hỏi. Hỏi sao đó, nào có biết. Có thể, là một khẳng định. Hỏi han/khẳng định, cũng là nhung nhớ. Nhớ buổi chiều. Có bước chân. Ân tình ngây ngây. Có gió say. Gió hay tình, vẫn cứ chồng chất trong hồn chiều nay. Vẫn có niềm đau. Sầu vạn cổ. Khó khuây.

Niềm khổ đau/sầu vạn cổ? Đâu mà chẳng có. Có khi, là buồn vang trong mây. Đưa chân ngày. Theo khói thuốc. Rồi, ngỡ lòng mình là rừng. Là, lữ khách ở đâu đó. Chốn nợ đời. Nhà Đạo. Cứ lạo xạo niềm nhung nhớ đến độ quên cất cánh. Cả buổi sau này.

Đường vào đời, không phải khi nào cũng có hỏi han. Khẳng định. Nhưng, có hỏi và han, thì cũng chỉ vài ba thắc mắc cỏn con, như cô bé nọ vẫn hỏi trong truyện kể, ở bên dưới:

“Có cô bé nọ thấy mẹ hiền hôm nay hơi rảnh rỗi, bèn đến gần hỏi:

-Mẹ à, sao con thấy đời người toàn những chuyện nhiêu khê/phiền phức thế?

-Hôm nay con làm sao mà lại nghĩ quanh nghĩ quẩn như thế, vậy con?

-Con có nghĩ quẩn gì đâu mẹ! Chả là, con có mấy đứa bạn rất thân, không biết làm sao chúng nó lại hên đến thế. Chuyện gì cũng xuôi trót, kể cả học hành. Bồ bịch. Làm ăn…

-Thôi, mẹ đề nghị con thế này. Con đừng nghĩ ngợi như thế nữa. Giờ, hãy theo mẹ vào đây. Hai mẹ con mình làm món bánh gì đó, cho đời thêm ngọt.

-Ồ. Tuyệt! Gì chứ bánh là con thích lắm đó, mẹ à.

-Ừ, thế này. Con cầm bình dầu ăn này lên xem. Nhắp thử một hụm, xem nó thế nào

-Trời! Sao mẹ lại bảo con húp thử dầu ăn, ghê gớm lắm?

-Thôi, thì con cầm lấy trứng này vậy. Hãy đập nó ra, ăn ngay lập tức.

-Con nghe có một số người ăn sống nuốt tươi trứng gà chưa nấu, nhưng con chịu thôi.

-Đây, là bột mì. Con nhón thử một dụm, xem nó ăn được, không!

-Không dám đâu, mẹ à! Con làm thế, sẽ ói ra nhà ngay bây giờ cho mẹ xem.

-Đấy. Con thấy không? Những thứ mẹ đưa cho con, nếu không chuẩn bị chu đáo, mình chẳng thể nào đưa nó vào miệng, nhận ngay cho đời mình, mà lại có kết quả. Gọi nó là bánh, chè cháo, hay bún, hay phở cơm gì gì, cũng thế. Chẳng thể nào, ta hài lòng với kết quả của mọi thứ mọi sự, nếu không nhìn vào thực chất và chấp nhận nó như cái gì phải có, cho đời. Của trời cho. Việc Chúa làm, cũng như thế. Nhiều lúc ta cứ thắc mắc, sao Chúa để ta thiếu thốn đủ mọi thứ, như thế nhỉ? Có khi, lại còn âu sầu khổ não, thê thảm nữa đấy chứ. Và, cũng không biết đời mình rồi sẽ ra sao. Cả mặt này lẫn khía cạnh nọ. Những chuyện ấy, mẹ nghĩ ta chỉ nên tóm lại duy nhất điều này, là: Chúa biết mọi việc sẽ xảy đến. Dù có thế nào đi nữa, Ngài cũng không để ta một mình, mà lại không giúp đỡ. Bởi thế nên, ta không làm việc gì cho ra hồn, mà không chuẩn bị kỹ. Nếu, không nghe lời chỉ dẫn của người khôn ngoan đi trước, tức những người biết nhiều hơn ta, và nếu không theo bài bản, làm đúng qui cách. Một khi có ý hướng hẳn hòi thì chắc rồi ra ta cũng sẽ thành công, thôi.

Chúa cho mặt trời mọc, buổi sáng. Ngài có mặt bên ta, mỗi khi ta cần Ngài. Ngài ở bất cứ nơi nào, trong vũ trụ/trần thế. Nhưng, Ngài vẫn chọn nằm gọn trong tâm can của con. Và, của mẹ. Và, Ngài sẽ ở đó mãi mãi. Ai cũng thế. Ai cũng nhận ân huệ đồng đều, Ngài ban. Nếu biết cách nhận và sẻ san cho người khác, chắc chắn ta sẽ thành công. Mãn nguyện.

Chuyện trên, nghe chừng hơi quen. Quen, như nghe một bài giảng. Chia sẻ, ở nhà thờ. Dễ nhớ. Nhưng, nói thế chưa hẳn là mọi người sẽ đồng ý. Chí ít, nó lại liên quan đền cuộc đời, của riêng tôi. Như, ý/lời nhà thơ còn nói rõ, qua câu hát:

“Tôi là người lữ khách,

Mầu chiều khó làm khuây

ngỡ lòng mình là rừng

ngỡ lòng mình là mây

nhớ nhà châm điếu thuốc,

khói huyền bay lên cây.”

(Dương Thiệu Tước/Hồ Dzếnh – bđd)

Chuyện bí kíp để thành công, sung sướng trong đời người. Với người đời. Vẫn là “khói huyền bay lên cây”. Bay, theo điếu thuốc. Nếu bạn và tôi, ta áp dụng đúng cách lời mẹ hiền của bé nọ, kể ở trên. Áp dụng, Lời của Chúa, từng khuyên dạy ta khá nhiều lần. Ở Kinh Sách. Nhưng, tất cả vẫn cứ là “khói huyền bay lên cây”. Trên mây. Mất biệt.

Thành công trong đời. Với người ngoài, đã thấy khó. Còn khó hơn, với đời đi Đạo và giữ Đạo. Khó, là khó ở với đời. Khó, không vì luật lệ. Truyền thống. Nhưng, khó vì mỗi người mỗi ý. Ý nào, người cũng cho rằng của mình, vẫn tuyệt hơn. Khó, còn vì: nhà Đạo mình vẫn cứ lạo xạo, những chuyện không hay. Không phải. Ở đây ở đó.

Chuyện không hay/không phải, là chuyện của tôi và của bạn. Vẫn như câu hát:

“Chim rừng quên cất cánh,

Gió say tình ngây ngây

Có phải sầu vạn cổ,

Chất trong hồn chiều nay,

Chất trong hồn chiều nay?”

(Dương Thiệu Tước/Hồ Dzếnh-bđd)

Vâng. Chất trong hồn chiều nay hay mọi buổi, không là “sầu vạn cổ”, cho bằng mối ưu tư khắc khoải, còn nhớ rất đầy, chuyện từng quấy rầy đầu óc của dân con mình. Chuyện, là chuyện về yêu thương. Tha thứ. Tha rồi hãy quên cho trót. Chuyện đời sống cứ loanh quanh, làm mình bực bõ. Khó quên. Những chuyện, mà độc giả nọ, dám viết thư về toà soạn Tuần Báo Công Giáo ở Sydney, để hỏi rõ. Như sau:

“Tôi nghe được ở đâu đó. Chừng như đó là lời giải của ông cha, nhà Đạo. Là, chuyện phải tha cho ai làm mình đau khổ. Vậy nên, câu hỏi của tôi là thế này: Việc tha thứ, có áp dụng cho các trường hợp có những người làm mình sầu não và khổ đau mà chẳng biết ân hận hoặc quyết tâm chừa bỏ, chuyện mình từng làm, không? Theo tôi, Chúa có hiền cách mấy cũng không thể nào tha thứ cho những người không biết ân hận là gì, và những người không biết đến sám hối, có phải thế không, xin phép hỏi.”

Hỏi, là hỏi thế. Chứ, trả lời thì làm sao dám trả lời giống như thế, cho được. Hỏi, mà lại hỏi nhà báo hay “cả nhà-làm-báo” như tờ The Catholic Weekly, uy tín đầy mình, thì câu trả lời đương nhiên là phải chuyển đến đấng bậc rất “đức thầy” đầy chất Harvard, là Lm John Flader. Một linh mục có kinh nghiệm đầy mình, lại uy tín nữa. Thế nên, giải đáp đức ngài đưa ra chắc chắn sẽ chính mạch, tức chính qui và mạch lạc, rất như sau:

“Trước hết, xin nói ngay rằng ông/bạn có lý, khi bảo rằng Đức Chúa chắc Ngài cũng sẽ không thứ tha nhiều nếu ta không biết sám hối. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo có ghi rõ chuyện các vị phải vào chốn ngục hình, là: “Khi chết mà trong người còn vương vấn tội tình, lại không biết sám hối, hoặc chẳng chấp nhận mối tình đầy xót thương của Chúa, điều này có nghĩa là: người đó sẽ mãi mãi phải xa cách Chúa, do chính mình chọn lựa tự do cho mình.” (GLHTCG #1033)

Nếu đương sự biết sám hối, thì chắc chắn Chúa thứ tha họ ngay; và Ngài ðưa họ vào với tình yêu thương nhân hậu, của Ngài. Vả lại, giả như người ấy không biết hối lỗi vì đã làm phật lòng Chúa, thì những người như thế không thể nào hiệp thông vào với sự sống và tình yêu của Chúa, được. Bởi, đó là thiên đàng. Đó, là Nước Trời, ở trần gian.

Trở lại câu hỏi của ông/bạn, về việc tha thứ cho người nào không biết đường mà sám hối, thì thật ra cũng khó nói. Hỏi rằng Chúa có trông đợi chúng ta làm như thế không? Nhìn vào Kinh thánh, câu trả là rõ ràng là: có. Chúa vẫn trông đợi, ta làm thế.

Trước nhất, Chúa không phân biệt, khi Ngài khuyên: ta phải tha thứ người đồng loại. Ngay cả lúc, Ngài dạy mọi người đọc kinh “Lạy Cha”, Ngài cũng còn thêm câu: "Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha của anh em ở trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng, nếu anh em không tha cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha cho anh em.” (Mt 6: 14-15)

Từ đó, ta không thấy có gì khác biệt khi nói phải tha thứ cho người làm lỗi đối với ta. Dù, anh/chị ấy có biết sám hối hay không. Ta vẫn phải tha thứ. Ngay sau đó, Chúa còn kể cho ta một ví dụ về việc Ngài cũng tha thứ những người hại Ngài, mà không biết hối cải. Ở thập giá, Ngài xin Cha Ngài thứ tha cho những người từng hại Ngài, lại đã nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm." (Lc 23: 34)

Có điều chắc, là: những người từng hành hạ và đóng đinh Chúa vào thập giá, lúc ấy cũng chẳng biết gì chuyện hối cải điều mình làm, cho Chúa. Nhưng, Ngài vẫn xin Chúa Cha tha cho họ. Tha, hết mọi người.

Tin Mừng thánh Gioan có viết: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy yêu thương anh em.”(Ga 13: 34). Nói thế, hẳn Ngài dạy ta hãy tha cho những người không biết hối cải, tựa như Ngài xin Cha tha cho những ai làm hại Ngài.

Một điều khác nữa, là: ta không thể yên tâm với chính mình, với người đồng loại hoặc cả với Chúa, cho đến khi ta thực sự tha thứ cho bất cứ ai làm hại ta. Chẳng cần biết họ có hối cải, không. Dĩ nhiên, chẳng ai muốn giáp mặt Chúa vào ngày phán xét mà lại mang nặng trong hồn chuyện mình chưa tha thứ cho người làm hại mình. Đằng khác, ta cũng chẳng thể nào đọc kinh “Lạy Cha” cho xứng đáng, nếu ta dám: “Xin cha tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”, trong khi biết chắc là có người từng hại mình, mà mình chưa hối cải.

Từ đó, cũng nên sẵn sàng tha thứ cho ai làm hại ta, bất kể người đó có hối lỗi không. Và, khi tha cho ai, ta cũng đừng quên đính kèm lời cẩu khẩn,xin Cha tha cho họ, như Chúa từng làm. Và, nếu người ấy không biết hối cải, thì ta cũng nên xin Cha cho họ biết đường mà hối lỗi, những việc làm sai quấy. Và, nếu những người ấy biết rằng ta đã tha lỗi cho họ, thì nội việc này thôi, cũng dễ cho họ để có cơ hội rồi ra, sẽ hối tội.

Nên nhớ rằng, nhiều khi ta cũng chẳng lấy gì làm chắc, khi bảo rằng: người kia không biết hối lỗi, vì đã hại ta. Có thể là, tháng rồi hoặc tuần rồi, và ngày hôm qua họ chưa biết hối lỗi, chuyện ấy. Nhưng, điều mà tất cả chúng ta đều biết, là: từ dạo đó, họ cũng đã hối rất nhiều. Vì là chuyện hồ nghi, nên cũng đừng bắt lỗi người ấy, mà làm gì.

Tóm lại, tha lỗi cho ai từng hại mình, là việc làm đem đến cho ta sự an bình vui sống, có thứ tha. “ (X. John Flader, The Catholic Weekly 17/1/2010, tr. 10)

Vấn đề đơn giản, chỉ có thế. Nhưng, thực hiện nó trong đời, là chuyện không giản đơn. Chí ít là khi, không chỉ một người làm hại mình thôi, mà cả một tập thể/một tổ chức có chủ trương/chính sách quyết làm hại hoặc phá tán sự yêu thương đoàn kết của cộng đoàn Nước Trời ở trần gian. Trần gian, theo nghĩa không chỉ duy có mỗi những người tốt lành/thánh thiện, thôi. Nhưng, còn nhiều người thiếu lành mạnh, hoặc nên thánh, nữa.

Còn khó hơn, khi tập thể hoặc cá nhân ấy vẫn cứ chực chờ/rình rập, để không những đã chẳng hối lỗi, lại còn tiếp tục làm hại mình, nhiều hơn nữa. Đến đây, bần đạo thấy nảy sinh một vấn đề nữa, là: tha thứ trong cuộc đời đi đạo của bạn và của tôi, không là chuyện dễ làm. Chỉ dễ nói. Dù bạn/dù tôi, ta có thuộc nằm lòng câu Kinh Sách. Dù, đã quen với những chuyện thứ tha/thương yêu. Từ thuở trước.

Cuối cùng, vấn đề là: được mấy ai trong số bạn và tôi, ta làm được một chút gì để nhớ. Và để quên. Phải chăng đó là chuyện dài ở huyện? Phải chăng, sống Đạo giữa đời vẫn là chuyện còn đó, nỗi buồn? Buồn muôn thuở.

Và, tha thứ còn kèm theo một động thái tích cực khác, mà Chúa muốn ta làm, là: hãy quên đi. Quên, chứ đừng nhớ là mình đã tha. Hoặc, chỉ nhớ yêu thương. Nhớ, điều mình cần thứ tha. Và, quên những chuyện mà người người cần mình tha thứ. Vì lỡ làm tổn thương/phương hại mình.

Cứ sự thường, người người có thể tha thứ hoặc nói những lời, rất thứ tha. Nhưng thật ra, đa phần thì người người vẫn không quên được chuyện cũ. Bởi, mỗi lần nhớ đến, vẫn giận. Hoặc, có tha cho ai đó, nhưng người ấy đừng mong rằng mình sẽ quay về, lập quan hệ bình thường. Như trước.

Với Tin Mừng, người người thấy Chúa đòi ta nên tha thứ cao hơn một bậc. Nghĩa là: không chỉ tha mà thôi, nhưng còn lập lại tương quan như trước với người ấy. Hoặc, phải mật thiết hơn khi trước. Câu chuyện “người con hoang tàng”, là một trong các ví dụ cụ thể. Để thực hiện. Dù sao, thì Chúa vẫn để ta xử sự theo tự do con cái Ngài. Để, ta kiếm tìm cung cách tích cực. Hơn hết.

Nói thì nói, bần đạo vẫn cảm nghiệm. Và, cũng chẳng buồn. Chẳng kết tội ai, khi thấy bạn thấy tôi, ta có thứ tha đấy, nhưng vẫn nhớ. Nhớ chuyện cũ, rất nên quên. Đó là phận người. Tuy khó, nhưng hơn lúc nào hết, đây là lúc để bạn và tôi, ta thực hiện sống Lời Chúa. Ở đây. Bây giờ. Bởi, sống là thực hiện điều Chúa dạy. Trong đời mình.

Trần Ngọc Mười Hai

cũng bị hại nhiều lần

nhưng chưa quên

nên vẫn mong thực hiện

những điều mình được nghe dạy.

21. Em có nghe mùa thu mưa giăng lá đổ
em có nghe nai vàng hát khúc yêu đương

(Ngô Thụy Miên – Mùa Thu Cho Em)

2 Samuel 22: 20

Là nhạc sĩ, lời anh hỏi cũng chí lý. Là thường dân, câu em nghe, rày thấy quen. Hỏi-nghe/nghe-hỏi, là chuyện thường ngày, em và tôi vẫn cứ sống. Sống mà không hỏi, để rồi nghe/sống mà không nghe, để rồi hỏi, là cuộc sống chẳng chí lý, tí nào. Hoặc, sống mà cứ hỏi, rồi lại nghe/nghe rồi lại cứ hỏi, thì cuộc sống sẽ như điên/như dại, mất thôi.

Sống chí lý hoặc như điên dại, là sống mà không thấy rằng mình đang sống. Là, sống không có tình/có lý, cũng phi lý như người sống mà không ra hồn. Sống, mà như đang “chết trong lòng”. Hoặc, sống rất nhiều. Hạnh phúc chẳng bao nhiêu.

Nói dông nói dài/nói dai nói dại, chẳng qua là bần đạo chỉ muốn nói về nhiều thứ/nhiều chuyện rất muốn nói. Nhưng, chưa dám. Hoặc chưa chịu nói, mà thôi. Nói gần nói xa, bần đạo thấy đôi lúc có nhiều điều cũng ưu tư/muốn nói. Nhưng, vẫn cứ thử. Thử mãi, mà “vẫn chẳng nói nên nhời”. Thôi thì, lần này lại thử nói cho xong. Cho rồi. Để còn nghe bà con thiên hạ nói, chứ.

Nói như thế, cũng đủ. Nay, ta nghe thêm lời người viết nhạc, vẫn hỏi:

“Và em có nghe, khi mùa thu tới

mang ái ân, mang tình yêu tới

em có nghe, nghe hồn thu nói:

mình yêu nhau nhé.”

(Ngô Thụy Miên – bđd)

Ấy đó, là câu hỏi. Cũng có nghĩa, như câu nói rất chuẩn mực. Như, bất cứ câu nói của những người đương yêu. Ở bất cứ nơi đâu. Lúc nào. Thời xa xưa, có tổ tiên ông bà, vẫn từng nói. Nói, cả vào lúc, có những người như bạn/như tôi, vẫn muốn nghe. Nói và nghe, cả những chuyện tình, mà người xưa vẫn gọi là ái ân/ân ái- còn gì bằng? Nghe và nói, chuyện lành thánh, rất “anh em” mà người ngày nay vẫn thân mật, gọi như thế.

Như thế, là như thế này:

“Em có hay, mùa thu mưa bay gió nhẹ

Em có hay, thu về hết dấu cô liêu

Và em có hay, khi mùa thu tới

bao trái tim, vương mầu xanh mới.

Em có hay, hay mùa thu tới hồn anh ngất ngây. “ (Ngô Thụy Miên – bđd)

Đã bảo! Khi yêu đương, ai cũng nắm chắc rằng: bầu trời được sơn vẽ toàn mầu xanh. Mầu, của hy vọng. Sự sống. Có diệp lục tố. Rất yêu thương. Hạnh phúc. Sắc mầu của thương yêu, là mầu và sắc của mùa thu. Có mưa giăng lá đổ, ở đâu đó? Sắc mầu của yêu thương, là mầu và sắc của Lời Vàng khi xưa, Chúa vẫn bảo:

“Người đem tôi đến chỗ thảnh thơi,

vì yêu thương tôi

nên Người giải thoát.

(2 Samuel 22: 20)

Yêu thương, với nhà Đạo, là như thế. Vẫn thảnh thơi. Giải thoát. Chứ không ràng buộc. Dù, có ràng và buộc nhau, bằng những câu hỏi. Rất như sau:

“Em có mơ, mùa thu cho ai nức nở,

em có mơ, mơ mùa mắt ướt hoen mi.

Và, em có mơ, khi mùa thu tới,

hai chúng ta sẽ cùng chung lối

em với anh, mơ nùa thu ấy,

tình ta ngát hương…”

(Ngô Thụy Miên – bđd)

Thật ra, khi yêu nhau, người người chẳng buộc chẳng ràng nhau, bằng bất cứ thứ gì. Có chăng, chỉ bằng “tình ta ngát hương”. Với điều kiện, hương” ấy cứ ngát hoài và ngát mãi, khi “hai chúng ta sẽ cùng chung lối…” Dài dài. Mãi mãi. Rất không thôi. Vấn đề là như thế. Yêu đương là như vậy. Yêu đương, còn có nghĩa: lúc nào ta cũng “đương yêu”. Cũng cho nhau thứ tình, rất ngát hương. Dù tình đó, có là tình thu, rất nức nở”. Của mùa thu yêu đương, nức nở, ở bên dưới:

Truyện rằng:

“Có người đàn ông đang đánh bóng chiếc xe “xịn” mình mới mua, thì đứa con mới chừng bốn tuổi, đã biết nhặt đá/nhặt sỏi vẽ nhiều đường ngoằn ngoèo lên xe, của ông bố. Bố mình điên tiết đến nức nở. Giận quá, ông bèn cầm bàn tay con con mà cháu vừa dùng để vẽ, đánh mạnh nhiều lần. Nhưng, ông không nhớ ra rằng ông đang dùng chiếc khoá “mỏ-lét” dùng để vặn vít ốc, mà đánh con.

Kết quả là, từ phòng giải phẫu bệnh viện, bác sĩ cho hay: cháu trai con ông đã bị dập mất mấy ngón tay, do nhiều chỗ gẫy. Tỉnh dậy sau ca mổ, đưa con nhìn bố bằng cặp mắt yêu đương trìu mến, hỏi rằng: ngón tay của em có mọc lại đưọc nữa không? Ông bố nghẹn ngào, không nói nên lời. Tức tốc, trở lại chỗ chiếc xe đậu ở ngoài, đá mạnh nhiều cái vào thành xe. Phút chốc, ông nhận thấy lương tâm bị cắn rứt, mới nhìn vào vết gạch vẽ, thấy hàng chữ: “Bố ơi, con yêu bố lắm!”

Ngày hôm sau, người cha quyết định ra đi bằng viên đạn nhỏ kê nơi màng tang mình..”

Câu chuyện mà bạn và tôi, ta vừa nghe, cũng nức nở? Nhưng, chớ đổ tội cho mùa thu, nhiều tiếng nấc. Mà, chỉ nên trách người cha/người bố đã yêu thương, nhưng nào đã yêu da diết. Dài dài, như con trẻ. Dù, trẻ con không nói tiếng “yêu” bằng lời lẽ. Mà chỉ dùng chữ viết. Rất nguệch ngoạc. Ngoằn ngoèo. Khó đọc.

Trong đời người, nhiều trường hợp cũng tương tự. Cũng yêu đương. Nhưng không da diết kiểu xưa/cách cũ như “ái ân”. Nồng nàn. Thắm thiết. Nhưng, đã chắc gì sẽ kéo dài.

Nói như nhà Đạo, khi ta nói tiếng yêu thương, là nói về một “giải thoát” như Thiên Chúa vẫn làm ta thoát giải. Giải và thoát, là Ngài giải cho ta thoát khỏi mọi ràng buộc. Có giam hãm. Vì ghét ghen. Thù hận. Ràng buộc, vì lề luật. Khỏi, mọi điều bất ưng. Nức nở.

Sống ở đời, kinh nghiệm cho thấy nhiều điều mình rất bất ưng, nhưng xảy đến. Ngược lại, có nhiều điều ta vẫn ưng và vẫn muốn, nhưng sao chẳng thấy đến. Chẳng xuất hiện. Cho đẹp đẽ. Hoặc, có xuất hiện đấy, nhưng vẫn quên. Quên, như chuyện “biết rồi khổ lắm nói mãi” của một độc giả nọ cứ gửi thư hỏi cha-già-biết-nhiều-thứ, ở Sydney, những câu sau đây:

“Tôi có người bạn, vừa kể cho nhau nghe về chuyện Hội thánh xin mọi người cầu nguyện cho các linh mục vào Thứ năm, mỗi đầu tháng. Đặc biệt, trong năm thánh dành cho linh mục. Những chuyện như thế, tôi chưa một lần nghe biết. Và, bạn nói: cũng chẳng rõ chuyện ấy, đến từ đâu. Là chuyện gì? Vậy, xin chỉ cho tôi biết, để cảm thông với các giáo sĩ , trọng Đạo mình. Xin biết ơn.”

Chưa được nghe. Chưa được chỉ. Mà đã biết ơn. Âu, đó cũng là thói quen của người nhà Đạo. Rất văn minh. Ở xứ người. Và, đấng bậc hôm nay cũng không ngại ngần, chuyện chỉ giáo. Chẳng cần ơn. Không cần huệ. Vẫn trả lời, như sau:

“Bạn của ông/anh nói rất đúng. Lâu nay, Hội thánh vẫn có thói quen yêu cầu mọi người nguyện cầu cho linh mục, vào ngày ấy. Chuyện này xuất tự chính Vatican, thành đô yêu dấu, của Đạo mình.

Toà Xá Giải La Mã, là cơ quan cao nhất ở Rôma có thẩm quyền và trách nhiệm về chuyện ân xá/đại xá. Năm vừa qua, đã đưa ra nghị quyết ban phép đại xá trong Năm Thánh Dành cho Linh Mục. Bắt đầu từ lễ Thánh Tâm Chúa năm 2009 và kết thúc ngày 11/6/2010. Nghị quyết chính thức ban hành ngày 12/5/2009.

Nghị quyết cho biết: ta được ơn đại xá/toàn xá vào nhiều dịp trong năm. Nhất là vào Thứ Năm đầu tháng và các ngày kết thúc Năm Thánh Dành Cho Linh Mục. Muốn được ơn này, giáo dân phải đến nhà thờ dự lễ và đọc kinh cầu nguyện cùng Chúa là Linh Mục Tối Cao Trường Tồn, để cầu cho các linh mục trong Giáo Hội. Laị cũng làm việc lành phúc đức, ngõ hầu Chúa thánh hoá đưa các ngài vào với Thánh Tâm Ngài.

Thông thường, điều kiện để được đại xá, là: phải Rước Chúa vào lòng. Tốt nhất là cùng một ngày. Phải lo xưng tội trước hoặc sau ngày đó. Và, cầu nguyện theo ý Đức Thánh Cha.

Nếu vị cao niên/bệnh nhân nào, vì lý do gì đó, không thể ra khỏi nhà mà đi lễ, vẫn có thể được ân xá nếu vị ấy thực hiện 3 điều nêu trên, càng sớm càng tốt. Khi làm thế, hãy cầu xin Chúa thánh hoá các linh mục, đồng thời dâng hiến mọi nỗi đau đớn/bệnh tật của mình lên với Chúa, qua Đức Mẹ Maria, Nữ Vương các Thánh Tông Đồ, là được.

Bậc giáo dân, cũng được ơn tiểu xá nếu đọc năm lần kinh “Lạy Cha”, “Kính Mừng” và “Sáng Danh”, hoặc các kinh nào được Hội thánh chấp nhận để làm đẹp lòng Thánh Tâm Chúa, ngõ hầu cầu cho các linh mục giữ mình trong sạch, thánh hoá cuộc sống, là tốt.

Còn về câu: “Sao lại làm việc ấy vào các ngày Thứ Năm đầu tháng?”, thì câu trả lời, tốt nhất là: nên qui về trường hợp linh mục Dòng Cứu Chuộc và về Đức Giáo Hoàng Piô XI. Trong cuộc tĩnh tâm vào năm 1930, Lm Paschalis Schmid, SDS thấy là mình có ơn gọi làm việc gì đó ngõ hầu giải quyết tình trạng thiếu linh mục, trong Giáo Hội. Sau khi hội ý với các Giám mục, linh mục và một số vị khác, ngài đã quyết định nên dành ra một ngày đặc biệt trong tháng, để cầu nguyện cho các linh mục được thánh hoá và cầu cho ơn kêu gọi. Chỉ một thời gian ngắn, ý kiến này được nhiều người cổ võ, khắp thế giới.

Theo đơn xin của Lm Pancratius Pfeiffer, khi ấy là Bề Trên Tổng Quyền Dòng Đấng Cứu Chuộc, Đức Giáo Hoàng Piô XI đã ban phép miệng chấp thuận cho thành lập “Ngày Cầu Cho Các Linh Mục”, kể từ đó. Và, Đức Thánh Cha quyết định lấy ngày Thứ Năm đầu tháng, cho việc này.

Sau đó, Đức Giáo Hoàng Piô XI lại đã khuyến khích con dân trong Đạo, hãy gia tăng cầu nguyện cho các linh mục. Qua Tông huấn ngài viết về thiên chức linh mục được mang tên Ad catholici sacerdotii (về Linh mục Công giáo), có những giòng sau đây: “Nhận thấy đầy là việc phải làm, sau khi đã tham vấn Thánh Bộ Phụng Vụ, ta cũng nên sắp sửa một Thánh Lễ Ngoại Lịch, cho Thứ Năm, theo qui định Phụng Vụ “De Summo et Aeterno Iesu Christi Sacerdotio”, hầu làm đẹp lòng Chúa là Linh Mục Tối Cao Trường Tồn”. Đây là niềm an ủi và vui sướng cho Ta ban hành Thánh Lễ này, cùng với Tông Thư hôm nay”. (Mục #91)

Theo tinh thần của Tông Thư do Đức Thánh Cha ban, chúng ta cũng nên thực hiện công cuộc đoàn kết với toàn thể Hội thánh mà nguyện cầu cho các linh mục, nhất là vào các ngày Thứ Năm đầu tháng.” (x. Lm John Flader, The Catholic Weekly, 21/02/2010, tr.10)

Về yêu đương, người bàn cũng viết thêm đôi dòng, nghe khá quen. Rày đã quên. Dòng ấy, nay vẫn chảy. Vẫn cuồn cuộn, như thế này:

“Yêu thương và Giận dữ, cả hai đều không giới hạn. Chọn lựa nào cũng quan trọng. Hãy chọn yêu thương để có được đời sống tươi đẹp. Rất đáng yêu. Và đáng nhớ. Nhớ mãi điều này: Vật dụng, là để sử dụng. Còn, con người là để thương yêu.

Thế giới, nay nghĩ khác: con người là để sử dụng. Còn đồ vật mới dùng để thương yêu. Thành ra, ta tự đặt mình về phe nào. Cánh nào. Cũng nên nhớ:

-Hãy thận trọng với ý nghĩ của mình, vì mình sẽ nói ý ấy ra, bằng lời nói.

-Hãy thận trọng về điều mình nói, vì mình sẽ phải biến nó, thành hiện thực.

-Hãy thận trọng về điều mình thực hiện, vì chính nó sẽ là thói quen.

-Hãy thận trọng với thói quen, vì nó sẽ trở thành cá tính.

-Hãy thận trọng với cá tính, vì nó sẽ quyết định số mệnh, của mình.”

Thành thử, dù đó có là số mệnh, hoặc bản mệnh. Dù, bản mệnh mình có hung tướng hoặc cát

tướng đi nữa, hãy cứ thận trọng về thương yêu. Bởi, thương và yêu, là tất cả. Cả một đời. Của con người. Hãy yêu thương dài dài. Mãi mãi. Để rồi, ta lại sẽ nghe người nghệ sĩ lại vẫn hát:

“Sẽ hát, bài cho em

và ru em, yên giấc tối

ngày mai, khi mưa ngang lưng đồi

chờ em, anh nghe mùa thu tới.”

(Ngô Thụy Miên-bđd)

Vâng. Hãy cứ nghe. Và, cứ chờ. Rồi, cũng có mùa thu. Mùa tình tự. Mùa yêu đương. Của mọi người.

Trần Ngọc Mười Hai

vẫn cứ chờ

để nghe mùa thu tới.

Mùa yêu thương

của Đạo trong đời.

22. “Tôi thích lang thang trong chiều chủ nhật”
Nghe tiếng chân vang lên từng điệu nhạc
Ðể lòng nhẹ ru với thành phố im
Vì ngày mai nắng lên, phố phýờng xóa nhòa bước êm”

(Đỗ Kim Bảng – Bước Chân Chiều Chủ Nhật)

(Mt 13: 16-17)

Lang thang chiều chủ nhật, đâu phải chỉ mình tôi thích. Dù tôi đây là tôi chỉ là tôi tớ. Là, bổn đạo hèn đang có những giòng chảy này; hay tôi đó, có là nghệ sĩ họ Đỗ tên Kim Bảng, chính bản thân. Hết lang thang, xong lại “nghe tiếng chân vang lên từng điệu nhạc”. Tiếng chân vang, hẳn nhiều người cũng đều nghe. Đều biết. Nghe đấy, nhưng liệu có làm không. Làm, theo lời dạy của Đấng Nhân Hiền Chí Thánh, đó mới là vấn đề. Vấn đề ở đây, hôm nay tựa như vấn đề khi xưa/ở đó, có Lời Chúa căn dặn thế này:

“Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy,

tai anh em thật có phúc, vì được nghe.

Quả thế, Thầy bảo thật anh em,

nhiều ngôn sứ

và nhiều người công chính

đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy,

mà không được thấy,

nghe điều anh em đang nghe,

mà không được nghe.” (Mt 13: 16-17)

Lang thang chiều chủ nhật, cũng là phải. Bởi, cứ vào chiều chủ nhật, ở nhà thờ/nhà thánh, đều có Lời rất thánh của Chúa, vẫn nghe quen. Chính vì, nghe quen quen, nên nhiều người chẳng còn thấy. Dù có mắt. Chẳng thấy, có nghĩa là chỉ thấy mỗi đấng bậc mục tử hay phó tế, cứ nói. Và cứ giảng giải. Các cụ nhiều lúc nói và giảng, những điều mà ngay chính các cụ cũng không thấy hứng thú cho lắm để làm mỗi ngày. Và mỗi tuần. Bởi, có nói và giảng, suốt quanh năm những điều, như: yêu thương. Giùm giúp. Thứ tha. Độ lượng. Đều là những điều ít thấy trong đời thường bằng mắt. Hoặc bằng kinh nghiệm bản thân. Thế nên, vẫn cứ lang bang. Và lang thang, những chiều chủ nhật. .

Lang thang chiều chủ nhật, còn là lang bang vào buổi chiều, ngày của Chúa. Tức, một ngày ngơi nghỉ để người người có lý do mà lang bang, nhiều điều thế sự. Lang thang chiều chủ nhật, còn là lan man những câu truyện kể tiếu lâm chay/tiếu lâm mặn, vào với những chia cùng sẻ, cho nhiều người nghe. Và, “lang thang chiều chủ nhật, còn là lang thang thơ thẩn, với những:

“Bước chân khắc khoải đi

khi ngày vui vừa hết,

thôi luyến lưu mà chi

bước chân nhuốm hoàng hôn

bước chân đếm chờ mong

đếm bao nỗi buồn niềm thương.” (Đỗ Kim Bảng – bđd)

Đếm nỗi buồn niềm thương, chưa hẳn vì “ngày vui vừa hết”. Lang thang chiều chủ nhật, cũng có thể là do có “bước chân nhuốm hoàng hôn”, hoặc: “bước chân đếm chờ mong”. Chờ mong/mong chờ một hạnh phúc. Mong chờ/chờ mong, một niềm vui. Nụ cười. Như lời giảng giải, ở bên dưới:

“Tôi trở nên quẫn trí. Bàn tay tôi giật giật, cố gắng rút trong túi áo một điếu thuốc. Nhưng tôi lại không có diêm. Qua hàng chấn song nhà giam, tôi trông thấy một người cai tù. Tôi gọi: "Xin lỗi, anh có lửa không?"…  Anh ta nhún vai rồi tiến lại gần. Khi rút que diêm, tình cờ mắt anh nhìn vào mắt tôi. Tôi mỉm cười mà chẳng hiểu tại vì sao lại làm thế. Có lẽ vì khi muốn làm thân với ai đó, người ta dễ dàng nở một nụ cười. Lúc này dường như có một đốm lửa bùng cháy nhanh qua kẽ hở giữa hai tâm hồn chúng tôi, giữa hai trái tim con người. Tôi biết anh ta không muốn, nhưng do tôi đã mỉm cười nên anh ta phải mỉm cười đáp lại. Anh ta bật que diêm, đến gần tôi hơn, nhìn thẳng vào mắt tôi. Miệng vẫn cười. Giờ đây, trước mặt tôi không còn là viên cai ngục phát xít mà chỉ là một con người. Anh ta hỏi tôi: "Anh có con chứ?". Tôi đáp: "Có". Và, tôi lôi từ trong ví ra tấm hình nhỏ của gia đình mình. Anh ta cũng vội rút trong túi áo ra hình những đứa con và bắt đầu kể lể về những kỳ vọng của anh đối với chúng. Đôi mắt tôi nhoà lệ. Tôi biết mình sắp chết và sẽ chẳng bao giờ gặp lại được người thân. Anh ta cũng bật khóc. Đột nhiên, không nói một lời, anh ta mở khoá và kéo tôi ra khỏi buồng giam. Anh lặng lẽ đưa tôi ra khỏi khu vực thị trấn chiếm đóng. Thả tôi tự do rồi quay trở về. Thế đó, cuộc sống của tôi đã được cứu rỗi, nhờ có nụ cười".

Thì ra là như thế. “Thiếu nụ cười”, nên nhiều vị cứ mải “lang thang chiều chủ nhật”. Cứ “đếm chờ mong”, với những “bước chân khắc khoải ngày vui vừa hết”, kết thúc buồn. Buồn thế kỷ. Buồn chiều hôm. Vô tận. Nhưng “lang thang chiều chủ nhật”, cũng có thể vì người đời thời nay, nghe và thấy nhiều chuyện khó giảng giải, nơi nhà Đạo. Như lối giảng và giải của một số đấng bậc, khiến nhạc sĩ ngoài Đạo đã hơn một lần cảnh báo:

“Vì tôi là linh mục

giảng lời tình nhân gian

nên không còn tiếng khóc

nên không biết kêu than

nên tôi rất bơ vơ

nên tôi rất dại khờ.” (Nguyễn Đức Quang – Vì Tôi Là Linh Mục)

Dĩ vãng là như thế. Là, có lúc vì bơ vơ/dại khờ nên các đấng bậc mới giảng giải khá “lan man”, không bãi đáp. Giảng và giải, cách sao đó khiến người nghe cứ tưởng các đấng bậc đang “lang thang chiều chủ nhật”, rất cập rập. Cũng may, hôm nay phần đông các vị này đã tạo lại hình ảnh đẹp cho chính mình. Nên, đã có hiện tượng hồi hướng trở về, từ nhiều đồng môn/đồng nghiệp, bên Anh Giáo.

Hiện tượng hồi hướng quay về với chính Đạo, còn là sự kiện nổi bật rất tươi vui. An lành. Đầy cảm kích. Dĩ nhiên, Hội thánh Đạo mình là thánh hội của chung, rất Công giáo. Là của chung, nên có vị vất còn nhiều ưu tư thắc mắc về một tình tiết, nghe chưa hết. Thế nên, đã có vài vị gửi về một vài thắc mắc, rất như sau:

“Giáo Hội rất thánh của ta vừa chào đón một số người anh người chị, từ Anh Giáo nay trở về. Về với Giáo hội mình, tức là: từ nay vị nào có vợ/con rồi, chắc vẫn thế? Vì chuyện này, ý hẳn là Giáo hội ta cũng sẽ điều chỉnh lời thề thanh khiết, cho linh mục sống? Cũng thế, sự kiện này có thể kéo theo sự thể là: vị nào từng rời bỏ chức linh mục về lấy vợ, nay sẽ được phép trở về lại gia nhập nghi thức Anh Giáo trong Đạo mình, tái tạo thiên chức xưa, chứ? Xin cho biết lập trường của Giáo hội, khỏi thắc mắc.”

Cứ đụng chuyện, là bần đạo bạn ta nay không còn ta bà “lang thang chiều chủ nhật nữa. Mà, phải vời đến đấng bậc “chiều hôm” phía trời Tây Nam Sydney ra mà trả lời với trả lẽ, cho chính mạch. bản thân người viết những giòng này, không dám thưa dám thốt, chỉ chuyển tải. Chuyển để đấng bậc vị rất “đức thầy” có vài lời giải và giảng, rất phải lẽ, như sau:

“Kể từ ngày Toà thánh Vatican ra thông báo về đoàn nhóm bạn đạo bên Anh giáo được Hội thánh Công giáo tưng bừng chào đón, tham gia cộng đoàn các kẻ tin cùng một Thiên Chúa. Mà, vẫn được duy trì bản sắc riêng của mình. Từ buổi đó, có nhiều câu hỏi được gửi đến với chúng tôi, nhủ rằng: phải chăng như thế có nghĩa là truyền thống giữ mình thanh khiết trong Hội thánh nói chung và trong nghi thức La tinh nói riêng, đã đổi thay?

Trước nhất, những ai thắc mắc, xin hãy nhớ cho rằng, Hội thánh xưa nay vẫn có nhiều linh mục có gia đình, rất từ lâu. Giáo Hội Công Giáo ở Phương Đông hoặc Giáo hội theo nghi thức Maronite, Melkite, Ukrainian, vv… vẫn cho phép các nam nhân có gia đình được thụ phong linh mục. Và nhiều linh mục thuộc nghi thức này đang hoạt động mạnh, ở Úc.

Thêm vào đó, một số các mục tử thuộc nghi thức khác như Chính Thống Giáo và Anh Giáo đã chuyển đổi sang Giáo hội Công giáo, vẫn đang được phép cử hành phụng vụ theo nghi thức tiếng La tinh. Xem như thế, kể từ nay cũng sẽ có các linh mục đã có gia đình thuộc nghi thức Giáo hội Anh, cũng đâu có gì là lạ.

Dù cho có sự hiện diện của các linh mục đã có gia đình, thì qui định của Hội thánh về thể chế khiết tịnh trong bậc linh mục vẫn giữ nguyên. Không thay đổi. Điều này thấy rõ nơi tông thư do Đức Giáo Hoàng Bênêđíchtô thứ XVI Anglicanorum coetibus (AC) đề ngày 4/11/2009 có đưa ra một số giới hạn cho hàng giáo sĩ có gia đình bằng Luật buộc riêng tư, giống như qui định dành cho giáo phận, thiết lập cho nghi thức Anh.

Trong khi các giáo sĩ nào vào lúc gia nhập Hội thánh Công giáo lại đã có gia đình rồi, cũng sẽ được Luật Riêng tư này chấp nhận như ứng viên nhận chức thánh trong Giáo hội Công giáo. Nói cách khác, những ai làm linh mục độc thân thì vẫn giữ đời sống độc như trước (x. Tông thư đã dẫn đoạn VI, câu 1).

Ngõ hầu duy trì kỷ luật đối với hàng giáo sĩ ở độc thân trong Giáo hội theo nghi thưc La tinh, thì theo luật định, qui chế Luật buộc Riêng tư chỉ cho phép các nam nhân nào độc thân được gia nhập hàng giáo sĩ , trên căn bản từng vụ việc mà thôi (x. Tông thư đã dẫn đoạn VI, câu 2).

Về đào tạo chủng sinh, các ứng viên nào muốn thụ phong linh mục theo nghi thức Anh đều phải theo cùng một qui chế như các chủng sinh theo nghi thức La tinh, dù các vị này có thể sẽ được đào tạo theo khuôn khổ nghi thức Anh tại các nhà đào tạo của riêng mình (x. Tông thư đd đ VI, c.5)

Việc cùng học chung với các chủng sinh theo nghi thức Latinh, có thắc mắc cho rằng e có chuyện xảy ra là các chủng sinh theo nghi thức la tinh, có thể sẽ ao ước được tham gia nghi thức Anh để được thụ phong linh mục được quyền có vợ.

Như đã nói ở trên, chuyện này không thể xảy ra được, là bởi theo luật định, chỉ có nam nhân độc thân mới được tiến cử nhận chức thánh theo nghi thức Anh. Nhưng điều hệ trọng , là: những ai được thanh tẩy theo nghi thức Công giáo sẽ không đủ tiêu chuẩn để trở thành thành viên theo nghi thức Anh, trừ phi những vị này là thành viên của gia đình thuộc nghi thức ấy, mà thôi. Điều này được nói rõ trong Luật Bổ Sung do Thánh Bộ Đức tin đưa ra cùng lúc với Hiến Chương Tông Đồ, và cùng được ký vào ngày 4 tháng 11 năm 2009 (x. đ 10, c. 4)

Hỏi về chuyện các linh mục nào đã rời bỏ Hội thánh Công giáo nay đang công tác như linh mục Anh Giáo có được phép thành linh mục Công giáo theo nghi thức Anh hay không? Điều này đã được nói rõ trong Luật Bổ Sung. Nên, câu trả lời là: KHÔNG.

Về vấn đề này, rõ ràng là các linh mục Công giáo nào đã rời bỏ thiên chức linh mục của mình và đã lập gia đình rồ, sẽ không thể được phép gia nhập nghi thức Anh, rồi công tác như linh mục theo nghi thức ấy được.

Còn nhiều thắc mắc thực tiễn khác vẫn chưa được giải quyết, nhưng cảm tạ ơn Chúa vì Ngài đã ban cho ta sáng kiến mới này. Đây là một ân huệ rất lớn Chúa đem rất nhiều người về hiệp thông chung cùng Hội thánh của Người. x. lm John Flader, The Catholic Weekly 22/11/2009, tr. 10)

Lang thang chiều chủ nhật, nay ta lang thang cả chuyện Chủ nhật chiều có những vấn đề về linh mục theo nghi thức rất mới, cũng chỉ là chuyện bình thường ở huyện. Chuyện bình thường là chuyện ngày nay, ta có quyền nêu thắc mắc. Và có quyền được giải đáp, theo tính cách rất chính mạch. Nhưng lang thang chiều chủ nhật, giống hôm nay, vẫn là lang thang có chủ đích. Rất tích cực.

Nói cho cùng, có lang thang chiều thứ mấy hay lan man, nhiều tản mạn cũng để nói lên rằng: vẫn có đó tình thương yêu Giáo hội. Thương yêu hội giáo sĩ. Dù giáo sĩ của Hội thánh ta có theo nghi thức nào đi nữa, vẫn thương yêu. Tất cả là yêu thương. Như vị linh mục nọ từng khẳng định rằng:

“An vui là hoa quả của Tình thương.

Hoà bình là sự an lành của Tình thương.

Sự tử tế là hơi ấm của Tình thương.

Tình bạn là san sẻ Tình thương.

Đức kiên nhẫn là sự nối dài của T́nh thương.

Tính nhẹ nhàng là sự khiêm hạ của Tình thương.

Lòng tha thứ là sự xót xa của Tình thương.

Lòng Chung thuỷ là tính khả thi của Tình thương.

Sự độ lượng là chiến thắng của Tình thương.” (Karl Rahner)

Lang thang buổi chiều vàng ngày Chủ nhật hay ngày thường, đều rất nên. Miễn là ta cứ lang thang vì tình thương yêu và chăm sóc. Cứ yêu thương cho nhiều. Cứ chăm sóc cho kỹ. Yêu thương mọi người. Chăm sóc mọi thứ. Rồi ra, tất cả cũng sẽ an vui. An với Nước Trời. Vui với Hội thánh. Ở trần gian. Mọi chiều chủ nhật.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn mong an vui

Về với mọi người.

Ở khắp nơi.

23. “Em có yêu cuộc đời hôm nay”
Em có yêu cuộc tình giang tay
Em có yêu đồng ruộng không ai
Em có yêu tuổi trẻ sa lầy?…”

(Lê Hựu Hà – Lời Người Điên)

(Yn 8: 11)

Có đôi lúc, bầu bạn những muốn cùng bần đạo hát bài “Lời Người Điên”, như ở trên. Có hát thế, mới thấy rằng: lời ca đây, chắc không là lời của người khùng. Vì rất khôn. Và đây còn là lời nhắn hỏi người anh/người chị ở bờ đại dương, bên ấy. Hỏi rằng: anh nhớ chăng, đời người trẻ đã sa lầy?

Đời người, nay có những lời nhắn/hỏi của người đời, rằng: sa lầy chăng, đâu nào là tuổi trẻ. Mà lại chính là, nơi người lớn?. Lớn xác. Lớn tuổi. Nhưng, không lớn về tinh thần. Như con Chúa.

Cứ nhắn hỏi, rồi lại hát. Vẫn cứ hát, rồi lại hỏi. Hỏi hát, hát và hỏi câu hóc búa, rất như sau:

“Em có yêu thành thị mênh mang,
Em có yêu đại lộ thênh thang,
Em có yêu biệt thự cao sang,
Em có yêu loài người dối gian?”

(Lê Hựu Hà – Lời Người Điên, đã trích dẫn)

Cho dù điên, nhưng loài người nào đã dối gian. Ngay buổi đầu. Dối gian chăng, chỉ do thị thành. Đại lộ. Biệt thự cao sang. Cứ thênh thang, một tình thế. Tình, vẫn là thế. Nơi mình. Nơi người. Những người con, không còn yêu nhau nữa. Để rồi, như câu hát của người nhạc sĩ còn khá trẻ, đã biết hỏi:

“Em có yêu làm loài chim muông,

Tung cánh trong lồng vàng tô son,

Em có yêu một đời cô đơn,

Đang giết em lần mòn trong hồn?”

(Lê Hựu Hà – bđd)

Điều anh hỏi, có là: người đời đang giết người. Giết nhau. Trong tâm hồn. Đơn côi. Như câu:

“Em có nghe loài người chua cay,

Qua tiếng khen, nụ cười, xiết tay,

Em biết chăng những vòng thép gai,

Giam giữ ta mà nào có hay!”

(Lê Hựu Hà – bđd)

Những chua cay. Có ngay ở lời khen. Ở nụ cười. Bàn tay xiết. Có vòng gai, chuyên giam giữ. Có một thứ vẫn giữ giam, ai nào biết được. Giam và giữ, với đời điêu ngoa. Lọc lừa. Dối trá. Như, người nghệ sĩ, lại lên tiếng:

“Em như tôi không yêu cuộc đời,

lọc lừa điêu ngoa, dối trá.

Và đôi ta không yêu loài người,

Giả vờ yêu thương thiết tha.”

(Lê Hựu Hà – bđd)

Có những con người, và người con. Ở đời. Nay mặc lấy “thiên hình vạn dạng”, như tâm trạng của một số người. Trong đó, có vài người là độc giả của The Catholic Weekly, Sydney, sau đây:

“Xem ra, ngày nay, đề tài “Lạm dụng tình dục” nơi hàng giáo sĩ với chủ chăn, đang là đề tài xuất hiện cùng khắp trên các báo/đài ở trang đầu. Cột 1. Tại Châu Âu. Nước Úc. Và Hoa Kỳ. Phải chăng, nay là lúc Hội thánh ta nên đặt vấn đề: hãy thôi, không nên đòi hàng giáo sĩ của ta sống đời độc thân, nữa? Tôi thiển nghĩ, chừng như đây là một trong các duyên do, gây sóng gió. Cho Hội thánh?” (Lời hỏi của một người-không-biết-có-là-giáo-dân?)

Phản hồi một tâm trạng, về nhà Đạo, vẫn là mạch nguồn tư tưởng, của chàng trai “anh lờ em mờ” (tức Lm) thuộc nhóm “Công trình của Chúa” (Opus Dei), vốn giòng hào kiệt, tên nghe rất quen, tức ”Đức Thày” John Flader, đích thị là người trai xấp xỉ thất tuần của tờ The Catholic Weekly, vẫn đưa nhanh ý kiến lâu nay rất Đạo:

“Vẫn biết rằng: có nhiều người từng đưa ra quan điểm/lập trường, thật khác biệt. Trong số đó, có chức sắc nhà Đạo, rất nổi tiếng. Riêng cá nhân, tôi chỉ muốn nói lại một lần nữa, ý định tỏ bầy một cái nhìn rất kiên định, về vấn đề “lạm dụng tình dục”, mà hàng giáo sĩ nhiều nơi đang vướng mắc.

Dĩ nhiên, chuyện lạm dụng tình dục hay dục tình thời đương đại, không liên can gì đến đức thanh khiết, là chủ trương của Hội thánh, với giáo sĩ. Cũng chẳng làm suy yếu chút nào quan niệm nhân sinh/lập trường của Hội thánh, để đến nỗi ta phải tính chuyện tái xét hoặc huỷ bỏ, một thẩm định.

Nói như thế, tôi không có ý bảo rằng: mình cũng đừng nhận định một cách thiếu nghiêm túc chuyện “lạm dụng tình dục”, hàng giáo sĩ. Kỳ thực, đây là vấn đề rất nghiêm trọng. Là sự việc, gây tổn hại rất nhiều cho uy danh của Hội thánh. Nhưng, cũng nên tính đến giải pháp đúng đắn hầu ta có thể tiến tới, để không cần bãi bỏ tình trạng độc thân, nơi linh mục.

Thôi thì, ta thử đưa vấn đề này về với bối cảnh thời sự hôm nay. Xem sao.

Trước nhất, vấn đề “lạm dụng tình dục” với ấu nhi, không chỉ giới hạn trong nhóm giáo sĩ/linh mục, mà thôi. Trên thực tế, dù người ta vẫn cứ chăm chăm chú chú, nhắm vào đó. Thực tế ở đời, bao giờ mà chẳng có những chuyện lạm dụng như thế, ở mọi nơi. Mọi cung cách của người đời, như: bác sĩ, giáo chức, chính trị gia, nhân viên xã hội, nhà văn, nhà báo, vv..

Cứ sự thường, truyền thông/báo chí chỉ thích chĩa mũi dùi nhắm vào hàng giáo sĩ. Đặc biệt là, giới linh mục Công giáo. Kể từ khi, những chuyện như thế vẫn cứ xảy ra. Và chuyện xảy ra đến nay càng nổ bùng. Nhiều tai tiếng. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra, không chỉ giới hạn trong hàng ngũ giáo sĩ, thuộc Hội thánh Công giáo, thôi. Chuyện ấu dâm, lâu nay là chuyện thường ngày xảy đến với mọi tôn giáo. Mọi giáo phái. Chí ít, là số đông các tôn giáo, không cột buộc hàng kinh sĩ/giáo sĩ của họ phải sống độc thân như ta.

Tựa như thế, vấn đề “lạm dụng tình dục” nơi hàng giáo sĩ Công giáo, chỉ liên quan đến tỷ số rất nhỏ, ở linh mục. Các năm về trước, ở Hoa Kỳ, cũng chỉ có từ 0.4% đến 1.5% trong tổng số hàng giáo sĩ Công giáo, bị phát giác ra, là: đã có hành vi sai trái về dục tính, trong khoảng thời gian chừng 50 năm, về trước. Tức là, chỉ có 225 vị linh mục vi phạm, trong tổng số 46,000 vị, trên thế giới. Dù cho đây, là chuyện trầm kha đi nữa, cũng vẫn không là thói tật dễ lây lan, như báo chí thổi phồng.

Nhìn vấn đề, trong tầm mức “gần nhà”, ta nhận ra được như báo cáo của tiểu bang Victoria, Úc cho biết: có đến 400 thầy thuốc được khám phá ra là: đã có hành vi sai phạm về tình dục, chỉ trong 5 năm về trước, thôi. Điều này cho thấy: có 13% trong tổng số các bác sĩ trên toàn quốc, đã vi phạm. Thực chất, đó mới là vấn đề.

Quan trọng hơn, chứng cứ này còn cho thấy: đa số những người từng là thủ phạm của tình trạng “lạm dụng tình dục” với trẻ em, là những người đã lập gia đình; hoặc từng lạm dụng dục tình với thành viên gia đình mình.

Kinh nghiệm 40 năm đời linh mục, tôi cũng từng gặp gỡ và quen biết rất nhiều người, hàng chục người cho biết: họ từng bị lạm dụng tình dục rất nhiều lần, khi còn nhỏ tuổi. Đa số nạn nhân đều là những kẻ bị người trong cùng gia đình, đã làm hỗn. Trong số các người trẻ ấy, không em nào bị các đại diện của Hội thánh Công giáo, dù nam hay nữ, từng làm hỗn. Như thế.

Nặng hơn nữa, hiện đang thấy gia tăng con số những người có cảm giác là mình được kêu mời hãy nên làm đám cưới. Nhưng, lại chẳng muốn như thế. Bao giờ. Vì nhiều nguyên do. Có người lại cũng chẳng muốn bộc lộ chuyện riêng tư/dục tình của mình cách tự nhiên; vì thế nên, chẳng ai biết các động thái vô luân như đang được báo chí phổ biến đưa chuyện lạm dụng ở hàng giáo sĩ với trẻ thơ, như lúc này.

Lạm dục tình dục trẻ thơ, chẳng dính gì đến tình trạng độc thân, hết. Đúng hơn, phải nói là: chuyện này nói lên tình trạng tâm tư xáo trộn nơi con người. Nó xảy đến với người độc thân, lẫn người không độc thân, ngang bằng nhau.

Sống đời độc thân, là món quà cao quý Thiên Chúa tặng Hội thánh. Bằng vào chọn lựa sống một thân một mình, không chung sống với người phối ngẫu, hàng giáo sĩ và các phẩm trật khác, đã bằng lòng đi vào cuộc sống, có con tim không bị phân rẽ, làm nhiều ngăn. Tức, đi vào tương quan hôn phối giữa Đức Kitô và Hội thánh. Điều này khiến ta phong phú hơn, có tình thương yêu của Thiên Chúa hơn. Chúa thương yêu loài người. Từ đó, Ngài hỗ trợ các vị nào quyết sống độc thân để thực hiện mục vụ cho hiệu quả.

Có điều quan trọng, và hiện thời chuyện này đang được xem xét cách thận trọng, là: làm sao hỗ trợ ứng viên muốn sống đời linh mục, quyết hiến trọn cuộc sống của mình để chứng tỏ là mình được Chúa trao tặng quà độc thân, hay không. Nói thế, có nghĩa là: họ có nhân vị quân bằng. Chín chắn. Về cảm xúc. Biết kềm chế t́nh dục, của chính ḿnh. Và, nhất là: có đời sống tâm linh mạnh. Rất vững chãi.

Cộng thêm vào nền đào tạo vững chãi, xuyên suốt ở chủng viện, hoặc nơi nhà đào tạo, sẽ giúp các vị rất nhiều điều. Hơn là: lúc nào cũng canh cánh phải lo giải quyết tình trạng suy giảm mức độ và con số các vụ lạm dụng, trong tương lai.

Cùng lúc, ta phải cảm tạ Chúa về tính thuỷ chung mà phần đông các linh mục đã và đang thực hiện. Tức, những vị ấy đang sống đời linh mục độc thân, rất kết quả. Sung túc. Mãn nguyện. Và, điều cần hơn, là: ta nên nguyện cầu cho tất cả các linh mục và vị nào đang sống đời độc thân, vì công cuộc tông đồ/mục vụ. Nguyện và cầu, để họ có được lòng thuỷ chung, trong quyết tâm mà chính họ từng đặt tâm huyết của mình, vào đó.” (x John Flader, The Catholic Weekly 18/4/2010, tr. 13)

Ý kiến rất mạch lạc. Và, bài bản. Là như thế. Tức, ý kiến của người trong cuộc. Của Hội thánh, có chủ trương sống đời độc thân. Xuyên suốt. Hài lòng. Thế còn, ý kiến người ở ngoài, thì sao? Ở ngoài, tức: ngoài Đạo. Ngoài cuộc. Hoặc, ngoài luồng. Vẫn sống ở đời. Phải chăng là những người, từng hát những câu:

“ Em như tôi, không yêu cuộc đời,

lọc lừa, điêu ngoa, dối trá.

Và đôi ta, không yêu loài người,

Giả vờ yêu thương thiết tha…”

(Lê Hựu Hà – bđd)

Nói như thế, không có nghĩa bảo rằng: người trong cuộc, vẫn cứ một mình, mình sống. Rất chính chuyên. Không tuyệt vọng. Phàn nàn. Cũng chẳng bon chen. Như lời trần (rất) tình của một người mang tên Frank O’Shea, cũng ở Úc, như sau:

“Trong chuyến viếng thăm rất nhanh về Ái Nhĩ Lan, quê hương của ai đó, tôi có cái nhìn rất gần với thái độ của người địa phương, về các báo cáo vụ việc Murphy và Ryan. Về tình trạng lạm dụng trẻ em. Nói chung, phản ứng phổ cập ở nơi đây, là: sự phẫn nộ đối với hàng ngũ lãnh đạo của Hội thánh. Ở điạ phương. Về tính lắt léo. Thêu dệt. Và, tình trạng hoang mang của nhiều người.

Với những người thuộc thế hệ cao niên/trọng tuổi trong đó có tôi, thì những phát giác động trời như thế, chẳng mảy may đi vào cốt lõi của niềm tin, đi Đạo. Hoặc, vào thói quen sống Đạo của những người như họ. Có hai sự kiện riêng rẽ, là: tôi đã tháp tùng một người bà con trong gia tộc, dự Tiệc thánh vào buổi sáng, ngày trong tuần. Có đi, mới thấy rằng: sân để xe ở nhà thờ chỉ đầy một phần ba, như tôi dự đoán 30 năm về trước. Có điều là, thay vì đi xe hơi, ngày nay người ta đi lễ nhà thờ, lại dùng xe đạp.

Điều khác nữa, là: ờ bàn quỳ phía trước, không thấy giới trẻ, ngồi ở đó. Họ đi đâu, tôi cũng chẳng biết. Chỉ biết rằng, chừng như họ nay lạc lõng, xa rời nhà thờ nhà thánh, với giáo đường. Thế thôi.” (x. Frank O’Shea, Empathy for Irish priests, Eureka Street 17/3/2020)

Phải chăng, luồng nhà Đạo, vẫn có những người cứ “bình chân như vại”. Vì, bình chân như thế, nên cứ nghĩ: chuyện xảy đến, khác nào điều Chúa từng nhắc nhở, về một sơ hở, thời sau hết. Thầy nhắc, bằng một thể văn rất “Khải huyền”, như sau:

“Đừng khiếp sợ, vì những việc đó phải xảy ra,

nhưng chưa phải là tận cùng.

Quả thế, dân này sẽ nổi dậy chống dân kia,

nước này chống nước nọ.

Sẽ có những cơn đói kém, và những trận động đất ở nhiều nơi.

Nhưng tất cả những sự việc ấy chỉ là khởi đầu các cơn đau đớn.”

(Mt 24: 6-8)

Dĩ nhiên, “khởi đầu một đau thương”, nơi nhà Đạo, sẽ tiến về một kết cuộc, rất khác. Nhiều năm về trước, thoạt khi có chuyện “trời long đất lở”, ghê gớm hơn. Ngay trong cuộc. Sự thể sẽ khác nhiều, nếu bạn và tôi, ta dám hát như “người-ở-ngoài”, rất nghệ sĩ. Nhưng, lại có tâm tình rất gần người đi Đạo. Như hồi nào:

“Em hãy yêu mọi người nơi đây,

Như đã yêu cuộc đời chua cay.

Em hãy yêu, dĩ vãng không phai,

Như đã yêu bạn bè quê gầy…”

(Lê Hựu Hà – bđd)

Quê rất gầy, như hôm nay, là quê miền người đồng Đạo. Đồng thuyền. Có sóng vỗ dồn dập. Có tiếng nổ, nhưng không do đạn đồng. Súng ống. Ở đâu đâu. Hoặc là gì đi nữa, hỡi bạn và tôi, ta hãy cùng người nghệ sĩ trên, cứ hát tiếp:

“Em hãy yêu, người không yêu em.

Em hãy chia, tình yêu trong tim.

Em hãy cho, một người không quen,

Một phút hay một ngày, để tin.”

(Lê Hựu Hà – bđd)

Quả là thế, vấn đề của “một ngày để tin” sẽ chỉ là những “chũm choẹ chập cheng”. Hoặc: “thanh la phèng phèng”. Những lình xình, chuyện “đau cồn, ở cữ”. Cũng cứ là: “mây tím không gian” kéo ngợp ngàn, bầu trời thánh. Hoặc nhiều lắm, vẫn còn có người dám đương đầu, đứng lên mà phân biện. Như sau:

“Nói chung, cứ um sùm mà ém nhẹm sự thật, cũng chẳng đi đến đâu. Chẳng giải quyết được gì. Tự thân, tôi không muốn bênh vực Đức Giáo Chủ như người có trọng trách hỗ trợ ngài theo tư cách của tín hữu Đạo Chúa. Sở dĩ, tôi biện hộ cho ngài, vì thấy rằng ngài hoàn toàn vô tội, đối với cáo trạng mà người ta gán ghép cho ngài. Và, truyền thông/báo chí lại cứ hùa với chúng dân cứ nhoi lên khuynh loát vụ việc.

Mới đây ở Hoa Kỳ, đã nổi lên 3 vụ do Richard Dawkins và phe nhóm của ông cầm đầu. Nhóm này, đưa ra ba vụ quyết cho rằng: chiếu theo luật quốc tế, phải bắt giam Đức Giáo Chủ. Vì, ba vụ việc rõ ràng trong đó có vụ Murphy ở Wisconsin, Teta & Trupia ở Arizona, và Kiesle ở Cali. Cả ba, đều chung một mẫu số: lạm dụng tình dục, xảy đến hồi thập niên 1970. Phía cảnh sát đã được thông báo. Và họ đã hành động. Vị linh mục trong cuộc cũng đã bị Giám mục chủ quản treo chức thánh. Ngay khi đó, có người còn yêu cầu Thánh bộ Truyền Bá Đức Tin do Đức Hồng Y Ratzinger chủ trì, hãy bãi chức các vị đó, cho hồi tục. Và, sự thể là: ít lâu sau, các linh mục ấy, đã thực sự hồi tục. Ngoại trừ Lm Murphy, đã qua đời khi toà đang xét xử.

Treo chức thánh và cho hồi tục, là hai việc hoàn toàn riêng biệt. Việc thứ nhất, do Giám mục chủ quản thực hiện. Có hiệu lực, tức thời. Việc cho hồi tục, là tiến trình kéo dài, có liên quan đến Toà thánh La Mã. Treo chức thánh, nghĩa là: linh mục ấy, không còn chức năng: làm lễ, ngồi toà, hoặc hành xử như một tuyên uý, vv. Nói tóm, hành xử này là việc Giám mục chủ quản đối xử với linh mục trong cuộc, nhằm ngăn ngừa vị này có quan hệ tiếp với con trẻ. Ở vào trường hợp sôi sùng sục như thế, nếu Giám mục chủ quản không thành công trong việc bãi chức linh mục của người trong cuộc, ngay lập tức, thì vị Giám mục ấy hành động rất sai trái. Nhưng, vị Giám mục chủ quản không làm được điều này, cũng đâu dính dự gì đến Đức Hồng Y Ratzinger, là đấng bậc ở trên được yêu cầu xuất lệnh cho hồi tục, linh mục trong cuộc.

Vào thời điểm, mà Toà thánh thụ lý các sự vụ hồi tục, thì cũng không có gì liên quan đến việc bao che, giấu diếm, hay thông đồng đâu? Toà thánh chỉ nói: cho hồi tục, là một tiến trình phức tạp, cần phải điều tra cho kỹ. Rất dài ngày. Dầu gì đi nữa, hành động khả dĩ ngăn chặn được tình trạng lạm dụng trẻ em, không phải là việc cho hồi tục, người trong cuộc, mà là việc Giám mục phải kịp thời ngưng chức, vị linh mục trong cuộc ấy. Chẳng có gì chứng minh là: thời gian kéo dài tiến trình cho hồi tục lại đính kết với cơ hội để cho linh mục người trong cuộc, cứ tiếp tục lạm dụng tình dục. Với trường hợp của Lm Kiesle, đa số các vụ lạm dụng tình dục xảy đến vào lúc ông ta đã bị cho hồi tục. Tức, vào thời điểm mà vị Giám mục của ông, không còn quyền kiểm soát được ông nữa.” (x. Jack Valero, Message to the lynch mob, Mercatornet.com 16.04.2010)

Là người ngoài. Ngoài vụ. Ngoài lạm dụng. Hoặc, ở trong. Trong cuộc diện. Hội (rất) thánh, hẳn bạn và tôi, ta thấy cũng hạn hẹp, để có ý kiến. Bởi ý đây, là kiến thức về pháp luật. Ở đời. Trong Đạo. Liên quan đến các đấng bậc vị vọng, mang trọng trách. Có khác chăng, là phản ứng của thành viên, sống trong đời. Một đời, có con người đang phấn đấu để sống đúng luật. Như Thầy từng bảo: “Ai vô tội, hãy ném đá người này trước”(Yn 8:6). Và, “Chị về đi. Tôi cũng không xử tội chị đâu. Đi đi! Và từ nay, đừng phạm luật nữa.”(Yn 8: 11)

Với đời thường. Với người ngoài Đạo, ngoài luồng, có lẽ ta cũng nên hát tiếp, những câu sau:

Tôi ước mơ một ngày yên vui

Ta dắt nhau về nơi xa xôi

Tôi sẽ ca những bài ca vui

Chỉ có em và tình yêu người.”

(Lê Hựu hà – bđd)

Một phút của người nghệ sĩ, rất khác một cuộc đời, của ai đó. Là, bé em. Giáo sĩ. Phẩm trật. Khác cả những người trong đời, chỉ biết đến doanh thương. Tiền bạc. Niềm vui sướng, rất trần tục. Như truyện kể ở dưới, để cho vui:

“Nhiều dân tộc, cứ quan niệm việc nguyện cầu là thì thầm nói chuyện với Đức Chúa.

Có doanh thương nọ, cũng thờ Chúa, nhưng không cùng một ràn chiên rất Công giáo. Nên, việc nguyện cầu cũng hơi khác. Anh tìm đến “bức tường than khóc”, ở Giêrusalem mà cầu nguyện. Như sau:

-Dạ, Chúa có ở đó không?

-Có Ta đây.

-Cho con thưa chuyện với Chúa, một chút nhé!

-Con cứ nói.

-Chúa ơi, sao mấy ông nhà Đạo bên giáo hội đó cứ lôi thôi ba chuyện trời ơi, quá chừng vậy?

-Đó có là ưu tư đích thực của con không?

-Dạ không. Nhưng, ưu tư của con hôm nay, là: mấy vị ấy làm con mất nhiều mối ngon ăn, lắm Chúa ơi.

-Nay, con thưa với Ta chuyện gì vậy?

-Dạ, con thấy mấy người ấy vẫn cứ nói: “thời gian là của Ngài”. Trong khi đó, bọn con thì vẫn bảo: thời gian là tiền bạc. Thế, với Ngài, một triệu năm là bao lâu?

-Chỉ một giây.

-Còn một triệu đô, với Chúa là bao lăm?

-Chỉ một xu.

-Có thể nào, Chúa cho con chỉ một xu để đền bù cho các bạn bên ấy, đang bị kiện?

-Con chờ Ta một giây nhé.

Thời gian. Tiền bạc hay dục tính/dục tình. Cũng chỉ thế. Cũng chỉ trăm năm cuộc đời người. Nhưng sống trăm năm mà cứ quanh quẩn, kiện với tụng. Hẳn cũng nhiều âu lo. Chi bằng, ta cứ quẳng gánh lo đi. Mà ca hát. Hát rằng:

“Tôi sẽ yêu người không yêu tôi,

Tôi sẽ chia tình yêu trong tôi.

Tôi sẽ đem cuộc đời lên ngôi

Một phút thôi, dù một phút thôi.”

(Lê Hựu hà – bđd)

Thiển nghĩ, nếu bạn và nếu tôi, ta sẽ cùng với hết mọi người trong Đạo, hoặc ngoài luồng, hát những câu như thế, hẳn là cuộc đời sẽ không còn mấy ưu tư, như đời người. Trong huyện. Ngoài làng. Huyện Công giáo. Làng vô ưu. Ở đời người.

Trần Ngọc Mười Hai

vẫn còn vài ưu tư cũng nho nhỏ.

Nhưng chẳng yếm thế.

Như hồi nào.

24. Phố vẫn hoang vu từ lúc em đi

Rồi trong mưa gió biết ai vỗ về…

(Trường Sa – Xin còn gọi tên nhau)

Gv 3:1, 8-11

Gọi tên “Em”, cả vào lúc “Em” còn thức giấc. Hay, ngủ mê. Mê cuộc tình. Nơi dương gian, chốn ấy có lời ca. Tiếng hát. Rất đê mê. Nhè nhẹ. Như còn hát:

“Tình trong cơn ngủ mê,

Rồi phai trên hàng mi,

Chợt khi mình nhớ về.

Mộng thành mây bay đi,

Còn gì trên đôi tay,

Nên thầm hờn dỗi mình,

Cho tình càng thêm say.”

(Trường Sa – bđd)

Gọi tên “Em” hay tên “Anh”, ta gọi mãi. Suốt một đời. Để rồi, tên của người em mà ta nhung nhớ, lúc chia phôi, sẽ ở mãi trong tôi. Trong bạn. Gọi “Em”/gọi “Anh” gọi cả mọi người. Ai cũng gọi. Gọi, như một khẳng định của ai đó, người nghệ sĩ mới đây thôi:

“Chữ “Em” trong các bài hát, là đối tượng của tình yêu, mà chúng ta muốn gửi gắm vào đời sống. Có thể, là đối tượng của riêng tôi. Cũng có thể, của riêng bạn. Nói chung, là đối tượng của Tình Yêu, được trao gửi.” (x. Từ Công Phụng, Như mọi người, tôi cũng có trái tim mẫn cảm, Người Việt online 28/02/2010)

Gọi người trong tôi. Là gọi “Tình yêu”, rày vẫn thế. Vẫn nằm ở bản thể, tôi rất mến. Mến gọi và nhắn nhủ một lời Chúa vẫn gọi và vẫn nhắn trong Kinh Sách:

“Và này,

Thầy sẽ ở lại với anh em

suốt mọi ngày,

đến tận thế.”

(Mt 28: 20)

Gọi nhắn tên “Em”, còn là gọi nhắn một lời khác, ở Kinh Sách, ta vẫn nghe. Như thế này:

“Ở dưới bầu trời này,

mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời:

một thời để chào đời, một thời để lìa thế;

..một thời để khóc lóc, một thời để vui cười ;

một thời để than van, một thời để múa nhảy;

…một thời để ôm hôn, một thời để tránh hôn;

một thời để kiếm tìm, một thời để đánh mất;

một thời để giữ lại, một thời để vất đi;

một thời để làm thinh, một thời để lên tiếng;

một thời để yêu thương, một thời để thù ghét;

một thời để gây chiến, một thời để làm hoà.”

(Gv 3: 1, 2, 4, 8)

“Chúa Tình Yêu” vẫn nhắn gọi mọi người hãy ở lại với “Em”và với tôi. Suốt mọi thời. Hệt như thế. Hệt như gọi nhắn người ở lại, từ cõi miên trường. Ngài gọi, vào lúc bạn mình vừa có người giã từ, mà ra đi. Ngài gọi mãi tiếng yêu đương, rất thân thương. Rất tình Thầy ở lại, với muôn người.

“(Tình) Thầy ở lại”, không chỉ là gọi nhắn vào lúc tôi và bạn có người thân thuộc đã ra đi, về miền thiên cổ. Quá khứ. Đi, mà không ngoái cổ, trở về lại. Đi, mà không hề thương tiếc. Thương, một đời người. Tiếc, một ngày vui. Bởi, ra đi về miền quá khứ, là giáp mặt với Tình Chúa. Như Lời Ngài vẫn hứa.

Bần đạo nhớ, có đấng bậc nọ cũng trần thuật về tình yêu/nỗi nhớ, có ý thức như sau:

“Con người vốn là sinh vật duy nhất ý thức mình sẽ chết. Vừa biết mình phải chết, vừa không chấp nhận được cái chết. Lòng tin Chúa Kitô đã sống lại và mình cũng sẽ được sống lại không hẳn sẽ miễn cho người tín hữu khỏi nỗi xao xuyến lo âu, khựng lại trước niềm đau và nỗi chết của mình, lòng tin ấy không phải là thuốc an thần, thuốc giảm đau. Trái lại, lịch sử tư tưởng nhân loại cho thấy không đâu bằng trong Kitô giáo, vấn đề khổ đau được đặt ra triệt để và ý thức cái chết là ý thức bi đát. Thánh Augustin, Pascal, Kierkegaard chẳng hạn. “Sống lại từ cõi chết là gì?” Chúng ta đối diện với khổ đau, với cái chết vẫn không tránh được câu hỏi bức xúc ấy.Tại sao Chúa Kitô đã sống lại mà tôi còn phải tiếp tục cuộc thương khó của Chúa nơi thân mình tôi, trong đời tôi? Tại sao đã “bước đi trong đời sống mới” (Rm 6: 4) mà cứ còn phải chết? Cái chết càng không là lẽ đương nhiên (1Tx 4: 17).” (x. Nguyễn Ngọc Lan, Chủ Nhật Hồng Giữa Mùa Tím, nxb Cơ sở Hy Vọng 2002, tr. 160)

Lời Ngài, rõ ràng được nhận định là như thế. Lời Ngài, từng kéo dài nhiều thế kỷ. Không cần phải cãi tranh. Cũng chẳng có gì phải nghi ngờ. Bởi, thế đó là sự thật rành rành. Thế đó, rất thật như ánh mặt trời. Luôn soi dọi, để mình sống. Thật, như lời người nghệ sĩ, vào buổi Đông tàn. Xế bóng. Rất như sau:

“Tiếng hát bay trên hàng phố bâng khuâng

Chiều đong đưa những bước chân đau mòn

Chợt nghe mùa thu bay trên trời không

Còn ai giữa mênh mông đời mình

Nỗi đau mù lấp trên tuổi thơ…”

(Trường Sa – bđd)

Tuổi thơ, dù đặc dầy đến 100 năm, vẫn “bâng khuâng”. “Đau mòn”. “Mù lấp”. Cũng thương thân, thương cho bạn bè/người thân, nay vẫn cứ u uẩn. Sầu lắng. Khuất dạng. Thương, là thương cho người ở lại, vẫn phải sống. Sống thương nhớ. Và, vẫn có người lâm râm nguyện cầu cho kẻ quá vãng. Rất dài ngày.

Người thân ra đi, vẫn thương vẫn sầu dù biết rằng người thân ra đi, nay đã vào cõi phúc. Chẳng còn lo toan. Lẫn bon chen. Hạnh và phúc, được Chúa tiếp rước. Tội và “nghiệp”, là tội nghiệp cho người ở lại, chốn dân gian. Vẫn cứ lan man. Nhiều than khóc. Để rồi tưởng rằng: có cầu và có xin bằng nhiều kinh kệ, người thân mới hết tội và dứt nghiệp. Thương và tội là bởi, cứ mãi dùng lời kinh xưa mà khẩn cầu từng chữ. Những là kinh cầu “chữ”. Cầu hồn. Đã kéo dài nhiều thập kỷ. Như thói một quen, khó bỏ.

Lời kinh xưa, khác nào lời nghệ sĩ thập kỷ trước, vẫn cứ lai rai. Dông dài. Một tình tiết:

“Tiếng hát ru em, còn nuối trên môi.

Lời nào gian dối, cũng xin qua rồi.

Để lỡ ngày sau, khi ta cần nhau

Còn nuôi chút êm vui ngày đầu,

Cho mình mãi gọi thầm tên nhau…!

(Trường Sa – bđd)

Lời kinh hôm cho người quá vãng, chắc chắn sẽ không là lời hát ru “xin qua rồi”. Nuối tiếc những “êm vui”. Ngày đầu. Gọi mãi tên nhau. Lời kinh hôm cho cho người quá cố, lẽ đáng, phải là lời “trần tình” cho người ở lại. Cho, chính mình. Cho bạn bè/người thân. Cần hưng phấn.

Dù đó có là lời kinh hôm sớm, vẫn cứ phải tràn đầy hưng phấn, như nhận định được trích dẫn ở trên, còn nói thêm:

“Mùa Chay hay lúc nào khác trong năm, thì Phụng vụ vẫn là xum họp xung quanh Chúa Kitô đã sống lại, “không còn chết nữa” (Rm 6: 4): người tín hữu không bao giờ còn phải “đi tìm Đấng Sống giữa những người chết” (Lc 24: 5). Canh thức Vượt qua, Vọng Phục Sinh mới cốt cách, tinh thần của cả Mùa Chay. “Mùa Chay, nhằm chuẩn bị cử hành lễ Vượt Qua.(x. Gs Nguyễn Ngọc Lan, Chủ Nhật Hồng Giữa Mùa Tím, nxb Cơ Sở Hy Vọng 2002, tr. 156-157)

Cầu xin hay cầu nguyện vào Mùa Chay, hay vào ngày tưởng niệm người thân vừa quá vãng, không còn là cầu và xin cho mình/cho người ấy được những điều, ta đã có. Nhưng, là hiệp lòng với Đức Chúa trong tinh thần Vượt Qua. Tức, vượt mọi thống khổ. Đau buồn. Chết chóc. Hầu, đi vào sự Phục Sinh, rất quang vinh. Của Chúa. Bởi thế nên, dù ăn chay nguyện cầu cho người quá cố, hay cho người ở lại, cách tốt nhất vẫn là nguyện hát lời ca hân hoan, khi gặp Đức Chúa, thế thôi.

Về cầu nguyện hay cầu xin, có đấng vị vọng từng nói quả quyết mạnh như thế này:

“Khuôn vàng thước ngọc: “Vậy mọi điều các ngươi muốn được người ta làm cho mình, thì cả các ngươi nữa cũng hãy làm cho người ta như thế: Lề luật và các tiên tri là như thế. (Mt 7: 12)”. Đây là câu cần thiết để chúng ta chung sống với nhau. Hình thức của luật thương người này, chúng ta gặp trong thế giới Do thái (sách Tôbia 4: 15)…

Câu Mt 7: 12 nói đến qui ước xử sự. Muốn áp dụng theo châm ngôn thì phải đòi cho được áp dụng theo lương tri quân bình, chứ nếu là lương tri thiếu phán đoán, thì sẽ rất nguy hiểm. Thiếu phán đoán cả về đạo đức cũng nguy hiểm. Thí dụ: một người quản lý muốn ăn chay cầu nguyện, nhưng lại cũng muốn bắt mọi người ăn chay cầu nguyện như mình, thì chết thiên hạ! Mình muốn hãm mình nhưng đừng bắt người khác hãm mình. Phải có lương tri nào đó, bằng không thì nguy hiểm. Vậy, phải có sự phán đoán nào đó, lòng phải chăng, bởi vì “suy bụng ta ra bụng người” trong những trường hợp ấy thì rất nguy hiểm.

Vậy tự nhiên muốn áp dụng phải có lương tri quân bình. Nhưng thực sự, khi đã có quân bình đó thì nguyên tắc đó là một nguyên tắc giải phóng khỏi sự tù túng của lề luật theo tinh thần các rabbi.” (x. Lm Nguyễn Thế Thuấn CSsR, Hiến Chương Nước Trời, tr. 215-216)

Hiến chương Nước Trời, bao gồm không chỉ một số qui định của người đời. Do người đời chế biến. Ban ra. Hiến chương, không chỉ được ban khi có người thân thuộc với mình/với đời, vừa quá vãng. Hiến chương Nước Trời, là hiến chương cho cộng đoàn con cái Chúa ở trần gian. Bởi lẽ, Hiến Chương ấy áp dụng cho mọi người. Bất kỳ ngươi ấy còn sống, hay đã ra đi. Hiến Chương hạnh phúc, là nguyên tắc đạt hạnh phúc dành cho mọi người, bất kỳ người ấy ở đâu. Sống vào thời nào. Và, nguyên tắc sống hạnh phúc cho cộng đoàn Nước Trời, là dành cho người đã ra đi, hoặc còn ở lại đang sống những tâm těnh thống thiết. Mông lung. Tiếc nuối.

Để minh hoạ cho chuyện đề cập ở trên, cũng nên kể cho nhau những lời ngọc ngà của các đấng đã và sẽ thành thánh, như Mẹ Têrêxa thành Calcutta, ở bên dưới:

“Có những kỷ lục tuyệt vời, qua lời Ngài quả quyết:

Ngày đẹp nhất trong đời, chính là: Ngày hôm nay.

Việc làm dễ sai phạm nhất, là: Tội và lỗi.

Trở ngại lớn nhất cho con người, là: Sự sợ hãi.

Sai phạm nghiêm trọng nhất đối với con người, là: Sự tự huỷ.

Nguồn gốc dẫn đến tội ác, chính là: Tính ích kỷ.

Thú tiêu khiển giải lao hay đẹp nhất, là: Lòng vui thú làm việc.

Thất bại nặng nề nhất, là: Nỗi chán chường.

Người thày tốt lành nhất, là: Các trẻ em.

Nhiệm vụ cần đặt ưu tiên nhất: Sự hiểu biết lẫn nhau.

Điều làm cho con người vui thích nhất, là: Trở nên hữu ích cho tha nhân.

Sự việc khiến mọi người mất đi tính sáng suốt nhiều nhất, là: Tính sợ chết.

Khuyết điểm lớn nhất của con người, là: Tính nóng nảy.

Người nguy hiểm nhất trên đời, là: Kẻ nói dối.

Cảm giác đớn hèn nhất, là: Lòng hận thù.

Quà tặng cao quý nhất, là: Sự tha thứ.

Với con người, những cái ta không thể thiếu được, là: Tình gia đình.

Con đường tắt ngắn ngủi nhất, là: Sự thẳng thắn.

Cảm xúc khiến ta vui thích nhất, chính là: Sự bình an trong tâm hồn.

Bằng chứng rõ rệt nhất cho thấy mình hạnh phúc, là: Nụ cười mỉm.

Phương cách giải quyết hữu hiệu nhất, là: Sự lạc quan.

Thoả mãn lớn lao nhất, là: Hoàn tất công việc mình làm.

Quyền uy mạnh mẽ nhất trên đời, là: Tấm lòng của cha mẹ.

Niềm vui lớn nhất cho ta, là: Có người đồng hành cảm thông.

Nét duyên dáng mỹ miều nhất trần đời, là: Lòng yêu thương.

Tất cả những điều kể trên, chỉ tốt đẹp trong cuộc sống và nỗi chết, đều xuất từ:

Tình Yêu và Ân Sủng,

của Thiên Chúa.”

Quả là thế. Không có Tình Yêu và Ân Sủng Ngài ban, thì dù ta vẫn sống đấy, nhưng thực sự là mình đã chết. Sống cái chết của người còn sống, nhưng như chết. Sống vô bổ. Vô tích sự. Sống, trăm năm cuộc đời, mà không lĩnh hội và chuyển tải Tình Chúa trao ban, cho người cùng sống, cũng chỉ như người thực sự đã chết. Nỗi chết rất tệ. Tệ, hơn cái chết của người không còn sống.

Đằng khác, đối diện sự chết của người thân quen, còn là giây phút cực mạnh đánh động ta nhất, khiến ta cởi bỏ mặt nạ ta thường đeo, như: danh giá, quyền lực và tự ái. Để rồi, sẽ cảm nhận rằng thân phận mình mỏng dòn. Yếu đuối. Cuộc đời ngắn ngủi. Và rồi tự hỏi rằng biết mình có còn cơ hội khác để gặp gỡ, thương yêu không. Để yêu người mà mình không thích. Thương, để ôm lấy hết mọi người. Mà, làm hoà. Mà nói lời xin lỗi lúc chưa muộn. Xin lỗi và yêu thương, để rồi chấp nhận rằng thân phận mình cũng yếu hèn như người vừa nằm xuống.

Thế nên, đối diện với sự chết của người thân quen cũng là cơ hội duy nhất để ta có thể tha thứ. Và, tìm được bình an. Trong tâm hồn. Bởi, trong cuộc sống, bình an trong tâm hồn chỉ có thể tìm lại được nếu mình biết “sống lại” với Tình yêu của Thiên Chúa. Sống vui với mọi người. Hết một đời.

Trần Ngọc Mười Hai

Chợt nguyện cầu

cho mình và cho người

khi nghe tin bạn rất thân

vừa từ trần.

25. “Nhắm mắt, cho tôi tìm một thoáng hương xưa”
Cho tôi về đường cũ nên thơ…
(Phạm Đình Chương/Thanh Tâm Tuyền – Nửa Hồn Thương Đau)

Kn 1: 28

Về đường cũ. Nên thơ. Để tìm một thoáng, hương xưa. Chao ôi! Đâu phải dễ. Cũng chẳng là chuyện bình thường, như nhắm mắt. Hoặc, nhắm cả mũi luôn. Bởi, hương xưa tìm về, đâu chỉ mỗi nhắm là xong đâu. Chí ít, là nhắm và tìm như nhà thơ cùng người viết nhạc, đã từng hát:

“Cho tôi gặp người xưa ước mơ
Hay chỉ là giấc mơ thôi
Nghe tình đang chết trong tôi
Cho lòng tiếc nuối xót thương suốt đời.”

(Phạm Đình Chương/Thanh tâm Tuyền – bđd)

Gặp rồi, chắc là cả nhà thơ lẫn người viết nhạc sẽ không còn nhắm thêm gì nữa. Bởi, có nhắm hay mở mắt, vẫn thấy những điều trái khuấy, rất như sau:

“Nhắm mắt, ôi sao nửa hồn bỗng thương đau
Ôi sao ngàn trùng mãi xa nhau
Hay ta còn hẹn nhau kiếp nào…”
(Phạm Đình Chương/Thanh Tâm Tuyền – bđd)

Quả thật, hôm nay bạn và tôi, ta có nhắm mắt hay nhắm gì đi nữa, dù để nguyện cầu. Hay xuất thần. Hoặc, có nhắm cả mắt lẫn mũi như cố nhìn ngắm Đức Chúa, như các thánh tổ khi xưa, cũng thấy rằng: đời này, người người dù vấn cứ trừng trừng mà nhìn. Hoặc vẫn cứ mở hết con ngươi, cũng chỉ để suy nghĩ hay nhung nhớ điều gì đó, rất mông lung. Xa vắng. Khó tìm. Chỉ thế thôi.

Điều ít thấy và cũng khó tìm, đôi khi vẫn cứ hiện hình, ngay trước mắt. Trước mặt mọi người. Và mỗi người. Thế nhưng, mọi con dân đi Đạo hôm nay lại ít khi nào lại tưởng và nhớ. Chí ít, là nhớ tưởng những gì chẳng liên quan đến với đời mình. Chuyện riêng tư. Tựa hồ chuyện hỏi/đáp khá “vô tư”. Xa lạ. Với đấng bậc vị vọng, để mà hỏi. Hỏi, là hỏi những điều ít người chịu nhắm mắt, hoặc nhắm cả lòng mình, mà lắng nghe. Tìm hiểu. Như sau:

“Mới đây, tôi nghe nói có người nọ vừa quay về với đời sống, rất bình thường. Sau thời gian dài sống như cây cỏ. Rất nhiều ngày. Riêng tôi, vẫn cứ cảm tạ Chúa về những chuyện như thế ấy. Chuyện, là vấn đề tôi đặt ra hôm nay, vỏn vẹn như thế này: Tại sao Hội thánh Chúa vẫn cố giữ cho người bệnh sống mãi trong tình cảnh tuỳ thuộc chuyện tiếp chất dung dịch vào người bệnh, kéo dài cuộc sống xem ra không cần thiết. Bởi tại sao ta lại không dứt điểm cuộc sống của những người sống chỉ như cây cỏ, chẳng biết gì? Tại sao lại cứ buộc người bệnh ngặt nghèo ấy phải kéo dài cuộc sống thê lương như thế? Xin được giấu tên, để còn sống với chòm xóm.” (Ký tên: một người có Đạo ở Sydney)

Cũng ở Sydney, lâu nay vẫn có đấng bậc vị vọng chẳng lấy làm điều khi có những người các câu hỏi khá “móc họng”, lại xóc óc, đến như thế. Đức ngài nhận được được câu hỏi, bèn nghĩ đến bổn phận phải đáp giải/trả lời, mới ngủ yên. Ngài tên John Flader, đấng bậc linh mục thuộc nhóm “Công trình của Chúa” rất Opus Dei, có lời đáp như sau:

“Trước hết, xin thưa là: các chuyên gia luân lý trong Đạo có tiếng tăm thường vẫn bàn thảo về vấn đề này, từ lâu. Có vị biện giải rằng: việc đem chất lỏng dinh dưỡng tiếp sức theo phương pháp nhân tạo là việc săn sóc rất thường nhật. Cũng nên làm.

Cũng có vị lại biện giải rằng: việc chăm nom/săn sóc như thế, suốt nhiều ngày, sẽ trở thành gánh nặng, cho hệ thống an sinh/y tế, hoặc gia đình. Có lẽ, đã đến lúc ta cũng nên chấm dứt động thái ấy.

Đã từ lâu, Toà Thánh La Mã cũng dần dà bày tỏ lập trường một cách rõ rệt, và hữu lý. Tông thư mới nhất xuất từ Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, ban hŕnh năm 2007, theo hình thức giải đáp vấn nạn, do Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ đưa ra.

Cho dẫu là như thế, cũng nên xem xét sự việc, cho cẩn thận. Trước hết là chuyện ngôn từ. Nên hiểu rằng, khi ta nói: ai đó đang sống đời thực vật, là có ý nói về những người hít thở rất tự nhiên, tiêu hoá thức ăn cũng hệt như cây cỏ. Họ vẫn có thể nhắm mắt, mở mắt, theo dõi mọi chuyển động của sự vật, rất bình thường. Nhưng, không thể mấp máy môi miệng hoặc tự mình nuôi sống bằng thức ăn, của uống được.”

Như thế thì, nói theo kiểu cách của nghệ sĩ ngoài đời, là nói và hát như thế này:

“Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt

Chỉ thấy lòng nhớ nhung chất ngất

Và tiếng hát và nước mắt .”

(Phạm Đình Chương/Thanh Tâm Tuyền – bđd)

Của đáng tội, “chỉ thấy lòng nhớ nhung”, là lối nói của nhà thơ/người đặt nhạc mà thôi. Chứ, với người bệnh, mà độc giả nọ cứ hỏi và bàn là có mà nhắm/mở những hai con ngươi, thì cũng chỉ thấy “vật đổi sao dời”, đời một nỗi. Rất chán chê. Ê chề. Nhiều tình tiết. Chứ, nào mấy ai biết “nhớ nhung”, với lại “chất ngất”, thứ gì đâu!. Nhớ chăng, chỉ là nhớ rất lờ mờ những ảnh hình của người, của vật nào đó. Xa xăm. Mù tối. U hoài, mà thôi. Thôi thì, ta cứ để những chất ngất/nhớ nhung của các vị đang “sống đời thực vật” được sống, như đức thày nhà Đạo, lý giải tiếp:

“Ngày 1/8/2007, Đức Thánh Cha Bênêđíchtô XVI đã chuẩn thuận cho Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin giải đáp thắc mắc về tình trạng của những vị có cuộc sống như trên.

Thành thử, câu mà bạn đưa ra hỏi rằng: có nên cho người bệnh sống đời thực vật tiếp thu thức ăn/nước uống bằng phương cách tự nhiên, hoặc nhân tạo không? vẫn là chuyện phải làm theo luân lý và đạo đức, một khi cơ thể người ấy không thể tự hấp thụ hoặc tiếp thu thực phẩm mà phải nhờ vào người khác, phương pháp khác, có tạo ra những bất tiện về thể lý, hay không?

Thì, câu trả lời của Hội thánh, là: RẤT NÊN. Tiếp thức ăn và nước uống bằng phương pháp nhân tạo, trên nguyên tắc, là phương cách thường tình và có mức độ, là để duy trì sự sống. Vì thế, bắt buộc ta phải làm như thế, bao lâu việc ấy còn thực hiện được vì mục đích cuối cùng, rất đúng đắn. Tức là, làm sao tạo dinh dưỡng tiếp nước để nuôi cơ thể của người bệnh. Có như thế, mới tránh không làm cho người bệnh khổ đau thêm, hoặc đi đến tình trạng chết đói, chết khát.

Với nhà Đạo, cứu vớt và bảo vệ sự sống là như thế. Dù, sự sống ấy có là sống như cỏ cây, rất thực vật. Tội nghiệp. Ấy thế mà, người người ở đời có thấy cái “nghiệp” chịu trận hay không, làm sao biết. Chỉ biết rằng, nghệ sĩ nhà mình vẫn cứ ca và cứ hát, Những câu lờ mơ, lờ tờ mờ, như sau:

“Đôi khi em muốn tin

Đôi khi em muốn tin

Ôi những người ôi những người

Khóc lẻ loi một mình.”

(Phạm Đình Chương/Thanh Tâm Tuyền – bđd)

Người bệnh, dù có khóc hay có tin. Vẫn là cứ là điều mà người ở ngoài, hằng nhớ đến. Nhớ về một giải đáp cho câu hỏi được Đức-Thày-nhà-Đạo trả lời như sau:

“ Câu kế tiếp, là: “Có nên chấm dứt không tiếp tục nuôi dưỡng và tiếp nước uống cho người bệnh đang ở tình trạng triền miên sống đời thực vật/cỏ cây hay không? Và, cả vị y sĩ là người có thẩm quyền để phán quyết điều gi cho thích hợp với luân lý vững chắc, cũng lại bảo: người bệnh sẽ chẳng quay trở về với trạng thái tỉnh táo, ý thức như trước?

Câu trả lời cho lời hỏi thứ, là: KHÔNG! Người bệnh có kéo dài cuộc sống cây cỏ/thực vật, vẫn là bản vị có phẩm giá như một người. Vì thế, họ vẫn cần được người khác chăm sóc thương tình mà tiếp tục cho ăn cho uống bằng các phương pháp nhân tạo hoặc gì khác, vẫn phải làm.

Đức Gioan Phaolô Đệ Nhị, hôm 20/3/2004 có nói với các vị đến tham dự Hội thảo Quốc tế về đề tài “Chữa trị để Duy trì Đời sống và Trạng Huống của những người sống đời Thực vật”, là những người đang ở vào trạng thái sống như cây cỏ, họ cần phải được duy trì phẩm giá căn bản như mọi người.”

Ngài còn tiếp: Giá trị nội tại và phẩm giá tư riêng của mỗi bản vị không bao giờ đổi thay. Là người, dù ta có nhuốm bệnh nan y khó chữa hoặc có mắc chứng tật khó có thể thực hiện chức năng ở tình trạng tốt đẹp nhất, vẫn cứ phải và sẽ luôn là bản vị nòng cốt. Bản vị ấy, không bao giờ trở thành cỏ cây, hay loài thú được hết.” (#3)

Đành rằng đôi khi cũng có luật trừ. Như, trường hợp nhân vị ấy, bản vị ấy đang ở mãi tận vùng sâu vùng xa, hoặc lại rơi vào cảnh tình cực kỳ khó khăn, không thể thực hiện được việc cung cấp thức ăn hay nước uống được, thì ở vào trường hợp ấy, cũng có thể bãi miễn các ràng buộc luân lý, đạo đức.

Xem như thế, qua lời hỏi đáp thư nhất như đã xét, thì: giả như tình trạng sức khoẻ của người bệnh trở nên ngặt nghèo, như ung thư dạ dày chẳng hạn, thì vì có khó khăn như thế, vì cơ thể người bệnh chẳng thể nào hấp thụ được thức ăn hoặc chất lỏng; hoặc như: việc tiêm chích thức ăn/nước uống lại làm cho người bệnh đâm “khó ở”, thì vào những trường hợp như thế, họ không bị ràng buộc về luân lý, như người khác.

Lại nữa, ví dụ mà bạn đưa ra qua câu hỏi ở trên –nhất thứ là, vào những năm gần đây—thì, có rất nhiều trường hợp hi hữu xảy ra trên thế giới; những sự việc cho thấy rõ ràng là ta không thể nào biết chắc được là người bệnh có thể lành khỏi, và sẽ không còn ở vào tình trạng sống đời thực vật như trước; nhất là vào những năm sau đó. Điều này, càng khiến ta chú ý hơn, rằng: vào trường hợp có những bệnh nhân thực sự bị như thế, thì: ta lại càng phải kính trọng phẩm giá của người đó hơn. Càng nên tiếp tục điều trị cho họ bằng phương pháp dinh dưỡng, tiếp nước vào cơ thể, theo phương thức nhân tạo, hơn nữa.” (X. Lm John Flader, The Catholic Weekly, 09/5/2010 tr.11)

Nói nào ngay, đức thày nhà có khuyên gì thì khuyên. Có, bảo gì thì bảo, người đời nay vẫn cứ nhìn vào cuộc đời, rồi thấy chán. Vì có chán và khá ngán, nên nhiều người lại cứ cất lên đôi câu hát rất “nhắm mắt”, để rồi lại xin với xỏ, rồi còn hỏi:

Anh ở đâu ?

Em ở đâu ?

Có chăng mưa sầu, buồn đen mắt sâu? “

(Phạm Đình Chương/Thanh Tâm Tuyền – bđd)

Và rồi, cứ nhắm mắt (chứ đừng nhắm mũi), sẽ lại thấy những “nửa hồn (rất) thương đau!”. Nhắm rồi, hãy cứ tìm. Tìm anh. Tìm em, xem em và anh, hiện ở đâu? Có mưa sầu? Buồn đen? Hay, mắt sâu, rất như thế?

Lại nói cho cùng lần nữa thì dù cho anh, cho em có nhắm cả mắt lẫn mũi, thì đời anh, đời em vẫn cứ xa nhau. Vì đời anh, hoặc đời em đang sống rất giống đời cỏ cây. Thực vật. Xa và tìm, có thể vì ta vẫn cứ nghe rồi chóng quên, lời dạy của Đức Chúa, rất sau đây:

“Hãy xem chim trời:

Chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho;

thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng.

Anh em lại chẳng quý giá hơn chúng sao?”

(Mt 6: 26)

Nói cho cùng, dù người anh/người em của ta, nay có thương đau đến “nửa hồn”, vì sức khoẻ đang dần dà, lịm chết. Theo nhiều cách. Thì, cũng cứ hy vọng rằng mọi sự sẽ tốt đẹp, như Lời Chúa nhủ khuyên. Bởi, dù gì đi nữa, Thầy Chí Thánh, vẫn ở bên ta. Vỗ về. Tiếp sức. Có Ngài ở gần, lo gì chuyện chết đói. Chết khát. Có Ngài ở gần, chắc chắn dân con mọi người cứ yên tâm mà sống. Sống yêu thương, giùm giúp, hết mọi ngưòi. Khỏi lo lắng. Đắn đo. Như truyện kể ở dưới, rày minh chứng:

“Truyện kể rằng:

Có cụ ông vào tuổi lục tuần nọ, sau nhiều tháng năm bận tâm cống hiến đời mình cho lao động, nay về già đã biết ưu tư, lo cho chính mình. Ông gom góp một số tiền lặn lưng làm một chuyến du ngoạn thưởng lãm những gì mình chưa biết. Vui chơi vài ba bữa, cho bõ cảnh về già, không còn sức. Ông lấy bản đồ, rồi nhắm mắt chấm đại vào đó, chọn nơi đi. Cây viết ông dùng để chấm, để khoanh, lại rơi ngay vào nước láng giềng kề cận, tên gọi nước Thái. Vừa đặt chân đến nước bạn, để thưởng ngoạn, ông bèn cởi áo sống cho thoải mái, bèn làm một vòng tản bộ “thăm dân cho biết sự tình.”

Kịp đến ngã ba đường mới lạ, cần chọn hướng, ông đi về hướng có mũi tên dành để cho người ít tiền. Đương nhiên là một chọn lựa rất phải lẽ. Lại đến khúc rẻ trực chỉ nơi chốn dành cho người có tuổi. Ông hí hửng mỉm cười nghĩ mình đã chọn đúng hướng..

Tiếp tục tiến bước, ông lại theo tấm bảng chỉ đường ở một ngã ba khác, phân rẽ đôi đàng chỉ về hướng dành cho người không còn bảnh trai, nhưng có chút đồng dư đồng để, tha hồ mà hưởng lạc. Nhiều hạnh phúc.

Chợt đến cuối đường, ông lại thấy có tấm biển ghi lời khuyên: hãy chọn một trong hai phía, một dành cho người dẻo dai. Trai tráng. Đầy nghị lực. Phía kia, dành cho người không còn sức. Chỉ lai rai. Sương sương, vài ba sợi, dành cho người “hết mực”. Trong một thoáng chốc rất nhanh, ông chọn lối thứ hai. Tưởng rằng chọn thế là rất đúng. Nhưng, tới cuối đường, bèn thấy có tấm bản ghi rõ giòng chữ: “Ít tiền. Già lão. Xấu trai. Lại không có sức. Thôi, về đi mà tính chuyện dưỡng già, cho phải Đạo làm người, hỡi cha nội. Hơi sức đâu nữa mà bon chen.Chỉ còn nước chết.”

Kinh nghiệm sống đời thường, nhiều người rày đã biết: đường đi không khó, mà sao lối về lại lắm chông gai. Miệt mài. Gió sương! Với sức lực còn lại ở cuối đời, hẳn người người chợt nhớ chợt thương cho những ai không còn trẻ, cũng chẳng còn bao nhiêu sức, nhưng vẫn không biết nhắm tài lực của chính mình, để rồi sẽ phải hát câu thơ/ý nhạc rất hiện thực như sau:

“Ôi những người! Ôi những người

khóc lẻ loi một mình.”

Khóc, lẻ loi … một mình!”

(Phạm Đình Chương/Thanh Tâm Tuyền – bđd)

Tóm một lời, sống đời cỏ cây, hay sống lành lặn một đời người, vẫn là sống những chuỗi ngày dài có năm tháng thấy mình sao cứ khóc “lẻ loi”, “một mình”? Khóc nhiều nhất, lại là lúc thấy rằng, chẳng còn ai đoái hoài. Yêu thương. Giúp mình. Vẫn cứ biện luận. Tranh cãi. Đố kỵ. Vẫn cứ dựa nhiều vào qui định. Luật lệ. Rất cứng ngắc.

Thành thử, dù có sống đời cỏ cây. Thực vật. Rất tất bật. Hoặc, chỉ sống một cuộc đời bình thường. Hạnh phúc. Rất tâm đắc. Ta vẫn cứ bảo nhau hãy duy trì tình thân thương. Hỗ trợ. Dù, mình đang sống rất khó. Hoặc, rất khó sống. Với người thân, ở nhà Đạo.

Trần Ngọc Mười Hai

Nhiều lúc chợt nhớ về

cuộc đời của bạn nghèo.

Tuy không hèn.

Nhưng khốn khó.

26. “Không biết đêm nay vì sao tôi buồn?”
Buồn vì trời mưa hay bão trong tim?
Đã mấy thu qua tôi vẫn đi tìm
Để rồi buồn ơi! nghe tiếng mưa đêm.”

(Lam Phương – Đèn khuya)

Mt 26: 38

Phải thú thật ngay ở đây, rằng bần đạo ít khi thổ lộ cho ai đó, là mình cũng biết buồn. Cũng có nỗi buồn, vào ban đêm. Nhất là vào những đêm đã khó ngủ, lại loáng thoáng nghe ở đâu đó, có nhạc bản của nghệ sĩ Lam Phương, thật khó vui. Và, nỗi buồn của bần đạo, thường chẳng mang ý nghĩa gì là sâu sắc. Chắc khó đặt tên. Buồn không tên. Như nỗi buồn lan man. Vô hạn. Của mọi người.

Buồn nhất là khi bần đạo sục sạo kho tàng truyện kể, để tìm bài mà viết/mà lách, lại gặp ngay bức “thư trần tình” của bác tài xế xe tải ở Canada. Truyện kể về thư mà dường như bần đạo từng trích dẫn và gửi đến bạn bè, để san sẻ. Nay, lại xin được sẻ và san cho bạn bè nào chưa từng biết đến. Thư hơi dài. Lại bi ai. Nhưng cũng đạt. Thôi thì, đề nghị bạn và tôi, ta đành nghe lại, một lần nữa:

“Thư rằng:

Em yêu quý,

Đây là bức thư ngỏ mà không người đàn ông nào lại muốn viết về cho vợ của mình. Anh cũng thế. Anh vẫn muốn và vẫn còn đủ thì giờ để viết lên đây những gì anh quên bày tỏ cùng em. Rất nhiều dịp. Những dịp khá thuận tiện để nói lên một điều: Anh yêu em lắm, em ơi!

Anh nhớ, có lần em từng nói với anh rằng: anh yêu chiếc xe tải còn hơn em nữa. Em viện lý bảo rằng: anh để quá nhiều thì giờ dành cho nó! Thật ra, thì anh có để tâm để ý đến khối sắt vô tri vô giác này, cũng chỉ vì nó đã và sẽ còn đem lại cho chúng ta, những điều cần thiết, trong cuộc đời. Nó chứng kiến anh vượt khó khăn/gian khổ, vào giờ phút anh cảm thấy khó khăn. Mệt nhoài. Nó vẫn luôn ở bên anh. Nó đồng hành với anh trong suốt chặng đường dài, đầy truân chuyên. Khó nhọc. Anh kỳ vọng vào nó rất nhiều, để thực hiện những điều thực tế, gia đình mình cần đến. Và, cũng nhờ nó mà anh có thể hoàn thành công tác, rất mau lẹ. Nói cho ngay, nó không bao giờ làm anh thất vọng. Dù chỉ chốc lát.

Em biết không? Nó giúp anh lo toan những chuyện thật cần thiết, trong đời. Nó giúp anh làm được những việc anh có thể làm. Vì em và các con. Nó giúp anh yêu em. Yêu bền bỉ Nó giúp anh ở với em đến hôm nay, đấy em ạ. Anh nghĩ: chắc em cũng hiểu và chứng kiến những đoạn đường gian khổ anh trải qua, một phần nào cũng nhờ nó.

Có lần anh than vãn về thân phận chiếc xe già đó đã cũ, nhưng anh vẫn không quên rằng một vật vô tri vô giác như nó, mà cũng giúp anh được rất nhiều việc. Anh nhớ, hình như có lần em than thở với anh, khi anh mệt mỏi, trở về nhà, rằng: anh quá lo cho công ăn việc làm của anh đến độ không còn nhớ là còn có em đang sống bên cạnh anh, trên cõi đời này. Thật ra, thì anh nhớ đến em nhiều lắm chứ!. Nhớ là: em đã phải hy sinh từ bỏ mọi thú vui trên đời, chỉ vì anh. Những thứ như: thời trang, du lịch, may sắm, tiệc tùng, cùng vui chơi chuyện trò với bè

bạn …

Em còn âm thầm chấp nhận, chứ không hề trách móc, cả những thứ những điều, em không bao giờ thích. Hoặc muốn làm. Thế mà anh vẫn cứ lặng im. Vẫn cứ thế đi xa. Cứ tiếp tục làm và làm. Lại, chẳng có lời nào cảm ơn em, về những chuyện như thế. Cả vào khi anh ngồi uống cà phê với bạn bè, anh chỉ nói về những xe và cộ. Về các khoản tiền tu bổ, sửa chữa cho xe. Chẳng đề cập gì đến em, và các con. Quả là, vào những lúc như thế, anh thật sự đã quên mất em, người bạn đời đáng quý đáng mến nhất, của anh. Anh quên em, cả trong các câu chuyện vui buồn kể lể, với mọi người.

Mức hy sinh phấn đấu em dành cho anh, thật ra đếm được rất nhiều. Không thua gì những cố gắng của anh, quyết làm cật lực để hy vọng một ngày nào đó, sẽ có khả năng sắm tậu chiếc xe khác. Mới hơn. Tốt hơn. Anh quả thật đã hãnh diện về chiếc xe của anh. Nhưng, anh còn hãnh diện nhiều về em nữa. Có điều là, anh chưa bao giờ nói với em, về chuyện đó. Anh vẫn cứ cho đó là chuyện dĩ nhiên, em vốn biết. Nay nghĩ lại, lẽ đáng ra anh phải dành nhiều thời gian hơn cho em, mới phải. Đáng lẽ, anh phải ở bên em, nhiều hơn nữa. Nhưng, thay vì tối ngày cứ lo chùi rửa, lau bóng chiếc xe, có lẽ anh phải nói ra những điều tốt đẹp về em mà anh còn để trong lòng.Giờ này anh thấy mình thật có lỗi, với em.

Ngày tháng trôi qua nhanh quá, em ạ. Những lần rong ruổi đường dài, anh nhận ra rằng lời nguyện cầu của em dâng lên Chúa, vẫn đồng hành sát cánh bên anh. Vẫn theo anh, để giúp anh. Nhưng lần này, sao anh thấy những lời đó không còn đủ sức để giúp anh vượt thắng chặng cuối này nữa rồi, em ơi. Anh tiếc thật đấy em ạ. Anh nay thấy đau trong người quá, em ơi. Chừng như đây là những làn hơi cuối Chúa ban cho anh, để anh có thể nói lên điều gì có nghĩa đối với em. Anh muốn nói về những điều mà lẽ ra anh đã phải nói từ lâu. Rất nhiều lần. Những điều mà có lẽ vì quên hay sao đó, anh đã không nói. Hoặc, vì anh quá quan tâm đến chiếc xe, nên lại thôi.

Anh chỉ còn một ít thời gian nữa là kết đoạn đời anh thôi em ạ. Lúc này đây, bao kỷ niệm đẹp giữa hai đứa mình, đang về lại với anh. Kỷ niệm về ngày sinh nhật của con, anh cũng đành bỏ lỡ. Những bộ phim. Những vở kịch. Truyền hình. Các trận bóng đá ở trường của con mà chỉ có mình em đến dự, thay cho anh. Bởi vì, vào những lúc như thế, anh cứ miệt mài chạy xe ở đâu đó, trên đường trường hẻo lánh, ở nơi xa. Giờ đây, anh đang nhớ đến những đêm ngày em cứ một mình, cô quạnh. Anh nhớ những giờ phút xảy đến rất nhanh, những lúc anh cảm thấy cô đơn. Trơ trọi. Chỉ muốn gọi về cho em, để nói lên dù độc nhất chỉ một lời chúc. Chúc em ngủ ngon. Hôn em thật nhiều. Nhưng rồi hoàn cảnh đưa đẩy, anh lại tiếp tục cứ chạy và chạy. Có lúc thanh thản hơn, anh cũng nghĩ đến em và các con. Nghĩ đến bữa cơm thanh đạm, mà em em cố gắng bỏ rất nhiều giờ để chuẩn bị. Nghĩ đến những buổi chiều hoặc tối, em cứ phải giải thích cho các con hiểu tại sao anh không cùng ăn với con, cho chúng vui. Anh đang bận thay dầu nhớt cho xe. Anh phải sửa lại hộp số. Bộ thắng. Phải ngủ bù. Để sáng hôm sau còn đi sớm. Đi và chạy, để kiếm tiền nuôi các con, vv.…

Anh luôn có lý do, để thoái thác. Anh nhớ ra rồi, em ạ. Khi mình mới lấy nhau, lúc ấy em còn không biết thay cả đến cái bóng đèn cỏn con, trong phòng ngủ nữa là. Nhưng, chỉ hai năm sau, em đã có thể sửa cả đến cái lò sưởi, khi trời nổi cơn bão. Vào những lúc như thế, anh chẳng làm được tích sự gì cho em. Cho con. Vì, khi ấy anh đang bận bốc dỡ hàng ở đâu đó. Bang Florida. Texas. California. Hay gần nhà, nhưng vẫn không tạt qua được một phút, ở với em.

Em ơi! Nay, thì anh thấy mình phạm quá nhiều sai sót, trong cuộc đời. Nếu mai ngày, em có hỏi anh có quyết định nào mà anh cho là anh đã làm đúng trong đời mình hay không? thì câu trả lời của anh là: đã quyết định lấy em. Sống với em. Măi đến hôm nay.

Em ạ. Hiện giờ, cơ thể anh đau khủng khiếp lắm. Và, con tim của anh cũng đau không kém. Hình như có cái gì đó đang làm anh nghèn ngẹn. Nơi buồng phổi. Điều làm anh đau nhất là giờ phút anh đang đau như thế này, mà em lại không có mặt. Chắc rằng anh sẽ vĩnh viễn một mình ra đi về cõi lù mù xa vắng quá. Thôi, trễ rồi. Em không kịp đến với anh nữa rồi. Lần này em sẽ không kịp từ giã anh nữa đâu em. Đây là lần đầu trong đời, anh bị thế. Lần đầu trong đời, từ lúc mình yêu nhau. Sống với nhau. Anh cảm thấy cô đơn và sợ hãi lắm, em ạ. Có bao giờ anh sợ cô đơn như thế này đâu. Anh cần em ở gần anh. Nhưng trễ rồi, em ơi. Thật trớ trêu. Lúc anh cần, thì người anh yêu lại ở mãi tận đâu xa. Ngàn dặm. Còn, cái khối sắt vô tri vô giác này lại có mặt ở đây. Để làm gì chứ. Cũng may, là: anh có cảm giác như em đang ở cạnh anh. Lúc này. Ở cạnh, bằng tinh thần. Vì thế, anh cũng thấy an ủi đôi chút. Anh thấy em đang hiện ra với anh. Rất mờ mờ. Anh thấy em vẫn đẹp. Vẫn đáng yêu. Anh hối hận vì dạo gần đây anh không có dịp để nói với em điều đó. Dù vẫn muốn.

Thôi, trễ rồi em ạ. Hãy nói với các con rằng anh yêu chúng. Chỉ là, chưa kịp nói lên điều đó thôi. Anh rất sợ phải ra đi, một mình. Không có em và con hoặc ai bên cạnh để anh được nói lời từ biệt. Từ biệt em. Vĩnh biệt các con. Anh xin lỗi em. Xin lỗi các con về những thiếu xót anh mắc phải. Suốt đời. Kìa, giờ phút cuối cùng của đời anh, đã tới rồi. em ạ. Ôi sao anh đau quá. Thôi em ở lại và nhớ rằng anh anh vẫn yêu em. Yêu chỉ mình em. Anh ra đi, em nhé!. Nhớ chăm sóc bản thân. Chăm sóc em và các con. Hãy tha thứ cho những sai xót của anh. Anh đã biết lỗi. Hãy dạy các con là bố không đến nỗi tệ lắm đâu. Nhưng hoàn cảnh không cho phép, thế thôi. Ôi! đau quá. Vĩnh biệt em. Tạm biệt mọi người. Hẹn gặp nhau trên trời. Anh đuối quá rồi. Anh đi đây… Em!… Em!

Đọc thư dài. Hay, nghe nhạc buồn ở trên, chắc có bạn cũng giống như tôi, ta không cầm được nước mắt. Nhưng không sao. Hãy để đó, nỗi buồn da diết. Tìm điều gì đó mà giải khuây. Thư giãn. Một tư tưởng. Để gợi nhớ. Nhớ rằng, Đức Chúa đã có những an ủi. Như thế này:

“Phúc thay cho những người sầu khổ,

vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.”

(Mt 5: 5)

Lời Chúa là như thế. Rất nhè nhẹ. Vẫn ủi an. Vỗ về. Khích lệ. Người đời từng nghe. Và, cũng biết. Nhưng, vẫn như không thấy. Không nghe. Không thấy và không nghe, cả đến lời ru mẹ hiền, như lời người nghệ sĩ ở trên, từng ca tiếp:

“Khi bước chân đi lần trong cuộc đời

Lời mẹ hiền ru còn nhớ khôn nguôi

“Khi lớn con đi trên vạn nẻo đời,

Đừng buồn khi lúc tay còn trắng tay.” (Lam Phương – bđd)

Mẹ hiền, tuy căn dặn chỉ một điều:“Đừng buồn khi lúc tay còn trắng tay”. Nhưng Mẹ thánh Giáo Hội, hẳn sẽ khác. Hội thánh là Mẹ hiền, không căn dặn nhiều. Nhưng, vẫn cưu mang mọi người con trong cung lòng Mẹ. Để rồi, khi con âu sầu, khổ não. Khổ, vì làm sai. Buồn, vì con sống khác biệt. Không ăn nhời, Mẹ vẫn dùng Lời Chúa, để nhắc nhở:

“Bấy giờ Người nói với các ông:

"Tâm hồn Thầy buồn đến chết được.

Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy."

(Mt 26: 38)

Đức Chúa khi xưa “buồn đến chết được”, vì dân con đồ đệ “không ở lại mà canh thức” với Ngài, dù dăm phút. Mẹ Thánh Giáo hội, hôm nay chắc buồn nhiều vì đàn con cứ tranh giành. Cãi vã. Cãi và tranh, như chuyện tản mạn hôm trước với vị linh mục trẻ ở Sydney, vào ngày mừng Chúa giáng hạ năm hai nghìn lẻ chín, đã trần tình:

“-Xin phục Bác đã nói lên những điều mà bọn con không dám nói…

-Gì mà ghê gớm thế? Xin trưng dẫn một thí dụ.

-Ví dụ như chuyện: các đấng bậc nhà mình cứ khuyên dụ giáo dân chỉ nên đi lễ ở nhà thờ mình, khác nào nhà doanh thương, ở ngoài đời…”

Bỏ qua một bên, chuyện: cần điều tra/xem xét thực hư câu truyện vị linh mục trẻ từng kể. Cũng chỉ nên, xem Mẹ thánh Giáo Hội có buồn phiền, nhiều hay không. Bỏ một bên, để rồi bạn và tôi, ta sẽ có những điều cần suy nghĩ. Suy và nghĩ, hầu tìm lại điều mà nghệ sĩ trên còn dám viết:

“Nghe tiếng mưa rơi, mà nhớ thương nhiều

Đường về đèn khuya in bóng cô liêu

Ai biết đêm này tôi vẫn mong chờ

tìm lại những phút vui ngày ấu thơ.”

(Lam Phương – bđd)

Người nghệ sĩ, vẫn mong chờ giờ khuya vắng. Để, tìm lại phút vui ngày ấu thơ. Phút vui ấy nay là những gì, trong nhà Đạo? Phải chăng là, niềm hân hoan an ủi, của những người con cùng một Cha trên trời, rày thấy thiếu? Hay, vẫn chỉ là những vẫn đề phức tạp diễn ra hằng ngày, dày tháng?

Còn nhớ, vào độ trước, cứ 3 trong 4 vị linh mục trẻ Sydney làm lễ mở tay bằng tiếng Latinh, rất lình xình, ít ai hiểu. Ấy thế mà mọi người vẫn vui như dạo nào. Vui, là vì các đức thày nhà mình vẫn biết sẻ san thị kiến đặc trưng về Hội thánh, rất Mẹ hiền. Vẫn san sẻ thiên chức linh mục thánh thiêng. San và sẻ, những ưu tiên lo lắng cho công cuộc mục vụ, mà các vị cao niên lúc trước, ít khi có.

Ưu tiên của các đức thày còn trẻ hôm nay, là tầm vóc ý nghĩa suy tư về một tương quan thắm thiết giữa các vị đồng môn. Đồng nghiệp. Đồng thời. Tương quan có phức tạp. Nhưng vẫn là bản chất, ý nghĩa của thiên chức, mình lãnh nhận. Bởi, thiên chức có là gì đi nữa, vẫn là tương quan tốt hiện hữu trong một thể chế. Của Hội thánh. Tức, hội của các đấng thánh có tương quan mật thiết với Chúa. Với nhau. Ngang qua Đức Kitô. Và, qua các Kitô khác.

Tương quan ấy, không những sẵn có giữa các đức thày cùng một phẩm trật. Nhưng còn là tương quan xảy đến giữa đấng chủ quản của giáo phận với chính mình. Tương quan giữa đáng bậc với giáo dân. Với đức thày khác. Ở nơi khác.

Tương quan giữa các đức thày với vị chủ quản, cũng tương tự như tương quan giữa các đấng bậc chủ quản của giáo phận với vị Giám mục thành La Mã, tức Giáo Hoàng. Nói tóm, tương quan ấy là quan hệ mật thiết giữa những người con cùng một mẹ. Mẹ thánh Giáo hội. Ở khắp nơi.

Ảnh hình và biểu tượng về một tương quan như thế trong lòng Hội thánh, thoạt nhìn ta cứ tưởng đó là quà tặng nhưng không, Chúa gửi đến. Cho tới khi, tương quan giữa các ngài bị đặt dưới sức ép của xã hội chung quanh và sức ép từ bên trong. Sức ép được nhận diện qua hình thức như: lề thói làm việc. Cung cách hành xử trong công tác mục vụ. Nhu cầu của giáo dân. Thái độ của anh em cùng nhà, là giáo phận mình đối với giáo phận khác. Hoặc, với xã hội rộng lớn. Ở ngoài đời.

Tương quan giữa anh em cùng thiên chức với nhau, tương đối dễ xử. Dễ giải quyết. Khó hơn , vẫn là tương quan phải có và phải lẽ. Lẽ rất Đạo. Và, tương quan phải lẽ và phải có với giáo dân. Với người khác phái. Khác Đạo. Cũng rất khó. Khó hơn, còn ở chỗ: làm sao nhìn người khác phái, khác vai trò và khác Đạo, là chính Chúa. Là, Đấng vẫn nói câu:“Hồn Ta buồn phiền đến chết được.”

Đức Chúa hôm nay buồn phiền đến chết được, không vì đồ đệ Ngài không thể tỉnh thức với Thầy được dăm ba phút, mà nguyện cầu. Nhưng, vì nhiều yếu tố khác, thực tế hơn. Thực tế, như chuyện cãi và tranh, về nhiều thứ. Không chỉ: tiền tài. Vật chất. Quyền hành. Hoặc gì gì nữa. Đôi khi, cãi và tranh, cả về lập trường đi Đạo. Giữ Đạo. Bởi, giữ Đạo trước hết và trên hết, vẫn là giữ đạo làm người. Làm con. Làm dân con của Chúa. Làm đàn con của cùng một mẹ hiền Hội thánh. Ở không xa.

Giải quyết được nỗi buồn phiền cho Mẹ hiền, hẳn các “đức thày” hoặc “đức tớ” sẽ mãi nhớ ý/lời của nhạc bản “Đèn khuya” ở trên, mà lâm râm câu điệp khúc:

“Mưa ơi! Mưa ơi! Còn nhớ thương hoài

Nhớ khi mẹ lo sớm chiều

nhớ nụ cười khi nâng niu

Đôi tay run run ánh mắt dịu hiền

biết tìm lại chốn nào

Mẹ ơi biết chăng

Đêm về quạnh hiu…”

(Lam Phương – bđd)

Đêm về, bao giờ mà chẳng quạnh. Chẳng hiu hiu, một nỗi buồn. Khác chăng, chỉ là cơn buồn ngủ. Hoặc, buồn mà không ngủ. Đêm về quạnh hiu, là có quạnh và có hiu đi chăng nữa, thì bạn và tôi ta cũng đừng buồn. Không hẳn là, đừng “buồn ngủ”. Nhưng là, có ngủ được hay không, cũng đừng buồn. Nhất là đừng buồn, vì con cái của Mẹ hiền Hội thánh nay đã khác. Khác nhiều hồi xưa. Bởi, dầu sao đi nữa, ánh sáng vẫn còn le lói cuối đường hầm. Như, lời của ai đó trên điện thư gửi đến nhiều người, vào độ Giáng Sinh năm hai nghìn lẻ chín, rất như sau:

“Hãy nhớ cho rằng,

- Nếu bạn và tôi, ta còn có món gì ăn đang để ở tủ lạnh. Có áo mặc khoác trên lưng. Có tấm lợp che mưa che nắng. Có nơi tạm dung để dỗ giấc mộng đẹp, thì ta đây vẫn giàu có hơn 75% số người đang sống dở chết dở, trên thế giới.

- Nếu bạn và tôi, ta vẫn còn đủng đỉnh chút ít tiền để trong ngân hàng, hoặc trong ví/bóp. Vẫn còn vài xu trên đặt trên đĩa ở đầu bàn, thì ta vẫn thuộc thành phần 8% số người giàu có trên thế gian. Địa cầu này.

- Sáng ra thức dậy, nếu bạn và tôi còn thấy mình tươi cười hít thở không khí, chứ không kêu rên lên vì đau ốm, thì hẳn là ta vẫn có phúc hơn triệu người không sống sót được đến cuối tuần.

- Nếu bạn và tôi, ta chưa từng có kinh nghiệm về ngày dài nguy hiểm của cuộc chiến, về chốn quạnh hiu trong lao tù, về sự tàn bạo của những o ép đến chết ngộp, hoặc về cơn đói dằn vặt suốt canh thâu, thì ta vẫn còn hơn cả đến 500 triệu người đang lang thang vất vưởng nơi ngõ cụt, đường đời.

- Nếu bạn và tôi, ta còn có thể lê bước chân mềm đến giáo đường mà hội họp chẳng sợ ai la mắng. Doạ dẫm. Bắt nạt. Cùng quát tháo… đến phát khiếp, thì xin hãy nhớ cho rằng ta vẫn được chúc phúc hơn chán vạn nghìn người, đến 3 tỷ.

- Nếu bạn và tôi, còn có bậc phụ mẫu vẫn sinh thành, hoặc còn ở với nhau đến răng long đầu bạc, thì xin nhớ cho rằng, ta đang hạnh phúc biết chừng nào. Chẳng ai sánh kịp.

- Nếu ngày hôm nay, bạn và tôi, ta không đến nỗi sầu buồn ảm đạm, vẫn còn sót nụ cười đọng lắng trên môi hiền, thì xin hãy biết cho rằng, như thế là ta được Bề Trên chúc phúc. Bởi, cả triệu người hôm nay tuy vẫn có thể làm được điều ấy, nhưng đa phần, nay thì không thể. Không cười gượng. Vẫn âu sầu. Ủ rũ. Rất đắng cay…

Kể cho nhiều, vẫn là những khúc mắc/đớn đau mà bạn và tôi, ta chưa phải hứng chịu đến một lần, thì sá gì chuyện âu sầu, vì con sâu trong nồi canh, khá lạnh. Hãy cùng tôi, ta cứ vươn lên mà hy vọng. Hy vọng rằng, sẽ đến một thời ta lại cùng nhau hát câu chờ mong. Nhưng không buồn. Dù buồn ấy, có là “buồn ơi chào mi”, rất Francoise Sagan. Hay buồn nọ, có là buồn sầu, ảo não, trong Hội thánh. Vẫn cứ hy vọng. Hy vọng để sống. Hy vọng để còn nhìn thấy ánh sáng loé rạng ở bên kia. Cuối đường hầm của những ê chề. Chán nản. Tuyệt vọng.

Trần Ngọc Mười Hai

Xin thôi không buồn,

dù được tin

người anh cả vừa nằm xuống

ngày đầu năm. Rất buồn.

27. “Yêu cho biết sao đêm dài”
Cho quen với nồng cay
Yêu cho thấy bao lâu đài
Chỉ còn vài trang giấy.

(Y Vân-Ảo ảnh)

(Lc 1: 1-2)

Chao ôi. Có lời nào, ý nhị bằng lời ca, đà trích dẫn. Ở trên! Mà, sao nghệ sĩ gọi đó là “Ảo ảnh”. Lại còn, đỏng đảnh bảo: “cho quen với nồng cay”? Há, “yêu” là ảnh ảo. Là, nồng cay sao?. Và, nghệ sĩ nhà ta cứ than cùng khóc, những tình tự rất cay và rất nồng, như hồi nào:

“Những ân tình em đong bằng nước mắt

Khóc cho đầy hai chữ tình yêu

Phấn hương nồng anh xem tựa tấm áo

Đã thay màu ân ái từ lâu….” (Y Vân – bđd)

Thế mới biết. Yêu, không là chuyện dễ. Chỉ dễ nói. Dễ hát. Không dễ thực hiện. Thế mới hiểu, yêu cũng nhiều chông gai. Trở ngại. Rất đường dài. Dù trên giấy. Hay trên giấy hay trên cát, hãy cứ cùng tôi, sống trước đã. Tìm hiểu sau. Về chữ yêu. Tìm và hiểu, là tìm đến đấng bậc vị vọng đã từng hiểu và tìm, thời trước mình. Các đấng bậc từng tìm hiểu, đã rất nhiều. Nhiều chuyện. Nhiều thứ. Những thứ rất kiêu sa. Là đà. Chuyện ghét ghen. Đường dài truyền thông. Lông bông, báo đài. Rất vi tính.

Ghét ghen thời vi tính. Vẫn vi vu. Lu bù, chuyện của người. Giữa đời. Và, trong đời. Như người đời, từng thổ lộ. Vừa qua, bần đạo đã nhảy ào vào chốn lào xào huyên náo, chuyện vi tính với điện thư. Gặp được giòng chảy của người anh/bậc thầy, từng bảo trước. Rất như sau:

“Nói đến tình yêu và trách nhiệm, thì trách nhiệm của một Giám mục khác với trách nhiệm của một linh mục. Giáo dân. Trong Giáo hội, giáo dân ý thức lại có nhiều tự do hơn linh mục. Những người như Georges Hourdin, năm nay 100 tuổi dư hiểu điều đó. Không phải vì là tự do vô trách nhiệm, mà vì tự do với trách nhiệm khác. Rồi nhìn về Chúa Giêsu, có phải lúc nào Ngài cũng lên tiếng phản kháng không? Phản kháng ai và không phản kháng ai?

Đó là về mặt “lý tưởng”, chưa tính đến mặt thực tế Hội “thánh” qua lịch sử. Phêrô và có lẽ đa số các tông đồ đã không phải như Phaolô. “Hội đồng Giám mục’ ở công đồng Giêrusalem chỉ phụ hoạ với Phaolô một phần nào thôi. Và phải chăng chỉ là chuyện tình cờ nếu tử đạo đầu tiên là một phó tế Stêphanô chứ không phải tập thể các tông đồ? Và, đó chỉ mới là về thái độ đối với “nội bộ” Do thái. Còn đối với cường quyền Rôma? Phêrô và Phaolô đều dám chết ở Rôma, nhưng trước đó? Kể cả Phaolô? Nhưng Hội thánh vẫn còn đó và vẫn còn… “thánh” thì đâu phải vì được bảo đảm bởi sự thánh thiện của những con người –bắt đầu từ các vị hữu trách- trong Giáo hội!…” (Trích điện thư cố Gs Nguyễn Ngọc Lan gửi bạn bè/bà con 31.3.2001)

Điện thư trích dẫn ở trên, là của một cựu giáo sĩ. Cố giáo sư. Cũng bàn về chữ “yêu”. Trách nhiệm. Rất thơ văn. Bài bản. Đượm tính văn hoá. Văn hoá và văn minh. Người mình. Đạo mình.

Có truyện vui, về văn minh, lình xình những văn hoá của người. Của mình, khiến bạn mình cười hoài không chán, trước khi đi vào chuyện chính đáng, của thơ văn. Như sau:

“Trong phiên họp giữa người nước “bạn” và nước ta. Tức, nước “mình”. Bạn bảo rằng: người mình thiếu văn hoá. Chuyên làm bậy. Ngay ngoài đường. Bậy đến độ, chỉ người mình mới dám dựng bảng hiệu “Cam Đai Bay” khắp nơi, mà vẫn thấy. Thấy hiện tượng, thiếu văn minh, linh tinh chuyện văn hoá, là thế.

Cán bộ mình, bèn bảo với bạn: ‘Làm quái gì có chuyện như thế’. Chỉ là chuyện “phịa”, để vấy bẩn tình thân thiện. Thiếu trách nhiệm. Phía “bạn” bèn quyết: ‘Tối nay bọn tớ xách súng đi lùng. Hễ thấy tên nào dạo quanh hồ, mà làm chuyện thiếu văn hoá, những đái bậy, là xử luôn’. Phía “mình” đồng thuận: ‘tha hồ mà xứ lý, cứ thế nhé’.

Sáng hôm sau, phía “mình” báo cáo thiệt mạng mất 37 tay. Ức quá, phía “mình” cử 2 sứ thần đặc nhiệm qua bên “bạn” tìm tệ nạn thiếu văn hoá, ở quảng trường. Công viên văn hoá…. như “bạn” từng làm ở quê ta. Hai sứ thần đi suốt đêm, vừa lạnh vừa mệt, đến gần hai giờ sang thấy chú “tệ nạn” văn hoá, đang lén “làm bậy” ngay công viên trong bóng tối. Mừng quá, nả hết đạn vào tay “tệ nạn”.

Sáng hôm sau, truyền thông buổi sớm đã loan báo: đêm rồi, một viên chức của ta, đang đêm đi công tác, bị bọn khủng bố nã đạn vào người gây “tổn thương nhân thương trí mạng”, ở ngoài đường…. Hỡi ôi! Văn hoá với văn minh, là thế đấy!

Về Tình yêu. Trách nhiệm. Văn hoá. Ở ngoài đời lẫn trong nhà Đạo, nhiều vị đạo mạo. Sư phạm. Và mô phạm, từng bàn luận. Nhiều trang giấy. Như bạn tôi, ta thường thấy. Thấy, chứ không bàn. Hoặc hát. Hát, cùng người nghệ sĩ, mà rằng:

“Giòng mực xanh còn đấy

Hứa cho nhiều dù bao lời nói

Đã phai tàn, thành mây thành khói

Cũng xem như không, mà thôi.”

(Y Vân – bđd)

Về tình yêu, trách nhiệm và văn hoá. Không thể để lời nói, trên miệng hay trên giấy, dễ phai tàn thành mây thành khói được. Càng là không, khi lời đó lại là lời vàng. Cao sang. Như Lời Chúa, nơi giòng chảy thánh sử, rất Luca, như sau:

“Thưa ngài Thê-ô-phi-lô đáng kính, có nhiều người

đã ra công soạn tường thuật những sự việc được thực hiện giữa chúng ta.

Họ viết những điều mà các người chứng kiến ngay từ đầu

và phục vụ lời Chúa truyền lại cho ta.”

(Lc 1: 1—2)

Nói đến tình yêu, trách nhiệm và văn hoá, là bàn/là thảo về cộng đoàn Nước Trời. Ở trần gian. Cộng đoàn ấy, ta gọi là Hội thánh. Có lúc, có người gọi là Hội thánh Công giáo, rất La Mã. Chính Thống. Mê-nô-nít. Can-đê-an, vv… Tức là, về các thánh sống đời phụng vụ, hơi khang khác. Nhưng không khác niềm tin. Chẳng khác, về tình yêu. Trách nhiệm. Dù, văn hoá.

Thế nhưng, nhiều bạn/nhiều người vẫn thắc mắc về tên gọi, gắn liền căn cước, với kiểm tra. Của nhà Đạo. Dù đạo mạo. Sư phạm. Mô phạm, cũng như sau:

“Tôi có nhiều bạn Đạo, vẫn sống đời phụng vụ theo nghi thức khác, ở Đông Phương. Chính thống giáo. Kitô giáo. Anh giáo. Nghĩa là, cùng thờ một Chúa. Đức Kitô. Tuy nhiên, đôi lúc tôi vẫn lẫn và lộn về chuyện sao họ vẫn được coi là Công giáo. Mà không phải là, La Mã. Xin giải thích cho biết quá trình, về chuyện này. Cho rõ hơn. Rất cám ơn. (Người hỏi không ghi tên)

Và, đấng bậc giáo sĩ/giáo sư nhà Đạo, rất đạo mạo một đức thày: lm John Flader, vẫn được người người vời đến, để than thưa. Như sau:

“Có lẽ, cách hay nhất ta nên làm, là bắt đầu tìm hiểu Giáo hội Chính thống. Xem, tại sao Giáo hội Chính thống lạ xa rời Hội thánh Công giáo, sớm nhý thế. Giáo hội Chính thống có hai nhóm chính. Nhóm ðầu nhỏ hõn, tách rời Hội thánh Công giáo, từ thế kỷ thứ V, tiếp theo sau hai công ðồng về ðại kết.

Sau Công đồng, một số vị đã theo chân Nestôriô bắt đầu rời bỏ Hội Thánh Chúa, để rồi cuối cùng trở thành Hội thánh Đông Phương, ở Át-xy-ri. Về sau, Giáo hội này không còn chấp nhận lập trường xa rời Đạo giáo của Nestôriô nữa.

Năm 451, tức 24 năm sau đó, Công đồng Canxêđô ra tuyên bố nói rằng: ở nơi Đức Kitô có hai bản chất: thánh thiêng và người phàm. Và, Công đồng lên án các điều sai lạc của bè Eutyches. Bè này chủ trương rằng Đức Chúa chỉ một bản chất mà thôi. Lầm lạc này được gọi là chủ trương “Một bản thể duy nhất”.

Ngày nay, có năm Giáo hội ly khai khỏi Hội thánh, sau Công đồng Can-xê-đôn, đó là: Giáo hội thuộc phái các tông đồ ở A-mê-nia, Chính thống Kốp-tích, Chính thống Ê-tiô-pi-a, Chính thống Xy-ri và Giáo hội Chính thống Xy-ri Ma-lan-ka-ra.

Năm Giáo hội này có một điểm rất giống nhau. Nhóm Giáo hội địa phương Humberto da Silva là Giáo hội Chính thống lớn nhất gồm các Giáo hội đã ly khai khỏi Rôma từ năm 1054; khi đó, vị đại diện Đức Giáo Hoàng là Hồng y Humberto da Silva đã ra vạ tuyệt thông đối với Giáo phụ Constantinốp là Đức Michael Cerulatius. Và đổi lại, vị này đã cách chức vị đại diện của Đức Giáo Hoàng ở Constantinốpe.

Sau vạ tuyệt thông này, có bốn Giáo phụ Phương Đông và Giáo hội địa phương được các nhà thừa sai từng truyền giáo ở Đông Phương đã ly cách Rôma. Từ đó, theo cung cách tư riêng, không công nhận quyền bính của Đức Giáo Hoàng nữa. Và từ nay, không còn ai đặt vấn đề nền tảng về chính vạ tuyệt thông đem đến sự xa cách, mà ngày nay ta gọi là “Ly Cách lớn”.

Ngày nay, các vị Đại diện cho Giáo hội Chính thống từng ly cách Hội thánh từ năm 1054, là các Giáo phụ ở Constantinốp, Alexandria, Antiôkia, Giêrusalem và Giáo hội Chính thống Nga, Serbia, Rômania, Bungaria, Georgia, Đảo Xýp, Hy Lạp, Bal an, Anbania, Cộng Tiệp và Slôvakiacùng với Giáo hội Chính thống ở Hoa Kỳ. Thêm vào số này, là các Giáo hội khác tuỳ thuộc vào những Giáo hội được kể tên, ở trên.

Các Giáo hội này chấp nhận giáo huấn của bẩy Công đồng đại kết đầu tiên và các phép Bí tích mà các Giáo hội này cử hành vẫn có hiệu lực, kể cả bí tích truyền chức linh mục. Giáo hữu thuộc các Giáo hội này được phép lĩnh nhận các Bí tích như Thánh Thể, Hoà giải và Xức dầu Kẻ liệt do linh mục Công giáo cử hành.

Các thế kỷ tiếp theo sau niên hiệu 1054, một số thành phần của các Giáo hội Chính thống đã quay về hiệp thông trọn vẹn với Rôma và vì thế được gọi là Giáo hội “Hiệp nhất”. Nói cho đúng, tên gọi của họ là Giáo Hội Công giáo Phương Đông. Các Giáo hội này vẫn duy trì phụng vụ và truyền thống kỷ luật theo Đông Phương. Các vị này vẫn duy trì Luật Hội thánh Đông Phương, do Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban hành vào năm 1990 và cũng theo chính Giáo luật riêng của các ngài nữa.

Cộng thêm vào với 20 Giáo hội Đông Phương có tên ở trên, còn có Giáo hội Maronít, là Giáo hội luốn nối kết với Rôma trong mọi chuyện. Có lúc ta gọi tên các Giáo hội theo nghi thức Phương Đông là Giáo hội Công giáo Đông Phương. Nhưng vẫn là thành phần trọn vẹn gắn liền với Hội thánh Công giáo và đóng góp rất nhiều cho tính phổ cập và sung mãn của hội thánh qua truyền thống khác biệt. (X. John Flader, The Catholic Weekly 2/3/2008 , tr.10)

Nói cho cùng, văn hoá, trách nhiệm và tình yêu vẫn đôi lúc thay hình đổi dạng, cho có “hoa lá cành”, thì như thế. Nhưng tựu trung, vẫn thu về một mối. Vẫn, “là rụng về cội”. Đượm nét thân thương. Thương người. Thương mình. Thương lẫn nhau. Thương nhau, cả những khi đau. Lẫn khi buồn, như chuyện thiên tai, sầu buồn ở Tam Toà, Loan Lý, Đồng Chiêm, Ha-i-ti, và gì gì nữa, những sau này. Nhất nhất nói lên một truyền thống đầy hiệp thông, tương cảm. Đậm sâu. Sắc nét.

Sâu và sắc, dù anh có hát: “Không cần biết em là ai”, con trai hay con gái. Ở Phương Đông hay Phương Đoài, chốn trời Tây. Một Nước trời ở bên Tây bên Tầu, dù có gọi mình là vô thần, hay vô sư vô sách, cứ lách cách như một Richard Dawkins ở nước Úc, vẫn phân trần:

“Richard Dawkins vừa khởi đầu một động thái thiện nguyện, rất sẻ san. Nhưng anh lại cứ tự gọi công cuộc chia sẻ mình làm là: Đùm bọc/giùm giúp từ những người không tin. Ý anh muốn nói là: người vô thần, chẳng sư chẳng sách, chẳng quỷ thần Chúa Mẹ, cũng vẫn cho đi. Cho, là để người nhận lãnh biết được rằng những người từng cho họ quà tặng có thể là người tin vào quyền uy của Đức Chúa. Cũng có thể là kẻ chẳng tin Chúa.

Richard Dawkins quyết biện luận rằng anh vẫn là người tốt bụng, mà chẳng cần phải nói mình có tin vào Chúa. Vào Mẹ, hay không. Tôi, thì tôi nghĩ rằng: dù anh có nói gì đi nữa, hễ cứ cho mình cho là người tốt bụng, thì cũng chẳng nên chứng minh là mình có tin hay không vào Đấng vào Vị nào. Riêng tôi vẫn nghĩ: thật khó làm thế. Khó, để nói mình là người vô thần, mà vẫn tốt bụng.”(X, Sheila Liaugminas, MercatorNet, 21/01/2010)

Nói gì thì nói. Nhất thứ, lại nói từ một góc trời rất linh tinh, toàn chữ “tin” và chữ “yêu” chẳng bao giờ là “ảo ảnh”, như nghệ sĩ viết nhạc lại rêu rao một câu kết, rất như sau:

“Kìa phồn hoa còn đó

Những con đường, buồn vui lộng gió

Những ân tình, chìm trong lòng phố,

Cũng theo hư không mà đi.”

(Y Vân –bđd)

Hôm nay, ở Haiti, Đồng Chiêm hay Loan Lý, vẫn không có chuyện “hư không”, “phi lý” như chuyện phân chia/ly cách, nhiều thế kỷ. Bởi, mọi người rồi sẽ nhận ra như nhà nghệ sĩ, còn câu hát:

“Vắng con tầu, sân ga thường héo hắt.

Thiếu em lòng anh thấy quạnh hiu…”

(Y Vân – bđd)

Sân ga cuộc đời, mà thiếu “Tình yêu”, thiếu “trách nhiệm”, thiếu cả “văn minh”, sẽ là văn hoá của sự chết. Hoặc, văn hoá của sự sống không tình yêu. Không trách nhiệm. Quyết chẳng gọi đó là văn minh/văn hoá. Được hết.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn mong bạn, mong tôi

ta đã biết và hiểu,

nên vẫn tin.

28. “Từ khi yêu anh, anh bắt xa màu tím”
Sầu thương cho em, mơ ước chưa kịp đến
Trời đã, rét mướt cùng gió mưa
Khóc anh chiều tiễn đưa
Thế thôi, tàn giấc mơ.”

(Hoàng Trọng – Ngàn Thu Áo Tím)

(Ga 16: 20-22)

Sống ở Úc, bần đạo thấy nhiều người sao cứ thích mầu tím, nhiều đến thế. Nhiều đến độ, cả Tây lẫn Ta, đều mặc áo mầu tím ngắt, suốt mọi mùa. Bất kể, mầu tím đó có là “tím Huế”, tím than, hay “tím cả chiều hôm biền biệt” đi chăng nữa, vẫn cứ tím…

Hồi còn ở quê nhà, mỗi lần nhắc đến tím mầu dìu dịu, người người đều nghĩ đến các nhạc bản, giống như trên. Thu ngàn rất tím. Chân trời cũng tím. Hoặc tệ hơn, tím cả đời người. Thật hết biết.

Mới đây thôi, ở đêm “Hát cho nhau” vào mùa Thu Sydney 2010, với đề tài “Lắng tiếng chiều rơi”, người dàn dựng sân khấu/nghệ thuật những ca và hát, cũng đã trưng sắc mầu rất tím. Tím đây, không là tím cả chiều hôm, nhàn nhạt. Mà là, tím ngắt tim ngơ. Người hát hôm ấy, cứ đong đưa thân mình đèm đẹp mầu tím nhạt. Rất hay hay. Thêm vào đó, là câu hát:

“Ngày xưa xa xôi, em rất yêu màu tím

Ngày xưa vô tư, em sống trong trìu mến

Chiều xuống, áo tím thường thướt tha

Bước trên đường gấm hoa

Ngắm mây chiều lướt xa.”

(Hoàng Trọng-bđd)

Thật ra, khi nói chữ “tím”, người viết nhạc thường hay diễn tả sắc mầu hiu hắt, một đời thơ. Rất nhiều. Nghệ sĩ nói nhiều/viết nhiều về tím mầu thời gian hơn ai hết, phải kể là nhạc sĩ Hoàng Trọng. Ông viết những 3 bài. Bài nào cũng đầy những sắc mầu tim tím, như: “Buồn xa, một chiều mây hoen mầu tím…” (Người Đi Chưa Về), “”Anh có mơ mầu tím chiều nay” (Cánh Hoa Yêu), “Ngày xưa xa xôi, em rất ưa mầu tím…” (Ngàn Thu Áo Tím).

Ngoài ông ra, còn có cả nhạc sĩ lão thành Phạm Duy với “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà”, “Như Là Lòng Tôi”. Tiếp đến, là: Nguyễn Hiền với “Ngàn Năm Mây Bay”. Phạm Anh Dũng, với “Thật Hay Mơ”. Võ Tá Hân, với “Bài Thơ Cho Ai”. Nguyễn Duy An, với “Mùa Đông Đã Quay Về”. Văn Sơn Trường, với “Trái Mồng Tơi Mầu Tím”, vv…

Không cần biết, ai từng hát hoặc từng đặt những nhạc bản tim tím, cứ mỗi lần nhắc đến tím mầu nhè nhẹ, người nghe lại thấy lòng mình như trùng lại. Lại có cảm giác, như: trời nghiêng ngả, đã và đang dồn về mặt đất. Quyện vào nhau. Làm thành vũ trụ của hồn thơ. Của âm nhạc. Chẳng thế mà, để diễn tả mạnh hơn, cái khung trời “tím ngắt” ấy, người thưởng lãm nay lại được nghe:

“Anh xa xôi, bóng mưa giăng mờ lối,

Anh xa xôi, áo bay trong chiều rơi.

Anh xa xôi, áo ôm tim lẻ loi,

Tím lên khung trời nhớ nhung, đầy với”.

(Hoàng Trọng – bđd)

À thì ra, “tím ngắt” hay “tím lên khung trời” đầy nhung nhớ, hoặc “chiều mây hoen mầu tím”, đều như thế. Về với nhà Đạo, vốn có nhạc và có thơ rất Đạo. Của sắc mầu rất ư là Thương Khó/Thống Khổ, của Mùa Chay. Thì hỏi rằng, có chăng sắc mầu tím ngắt của người thờ Chúa? Có chăng, mầu của nhung nhớ, và rất thương. Nhớ và thương, khi thấy Chúa ngục đầu trên thập tự. Rất đắng cay? Bần đạo không có tư cách để trả lời câu hỏi trên. Chỉ dám mượn lời bậc thầy cựu linh mục, từng đả động đến vấn đế ấy, như sau:

“…Nếu “trong Mùa Chay không được chưng bông trên bàn thờ và chỉ được dùng nhạc cụ để đệm hát mà thôi” (Sách nghi thức Giám Mục), thì chẳng qua là để đêm Phục Sinh hoa nở rộ thắm đẹp hơn bao giờ hết trong năm phụng vụ. Lễ phục Mùa Chay có là mầu tím thì ngay giữa Mùa Chay (hay Mùa Vọng) vẫn có một Chủ Nhật …Hồng.” (x. Gs Nguyễn Ngọc Lan, Chủ Nhật Hồng Giữa Mùa Tím, Cơ Sở Hy Vọng 2002, tr. 157)

Để thêm vào giòng chảy về mầu sắc rất-tím-nhưng-không-than, là mầu của nhung nhớ, nay mời bạn mời tôi, ta nghe thử câu truyện kể rất nhẹ, về mầu sắc. Nghe khá quen. Truyện, có thể do ai đó chứ không phải do bạn/do tôi, mà do người mang tên và họ rất Trần, chết mãi cái tên gọi “Sơn Hoài”, tức sơn mãi mầu tím, rất như sau:

“Có chị nọ, một hôm mời người thợ sơn về sơn mấy bức tường nhà của chị, để đón xuân. Người thợ vừa bước vào cổng, thấy chồng chị bị mù loà, cả hai mắt. Bèn đem lòng xót thương.

Người chồng mù, lại luôn lạc quan yêu đời. Khiến, anh thợ sơn làm việc mấy ngày trời ở nơi đó, rất ăn ý. Anh không bao giờ nhắc nhở về những điều đáng thương đáng tiếc, của người mù.

Công việc hoàn tất. Người thợ sơn đưa cho chủ nhà biên lai tính tiền. Chủ nhà phát hiện ra rằng: số tiền lẽ đáng phải thanh toán, sao rẻ hơn mức thuận thảo, lúc ban đầu. Bèn, hỏi anh thợ:

-Bác tính toán cách nào mà sao bớt giá, quá nhiều vậy?

-Mấy ngày nay, tôi làm việc gần cận chồng của chị. Nay, thấy lòng mình rất vui. Thái độ của anh, trong cuộc sống giao tiếp với đời, khiến tôi cứ nghĩ mãi về cảnh tình của đời tôi, chưa đến nỗi tệ. Nên, tôi bớt cho anh chị một phần, khác với giá đã định hôm trước. Coi như đây, là để bày tỏ chút tình cảm, đối với anh. Làm việc ở đây, anh chị đã khiến tôi thấy rằng: đời mình không đến nỗi thiếu thốn. Khổ sở. Chỉ mỗi thế.

Nhìn hai người, một chồng một thợ, chị thấy cả hai cùng ở vào hoàn cảnh chẳng khá hơn gì người khác. Vì anh thợ sơn, chỉ mỗi cánh tay. Thế mà, anh chẳng thấy đời mình mang sắc mầu tím ngắt, những nỗi buồn.

Về với đời thường, chị vợ bèn nghĩ thêm: Thái độ nguời đời, có nhận định xấu/tốt vui/buồn sao đi nữa, cũng chẳng thay đổi được nhân sinh quan ta vẫn sống. Cùng lắm, chỉ đổi được quan niệm về cuộc đời ngắn ngủi, của mình thôi. Tuyệt nhiên, chẳng làm sao đổi thay toàn bộ cuộc sống, của người khác. Ta không thể chỉnh đốn cảnh đời sao cho phù hợp với cuộc sống mình đã chọn. Thật ra, ta chỉ có thể ðiều chỉnh thái ðộ của mình trong giao tế với người khác, thôi.

Trong cuộc sống, bất ai có cái nhìn lạc quan hơn, thì khi đối diện sự thật, sẽ thấy mình sống vui tươi. Hoà hợp. Vui, để chấp nhận. Vui, để cùng sống với người khác. Bởi, người người nếu biết cách điều chỉnh thái độ mình giao tiếp, sẽ nhìn sự vật theo con mắt lạc quan. Yêu đời. Sẽ thấy đời là chuỗi ngày vui. Đáng sống. Trái lại, ai muốn người đời thuần phục ý mình, thì khi việc không may xảy đến, sẽ thấy khổ đau. Tuyệt vọng. Thậm chí, dễ chán chường. Tự vẫn.

Xét cho cùng, đời người dù mang dáng mầu tím ngắt/tím đanh hay lanh chanh mầu hy vọng, cũng đều tuỳ tâm. Tuỳ tính. Tùy thái độ của mình khi nhìn sự việc. Chỉ mỗi thế.”

Nhìn sự việc, mà định mầu rất-tươi-vui của mùa Tím, ta thấy thánh sử viềt về sắc mầu phụng tự, cũng trích dẫn Lời Chúa trong Kinh Sách, như sau:

“Anh em cũng vậy,

bây giờ anh em lo buồn,

nhưng Thầy sẽ gặp lại anh em,

lòng anh em sẽ vui mừng;

và niềm vui của anh em,

không ai lấy mất được.”

(Ga 16: 22)

Còn người viết nhạc ở trên lại diễn tả cõi lòng người em yêu, bằng câu hát:

“Từ khi xa anh, em vẫn yêu và nhớ

Mà sao anh đi, đi mãi không về nữa.

Một bóng, áo tím buồn ngẩn ngơ,

Khóc trong chiều gió mưa

Khóc thương hình bóng xưa.”

(Hoàng Trọng-bđd)

“Áo tím buồn ngẩn ngơ”, “khóc trong chiều gió mưa”, “khóc thương hình bóng xưa”, là ngôn từ nói lên một điều mà vị giáo sư triết, hồi đó cũng viết:

“Cuộc sống người tín hữu có là Mùa Tím triền miên thế nào đi nữa, thì ngày ngày –tuy vậy- vẫn phải là Chủ Nhật Hồng. Trong bất cứ cảnh ngộ nào. Niềm Vui cũng phải phản ánh Lòng Tin. Niềm Vui thuộc về căn cước. Cốt cách của Kitô hữu. Niềm Vui còn thuộc về sứ vụ của Hội Thánh. Hẳn không phải tình cờ mà hiến chế mục vụ của Công Đồng Vatican II bắt đầu và được gọi bằng hai chữ Gaudium et Spes. Vui mừng và Hy vọng. Loan báo Tin Mừng, Hội thánh cũng trực giữ Niềm Vui cho thế gian năm chìm bẩy nổi mà vẫn được Thiên Chúa yêu thương. Cho tới khi Chúa lại đến.” (Gs Nguyễn Ngọc Lan, sđd tr.180)

Nhưng vấn đề là, tím tím/xanh xanh hoặc xanh xanh/tím tím vẫn chẳng là gì, nếu ta còn nghĩ và giao tiếp rất thân thương những người/những bạn trong đời, chẳng thích gì sắc mầu tím ngắt của cuộc đời. Tức, những người cảm thấy nay đang “bị” hoặc “được” nhà Đạo bỏ bê. Chê bai. Không tiếp xúc. Thậm chí, còn không cho tiếp cận Mình Máu Chúa vào giờ lễ, nữa.

Nói như thế, là bởi: hôm trước, có bạn đạo ở Sydney đã mở lời kính hỏi đấng bậc linh mục chuyên giải đáp thắc-mắc, rất Flader, như sau:

“Mới đây, tôi đọc được một bài viết của ai đó ở trên mạng. Trong bài, có trích dẫn câu nói, bảo rằng: Giáo huấn Hội thánh chẳng nói gì đến chuyện cấm đoán những người đồng tính luyến ái không được phép rước Mình Thánh Chúa. Điều này, làm tôi rất ngạc nhiên. Xin hỏi: nói như thế có đúng luật Đạo, không?”

Cứ sự thường, đấng bậc thuộc giòng họ rất “đức thầy” ở Sydney, chẳng ngại ngần chuyện trả lời khi có người hỏi. Và, câu trả lời như sau:

“Có lẽ việc trước nhất nên làm, là nói rõ: riêng tôi và rất nhiều người, không thích sử dụng cụm từ “đồng dục” nam hay nữ. Con người, bất kể mình có chiều hướng tình dục đến thế nào đi nữa, tự thân, vẫn mang phẩm cách có sẵn, được Chúa coi như con cái của Ngài, chứ không thể định nghĩa bằng tên gọi/danh xưng khiến họ bị tách rời khỏi cộng đoàn, chỉ vì khuynh hướng tình dục của họ. Và, giá trị của con người không do chiều hướng dục tình của mình, mà mất đi.

Tốt hơn và hay hơn hết, ta nên nói về họ như người thường lôi cuốn/hấp dẫn những người cùng phái tính hoặc cùng khuynh hướng tình dục giống nhau trong một giới. Làm thế, sẽ giúp ta hiểu rằng: nhiều người như thế, sau này sẽ có chiều hướng tình dục nghiêng về phái tính khác biệt. Minh định rồi, nay ta hỏi: người lôi cuốn/hấp dẫn những người cùng phái tính, nghĩa là gì?

Nói về người có sự lôi cuốn/hấp dẫn những người cùng phái tính một cách lâu dài và trổi bật, tức bảo rằng: những người có khả năng cũng lôi cuốn người khác phái, nhưng sự lôi cuốn dễ thấy nhất, vẫn là với người cùng phái tính. Lôi cuốn như thế, chẳng có gì là tội, hết. Có chăng, chỉ là những việc như thế đã dấy lên một số cung cách rất khác nhau.

Quả thật, nhiều người từng có kinh nghiệm như thế vẫn sống tốt đẹp. Họ chẳng cần kiếm tìm người khác để cùng sống theo cách lôi cuốn dục tình, rất lạ kỳ. Có thể, họ bị liệt vào với người lôi cuốn/hấp dẫn người cùng phái tính, nhưng không đi đến chuyện thực hiện lối sống rất dục tình như thế.

Bởi vậy nên, nếu ta chỉ để ý đến yếu tố cho thấy là người nào đó có kinh nghiệm sống lôi cuốn/hấp dẫn những người cùng phái, rồi loại trừ họ. Không cho họ hiệp thông rước Chúa. Việc này không nghiêm trọng bằng trường hợp người đã có gia đình rồi mà lại sống lôi cuốn/hấp dẫn người nào khác không là vợ hoặc chồng mình, thế mới tệ.

Những người như thế nếu biết tránh biểu lộ mình lôi cuốn/hấp dẫn tình dục, thì họ sẽ được phép hiệp thông rước lễ, thôi.

Nếu những người đang có vấn đề về chuyện lôi cuốn/hấp dẫn sống đời tình dục lạ kỳ mà phấn đấu để tránh các dịp phạm lỗi, dù đôi lúc thất bại vẫn tìm ơn tha thứ qua bí tích Hoà giải, thì họ vẫn được rước Chúa như thường. Những người như thế, ta vẫn nên giúp họ tiếp tục phấn đấu có sự hỗ trợ của các nhóm như nhóm mang tên “Lòng Quả Cảm”.

Thật ra, Hội thánh cũng có rất nhiều người hiện đang phấn đấu để tránh các dịp phạm lỗi, bằng đủ cách. Bao lâu họ giải hoà được với Chúa và ở vào tình trạng được ơn lành Chúa ban, thì họ vẫn có thể rước lễ, được như thường.

Tuy là thế, nếu người sống lôi cuốn/hấp dẫn tình dục với người cùng phái tính, mà lại vênh vang tự đắc về chiều hướng đồng tính luyến ái. Hoặc, chẳng mảy may cố gắng tránh xa dịp tội về dục tình, thì họ không thể lĩnh nhận Mình Thánh Chúa được. Trong số những người này, phải kể đến người có lối sống dị kỳ, không tuân thủ luân lý của Hội thánh Chúa nào hết.

Hội thánh lâu nay nói rõ về sự thể là chỉ những ai trong trạng thái có ân sủng (tức không mắc tội trọng) mới được phép rước Chúa, mà thôi.

Sách Giáo Lý Hội thánh Công giáo từng khẳng định: Để đáp ứng lời kêu gọi của Đức Kitô mời ta ăn Thịt và uống Máu Ngài “ta phải sửa soạn chính mình cho thời khắc cao cả thánh thiêng ấy. Thánh Phaolô thôi thúc ta kiểm điểm lương tâm, như đã viết: Vì thế, bất cứ ai ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng, thì cũng phạm đến Mình và Máu Chúa. Ai nấy phải tự xét mình, rồi hãy ăn Bánh và uống Chén này. Thật vậy, ai ăn và uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt mình.” (1 Cr 11: 27-29) Những ai đang trong tình trạng phạm lỗi nặng, hãy nên đến toà cáo giải để nhận lãnh bí tích Giao Hoà đã, rồi hẵng buớc lên rước Chúa.” (GLHTCG #1385)

Xem như thế, ai phạm lỗi dục tình giữa những người cùng phái tính, cũng giống như giữa người khác phái mà không có cưới hỏi, đều đang phạm lỗi nghiêm trọng. (X. GLHTCG #2353, 2357, 2380)

Cứ sự thường, người lôi cuốn/hấp dẫn những người cùng phái tính nhưng cố gắng phấn đấu tránh xa dịp tội, nên được mời đến dự thánh lễ. Như thường.” (x. John Flader, The Catholic Weekly, 21/3/2010 tr. 11)

Giải đáp những uẩn khuất/thắc mắc nơi lẽ Đạo, cách chính xác. Mạch lạc. Vẫn là nghề của đức ngài. Của chàng trai uyên bác, chuyên chăm luân lý/Giáo luật thuộc Đại học Havard, thời buổi trước.

Hỡi bạn và tôi, ta cũng nên ngả nón chào đức ngài, đi chứ. Ngả nón chào, không có nghĩa: hết rồi, từ đó những ấm ức. Thắc mắc! Giải quyết rồi mà vẫn thấy chưa ổn, thì ta cứ thế mà thư từ/hỏi han đấng bậc nào khác. Bần đạo tài hèn sức yếu về nhiều chuyện, nên chỉ dám xin thêm một điều, rất nhỏ. Rằng: mới đây, được bầu bạn từ quê người chuyển cho bức “tâm” thư trong đó có nói về chữ “Tâm” . Xin dùng nó, làm đoạn kết cho giòng chảy luận phiếm, rất hôm nay:

“Tâm, là một điểm tuy nhỏ nhưng quan trọng. Nên người ta mới gọi là: tâm điểm.

Tâm của con người càng quan trọng hơn, vì nói lên nhân cách của mình.

Tâm lệch lạc, thì cuộc sống nghiêng ngả. Đảo điên.

Tâm gian dối, thì cuộc sống bất an.

Tâm ghen ghét, thì cuộc sống chứa đầy hận thù.

Tâm đố kỵ, thì cuộc sống mất vui.

Tâm tham lam, thì cuộc sống điêu ngoa. Dối trá.

Bởi thế nên, ta không những đem “Tâm” của mình đặt ngay trên ngực, để yêu, mà:

-đặt trên tay, để giúp đỡ người khác.

-đặt trên mắt, để nhìn thấy nỗi khổ. Của tha nhân.

-đặt trên chân, để mau mắn chạy đến với người cùng khổ.

-đặt trên miệng, để nói lời an ủi. Với người bất hạnh.

-đặt trên tai, để nghe lời than trách. Góp ý, của người khác.

-đặt trên vai, để biết trách nhiệm. Và, chia sẻ trách nhiệm với vợ chồng. Anh em. Chị em.

Thân xác mà không tim thì thân xác chết.

Làm người không có “Tâm’ thì cuộc sống chỉ có hận thù,

và là mối nguy hiểm cho mọi người…”

Lời cuối, và cũng kết cuộc, là câu hỏi: nếu kết hợp mầu “tím (rất) hoa sim” vào trong tim. Hoặc, vào với “tâm” trạng của người người, thì: cuộc sống có còn con “tim” mầu tím hay trắng mướt mầu trinh trong, không? Câu trả lời, xin cứ dành cho bạn. Và cho tôi. Bất kể tôi và bạn, là người có sức lôi cuốn/hấp dẫn những người cùng phái tính, hay không. Cũng chẳng thành vấn đề. Gì hết.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn yêu hết mọi mầu

và mọi người.

Và, cũng kính trọng

những người có sở thích

và chiều hướng rất khác biệt, về tình dục.

29. “Em ra đi mùa Thu”

mùa Thu không trở lại.

Em ra đi mùa Thu,

Sương mờ giăng âm u…”

(Phạm Trọng – Mùa Thu Không Trở Lại)

(Lc 22: 16)

À thì ra, thi ca/âm nhạc, là như thế. Sự thật, thì Thu mùa vẫn cứ trở lại. Vào mọi năm. Phi trừ, Thu của em và của tôi, là một người. Người bạn đời. Bạn Đạo. Cứ ra đi, vào mùa Thu. Ra đi, không trở lại. Những 5 năm. Như nhạc bản “Năm Năm Rồi Không Gặp..” Vì không gặp, nên kể như người em tên Thu của ai đó, nói lời “adios amigo” , đến thiên thu. Như, người xưa từng bảo: “Nhất nhật bất kiến như tam thu hề”. Ở đây, không gặp mặt những 5 năm, có nghĩa là bất kến đến 5,475 cái mùa Thu. Chẳng thấy mặt.

Thấy hay không, đời người còn có chuyện: thấy đó, rồi lại chẳng thấy gì hết. Hoặc, thấy rồi nhưng ngồi mãi chẳng buồn đi. Chẳng buồn thay. Và chẳng cần đổi. Đổi ngôi. Đổi chủ. Đổi sự đời, việc Đạo. Rất nhiều thứ.

Này bạn ạ. Cách nay chừng sáu chục niên. Vào cái ngày, mà thắng bé-tí-tẹo-tẻo-teo là bần đạo, chào đời rõ ràng được vài niên. Vài tuổi đầu, nhưng đã nhận và thấy những đổi thay, rất nhiều lần. Có những lần, thằng-bé-tí-tẹo này cứ phải nghe hoài/nghe mãi vẫn một giọng. Chẳng thay đổi. Cứ một kinh. Rất cầu.

Kinh thế ấy, có là lời kinh hôm ban sớm hay lời khấn, lời nguyện, như: “Lạy Đức Chúa Giêsu xưa bởi Lời mà xuống thế gian 33 năm, chịu những sự thương khó cho … các linh hồn được rỗi..” Hoặc, lời kinh lời khấn vái với cầu hồn/cầu chữ, nghe rất dữ. Dữ, như ngôn từ thời đức thày Đắc Lộ dòng rất Tên, xưa sáng tác, đến phát kinh, như: “Chúa Giêsu, quân Giudêu ghét hơn thằng dữ là Baraba…” Ôi thôi, những là một điều Chúa Giêsu, hai điều quân Giudêu, cứ rước và cứ ghét, đến phát khiếp.

Chẳng thế mà, người nghệ sĩ viết nhạc khi xưa, cứ viết tiếp:

“Em ra đi mùa thu

Mùa thu không còn nữa

Đếm lá úa mùa thu

Đo sầu ngập tim tôi.”

(Phạm Trọng – bđd)

Quả là, người thời nay vẫn cứ đếm là đếm. Đếm lá úa. Lời kinh. Linh tinh. Hết đếm rồi lại hát: “Đo sầu, ngập tim tôi.” Cũng thế thôi. Quả thật, tim tôi hay tim bạn, có ngập tràn những “lá úa, khóc người đi” cả vào giờ kinh phụng vụ. Một qui cách, cứ mang tên Vũ Như Cẫn/Vẫn Như Cũ, là thế đấy.

Mới đây, dân con nhà Đạo vừa nhận được tin cho biết: sắp có đổi thay, trong phục vụ. Các lời kinh. Thay và đổi, để phù hợp với nghi thức khác, trong Đạo. Đổi và thay, cho rập ràng một khi cộng đoàn bà con bên Anh Giáo hoặc Đông Phương Chính Thống, đang ào ào gia nhập Hội thánh Công giáo, nhiều hơn nữa. Rập ràng, để khi ấy ta cử hành phụng vụ theo qui cách không còn ngồi đó mà ê a, ba lời bềnh bồng. Như sắp chết. Giống đoạn nhạc, nức nở, ở bên dưới:

“Ngày em đi

Nghe chơi vơi não nề

qua vườn Luxembourg

Sương rơi che phố mờ

Buồn này ai có mua?”

(Phạm Trọng – bđd)

Đúng thế. Buồn này, hay buồn kia, nào ai những mua mua bán bán, mà đọng lắng. Bán/mua chăng, chỉ là “mua vui cũng được một vài trống canh” , lanh lảnh. Rất thôi thúc. Mua, chỉ là để vui. Vui, chỉ là để Hội thánh nghĩ chuyện đổi thay, cho hợp thời. Hợp lẽ. Về mọi mặt. Thay hay đổi, mua hay bán, cũng chỉ nhằm vào văn minh, văn hoá. Rất phụng vụ.

Về đổi thay văn minh/văn hoá, còn nhớ có lần vào thập niên ’60, có linh mục Hoàng Sỹ Quý, SJ từng minh định, qua bài viết rất khúc chiết, như sau:

“Văn hoá, cũng là một thể sống. Nó sống với con người. Mà, để sống được, thì nó phải biến hoá luôn luôn, khiến cùng một vùng mà có cái khác nhau, cùng một thời mà cái mất cái còn…

Không phải tất cả mọi cách đều là Việt Nam, nhưng một nét gì đó của cách ấy. Cố nhiên là phải chọn cái gì sâu sâu một tí, bởi lẽ càng sâu, càng chìm thì nó càng tổng quát và đổi thay chậm chạp hơn. Như tâm thức (mentality) chả hạn. Vâng. Dù tây hoá đến đâu, người Việt và Á đông nói chung, vẫn có những ‘phản’ những ‘không’, giống Âu Mỹ. Người Tây thì, sau khi tranh cãi nảy lửa trong hội nghị, rồi vẫn rủ nhau đi uống cà phê tỉnh bơ, chứ người Việt thì sức mấy.

Theo tôi, Việt Nam chúng ta nằm ở chỗ giao lưu của ba vùng văn hoá gốc: văn hoá Đông Nam Á phía dưới, văn hoá Ấn Độ mà ta chịu ảnh hưởng qua Phật giáo , qua tiếp cận với các quốc gia Ấn hoá xưa, như: Phù Nam, Chân Lạp và Chàm; và cuối cùng, là văn hoá Trung quốc. Các văn hoá của các nước như Pháp đến sau, cũng tác động không ít đến bề nổi của chúng ta.” (x. Hoàng Sỹ Quý sj, Một Gợi Ý Về Văn Hoá Việt Và Sống Đạo, http://www.dunglac.org/index.php?m=module&v=detailarticle )

Văn hoá/văn minh, khác thế nào? Đạo Tây/Đạo mình đặc biệt là thế, sao lại đổi? Đổi thay rồi, liệu có còn phù hợp với nền văn hoá/văn minh của mình không? Đổi rồi, sẽ cứ vững mạnh trong Hội thánh, chứ? Trong chiều hướng có thay và có đổi, Hội thánh có còn sống thích hợp với văn hoá, của Đạo mình? Và, Đạo mình có quen dần với nền phụng vụ mới, nữa chứ?

Tóm lại, một khi phụng vị nhà Đạo mình đổi thay, hẳn vẫn còn thực thi Lời Ngài từng dạy bảo?

“Vì Ta bảo các ngưoi:

Ta không còn ăn lễ ấy

bao giờ nữa,

cho đến khi nào nên trọn

trong Nước Chúa.”

(Lc 22: 16)

“Lễ ấy”, Hội thánh xưa rày, đà hiểu rõ: chính đó là Phụng vụ. Là, Tiệc Thánh. Như được dặn:

“Các con hãy làm sự này,

mà nhớ đến Ta.”

(Lc 22: 19)

“Lễ ấy”, theo các nhà chú giải như Lm Nguyễn Thế Thuấn, CSsR, là như:

“Lễ ấy, hoàn tất trước tiên trong Tiệc Thánh Thể, nhưng một cách đầy đủ, hết hình bóng: trong thời cánh chung, sau tận thế.” (x. Lm Nguyễn Thế thuấn, Kinh thánh, bản dịch 1976, tr. 178)

“Lễ ấy”, thời hậu Công Đồng Vatican II cũng biến khá nhiều. Biến từ La ngữ. Hoá, cả hình thức hiến tế. Rất Thánh thể. Biến hoá, từ qui cách đứng ngồi. Lạy quỳ. Cho chí, phẩm phục. Đờn hát. Nói năng. Biến như thế, vẫn chưa đủ. Vẫn cần đổi thay, cả cung cách. Quan niệm. Lẫn, nơi chốn. Biến hoá, nơi quan niệm là có lập trường đổi khác, rất Tiệc Thánh. Chứ, không còn như hiến tế ở lễ đàn. Ở bàn thánh. Như thuở xưa. Biến hoá/đổi thay, sao cho hợp tình hợp lý với não trạng của dân con nhà Đạo, thời bây giờ. Có lý, có tình người ở ngoài, vẫn thường ca:

“Từ chia ly

Nghe rơi bao lá vàng

Ngập giòng nước sông Seine

Mưa rơi trên phím đàn

Chừng nào cho tôi quên.”

(Phạm Trọng – bđd)

Nhớ lời Thầy dặn, ta không chỉ nhớ và thực thi những gì Hội thánh luôn có thói quen làm, nhiều thế kỷ. Từng cử chỉ. Nhớ Lời Thầy, là còn nhớ cả cung cách đứng ngồi, cử chỉ, lẫn lời kinh vị chủ tế cứ đọc. Cứ khấn cầu. Bái gối. Hoặc, rửa tay.

Nhớ Lời Thầy, là nhớ cả những điều Hội thánh vẫn thực thi với cộng đoàn địa phương. Nhớ cả những cãi vã tranh đua nhau về thần học, ai đúng ai sai. Cả, chốn trang nghiêm, đời tận hiến. Cả, vào dấu ấn ta ghi tạc nằm lòng, ở phụng vụ. Dấu ấn có đổi thay, nay thấy rõ. Dấu ấn, là dấu ấn cho nhà Đạo. Dấu ấn, cả vào lúc nước Nga quay về với Đạo lý, thời loạn ly.

Nhớ Lời Thầy, là cắt bỏ những chi tiết dài dòng. Lê thê. Cho thực tế. Cắt bỏ, để phụng vụ Nhà Chúa trở thành nghi thức giản đơn. Sâu sắc. Hầu, quân bằng với cuộc sống, người giáo dân. Nhớ Lời Thầy, là nhớ chi tiết nay đà cải biến. Biến rồi cải, cả vào thời Giáo hoàng Grêgôriô Cả, thế kỷ 16. Cải và biến thời hậu Công đồng Triđentinô. Cải và biến, cả vào thập niên ’50, với quyết định của Đức Piô XII, vào Tuần Thánh. Mỗi năm.

Cải biến như thế, ta sẽ không còn dựa vào lời thơ người ngoài Đạo, cứ luôn hát:

“Hôm em ra đi mùa thu

Mùa thu không trở lại

Lá úa khóc người đi

Sương mờ dâng lên mi.”

(Phạm Trọng – bđd)

Nhớ Lời Thầy, là nhớ “em ra đi mùa Thu” hôm ấy, Hội thánh của anh và của em, cũng đã cải biến phụng vụ từ ngày Công đồng quyết định. Mãi hôm nay. Cải biến, dựa nhiều trên tương quan giữa Chúa và dân Ngài. Biến cải, để tương quan ta vẫn có với Chúa, với nhau, chỉ đặt nặng trên tình thương yêu. Vui sống. Yêu thương và phục vụ, để rồi những gì là vô hình nay trở thành hữu hình. Nơi cuộc sống, có nỗi chết. Có sống lại.

Tình thương yêu, Chúa trải rộng không chỉ diễn bày “một lần rồi thôi”. Nhưng liên tục. Bằng xác chứng Chúa vẫn hiện diện nơi ta. Trong ta. Ngài hiện diện qua sẻ san Lời. Qua, Bí tích Thánh Thể. Nhờ Bí tích, ta sẽ đồng hoá với Đức Kitô. Đồng hoá, với việc hiến trọn Thân Mình cho Cha. Qua thập tự. Và, sống lại. Quang vinh.

Sống tình yêu qua phụng vụ, là đáp trả tình thương của Ngài. Bằng vào lời cầu. Bằng cách thế đứng ngồi, cầu kinh nơi nghi thức phụng vụ. Bằng vào, thi hành lời Ngài dặn dò, hôm vĩnh biệt: “Hãy làm việc này mà nhớ đến Ta”.

Đó là nội dung ý nghĩa của nguyện cầu, qua phụng vụ. Rất ý thức. Năng động. Có làm thế, cộng đoàn Nước trời mới đóng góp tích cực vào Tiệc Thánh. Có làm thế, mọi người già trẻ lớn bé mới tích cực tham gia. Có làm thế, việc cử hành Tiệc mới giản đơn. Sống động. Đúng nghĩa.

Nhờ làm thế, Hội thánh mới trân trọng quà hiếm quý, Chúa tặng ban. Hầu, thực thi điều Chúa dặn dò, cho tích cực. Nhờ làm thế, ta mới thích nghi được với cộng đoàn khác. Văn hoá khác. Cho phải lẽ. Nhờ làm thế, ta sẽ thấy trân quý lời ca tiếng hát của mọi con dân Đức Chúa, trong cũng như ngoài nhà Đạo. Chứ không chỉ ê a lời thơ ý nhạc của nghệ sĩ rất đời, như:

“Em ra đi mùa thu

Mùa lá rơi ngập ngừng

Đếm lá úa sầu lên

Bao giờ cho tôi quên.”

(Phạm Trọng – bđd)

Cuối cùng thì, “Em (có) ra đi mùa Thu” hay chỉ ra đi, mà cải biến. Cải và biến nỗi sầu “đếm lá úa”. Đếm, để không còn “mùa lá rơi ngập ngừng” như thế nữa, ở phụng vụ. Và từ đó, chẳng “bao giờ cho tôi quên” dù quên một lời Thầy dặn, buổi Tạ từ. Trăn trối. Hối thúc. Dù, điều mình quên có là quên theo thói quen trần tục, như câu truyện ở dưới, để minh hoạ:

“Hai bạn Đạo, bạn đời nói với nhau, như sau:

-Sao anh uống nhiều rượu quá vậy?

-Để cho quên.

-Quên? Quên những gì mà ghê thế?

-À, thì chỉ quên những gì làm mình xấu hổ.

-Xấu hổ, là xấu con hổ nào?

-Là mắc cở, rằng mình đã uống quá nhiều đến như thế…

Ở nhà Đạo, cũng có những sinh hoạt rất văn minh. Linh tinh. Nhiều văn hoá. Thế nên, sống ở đời, những mong bạn mình. Tức bạn và và mình, sẽ chẳng bao giờ quên lời dặn dò. Trăn trối. Của Chúa. Như từng quên, rất nhiều thứ.

Trần Ngọc Mười Hai

Thấy vẫn cần đổi.

Cần thay.

Rất nhiều thứ.

Suốt đời.

30. “Những đồi sim, những đồi sim, đồi tím hoa sim”
Tím cả chiều hoang biền biệt”

(Phạm Duy/Hữu Loan – Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà)

(Ga 16: 20)

Nếu viết nhạc, để nói về mầu tím hoa sim, thì giòng nhạc trên phải viết, rất như thế. Tức, viết như giòng chảy của Phạm Duy. Nếu làm thơ, lại nói về tình yêu chung thuỷ với người vợ trẻ, vừa cưới nay đã chết. Thì, lời thơ nên làm, phải như lời của thi sĩ, rất Hữu Loan. Thơ hay nhạc, về đồi tím hay hoa sim, đều mang mác trữ tình. Rất tim tím. Hoang biếc. Nhè nhẹ. Như sau:

“Những đồi sim, những đồi hoa sim

Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.

Mầu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt.

Và chiều tím có chiều hoang biếc

Chiều tim tím thêm mầu da diết..”

(Hữu Loan – Mầu Tím Hoa Sim)

Thơ với nhạc chép ở trên, vẫn cùng có câu: “Chiều hành quân, qua những đồi sim”. Hoặc, “áo anh em viền tà. Nhớ ngườiyêu mầu tím. Nhớ người yêu mầu sim….” Bần đạo, chưa một lần biết đến hành quân, hay nhớ người yêu mầu sim tím, thơi chinh chiến. Bởi, không là lính. Cũng chưa từng là “người trai khói lửa”. Nên, chỉ xin ghi lại giòng mang mác. Rất thi ca. Rất nhạc Việt. Để, nói lên cái “tim tím/tâm thiêng”, mà nhà thơ Nguyễn Hữu Loan, từng tự sự:

“Làm thơ phải có cái tâm thật thiêng liêng, thì thơ mới hay. Thơ hay, thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình/có tâm, thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó, tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó, tôi khóc như vậy, họ cho là khóc cái tình cảm riêng…

Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc?

Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày…” (x. Tác giả Màu tím hoa sim đã ra đi, http://sn110w.snt110.mail.live.com, 21.03.2010)

Điều hay. Lẽ phải. Và lòng quả cảm của thơ văn/nghệ sĩ lâu nay, vẫn là: dám khóc cho Tình Yêu. Dám bỏ hết. Cả đảng, lẫn cơ quan. Cả chức vụ, lẫn công ăn việc làm. Rất địa vị. Để giữ lại, chỉ mỗi cái tâm thật thiêng liêng, của Tình Yêu, thôi. Tình ấy, có thể là tình chồng/vợ. Có thể, chỉ là tình cảm mang mác. Dù, có khóc lóc. Cơ hàn. Tủi hổ. Vẫn cứ yêu. Cứ nhớ. Suốt đời.

Với nhà Đạo, thơ văn/nhạc tình đều có đủ. Nhưng hỏi rằng, đã mấy người dám khóc. Dám bỏ cả, cho Tình Yêu. Chí ít, là yêu người. Yêu Đấng Bậc, mình không thấy. Chẳng gặp. Thế mới hay, về Tình Yêu, luôn có sự trùng hợp/ăn ý giữa Lời Chúa, với lời thơ/tiết nhạc. Rất như sau:

“Thật, Thầy bảo thật anh em:

anh em sẽ khóc lóc

và than van,

còn thế gian sẽ vui mừng.

Anh em sẽ lo buồn,

nhưng nỗi buồn của anh em

sẽ trở thành niềm vui.”

(Ga 16: 20)

Xem như thế, trong mọi trường hợp, người khóc lóc/vãn than lại chính là mình. Còn lại, kẻ vui cười sởi lởi, vẫn là thế gian. Người ngoài. Vẫn cứ cười đùa. Bình chân như vại. Thoải mái. Thế nên, thế gian đã có câu: “Cười người hôm trước, hôm sau người cười”. Quả là, Lời Thầy có nói: “Nỗi buồn của anh em, sẽ trở thành niềm vui.” (Ga 16: 20)

Xem như thế, thì khóc lóc/vãn than chỉ là giai đoạn. Lúc ban đầu. Cũng chỉ âu sầu/buồn thảm, một đêm đen. Rất chóng vánh. Mau quên. Dễ sao lãng. Còn lại, chuyện lâu dài, là niềm an vui. Hạnh phúc. Đến vô tận. Đó, chính là chân lý ngàn đời. Của cuộc sống. Rất con người.

Trong cõi “tim tím” của tình yêu những thơ và nhạc, lại có bóng hình nho nhỏ. Biền biệt. Da diết. Của người con gái/phái nữ rất yêu đương. Đương yêu. Người con gái/phái nữ thường vẫn yêu cả khi còn sống, lẫn lúc chết. Tình “tim tím”, “biền biệt chiều hôm” kia, cả nhà thơ lẫn người viết nhạc, chỉ nói phơn phớt. Thoáng qua. Những là:

“Nhưng không chết người trai chiến sĩ

mà chết người gái nhỏ miền xuối.”

(Phạm Duy – bđd)

Hoặc:

“Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại

Lấy chồng thời chiến binh

Mấy người đi trở lại,

Lỡ người mình không về

thì thương người vợ chờ, bé bỏng chiều quê…”

(Hữu Loan, bđd)

Thực tế diễn ra, đã như lời tự sự của tác giả, rất nhè nhẹ, sau đây:

“Cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời.” (x. Tác giả Mầu Tín Hoa Sim, bđd)

Chất thơ và tâm thiêng, vẫn nhè nhẹ nằm trong lời kể về “ánh mắt nhìn thẳng” ấy. Nhưng tình thơ da diết và nỗi yêu “biền biệt”, lại ở nghĩa chữ, như:

“Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn lúc thì vài quả ớ đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn. Những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt…” (x. Tác giả Mầu Tím Hoa Sim, bđd)

Thì ra, yêu đương không cần lời nói. Khi đương yêu, bạn tình nhỏ của mọi người vẫn quan tâm/săn sóc người yêu, rất từng tí. Quả ớt đỏ. Trái chanh mọng. Bằng cử chỉ nhè nhẹ. Dễ mến. Rất đáng yêu. Đáng yêu hơn, còn ở chỗ: người yêu bé bỏng cứ lặng yên lao động, ở quanh nhà. Bờ giếng. Lao động, chẳng ngủ trưa. Ngủ nghỉ, là hạnh phúc quý phái dành để cho người mình yêu.

Với nhà Đạo, một tình tiết rất đáng yêu của “thành viên nhỏ”, trong cộng đoàn thời trước. Cũng nhè nhẹ. Rất đáng yêu. Đáng quý. Ở cộng đoàn. Thành viên nhỏ cộng đoàn, không làm nhiều. Nhưng, kết quả lại không thiếu. Vẫn nhè nhẹ. Thân thương. Ít người biết. Việc ít biết, là việc của “Chị Nuôi” mà thời xưa nhà Đạo có thói quen gọi là “Cô Sáu”. Cô chuyên giùm giúp Hội thánh. Rất thầm lặng. Chẳng bon chen. Chẳng đòi chức tước. Hoặc, công lênh. Gì hết.

Vừa qua, có độc giả của tuần báo Công Giáo ở Sydney bắc thang lên hỏi “đức thày” nhà Đạo, về vai trò “Cô Sáu” thời Hội thánh tiên khởi. Khi trước. Rất như sau:

“Bẵng đi nhiều năm, tôi được nghe nhiều học giả trong Đạo có nhắc đến vai trò của “Cô Sáu”,

thời tiên khởi. Mới đây, tôi lại được một người bạn chỉ cho thấy rằng thì là: theo luật định do

Công Đồng Can-Xê-Đô-Ni-a đưa ra, có một số qui định về việc tấn phong các Cô Sáu. Câu hỏi

của tôi là: nếu ngày xưa, Hội thánh tiên khởi đã có Cô Sáu, thì bây giờ tại sao không? (Lại một

người hỏi han nhưng không ký)

Hỏi mà không ký, vẫn có thể việc của một giáo dân hạng thứ. Rất phụ nữ. Cũng có thể, là chính

tác giả, người giải mã. Chỉ muốn nêu vấn đề, chứ đâu muốn nêu tên. Nêu hay không nêu, người giải vấn đề lần này, vẫn là “đức thầy” của Tổng Giáo Phận Sydney, là người “anh lờ em mờ” (Lm) rất John Flader, như sau:

“Câu trả lời ngắn gọn của tôi, là KHÔNG. Vào thời Giáo Hội sơ khai cũng có “nữ phó tế” thật đấy, nhưng các chị không là phó tế theo nghĩa có đủ quyền của chức thánh, rất đúng luật. Các chị vẫn là giáo dân, như mọi người.

Ở đây, chúng ta nên nhớ: tiếng Hy Lạp diakonos là từ ngữ rất thông dụng để chỉ định người phụ giúp hoặc giúp việc, mà thôi. Từ này, không nhất thiết nói về đấng bậc vị vọng đã lĩnh nhận chức thánh, nói rất rõ.

Thánh Phaolô cũng đề cập đến vai trò của “nữ tá viên” (tức nữ trợ tá) trong thư gửi giáo đoàn La Mã, khi ngài nói: “Tôi xin giới thiệu với anh em, chị Phê-bê, người chị em của chúng tôi, là ‘nữ tá viên’ Hội Thánh Ken-khơ-rê. Mong anh em tiếp đón chị trong Chúa cách xứng đáng, như dân thánh đối xử với nhau. Chị có việc gì cần đến anh em, xin anh em giúp đỡ, vì chính chị

cũng đã bảo trợ cho nhiều người, kể cả tôi nữa.” (Rm 16: 1-2)

Cụm từ “Nữ tá viên” thời đó chỉ có nghĩa như một nữ phụ giùm giúp, theo nghĩa rộng.

Thế thôi.

Từ thế kỷ thứ III trở đi, ở nhiều nơi bên phương Đông, các nữ tá viên được chính thức

lập ra hoặc thiết dựng là để phụ giúp, có vai trò tựa như công việc của của một người nữ

chuyên hướng dẫn, phụ giúp trong nghi thức rửa tội, viếng kẻ liệt. Các chị là nữ giới, nên được

chỉ định công việc tắm cho người bệnh, trao ban Mình Thánh Chúa, cho tiện hơn. Vì lẽ đó, các

chị thành một nhóm có cơ cấu/tổ chức trong Hội thánh, như phẩm trật của các bà goá. Ở một

vài nơi, các chị gia nhập phẩm trật này bằng nghi thức có các đấng bậc đặt tay lên đầu mình.

Nữ tá viên như thế, tuyệt nhiên không lĩnh nhận chức thánh nào hết. Và, hoàn toàn

khác với chức linh mục và phó tế theo nghĩa tuyệt đối, như đã nói rõ trong Hiến Chế Tông Đồ,

ban hành khoảng năm 400, Công Nguyên: “Nữ tá viên, không chúc lành, cũng chẳng thực hiện

bất cứ thứ gì thuộc chức năng linh mục hoặc phó tế, mà chỉ làm công việc đóng cửa/mở cửa, và

giúp các linh mục trong việc rửa tội cho phụ nữ, vì tính cách đoan trang. Tiện lợi. Tế nhị.” (Hiến

Chế Tông Đồ #VIII, câu 28)

Trường hợp rửa tội cho phụ nữ, vị linh mục xức dầu lên đầu hoặc lên trán người nữ

nhận lãnh bí tích, trong khi đó, nữ tá viên vì lý do tinh tế thích hợp, thực hiện tiếp các động tác

bôi/xức thêm sau.

Chức vụ, vai trò và ý nghĩa của công việc một nữ tá viên được sắp xếp tuỳ địa phương.

Với Hội thánh Ai cập, Giáo hội Ma-Rô-Ni-Ta và Slava, không thấy có chức vụ này. Suốt năm thế

kỷ đầu, Giáo Hội La Tinh cũng không thấy xuất hiện các nữ tá viên như thế. Vai trò và chức vụ

của nữ tá viên khác biệt nhau tuỳ thành phần của Hội Thánh. Khác biệt thấy rõ nhất là ở chỗ:

không liên quan đến việc thi hành bí tích, vì thần học và khuôn phép của bí tích đều mang tính

phổ cập, trong Hội thánh. Khắp thế giới.

Điều này, nói rõ trong Điều luật số 15 do Công Đồng Ca-Xê-Đô-Ni-a ban hành năm 451,

như sau: “Phụ nữ nào dưới 40 tuổi không được tấn phong làm nữ tá viên. Và chức vụ này, chỉ

được ấn định một cách kín đáo. Giả như, sau khi được tấn phong và thực hiện chức vụ này một

thời gian, mà các chị lại coi thường ân sủng của Chúa, đi lập gia đình, thì những người như thế

phải bị tuyệt thông, cùng chồng mình.”

Rõ ràng là, tuổi tác ấn định cho các chị, khác với nam nhân khi phong phó tế, cộng thêm

đòi hỏi sống đời độc thân, nữ tá viên không thuộc các phẩm trật có chức thánh. Đúng hơn, phải

nói: các chị thuộc nhóm phụ nữ trưởng thành có trọng trách giúp đỡ Hội thánh, bằng nhiều

cách.

Con số nữ tá viên như thế, suy giảm từ từ với thời gian, ở Phương Đông cũng như Tây

Phương. Để rồi, cuối cùng biến dạng hoàn toàn vào thế kỷ thứ XI. (Xem Lm Peter Joseph,

Apologetics and Catholic Doctrine, Baronius Press 2009, tr. 594-95)

Lại một giải đáp, rất chính mạch. Chẳng có gì, để bạn và tôi, ta bỏ giờ ra mà tranh với cãi. Hãy cứ lẳng lặng, mà yêu thương. Yêu, trong nghe/nhìn. Thương, rồi sẽ thấy. Yêu thương trong cuộc đời, ở bên ngoài, còn có những chuyện/những sự việc rất đáng nghe. Cũng nên đọc. Nghe và nhìn, cho đời mình thêm hưng phấn. Nhìn và nghe, rồi cứ mỉm cười. Một mình. Cười rồi mỉm, như chuyện bên lề bài chuyện phiếm. Rất như sau:

Chồng nói với vợ:

-Em thường mang bức hình của anh theo trong mình, khi đi làm hả? Tại sao thế?

-Ừ thì, khi nào có vấn đề, dù khó cách mấy, chỉ nhìn vào hình của anh là vấn đề ấy, biến mất

ngay.

-Thấy chưa? Em có thấy rằng anh tuyệt vời với em đến thế nào, không?

-Có chứ. Mỗi lần nhìn hình, em đều tự nhủ: Còn vấn đề nào lớn hơn vấn đề này, chứ?”

Vần đề tâm sự và tự sự của nhà thơ Hữu Loan, còn một ý thơ thông thoáng. Rất ý nhị. Tuyệt vời. Tuyệt, như lời chàng trai cửu tuần họ Nguyễn, tên gọi rất ư là Hữu Loan, sau đây:

“Một tuần sau đó, chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt, là hơn cả… Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!”

Chẳng cần biện luận, ai cũng hiểu. Lời văn của nhà thơ, còn là chứng từ cho thần học Tình Yêu, ở đời. Sâu sắc. Yêu đương. Đâu cần nhiều. Yêu đương, nào cần đến áo quần đẹp. Nhẫn cưới. Tiệc tùng. Cùng lễ lạy? Điều cốt thiết, nằm ở “cái tâm”. Ở “tình bền chặt, là hơn cả.”

Cũng giống thế, người nhà Đạo vẫn nói thương Chúa. Yêu Hội thánh, là nghĩa gì? Đâu là chứng cứ? Câu hỏi, đơn giản là thế. Nào mấy ai sẵn sàng có câu trả lời!

Bần đạo không có được lòng quả cảm như nhà thơ, lẫn người viết nhạc. Ở đời. Chỉ dám đưa ra một vài ý tưởng nhỏ, để ta phiếm. Cùng kiếm. Và cùng tìm. Sẽ có câu giải đáp. Cũng nhanh thôi.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn cứ kiếm và cứ tìm mà chưa thấy.

Trong khi, giải đáp đã có sẵn

ở Thánh Kinh.

31. “Khi tình đã vội quên”,

tim lăn trên đường mòn.
Trên giọt máu cuồng điên,

con chim đứng lặng câm.
Khi về trong mùa đông,

tay rong rêu muộn màng.
Thôi chờ những rạng đông..”

(Trịnh Công Sơn – Ru Ta Ngậm Ngùi)

(1Ph 4: 12)

Có những truyện kể, vẫn rất nhiều. Kể nhiều lần. Về nhiều người. Như, truyện của bé em rất ngây thơ. Không ỡm ờ. Thờ ơ. Một truyện Đạo. Như truyện có lời cầu, nhưng không xin, sau đây:

“Lần đầu, được mẹ dắt đi nhà thờ dự lễ cưới, có cô dâu chú rể trao nhau nụ hôn rất đầy tình. Có nhẫn cưới. Có nụ cười. Bé em chợt nhận thấy nhiều thứ, trông rất lạ. Bèn, kéo tay mẹ xuống, cuống cuồng hỏi:

-Mẹ ơi, sao cô dâu hôm nay mặc toàn mầu trắng không vậy, mẹ?

-Con à, mầu trắng là mầu thanh trong, hạnh phúc. Cô mặc như thế, vì hôm nay là ngày cô sung sướng nhất đời cô, đấy con?

Nghĩ một hồi, bé lại kéo tay mẹ, nhè nhẹ hỏi:

-Thế còn chú rể? Sao chú mặc toàn mầu đen không vậy? Chắc là chú không sung sướng như cô dâu, phải hông mẹ?

-!!!

Trắng hay đen, phải chăng đó có là mầu của những người từng nếm mùi hạnh phúc, rất tinh tuyền? Cái đó, còn tùy. Tùy người hỏi. Tùy người trả lời, cho đúng. Dù, “lời” có trả mà không “vốn”. Bảo rằng, mầu trắng là sắc mầu trinh trong/hạnh phúc, rất thích hợp với phụ nữ, có lẽ là chuyện cần bàn thêm. Nhưng nếu bảo, đen kịt là mầu của thời trang, lang bang nhiều thế hệ, thì xin bạn và tôi, ta cứ để đó. Hạ hồi ,rồi giải quyết.

Nay, có luận bàn về hạnh phúc/phúc hạnh, cũng nên thêm một truyện khác, kể rất vắn. Kể, là để tạo thư giãn vớicuộc đời; trước khi nhập đề tài khúc mắc. Rất sắc nét:

“Truyện rằng:

Có hai người bạn, vẫn thân mật, gần gũi để tâm sự. Dù chỉ một đôi câu rất vắn vỏi. Nhưng đủ nghĩa. Thấm thía. Thấy bạn thẫn thờ suy tư về phụ nữ, anh bèn hỏi:

-Này ông bạn. Ông có biết rằng: bà nhà tôi, là một thiên thần, rất tuyệt trần, không?

-Ấy! Bạn có phúc đấy. Phần tôi, ‘phân nửa’ của tôi, hiện vẫn sống. Chẳng giống ai!…

Có một nhận định khác, cũng rất ư là kể lể, về hạnh phúc. Phúc hạnh. Như sau:

“Có nữ phụ nọ, bỗng thấy mình nay đầy thần hứng, rất phấn chấn. Bèn thổ lộ:

-Tôi đây chưa “ngộ” được điều gì cho ra hồn. Nên chẳng dám bảo: là mình nay hạnh phúc. Bởi, hạnh phúc là cái gì đó chợt đến, rồi vội đi. Trong phút giây. Chỉ ít ngày. Nó đến với tôi, cũng rất nhiều. Kịp vào lúc tôi quyết định lập gia đình. Cho riêng tôi. Nhưng khi ấy, lại quá trễ!

Về hạnh phúc, rất nhiều lần, bần đạo từng hít thở những hơi dài, đầy buồng phổi. Hầu, dẫn nhập vào người, luồng khí lạ. Từ xa. Vẫn hít thở, những thông tin lạ, từ đâu đó. Rồi giữ nó, chừng dăm phút. Mới thở phào, nhẹ nhõm. Thở, để có được cung cách khác lạ, nhưng không kỳ. Chí ít, là khi bần đạo được nghe nghệ sĩ mình, lại hát tiếp:

”Có đường phố nào vui, cho ta qua một ngày

Có sợi tóc nào bay, trong trí nhớ nhỏ nhoi

Không còn, không còn ai,

ta trôi trong cuộc đời

Không chờ, không chờ ai!”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

Nhận lãnh hạnh phúc, sao phải chờ! Chờ ai? Chờ gì? Phải chăng, chờ những điều sau đây?

”Xin chờ những rạng đông.

Đời sao im vắng

Như đồng lúa gặt xong

Như rừng núi bỏ hoang

Người về soi bóng mình.

Giữa tường trắng lặng câm.”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

Quả có thế. “Tường trắng lặng câm”. “Chờ những rạng đông”. Là, thứ hạnh phúc vẫn rất thật. Cứ lờ ngờ ở trước mắt. Đôi lúc còn như “đời im vắng”. Như, “rừng núi bỏ hoang”. Cứ luột khỏi tầm tay. Đầy níu kéo. Rất khéo léo. Với nhiều người, hạnh phúc vẫn là: còn đó những ước vọng, chưa tỏ rõ. Chưa đạt. Vì, một khi đạt được rồi, đã chắc gì phúc hạnh ấy là điều mình từng mong ước. Như ước vọng nhà Đạo từng có, trong đời.

Ước và vọng, là những ước rằng: thế hệ mình sống, chắc rồi mộng ước/khát vọng của mình cũng thành hiện thực. Rất không lâu. Không xa vời thực tế. Như vấn đề, mà bạn và tôi, ta sẽ bàn ở dưới, là: có nên cho phép phụ nữ làm linh mục? Như đề tài mà bần đạo vừa bắt chụp, ở đời thường.

Mộng, là như thế. Nhưng sao, trên thực tế những mộng và ước ấy, vẫn đâu thành hiện thực? Vẫn cứ thành đề tài của tranh cãi, ở truyền thông lòng thòng một chuyển tải đề tài rất nóng bỏng. Khiến ưu tư. Uẩn ức. Như người ở Úc, vẫn thắc mắc những điều sau đây:

“Vừa qua, toà thánh vừa gặp vài phản đối/vấn nạn tưởng chừng chưa thông. Chưa suốt. Chưa, là bởi: mới đây, có văn bản xuất xứ từ điện Vatican cho biết: việc tấn phong linh mục cho phụ nữ có khác nào chấp nhận tệ nạn ấu dâm, đang gây khó cho Hội thánh. Rất trăn trở. Sau đó, phát ngôn viên Toà thánh còn cho biết: bản văn trên không nhằm ví von những chuyện không thích hợp, hài hoà; chẳng ăn khớp gì với nhà Đạo. Ấu dâm, là tội phạm nghịch-chống với luân lý. Đạo đức. Tham gia tấn phong linh mục cho phụ nữ, là tội ác chống lại niềm tin Kitô giáo.

Nhận định của Hội thánh về việc “phong chức linh mục cho phụ nữ, cũng giống như tội ác chống lại niềm tin”, là điều ta cần suy nghĩ. Cho kỹ.

Lô-gích của Hội thánh về các điều gọi là “tội ác”, cũng rất rõ. Bất cứ cơ quan/tổ chức nào cũng kỳ vọng điều tốt đẹp, nơi thành viên mình. Ai vi phạm một trong các điều luật ghi ở nội qui của nhóm hội/tổ chức, đều bị trừng trị.

Với câu lạc bộ bóng đá, chẳng hạn, câu lạc bộ nào cũng kỳ vọng là: cầu thủ của đội mình phải ra sân tập luyện. Đều đặn. Nghiêm chỉnh. Ai đến trễ, hoặc đến trong tình trạng say xỉn, đều bị coi như cố ý chống lại những gì được mọi người trong câu lạc bộ kỳ vọng. Kỳ vọng, như một cầu thủ thực thụ. Cũng giống thế. Cầu thủ, là người được kỳ vọng phải tôn kính biểu tượng của câu lạc bộ nhà, khi mình gia nhập. Cầu thủ nào công khai đốt cờ xí, phá phách đồng phục câu lạc bộ, tự khắc sẽ bị coi là phạm luật. Tức: chống lại những kỳ vọng mà câu lạc bộ đặt lên vai của người ấy, với tư cách là hội viên chính thức của câu lạc bộ. Cầu thủ nào làm trái ý, tức: đã vi phạm luật. Đã, chống lại những gì câu lạc bộ chủ trương. Nói theo kiểu nhà Đạo, làm thế, tức đã vi phạm luật lệ, nội qui. Tức, chống lại niềm tin của người cùng chí hướng.

Luật Hội thánh, cũng có các phạm trù dựa trên nguyên tắc, rất tương tự. Các phạm trù nhằm phản ánh thời khắc mà Hội thánh khi xưa ban hành lề luật cho dân con Đạo mình. Còn ấu dâm, chỉ là chuyện có liên quan đến một số linh mục, thôi. Và, tham gia quyết định phong chức linh mục cho phụ nữ, lại là chuyện khác. Dù, cả hai việc lâu nay vẫn được coi như có liên quan đến cuộc sống của Hội thánh. Nếu xem đó là chuyện phải lẽ, thì việc này phải bị nghiêm cấm. Phải trừng trị.

Dầu sao đi nữa, bảo rằng: tham gia vào việc phong chức linh mục cho phụ nữ, mà gọi đó là tội phạm chống niềm tin Kitô giáo, thì việc này làm tôi chao đảo, khá nhiều. Mới đây, tôi đến dự buổi phong chức linh mục cho một chị phụ nữ nọ, chỗ thân quen. Chị bạn, tuy tin vào Đức Kitô, nhưng lại thuộc giáo hội khác. Nghi thức truyền chức linh mục ở đây, không khác là bao các buổi tấn phong linh mục ở Hội thánh ḿnh. Nghĩa là, cũng nói đến trọng trách của Hội thánh trong việc tấn phong cho tân chức. Cũng nói đến trách nhiệm của tân chức, đối với Chúa. Với Giáo hội. Và, buổi lễ diễn ra thật trang nghiêm. Trọng thể. Đầy những sắc mầu của nguyện cầu, như ở Giáo hội mình. Và, vị chủ trì hôm ấy, cũng nói đến bước khởi đầu của công vụ thừa tác đầy mầu mỡ. Có giáo dân hợp lực. Có tân chức quyết tâm. Tức, có niềm tin xuyên suốt. Từ dân con Đạo Chúa.

Thật ra, ta không thể bảo: tấn phong linh mục cho phụ nữ cùng Đạo Chúa nhưng khác giáo hội, buổi hội ấy, là một tội ác nghịch chống lại niềm tin. Cũng không thể quan niệm việc truyền chức linh mục cho phụ nữ thuộc giáo hội khác, là việc chống lại niềm tin vào Đức Chúa. Định nghĩa điều gì là: chống đối với niềm tin, phải là hành động đặt nền tảng nơi niềm tin vào Đức Kitô, mới đúng. Tức, phải là hành động phục vụ niềm tin của Hội thánh Chúa, và phải đích danh gây tác hại cho trật tự của cộng đoàn gồm các kẻ tin vào Đức Chúa. Cãi vã này, xem ra có vẻ như ta đang lý tưởng hoá vấn đề, không thực tế.

Chính xác hơn, nên coi việc truyền chức linh mục cho phụ nữ trong Hội thánh Công giáo, một cách tiên quyết như lỗi phạm phản chống một trật tự nào đó, đúng hơn là tội phạm chống lại niềm tin.

Nói như thế không có nghĩa, ta có ý định làm giảm suy ý nghĩa của sự việc. Trật tự, là những gì có liên quan đến niềm tin chung thủy vào Đức Kitô, trong khuôn khổ sự sống của Hội thánh. Tác vụ nào điều hành đúng qui cách, vẫn phải đặt trọng tâm vào trật tự của giáo hội. Truyền chức linh mục cho phụ nữ mà không có phép tắc của Hội thánh, chắc chắn sẽ đả kích nguyên tắc cho phép tác-vụ ấy được hiện thực. Và việc này, cũng đã vi phạm một trong những nguyên tắc tạo việc cho phép tấn phong linh mục, là chỉ dành riêng cho nam giới, thôi. Dĩ nhiên, nguyên tắc này đặt nền tảng vững chắc, trên hiểu biết rất rõ về niềm tin. Và, truyền chức như thế có nghĩa vị phạm trực tiếp luật lệ chống lại trật tự.

Việc ấy tựa hồ hành động của ai đó, quyết xâm phạm khu quân sự, chỉ để phản đối chiến tranh ở Apghanistan, chẳng hạn. Hoặc, nhóm người nào đó đang sửa soạn một nghi thức trong đó họ sẽ ăn vận đồng-phục của cảnh sát, nhằm để phản đối tính bạo tàn mà ngành này vẫn hành xử. Động thái xâm nhập khu quân sự, và ăn vận đồng phục, là chống lại một trật tự của xã hội. Việc như thế, bao hàm một đoan quyết về đạo đức/chức năng nhằm củng cố cho xã hội ấy. Tuy nhiên, những việc như thế không thể gọi nó là tội ác được, vì lý do đó.

Dầu sao đi nữa, hai ví dụ ở trên, đều diễn tả việc vi phạm trật tự, vẫn kéo theo sau một phán quyết mang tính ý-thức-hệ vốn dĩ hỗ trợ cho cung cách nhằm củng cố trật tự đã đặt ra. Hoạt động chống đối thường tạo đam mê. Hấp dẫn. Chúng thách thức nền tảng đạo đức của xã hội. Chính vì thế, mà việc đáp ứng lại hành động chống đối, thường thiếu cân xứng. Thách thức đích thực, phản chống lại trật tự nào đó, do những người không mang vũ khí dám bước vào vùng đất cấm chẳng hạn, thật ra rất nhỏ. Giá trị biểu trưng cho hành động ấy sẽ giải thích tính nghiêm trọng của hình phạt, ta áp đặt. Đề bạt.

Tương tự như thế, trường hợp phong chức linh mục không theo qui tắc, thường có nghĩa đi trệch đường lối quang minh/chính đại, hơn là đe doạ một nền trật tự nào đó, của Hội thánh. Bởi thế nên, theo nghĩa này, thì những việc tương tự như thế, thường đụng mạnh đến niềm tin. Đó là nghĩa cử tương tự như các hành xử của một ngôn sứ. Hội thánh hiểu rõ sức mạnh của hành xử ngoài mặt mang tính ngôn sứ. Tức, rất lý tưởng. Nhưng không thực tế. Kinh thánh dẫy đầy các trường hợp nêu trên. Bởi thế nên, hành xử này được các đấng bậc trong Hội thánh quan tâm, rất đặc biệt.

Điều khó, là hành xử của ngôn sứ nào càng tạo nhiều phản ứng đáp trả rất khắc nghiệt, thì quần chúng lại càng cảm thấy thích thú mà vấn nạn tính hợp pháp của truyền thống mà họ quan tâm. Chú ý. Nơi nào có nhiều bất đồng chính kiến, có khi cũng là điều tốt cho xã hội. Và giáo hội. Là điều tốt, cốt để ta không quá tập trung vào trừng phạt, cho bằng chỉ nên hoà giải. Hoà giải sao, để về lâu về dài, ta có được tình tự tươi vui, dễ sống. Và, mọi người sẽ theo đó mà tiến tới. Cuộc sống vui.” (x. Lm Andrew Hamilton sj, Eureka St, 05/8/2010)

Nghe bàn chuyện cao siêu. Huyền diệu. Bần đạo cứ ớ người ra. Chẳng biết ăn làm sao. Nói thế nào. Cho phải. Như mọi lần, bần đạo cứ vướng phải cái cố tật, là: lại nghêu ngao lời ca vừa hát dở. Bèn ca tiếp:

“Em về, hãy về đi, ta phiêu du một đờị

Hương trầm có còn đây, ta thắp nốt chiều nay

Xin ngủ trong vòng nôi, ta ru ta ngậm ngùi,

Xin ngủ dưới vòm cây ..”.

(Trịnh Công Sơn – bđd)

Hát rồi, như có luồng sáng thúc đẩy bần đạo lần mò về với Lời Chúa. Bất chợt, gặp được ý/lời đoạn thư của thánh nhân rất “đại thụ”, của nhà Đạo, có giòng chảy đầy nhủ khuyên, như sau :

“Được chia sẻ những đau khổ

của Đức Ki-tô bao nhiêu,

anh chị em hãy vui mừng bấy nhiêu,

để khi vinh quang Người tỏ hiện,

anh chị em cùng được vui mừng

hỷ hoan.”

(1 Ph 4: 13)

Rõ ràng, mọi chuyện dù có là khổ đau hay hoan hỷ, với thánh nhân, vẫn cứ là:

“Anh chị em thật có phúc,

bởi lẽ Thần Khí vinh hiển

và uy quyền,

là Thần Khí của Thiên Chúa,

ngự trên anh chị em.”

(1Ph 4: 15)

Rõ ràng, lời truyền dạy rất xưa, hay mới vừa rồi, vẫn là lời của Chúa. Hiểu theo nghĩa, tâm tư. Kinh nghiệm. Về cuộc sống. Mà, đã là chuyện của cuộc sống, tức sống Đạo với đời và giữa đời, cũng vẫn là chuyện của mọi người. Của nhà Đạo. Ở đời. Một đời có nhiều người. Nhiều ý. Nhiều mộng ước. Rất ưu tư.

Chính vì ưu tư, nên bần đạo vẫn cứ từ từ, mà suy cho kỹ. Và, nguyện cầu. Nguyện, trong lặng thinh. Cầu, qua ca hát. Hát nốt những ý/từ của nhạc bản trích ở trên. Như sau:

“Môi nào hãy còn thơm, cho ta phơi cuộc tình.

Tóc nào hãy còn xanh, cho ta chút hồn nhiên

Tim nào có bình yên, ta rêu rao đời mình

Xin người hãy gọi tên.”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

Vâng. Quả có thế. Xin người (cứ) gọi tên. Tên em, hay tên anh. Tên người. Bề gì cũng là tên. Là tuổi. Của những người không đặt nặng vấn đề giới tính. Với Chúa. Với đời. Ở mọi thời.

Trần Ngọc Mười Hai

vẫn cứ nguyện và cầu

biết đâu mai ngày

Hội thánh vẫn sáng suốt. Tuyệt vời.

Trong mọi việc.

32. ”Mời người lên xe, về miền quá khứ

Mời người đem theo, toàn vẹn thương yêu.”

(Phạm Duy – Nghìn Trùng xa cách)

Col 3: 12-13

Khóc với cười, suốt một đời. Thế đó, là hành trình. Hành trình của sự sống. Sống, là luôn có hành và có trình. Di hành những nơi đâu? Trình bày và tự sự cùng ai? Với ai? Hỏi như thế, vẫn cứ là câu hỏi, để mà hỏi. Chứ, sự thật thì khi bạn và tôi, ta có đi vào với đời người, thì có ma nào buồn trả lời, trả vốn đâu. Chẳng trả gì cho câu hỏi tuy không khó ấy.

Hành trình của sự sống, nhiều lúc thấy cũng trớ trêu. Dị kỳ. Nghịch ngạo. Nghịch thường và ngược ngạo hệt như chuyện vừa mới xảy đến với bần đạo, vào ngày đi công tác với tư riêng ở trời Tây, đất Pháp. Gọi là đi Tây, nhưng bần đạo lại cứ chúi mũi vào với cuốn “Cuộc đời và lời dạy của các bậc thày miền Viễn xứ, bên trời Đông” của học giả Baird T Spalding.

Nghịch và ngạo, là thói quen vẫn có của đàn anh/đàn chị nay đi trước. Một lề thói rất quen quen, nhất thứ là khi có ai đó muốn tìm và hiểu Đạo lý vẫn cứ phải và cứ nên trở về với cội nguồn của Hội thánh là mẹ, xuất thân từ trời Tây. Chứ, ai đâu kiếm tìm “đường xưa lối cũ” của các cụ tận chốn tít mù. Lặng thinh. Im tiếng.

Chẳng thế mà, càng đi vào chốn lặng thinh im ắng, người người càng nhận ra điều mà nghệ sĩ họ Phạm từng diễn tả bằng ngôn từ, rất thi tứ:

“Đứng tiễn người vào dĩ vãng nhạt mầu

Sẽ có chẳng nhiều đớn đau

Nối gót người vào dĩ vãng nhiệm mầu

Có lũ kỷ niệm trước sau…”

(Phạm Duy – bđd)

Quá khứ. Mà, lại là “dĩ vãng nhiệm mầu”. Kỷ niệm. Mà, lại là “một lũ truớc sau”. Thì, chắc chắn, cũng chỉ gồm toàn ngững người từng di hành vào với quá khứ, rất nhạt mầu. Đâu có nhiều đớn đau. Âu sầu. Khổ não!

Ấy thế mà, người đời thường nghe thấy như có nỗi sầu vạn cổ, toàn những là:

“Vài cánh xương hoa nằm ép trong thơ

Rồi sẽ tan đi mịt mù

Vạt tóc nâu khô còn chút thơm tho

Thả gió bay đi mịt mù.”

(Phạm Duy – bđd)

Hành trình về miền viễn xứ, Đông hoặc Tây. Nam hay Bắc, sẽ không chỉ thấy “mịt mù”, để “thả gió bay đi”, mà thôi. Còn, hành trình về với nhà Đạo, vẫn có “chút thơm tho”. “Nằm ép trong thơ”. “Đợi chờ”. Ép, nơi thi ca/âm nhạc dạt dào một tìm kiếm. Kiếm và tìm cả hồn Thơ. Hồn người. Lênh láng máu. Và, hồn.

Hành trình nhà Đạo hôm nay, người đời đã và sẽ còn gặp Thầy Chí Thánh, nơi đấng bậc rất “thày”, ở nhiều nơi. Như học giả B Spalding từng gặp nơi khung trời mở ngỏ, ở xứ Ấn.

“Các bậc “thày” ở xứ Ấn vẫn chấp nhận rằng Phật là con đường dẫn đến sự rọi sáng, nhưng các vị ấy vẫn quả quyết rằng Đức Kitô đích thực LÀ sự Rọi sáng, hoặc chính sự thức tỉnh luôn soi dọi mà chúng ta kiếm tìm. Đức Kitô là chính Sự Sáng cho mỗi cá thể. Chính vì thế, Ngài là sự Sáng cho mỗi trẻ sinh ra ở thế trần.” (x. Baird T Spalding, Life and Teaching of the Maters of the Far East, DeVorss Publications Camarillo, California 1972 Vol. 1 p.7)

Hành trình nhà Đạo về với trời Đông, người đời còn bắt gặp rất nhiều thứ. Những thứ như sức sống mãnh liệt. Tuổi trẻ ưu việt. Nguồn ân sủng dồi dào cao siêu chìm trong im ắng. Để rồi sẽ lại nhịp nhàng. Siêu thoát. Bắt và gặp, là gặp như thế này:

“Êmilô nói: Đây là Đền Lặng Thinh”, là Chốn ngự trị của Quyền lực. Thinh lặng là Sức mạnh. Là, Quyền lực. Bởi, khi ta đạt chốn miền lặng thinh trong tâm hồn, là đạt đến chốn ngự trị của Quyền lực. Ở nơi đó, tất cả đều nên một. Một quyền lực – Đức Chúa. .. Quyền lực phát tán là ồn ào. Quyền lực tập trung là thinh lặng. Bằng vào tập trung (kéo về tâm), ta đem mọi sức lực của ta vào với tâm điểm của sức mạnh, khi đó ta gặp Đức Chúa trong lặng thinh. Ta kết hợp làm một trong Ngài và từ đó là một với mọi quyền uy thế lực. Đây là di sản dành để cho con người.(x. Baird Spalding, sđd t. 34)

Hành trình của nhà Đạo, có Chúa dạy bảo, còn là hành trình tìm Sự Sống, rất miên trường. Nơi nỗi chết. Như thánh sử từng ghi chép lại Lời Chúa, rất như sau:

Đức Giê-su liền phán:

"Chính Thầy là sự sống lại

và là sự sống.

Ai tin vào Thầy,

thì dù đã chết, cũng sẽ được sống.”

(Yn 11: 25)

Các đấng bậc làm thày ở Phương Đông đã nhận ra được điều Thầy Chí Thánh nói, nên đã sống. Các vị ấy còn quan niệm “Chết là bước khởi đầu của sự sống” nữa. Sự sống ấy rất hiên ngang. Miên trường. Mãnh liệt. Cứ nhìn các bậc thày đạo sư ngồi thiền, người người cứ tưởng chừng như các ngài đã và đang lịm chết, trong cõi nào đó. Nhưng thật, các ngài đang sống rất mạnh. Rất bền. Trong nỗi niềm tưởng như không còn sống cho thân xác rất đoạ đày. Rày đã chết.

Tương quan sống/chết – chết/sống là tương quan rất sống động. Thực tiễn. Mà, chỉ những ai có kinh nghiệm về một hành trình đi vào cõi chết –tức vào khởi đầu của Sự Sống- mới nhận thấy. Và, đạo sư Phương Đông đã nhận ra điều ấy, trong cuộc sống. Của chính mình.

Có sự trùng hợp nào đó giữa nhà thơ và nhà Đạo, khi nghệ sĩ ngoài đời, lại vẫn hát:

“Nghìn trùng xa cách người đã đi rồi

Còn gì đâu nữa mà giữ cho người…”

(Phạm Duy – bđd)

Quả có thế. Khi các vị thượng sư ngoài Đạo, hay con dân trong Đạo đã quyết định ra đi dần vào cõi chết để tìm đến sự sống miên trường, hãy cứ để sự việc diễn tiến như thế, như giòng nhạc đời còn diễn tả:

“Trả hết về người chuyện cũ đẹp ngời

Chuyện đôi ta buồn ít hơn vui

Lời nói, lời cười

Chuyện ngắn chuyện dài

Trả hết cho người, cho người đi

Trả hết cho ai ngày tháng êm trôi…”

(Phạm Duy – bđd)

Cứ trả đi. Trả hết cho người. Cả cho đời. Để rồi, mời bạn và mời tôi, ta đi vào cõi sáng. Dù đó có là bóng tối nhân gian cuộc đời. Một đời người. Có dối gian. Tranh chấp. Những ước vọng. Bởi, đã có một thời để sống, đủ rồi. Nay, hãy chọn thời để chết. Chết, cho tháng ngày mải sống đam mê. Ê chề. Nhiều nghiệt ngã. Vọng tưởng.

Hãy cứ tìm cõi sống-tưởng-chừng-như-đã-chết, ở đâu đó. Chốn tu trì. Thâm trầm. Thoát tục. Này đây, phương trời đời tu im ắng, chốn chiêm niệm. Là nơi, để bạn để tôi, ta cứ đầm mình trong cõi chết. Chết cho cõi lòng còn tham-sân-si, đầy mộng ước. Chết cho cuộc tình còn tiếc nuối. Chốn gian trần.

Đấy kìa Lời Vàng của Thầy Chí Thánh, vẫn hằng khuyên dân con trong Đạo, ngoài đời, còn tìm kiếm, rất sự sống:

“Còn anh, khi cầu nguyện,

hãy vào phòng, đóng cửa lại,

và cầu nguyện cùng Cha của anh,

Đấng hiện diện nơi kín đáo.

Và Cha của anh,

Đấng thấu suốt những gì kín đáo,

sẽ trả lại cho anh.”

(Mt 6: 6)

Nguyện cầu như Thầy dạy, còn là phương án đi vào sự chết. Chết rất lặng. Rất đầm mình. Trong tương quan nguyện cầu với Cha. Với Chúa. Là, đi vào sự lặng thinh. Bởi lặng thinh, không chỉ là tình đã thuận với cái chết. Chết cho mình. Cho Chúa. Nhưng, là đầm mình vào với cái chết của Đức Chúa, Đấng dạy ta chết đi cho chính mình, vì sự sống của con người. Để, các người con –là ảnh hình của Ngài- sẽ nên một với Ngài, trong cõi miên trường Sống Lại. Mãi mãi. Nơi tình thương.

Hành trình vào cõi chết, ở trời Tây hay phương Đông, không là tìm huỷ hoại chính mình, trong nỗi chết thể xác. Bởi như thế, vô hình chung, mình tự phá hủy Đền Thờ của Thánh Thần Chúa. Mà là, tìm đến những gì là thấp kém. Hiền hậu. Khiêm hạ.

Nói nôm na, thì hành trình về với trời Đông có nỗi chết, là hiểu, là biết và thực hiện điều mà thánh Phaolô tông đồ đã hơn một lần nhủ khuyên. Cảnh báo:

“Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa,

hiến thánh và yêu thương.

Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm,

nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại.

Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau,

nếu trong anh em

người này có điều gì phải trách móc người kia.

Chúa đã tha thứ cho anh em,

thì anh em cũng vậy,

anh em phải tha thứ cho nhau.

(Côl 3: 12-13)

Chính đó là cung cách của người tìm cho mình sự chết đi cho chính mình, trong lặng câm. Thâm trầm. Nghiệt ngã. Một khi đã tạo được cung cách ấy rồi, người người sẽ chẳng bao giờ còn lo lắng cho mình sẽ phải làm gì cho xứng đáng. Sẽ không lo ăn làm sao, nói làm sao, trước những đòi hỏi táo bạo của Thầy Chí Thánh.

Hiểu được như thế, ta lại sẽ cùng người nghệ sĩ ở ngoài đời, tiếp tục hát:

“Nghìn trùng xa cách người đã đi rồi

Còn gì đâu nữa mà giữ cho người…”

(Phạm Duy – bđd)

Còn gì đâu nữa mà giữ cả cho mình. Bởi lẽ, mình có là gì đâu trước tình yêu bao la của Đức Chúa. Có giữ chăng, chỉ nên giữ mỗi điều này, là niềm vui. Cho mình. Cho mọi người. Như truyện kể khá vui ở bên dưới, để cho vui.

“Truyện kể rằng,

Gia đình người Việt ở quê nhà, có thói quen coi mặt đặt tên cho con, rất cắc cớ. Ngay khi con cái chào đời, hễ đứa nào mặt buồn rười rượi, ông bà đặt cho cháu cái tên, rất buồn, là thằng Buồn. Hễ con bé trông vui vui, ông bà lại đặt tên cho cháu là Vui. Vui hay Buồn, cháu nào cũng gặp chuyện vui buồn tréo cẳng ngỗng, rất như sau. Cháu Buồn, gặp lúc lớn đến trường học, cứ bị bạn bè thầy cô gọi lại mà bảo: Buồn ơi chào mi. Rất nhiều khi.

Còn cháu Vui, mắc phải bệnh quái ác, trời không cho sống giai sống khoẻ. Khiến bố mẹ đau xót, cứ tức tưởi mà khóc, mà la, những câu than vãn rất đứt ruột:

-Ối giời ơi. Vui ơi là Vui… sao con tên Vui mà chẳng làm bố mẹ vui. Ấy Vui ơi là Vui.

Vui buồn cuộc đời nhiều lúc cũng trớ trêu. Nghịch ngạo. Rất nên phiếm. Tuy nhiên, hôm nay phiếm đã dài. Bần đạo những muốn nhường lời cho người nghệ sĩ hát lời cuối, rất nên thơ. Như lời thơ rất nhạc:

“Trả hết cho người, cho người đi

Trả hết cho ai cả những chua cay

Ngày chia tay, lặng lẽ mưa rơi

Một tiếng thương ôi, gửi đến cho người

Trả nốt đôi môi gượng cười

Nghìn trùng xa cách đời đứt ngang rồi

Còn lời trăn trối gửi đến cho người…

Nghìn trùng xa cách người cuối chân trời

Đường dài hạnh phúc, cầu chúc cho người.

(Phạm duy – bđd)

Quả là thế. Có trả cho người, cũng đừng trả những chua cay. Chia tay. Rất lặng lẽ. Trái lại, hãy cứ gửi đến cho người, ở cuối chân trời lời cầu chúc rất hạnh phúc. Sướng vui. Một cuộc đời.

Trần Ngọc Mười Hai

Nghĩ về đời người

nhiều lúc vẫn thấy vui.

Vui với người.

Với mình.

Để mọi người được vui.

33. “Anh hát cho em bài tình ca thiết tha”
Anh hát cho em dù lòng nghe xót xa
Một lần gặp gỡ đã là bao thương nhớ
Thương dáng em cười nhớ nụ mắt bờ môi”

(Ngô Thụy Miên – Bài Tình Ca Cho Em)

(Rm 1: 10)

Hát cho em. Hát bài nào, mà chẳng được. Bài nào, thì lời lẽ/ý từ vẫn cứ là bài tình ca, rất thiết tha. Cho Em. Và, cho Anh. Bởi, có ca hay có hát, vẫn là hát/là ca, một bài tình. Tình tự. Ý tứ. Vẫn là tình ý, của đôi ta. Những người vẫn sống Đạo. Trong đời.

Hát cho em, là hát những lời lẽ, rất đậm đà từ muôn trước. Thuở có em và có anh, cứ nhớ thương/thương nhớ, suốt bốn mùa, như nghệ sĩ họ Ngô từng gợi ý, rất như sau:

“Anh nhớ năm xưa mùa xuân em đến thăm

Em nói yêu anh rồi tình qua rất nhanh

Một ngày chợt đến bỗng tình như đã lỡ

Một ngày chợt đến bỗng đời như tan vỡ.”

(Ngô Thụy Miên – bđd)

Đời vỡ tan, chẳng vì mùa xuân chợt đến. Rất nhanh. Rành rành, một thứ tình. Tình lỡ. Vỡ tan, chẳng vì đời mình có tình có tiết, rất đêm đông. Giá lạnh. Và, nghệ sĩ nhà mình lại cứ hát tiếp:

“Ai đã yêu em những đêm buồn giá lạnh

Và ai âu yếm hát những lời thiết tha trìu mến

Ai đã nâng niu đón đưa ngày tháng dài

Giờ đâu còn nữa ngày vui đã hết tình ta đã chết.”

(Ngô Thụy Miên – bđd)

Thật ra, nghệ sĩ nhà mình dù có “nâng niu, đón ngày tháng dài”. Hoặc, “âu yếm, lời thiết tha”, đi nữa. Cuối cùng thì, người cũng như tôi, ta vẫn hát. Hát cho Em. Cho Anh. Lời cung chúc, như sau:

“Anh chúc cho em đời yên vui đắm say

Anh chúc cho em dù lòng nghe đắng cay

Một ngày nào đó dẫu tình ta đã lỡ

Một ngày nào đó ta vẫn yêu mãi người thôi…”

(Ngô Thụy Miên – bđd)

Nói cho cùng, người đời thời nay hay nhà Đạo mình dù tình tự có lỡ dở/vỡ tan, ta cứ hát lời tụng chúc, râm ran nhiều ý. Những hoan ca, bình ca. Rất thánh, như dạo nào. Bởi, những gì bạn và tôi, ta hát bản nhạc “tình” rất nghe quen, ở nhà thờ. Là, thánh nhạc/nhạc thánh. Tức, nhạc của chư thánh nhà Đạo, vẫn là giòng nhạc an lành, nên cổ võ. Nói, là nói thế, chứ hẳn bạn cũng như tôi, ta đang có trong đầu rất nhiều ý/từ, hầu đâu kết thành nhạc bản, có lời ca/ý nhạc, rất cho Em. Cho Hội thánh. Cho, các thánh nhân trong Đạo. Cũng vui tươi, như dạo trước.

Vui tươi chứ không thẫn thờ/thờ ơ/lơ mơ như các “cụ” nhà mình vẫn phẩm bình. Linh tinh. Nói nôm na chẳng qua nói thật, thì: từ lâu, ta vẫn quan niệm “hát là nguyện cầu những hai lần”. Nguyện cầu rất chuyên chăm. Thầm thĩ, nhưng không Rầu rĩ. Như nhân sĩ nhà Đạo hôm đó dám lân la đến gần mà hỏi trước những câu sâu sắc. Đậm đặc.

Và hôm nay, nhân sĩ nhà Đạo lại cũng hỏi đôi câu không lan man nhiều chiều kích. Nên, bần đạo lại mời bầu bạn/anh em mình thử xét xem có nên để hồn linh thiêng không bối rối. Ưu tư. Nguyện cầu. Như câu hỏi mà đấng bậc rất giỏi ở Sydney, từng đối đáp rất chuẩn, như sau:

“Tôi có thói quen nguyện cầu, chuyên chăm. Xuyên suốt. Nhưng vừa rồi, tôi lại cứ bận tâm mãi một thắc mắc, là: sao mỗi lần cầu nguyện hăng say như thế, tôi cứ để đầu óc, trí tuệ đi đâu đó chốn ưu tư. Mộng tưởng. Dễ đi lạc. Đến độ, tôi tự hỏi: ta có nên nguyện cầu trong tư thế, dễ lo ra như thế không? Hôm nay, câu hỏi của tôi, là: cầu nguyện theo cách ấy, có đúng phép? Nếu không, ta nên làm gì để điều chỉnh cung cách nguyện cầu cho phải lẽ? Tôi xin ghi ơn, nếu ngài ban phát cho lời giải thích. Thật là cảm kích. (Một bổn đạo dễ thương chỉ biết hỏi, mà không dám ký tên)

Thật ra thì, câu hỏi nào cũng cần lời đáp hết. Và, câu hỏi ở trên nay được chuyển đến đấng bậc vị vọng rất chuyên gia, thuộc huyện nhà Sydney, đức ngài linh mục John Flader, như sau:

“Trước nhất, tôi muốn nói với chị/với anh là: anh/chị không phải là người đầu tiên/duy nhất đặt câu trên, tôi vẫn gặp. Cầu nguyện, có sốt sắng nhưng vẫn lo ra/chia trí là cung cách mọi người đều đã gặp.

Hẳn, anh chị cũng như tôi, ta đều nghe kể về truyện thánh Bê-Na-Đô, có lần cưỡi ngựa về quê thăm dân cho biết sự tình, lại gặp ngay anh nông gia nọ chuyện trò hỏi han về cách thức nguyện cầu. Nông gia dám quả quyết là: ông cầu nguyện rất nhiều, mà chẳng bao giờ bị lo ra, chia trí hết. Thánh Bê-Na-Đô nghe vậy, bèn nói: “Vẫn biết là bạn nghĩ sao nói vậy, nhưng tôi đây vẫn đoan chắc một điều này: có là thánh nhân đi nữa, ai cũng lo ra chia trí, khi nguyện cầu. Làm sao tránh khỏi chuyện ấy!” Nghe vậy, nông gia cương quyết bảo: chẳng khi nào tôi lại đổ đốn đến thế.

Liền ngay đó, thánh Bê-Na-Đô bèn đưa ra một đề nghị: “Này bạn, nếu anh đọc kinh Lạy Cha mà không lo ra chút nào, thì tôi đây sẽ tặng anh con ngựa này.” Nghe ông thánh nói, nông gia bèn chấp nhận ngay. Tức thì đọc kinh thầm thĩ. Đọc được có vài câu thôi, anh lại hỏi: “Ấy nhưng mà, ngài có tặng tôi cả cái yên ngựa, nữa đấy chứ?”

Chẳng cần tra cứu coi xem truyện kể trên hư thực/thực hư ra sao, mọi sự đã rõ: thánh Bê-Na-Đô quả quyết: ta chẳng thể nào thoát khỏi chuyện phân tâm/chia trí, hết.

Điều quan trọng, là: ta cần phân biệt trạng thái phân tâm có chủ đích hoặc bất đắc dĩ hay không, thế thôi. Phân tâm bất đắc dĩ, là có ý bảo rằng: việc xảy đến ngoài ý muốn, của mọi người. Phân tâm/chia trí là trạng thái thấy có tư tưởng nào đó chợt đến trong trí óc mình. Nó đến, cả khi ta nguyện cầu, dâng lễ hoặc tham dự nghi thức, rất đạo đức. Không thể tránh được những sự việc như thế. Dù nó xảy đến với ta đi nữa, việc ấy cũng đâu là tội theo nghĩa đạo đức. Luân lý.

Cố ý phân tâm/chia trí, là chuyện khác. Việc này, do ta chấp thuận để nó ngự trị trong ta hoặc do ta tìm đến. Tức: chọn lựa để suy tư nhận thức, khi nó đến. Cố ý phân tâm, là quyết tâm làm việc gì đó sai trái, chống lại luân lý/đạo đức. Nhất thứ, chuyện ấycốt là để xa rời tương quan ta có, với Chúa.

Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo đề nghị giúp ta giải quyết chuyện phân tâm/chia trí như sau: “Khởi sự làm sao để ta đánh gục việc chia trí, hầu không rơi vào bẫy cạm của nó. Tức, cần thiết là quay lưng lại tâm can của mình. Bởi, phân tâm/chia trí cho thấy những gì ta có xu hướng dễ bị cuốn hút. Và, khiêm tốn mà cảnh giác trước mặt Chúa để đánh thức lòng mình biết yêu Ngài và có như thế mới giúp mình cương quyết dâng lên Ngài trọn vẹn tâm can đã thanh lọc của ta. Ở đó, luôn phấn đấu/chọn lựa người làm chủ ngõ hầu giúp ta biết mà phục vụ.” GLHTCG 2729)

Cụm từ “Đánh gục mọi chia trí”, có nghĩa là tập trung tư tưởng lên đó, rồi phân tách xem tại sao những thứ đó lại có? Khi nó xuất hiện như thế, có phải vì ta đã làm việc gì sai trái, không? Hoặc, ta còn yếu kém, sao đó? Đây là tình trạng không lành mạnh, dễ đưa ta vào “bẫy cạm của thử thách” bởi khi đó, đầu óc ta đang tập trung vào những chuyện khiến ta phân tâm/chia trí thay vì hướng đầu óc về với Chúa, thôi. Câu trả lời đơn giản là cố tạo cho ta khoảnh khắc ngắn trong hành xử, để rồi nó sẽ đưa ta trở về với trọng tâm chủ đề, mình nguyện cầu.

Như sách Giáo Lý Hội thánh từng khuyên dạy, phân tâm/chia trí có đó là để xem tâm can ta đang hướng về chuyện gì. Đề cao cảnh giác, ngõ hầu tỏ cho ta thấy rằng mình thường hay dính bén đến những sự/việc trần thế, thay vì tập trung vào Chúa. Chuyện ra như thế, đơn giản để đem ta về với hành xử có chút buồn sầu, để rồi ta sẽ quyết tâm tập trung thương yêu Chúa. Quyết dâng lên Ngài trọn tâm can, để con tim chân chính đã thanh lọc của ta sẽ không còn dính bén vào những sự việc như thế.

Một cách nữa để giúp ta tránh được chuyện phân tâm/chia trí là hãy ngừng một chút trước khi bắt đầu nguyện cầu. Làm như thế, để mình khiêm nhượng cầu Chúa giúp mình tập trung chuyện trò với Ngài, bằng cả con tim, trí óc giúp mình trọn vẹn chỉ hướng về Ngài, mà thôi.

Nếu nguyện cầu bằng tâm tưởng, hoặc nói chuyện với Chúa bằng ngôn từ riêng tư, có lẽ cũng nên dùng kinh/sách nào đó hầu tập trung trí óc vào một chủ đề nguyện cầu. Thánh nữ Têrêxa thành Avila từng nói: Bà làm việc này suốt 18 năm trường khi thấy linh đạo của mình khô khan, khó tập trung.

Thánh nữ có lần viết: “Vào những năm như thế, ngoại trừ khi rước lễ, chẳng khi nào tôi dám nguyện cầu mà lại không cần đến kinh/sách. Tôi vẫn sợ, là mình sẽ dấn sâu vào chuyện nguyện cầu mà không có cách gì giúp mình chống chọi cả một lô kẻ thù. Kinh/sách, là bạn đồng hành như khiên/mộc giúp tôi tránh những cú đập/đánh của các tư tưởng đang nổ bùng. Làm như thế, tôi thấy mình được ủi an. Thư giãn.” (x. Sự Sống, 4)

Điều hệ trọng, là: hãy bền đỗ trong động thái nguyện cầu. Nguyện và cầu, cả khi mình bị chia trí. Thánh AnPhongsô Đệ Ligôri có viết trong cuốn “Khảo Luận Nguyện Cầu”, rằng: “Nếu bạn thấy mình bị phân tâm/chia trí khi nguyện cầu, thì hãy biết cho rằng lời nguyện cầu của bạn cũng đã làm cho ác thần/sự dữ phải phiền lòng, không ít”.

Thành thử, để trả lời cho những ai quả quyết rằng mình chẳng bao giờ biết lần chuỗi Mân Côi vì không thể cầm lòng cầm trí được lâu giờ, vẫn luôn luôn chia trí, Chân Phước Giáo Hoàng Gioan 23 có nói: “Chuỗi Mân Côi tệ nhất là chuỗi tràng mà chẳng ai buồn cầu nguyện bằng chuỗi kinh như thế.” (x. Lm John Flader, The Catholic Weekly ngày 19/9/2010, tr. 16)

Nói theo kiểu bài bản, rất đạo mạo như “nhà Đạo”, thì như thế. Nói trong tư thế, của “người thường ở huyện”, có lẽ cũng nên chọn cung cách nào đó dễ thích hợp. Thích và hợp, với lòng người vẫn là chuyện quan trọng. Lòng người, là lòng của người dân đen lèn quèn, không kiểu cách. Như bần đạo, rất bần và không mấy đạo đức. Tức, bầy tôi rất lôi thôi, đang ngồi viết. Ở đây. Lúc này.

Hỏi rằng: nên chọn kiểu cách nào dễ thích nghi/thích hợp với lòng mình hơn cả, có lẽ bần đạo sẽ chọn kiểu và cách của “phó thường dân Đông bộ”, rất Đông phương. Chọn thế, có nghĩa: khi nguyện và cầu, ta cũng nên nguyện chứ đừng cầu. Tức, đừng quá chú trọng đến các chữ “cầu” như: trong “cầu xin”, “cầu cạnh”, “cầu khẩn”, hoặc “cầu cứu”. Cũng đừng “cầu kinh” ê a suốt ngày/nhiều buổi, để đạt cho bằng được điều gì khiến mình toại ý sở nguyện, giống như lời chúc của các cụ nhà ta vào dịp Tết Nguyên Đán. Sinh nhật. Bổn mạng.

Đừng “cầu”, mà chỉ “nguyện”, tức: chỉ mong đạt “ý sở cầu”. Mong thuận ý Chúa. Để rồi ý của Ngài thành hiện thực. Mong, là mong sao dân con Đạo Chúa luôn hiệp thông/hiệp ý và hiệp lòng mà yêu nhau, như người nhà. Như thế, đã mãn nguyện. Như thế, đã mãn một ý nguyện từ Chúa và từ các người con rất lành và rất thánh, của Chúa.

Về nguyện cầu, mỗi người theo mỗi cách. Có cách của người già/người trẻ, lớn/bé, gái/trai. Có kiểu Đông/Tây, rất khác biệt. Có người tìm đến Thánh Thể ở Nhà Tạm, để nguyện cầu. Có người tìm chốn tịch liêu/im ắng, lặng thinh. Có vị, tìm vào lời ca hài hoà cùng thần thánh trên trời/dưới đất. Kiểu này hay cách nọ, đều diễn tả một điều, là: thể hiện tình thương yêu Chúa dặn dò, hôm Tạ Từ. Kiểu nào cũng hay. Cách nào cũng tốt. Miễn thực hiện điều Chúa muốn. Chúa dặn, đều rất đặng.

Nói cho cùng, nguyện cầu là sống và làm như thánh nhân hàng đầu Hội thánh, đà chứng xác:

“Tôi hằng nhớ đến anh em mỗi khi cầu nguyện,

xin được thuận buồm xuôi gió

-nếu là thánh ý Chúa- mà đến với anh em

những mong cùng ước được giáp mặt anh em

ngõ hầu cùng anh em chia sẻ ơn thần

làm anh em thêm phấn chấn vững vàng,

nghĩa là để ta chia sẻ niềm ủi an

do cùng một lòng tin,

nơi anh em cũng như nơi tôi.”

(Rô 1: 10-12)

Xem như thế, thì cùng nhau ta sẻ san “ơn thần thánh”, cho phấn chấn. Sẻ và san niềm ủi an, do cùng lòng tin ta vẫn có, với nhau. Đó, mới đích thực là động thái hiệp thông trong tương quan ta có với nhau. Với Chúa.

Nguyện cầu như thế, là để Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu, mãi mãi hiện hiện với ta. Và với người. Ở đời này vào những ngày rất thánh thiêng. Linh đạo.

Trần Ngọc Mười Hai

vẫn cứ cầu và cứ nguyện.

Để, người anh người chị trong Hội thánh

mãi luôn được như thế.

34. “Đôi khi anh muốn tin,”

đôi khi anh muốn tin,

ngoài đời chỉ còn trời sao đáng kể,

mà bên vì sao lấp lánh đôi mắt em…”
(Cung Tiến/Thanh Tâm Tuyền – Lệ Đá Xanh)

Lc 8: 11-13

Có câu hỏi, đá xanh mà cũng lanh chanh đổ lệ, huống chi con người và, người con của Trời?

Ấy đó, là câu hỏi mà bần đạo vẫn để bụng, quyết mang theo. Mang theo rồi sẽ hỏi, rất nhiều người. Hỏi, cả hướng dẫn viên du lịch Do Thái mang tên John, từng có 42 năm kinh nghiệm về những đá và sỏi ở Giêrusalem. Vào hôm ấy, ngày đầu niên lịch 2009, ông lại cứ bảo: Do thái và nhất là Giêrusalem này, toàn những đá và đá. Nghe thấy lạ, bần đạo bèn phát biểu: biết đâu, sau này, đá ở đây lại quý hơn vàng ròng, ngọc quý, cũng rất nên.

Hôm nay hỏi và nói về đá, là hỏi và nói những câu rất ngấn lệ. Hỏi và nói, như từng nói và hỏi bà con vào buổi “Hát cho nhau nghe” với chủ đề “Tìm Chút Hương Yêu”. Độ tháng 6 năm 2010 hôm ấy, có bạn trẻ từng hỏi và đã nói về hai bài hát trình bày trong đêm nhạc là bài “Lệ Đá Xanh” của Cung Tiến và “Nửa Hồn Thương Đau” của Phạm Đình Chương, rất như sau:

“Về đá xanh, nhiều nhạc sĩ từng gợi hứng từ bài thơ tự do của Thanh Tâm Tuyền trước nhất có nhạc sĩ Cung Tiến phổ nhạc có đầu đề là “Lệ Đá Xanh”, gửi tặng Phạm Đình Chương. Rồi Phạm Đình Chương đáp lễ bằng bài “Nửa Hồn Thương Đau”. Sau đó, người viết nhạc là Trần Trịnh cho ra bài ca mang tên “Lệ Đá”, và Trịnh Công Sơn với bài “Tuổi Đá Buồn”. Riêng Phạm Duy lại cảm kích lời thơ đầy “sữa mật” đã cho ra bản tình ca đầy những sữa có tên là “Dạ Lai Hương”. Ở nhà Đạo, ta có Đoàn Vi Hạ, với bài “Bờ Đá Xanh Tạ Tội”… Tóm lại, “lệ đá” hay “đá ngấn lệ’ lâu nay trở thành đề tài cho thi nhân, nhạc sĩ cất lên những thanh âm của tình yêu, rất da diết…”

Thanh âm da diết và diết da, còn là âm thanh đượm đầy những lệ của đá, như sau:

“Đôi khi anh vẫn tin, đôi khi anh vẫn tin,

Ngoài đời thơm thơm, cỏ hoa ươm hương dịu hiền,

mà bên trái cây ngọt ngào đôi môi em,…

nguồn sữa mật khởi đầu.”

(Cung Tiến/Thanh Tâm Tuyền – bđd)

Cũng từ bài thơ của Thanh Tâm Tuyền, nghệ sĩ Phạm Quang Tuấn, lại viết khác. Vẫn rất hay:

“Anh muốn tin,

ngoài đời thơm phức

những trái cây của Thượng Đế

mà bên những trái cây ngọt ngào

những trái cây ngọt ngào…”

(Phạm Quang Tuấn/Thanh Tâm Tuyền – Lệ Đá Xanh)

Phải chăng, trái cây ngọt ngào thơm phức “của Thượng Đế ở đây, không là “đôi môi em”, hay “miệng lưỡi” của anh nữa. Mà là “nguồn sữa mật khởi đầu”, âu sầu giòng lệ đá, vẫn rất xanh? Thật ra thì, “sữa mật” đầy nguồn còn là Lời Vàng của Thượng Đế nhân gian vẫn nói ở Kinh Sách:

“Đây là ý nghĩa dụ ngôn:

Hạt giống là lời Thiên Chúa.

Những kẻ ở bên vệ đường

là những kẻ đã nghe

nhưng rồi quỷ đến cất Lời ra khỏi lòng họ,

kẻo họ tin mà được cứu độ.

Còn những kẻ ở trên đá

là những kẻ khi nghe thì vui vẻ tiếp nhận Lời,

nhưng họ không có rễ.

Họ tin nhất thời,

và khi gặp thử thách,

họ bỏ cuộc.”

(Lc 8: 11-13)

Về tin để được cứu độ, nói nôm na như câu ca ở giòng nhạc “Đôi khi anh muốn tin”, rất nhất thời, lại có tác giả người Hoa, con rể cố Chủ tịch Trung Quốc Lý Tiên Niệm, giáo sư thỉnh giảng đại học Stanford ở Mỹ, cũng có bàn về niềm tin văn hoá lâu nay được người người coi là “sắt đá”, đã trần tình về niềm tin văn hoá sử Đông/Tây như sau:

“Lịch sử phương Tây là một bộ sử sửa cái xấu, cái sai thành cái tốt, cái đúng. Lịch sử Trung Quốc thì là một bộ sử sửa cái tốt/cái đúng thành cái xấu/cái sai. Thời cổ, phương Tây cái gì cũng cấm, chỉ có điều không cấm bản năng con người. Trung Quốc cái gì cũng không cấm, riêng bản năng thì cấm.

Người phương Tây dám thể hiện bản thân, tức thể hiện tư tưởng mình và còn dám phô bầy thân xác loã lồ của mình. Trung Quốc chỉ biết mặc quần áo, mặc quần áo cho tư tưởng. Mặc, bao giờ cũng dễ hơn cởi. Phương Tây đả kích mặt đen tối của mình, cho nên tìm được ánh sáng tư tưởng của họ đang bay bổng. Chúng ta ca ngợi sự sáng của mình, kết quả đem lại bóng tối nghìn năm…”(X. Liu Ya-zhou, Trung Quốc Bàn về niềm tin và đạo đức, Nguyễn Hải Hoành giới thiệu và lược dịch, trích từ bài nói chuyện của ông hôm 11/9/2002 ở Vân Nam)

Tin hay không tin, về văn hoá sử rất sắt đá, hay chỉ là “Đôi khi anh muốn tin”, “những trái cây của Thượng Đế”, vẫn còn đó lời kể của thánh sử, như sau:

“Còn Thầy,

Thầy bảo cho anh biết:

anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá,

trên tảng đá này,

Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy,

và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi.”

(Mt 16: 18)

Có một sự kiện, là: buổi hôm ấy nhiều người tìm về Castagniers, Pháp Quốc, cũng đã tìm về sự lặng thinh của đất đá trên núi đá, đã phát giác ra được sự thật do thánh nhân ngoài đời/trong Đạo, cũng rất bạo và dạn, như sau:

“Như tôi đã nói trước đây, tôi tuyệt đối tin rằng sự đa dạng của các truyền thống tôn giáo hiện nay là quý giá và thích đáng. Theo kinh nghiệm của riêng tôi, tất cả các truyền thống tôn giáo lớn của thế giới nói một thứ ngôn ngữ và gửi đến một thông điệp chung mà chúng ta có thể dựa vào để xây dựng một sự hoà thuận nhau thật sự.” (X. Le Dalai Lama parle de Jésus, Editions Brepols Paris 1996, Vĩnh An dịch Thiện Tri Thức in năm 2003, tr. 26)

Thông điệp về sự hoà thuận mà thánh-nhân-ngoài Đạo nói đến, vẫn ghi lại lời lẽ đẹp như sau:

“Chúng ta hãy lấy một ví dụ như sự tham thiền về tình yêu và lòng thương xót trong bối cảnh Kitô-giáo. Khi tham thiền theo phân tích, chúng ta đi theo những hướng tư duy đặc biệt như: để thật sự yêu Thiên Chúa, cần phải thể hiện tình yêu ấy bằng hành động yêu thương chân thật anh em nhân loại của ḿnh. Người ta cũng có thể suy nghĩ về cuộc đời và gương sáng của Đức Giêsu Kitô trong bản thân Ngài, Ngài đã sống và hoạt động như thế nào để đem lại lợi ích cho chúng sinh, và các hành động của Ngài đã minh hoạ một phong cách sống tràn đầy lòng thương xót.”(Đức ĐạtLai LạtMa, sđd t.27)

Xem như thế, những lời và lẽ như “Đôi khi anh muốn tin”, hoặc “Bờ Đá Xanh Tạ Từ” ở các bài hát, vẫn là những tình tự về lòng thương xót. Tình yêu. Sự thật. Những sự rất thật, mà thánh-nhân-ngoài-Đạo, là Đức Đạt Lai Lạt Ma, thêm một lần xác tín, rất như sau:

“Nhờ có những suy tư đó, các bạn ngày càng xác tín vào sự quan trọng và giá trị của lòng thương xót và khoan dung. Một khi đã đạt tới niềm xác tín tuyệt đối về giá trị và sự thiết yếu của lòng thương xót và khoan dung, các bạn sẽ có cảm giác được xúc cảm và biến đổi từ bên trong.” (x. Đức ĐạtLai ĐạtMa, sđd t. 28)

Và bậc thánh-nhân, lại quả quyết:

“Khi đọc đoạn Matthêô 5, 38-42, tôi thấy Phúc Âm đặt nặng sự thực hành lòng khoan dung và đề cao tình cảm vô tư, không thiên vị đối với mọi tạo vật. Theo ý kiến của tôi, để triển khai năng lực khoan dung đối với mọi người, và đặc biệt với một kẻ thù, điều kiện quan trọng tiên quyết là tiếp nhận mọi người với tính bình đẳng. Nếu người ta nói với bạn rằng không nên thù nghịch kẻ thù mà phải yêu mến hắn, chỉ khẳng định như thế sẽ không khuyến khích các bạn thay đổi. Đối với mỗi người chúng ta, cảm thấy sự thù nghịch đối với những người làm khổ bạn và có cảm tình với những người yêu thương bạn là hoàn toàn tự nhiên. Đây là tình cảm tự nhiên của con người. Vậy, chúng ta phải sử dụng các kỹ thuật hiệu quả để giúp chúng ta vượt qua từ sự thiên vị nội tại trong bản tính, đến một tình trạng bình đẳng cao nhất.” (x. Đức ĐạtLai LạtMa, sđd t. 32)

Cuối cùng thì, đá tảng có nhỏ lệ, mầu rất xanh hoặc như lời của người viết nhạc họ Trịnh có đặt tên gọi cho nhạc bản của mình là “Tuổi Đá Buồn” đi chăng nữa, thì tuổi buồn như đá, vẫn là tuổi già hay trẻ, có biết dựng xây căn nhà “yêu thương” của mình hay của người, ở trên đá không? Nếu có thì anh, thì em sẽ cùng với người viết nhạc Phạm Quang Tuấn hát tiếp lời ca cuối, có những câu:

“Anh muốn tin

Ngoài đời đầy cỏ hoa tinh khiết

Quyến rũ cánh tay em

Vòng ân ái

Quyến rũ cánh tay em

Vòng ân ái

Trong tay em…

Trong tay em…”

(Phạm Quang Tuấn/Thanh Tâm Tuyền – bđd)

Vòng ân ái, có là nỗi niềm ái ân, của người thân hay khác lạ, ở ngoài đời vẫn ngấn lệ đi chăng nữa, hãy cứ hát lên một lời cuối cho em. Và cho anh. Như sau:

“Đôi khi anh muốn tin

Ôi những người khóc lẻ loi

Lệ là những viên đá xanh

Lệ là những viên đá xanh…”

(Phạm Quang Tuấn/Thanh Tâm Tuyền – bđd)

Vâng. Đá rất xanh. Có nhỏ lệ, nhiều hay ít, cũng còn tùy. Tùy anh. Tùy em. Tùy mọi người có tin rằng đá tảng mà Chúa đặt tên cho Simôn Phêrô, để xây dựng Hội thánh lên trên đó, chính là Tình Yêu. Của Ngài. Của muôn người.

Trần Ngọc Mười Hai

Đã biết thôi không nhỏ nữa.

Những giòng lệ cho đá.

Vẫn rất xanh.

35. “Chiều nay, mình lang thang trên phố dài”

Không có em, ai chung bước dỗi nhau giận hờn.”
(Ngô Thụy Miên – Chiều Nay Không Có Em)

Kn 1: 28

Lời trần tình ở trên, vẫn cứ thế. Thật không dễ. Bởi, không có em, thì mình sẽ “lang thang, trên phố dài”, cả đời người. Dễ mất vui. Và, đời anh. Đời em. Đời người. Sẽ “chung bước dỗi nhau giận hờn”. Giận hết biết. Hờn, khôn nguôi. Giận và hờn, bởi: “em” là người thể hiện tình thương gửi đến muôn người. Và bởi, “em” vẫn chưa được làm chủ thể, để người người ới gọi. Rong chơi. Thoả thích.

Không có “em”, thì người nghệ sĩ vẫn thấy “đời mình, sao vắng vui cuộc tình”. Tình của nhiều đứa, chứ đâu hai người. Không có “em”, hiểu theo nghĩa bản-thể-chưa-thành-hồn. Cũng chưa linh. Và như thế, tình người. Ở đời. Cứ thế mà im ắng. “Vắng vui”. Vắng cuộc tình”. Vắng nhiều thứ nữa. Chí ít, là tình mẫu tử. Cha con. Cộng đoàn. Rất hân hoan. Bởi, thiếu “em” là thiếu đủ mọi thứ. Thiếu tình. Thiếu đời. Nên cũng khó. Càng khó hơn, khi chợt nhớ Lời Giavê Chúa cảnh báo:

Hãy sinh sôi nảy nở

cho dẫy đầy mặt đất,

và bá chủ địa cầu.”

(Kn 1: 28)

Cái khó hôm nay, không chỉ bá chủ điạ cầu, mà thôi đâu. Còn, như người nghệ sĩ, vẫn cứ hát:

“Không có em,

một mình, ta với ta ngày dài,

thôi chóng qua, tuổi hoang trôi vai gầy.”

(Ngô Thụy Miên – bđd)

Hôm nay, ngồi suy tư chuyện thiếu vắng tình người. Vắng, cả bóng hình của người “em” không được mặc thân xác, sống làm người. Để, hiện hữu với đời, là thiếu vắng rất lớn. Lớn nhất đời.

Hôm nay và mai ngày, ngồi buồn nghĩ lại mới thấy đời người đều có ước. Và, có mơ. Mơ ước rồi, để còn xin. Xin cho “tình yêu hãy lên ngôi”. Thứ tình, mà nhiều người vẫn “dấm dẳng” cứ nhận chìm. Để rồi, bé em sẽ không bật được tiếng khóc, rất chào đời. Để rồi, người nghệ sĩ, lại có thêm lời hát, rất oán, Rất thán. Suốt một đời:

“Không có em,

còn ai thương lá thu bay.

Còn ai vương vấn cơn say.

Đời gian dối, cô đơn mình ta.”

(Ngô Thụy Miên – bđd)

Không có em, chẳng ai “thương lá thu bay”, chuyện đã đành. Không có “em”, chẳng ai là không thấy: “đời dối gian”. Cô đơn mình ta”. Và khi cô đơn, người người sẽ cứ gặp cơn say. Mai ngày. Nghiệt ngã. Nghiệt và ngã, là bởi từ ngày “không có em”, mây chẳng buồn bay. Mắt nai thiên thần, không buồn nuối tiếc. Khát khao. Đợi chờ. Và từ đó. Đời anh. Đời tôi. Sẽ ra vô nghĩa. Và, từ nay, địa cầu sẽ không có ai làm bá chủ. Thống trị. Nước Trời, sẽ không có người quản lý. Vũ trụ, cứ thế quay cuồng. Bần thần. Nhung nhớ.

Hôm nay đây, ngồi buồn mình chợt nhớ. Nhớ rất nhiều. Nhiều nhất, là: từ ngày con người bất tuân Lời Chúa, Đấng Tạo Thành trời đất, tự khắc sẽ không còn đất đứng. Để bá chủ. Nên, đã quay cuồng. Với tâm linh. Tình tự, rất suy tư. Suy tư và quyết định. Để rồi, quần thần nơi nơi nay xao xuyến. Xốn xang. Như độc giả nọ ở Sydney từng thắc mắc. Hỏi han. Rất như sau:

“Nếu biết rằng, số thai phôi đông lạnh ở đâu đó, chẳng có người đến nhận hoặc lấy đi. Thì thử hỏi, là phụ nữ vẫn ao ước có con còn nhỏ để chăm nom và dưỡng dục. Những người như thế, có được phép “tiếp nhận làm của mình” một bào thai, mà đặt cài vào cung lòng mình, hầu cứu vớt. San sẻ tình thương yêu, chăng?”

Phải công nhận, là: thắc mắc/hỏi han thường mang tính luân lý/đạo đức. Cũng rất Đạo. Thường là hỏi và han về luật pháp/án lệ ở nhà Đạo. Hỏi rằng: Hội thánh có cho phép ta được làm những chuyện như thế? Nếu không, ta hiểu thế nào chuyện “Bảo Vệ Sự Sống”, rất thai phôi? Trứng nước. Thai phôi, có là người. Rất tính người? Hỏi, là hỏi thế. Chứ, câu trả lời, vẫn nên để cho đấng bậc đức thầy chuyên môn. Bài bản. Sáng suốt, mà trả lời. Bởi, đức ngài vốn giòng hào kiệt, rất John Flader đấng bậc linh mục thuộc trường phái Opus Dei ở Sydney, triệu năm văn vật. Như sau:

“Về chuyện này, có nhiều quan điểm/lập trường, cũng khác biệt. Nhưng thôi, xin cho tôi được phép đưa ra đây, một đáp giải có chú thích, chút ít, về đường hướng lấy bối cảnh Hội thánh làm nền.

Lý do, như bạn biết, tại sao người người hôm nay có cả trăm ngàn thai phôi đang được trữ lạnh ở khắp mọi miền trên thế giới, qua tiến trình thụ thai trong ống nghiệm “IVF”? Bởi thế nên, các thai phôi nay được nhân bản. Sản xuất. Cũng rất nhiều. Và, thai phôi nào chưa được cài đặt đem vào cung lòng của các vị-chuẩn-bị-làm-mẹ để thành thân và thành nhân, đôi lúc vẫn được cất giữ vào chỗ đông lạnh; để rồi, trong tương lai mai ngày, ai đó sẽ tìm cách biến nó thành thai nhi. Thật cũng dễ.

Giả như tiến trình thụ thai IVF đạt kết quả. Khả quan. Và, người mẹ sẽ sinh hạ được quý tử, không muốn trải qua ngày dài cực khổ. Lại đắt giá. Và, thai phôi ở bệnh viện không có ai đến nhận xin, thật cũng khó. Nên nhớ rằng: dù chỉ là thai phôi thôi, nhưng thai đây cũng đã là bản thể “người”, đang ở vào giai đoạn tiền-phát-triển. Hoặc, chỉ mới chớm.

Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, đã đưa ra huấn thư gọi là “Phẩm Giá Con Người” ban hành năm 2008, có giải thích, rằng: việc trữ lạnh thai phôi “phải phù hợp” với động thái tôn kính thai-nhi-đã-là-người. Nghĩa là, việc này giả định rằng: chuyện sản sinh thai phôi trong ống nghiệm, tự thân, sẽ đưa thai phôi vào tình huống có nguy cơ tử vong, hoặc gây hại cho cơ thể. Bởi, đa phần thì thai phôi không thể sống sót sau tiến trình làm lạnh và tan giá, khiến có thể tránh cho người mẹ khỏi phải tiếp nhận và ấp ủ, thai nhi dễ chết ấy. Vì thế, ta đặt mình vào vị trí dễ phạm tội và thao tác, mãi về sau. (x. bđd #18)

Đàng khác, ta sẽ làm gì với thai phôi vô-thừa-nhận ấy? Và đây, Huấn Thị có nói rõ: những ai đề nghị “sử dụng thai phôi cho công cuộc nghiên cứu hoặc trị bệnh, cũng nên biết rằng: đó là điều ta không thể chấp nhận được. Bởi, thai phôi luôn bị coi như chất liệu sinh thái. Nên, kết cuộc dễ đưa đến tàn phá. Huỷ diệt. (x. bđd #19)

Hệt như thế, có người còn đề nghị: ta làm sao để thai phôi, khi được làm tan băng giá và ấm lên, vẫn không phục hồi được sự sống, khi đó ta sử dụng thai phôi này cho nghiên cứu, tựa hồ xác không hồn như bao xác chết giữa đường, được không? Câu trả lời sẽ là: điều này, lại càng không thể chấp nhận được. Còn đề nghị, bảo rằng: có nên giao thai phôi như thế cho vợ chồng nào hiếm muộn, để sử dụng hầu trị liệu cho chứng bệnh hiếm muộn? Lại nữa, đây là đề nghị không chấp nhận được, vì các lý do như dã nói. Tức, lý do tương tự sẽ khiến cho việc sinh đẻ theo phương pháp nhân tạo trở thành trái luật giống như kiểu đẻ thay. Sinh giùm. Sinh và đẻ, giúp người hiếm muộn. Hành động này cũng sẽ tạo ra nhiều vấn đề mang tính y học. Tâm lý. Pháp luật.” (x. bđd).

Cuối cùng thì, Huấn Thị trên cũng lại đề cập đến vấn đề mà bạn vừa hỏi, là: “Có người lâu nay thường đề nghị, là: họ chỉ muốn giúp cho bé em có thể chào đời, bằng không các em sẽ bị huỷ diệt, thôi. Có người còn coi đây như hình thức “nhận con nuôi trước khi bé chào đời, để cho dễ”. Đề nghị này, tưởng là đáng được khuyến khích vì có tôn trọng và bảo vệ sự sống. Nhưng xét kỹ, nó vẫn tạo nhiều vấn đề khác nhau. Nhất thứ, nó lại không khác gì những điều ta vừa nói ở trên.”

Phản bác chính, chống việc “nhận nuôi” thai phôi là vì đứa bé chỉ có thể bước vào cuộc sống làm người bình thường, qua động thái thân thương từ đấng bậc cha mẹ đẻ của chính em, mà thôi. Theo cách thế này, thì ý nghĩ duy nhất kết hợp và mang ý nghĩa “sinh sôi tràn trên đất” tạo được từ tác động tình dục mà Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã giải thích rõ và khuyên nên duy trì, khi ngài đề cập đến vấn đề này trong Hiến Chế Sự Sống Con Người (Humanae Vitae) ban hành năm 1968. (x. bđd #12)

Việc “nhận nuôi” thai phôi, thì: không chỉ mỗi hai ý nghĩa nói ở trên, quyết làm cho thai phôi được hiện hữu sống sót, cũng không thể tách rời ý nghĩa kết hợp và sinh sôi nảy nở nói trên, bằng cách cho bé sống qua ống nghiệm. Bởi lẽ, ta hiểu rằng cặp phối ngẫu nào mà “nhận nuôi” thai phôi trong điều kiện như thế, sẽ không là cha mẹ đích thực của đứa trẻ, hiểu về mặt thể lý. Tức, hiểu theo nghĩa nói từ đầu, là: bé sẽ chào đời làm người, nơi cung lòng của bà mẹ đẻ thay/sanh giùm, mà thôi.

Nói thế, tức bảo rằng: cặp phối ngẫu nào “nhận nuôi” thai phôi mà không đích thực cưu mang trẻ bé qua hành động dục tình có tính yêu thương vợ chồng thật sự, thì bé sẽ không là con cái của hai người, xét về mặt sinh lý. Ví dụ để thấy rõ, là: có thể sau này, trong cuộc sống bình thường, trẻ bé sẽ gặp nhiều vấn đề hơn, một khi em khám phá ra rằng: cha mẹ sinh ra em lại không phải là cha mẹ đẻ đích thực, theo nghĩa tâm sinh lý.

Còn lại vấn nạn: với mẹ ruột thuộc tâm sinh lý đích thực, thì nếu bà có dư thai phôi đông lạnh, lại không ý thức chuyện, theo luật Đạo, không được phép sinh con qua phương pháp ống nghiệm, trong trường hợp ấy, bà có được phép đem thai phôi này chuyển về lại tử cung mình, như cách lưu giữ chúng, có được không?

Huấn Thị “Phẩm Giá Con Người” không nói gì đến vấn nạn này. Cho nên, đối với các nhà thần học luân lý lỗi lạc, mỗi người một lập trường, rất khác nhau.

Lập trường và quan niệm khả thi hơn cả, là: xem ra vẫn là chuyện còn trong vòng tranh cãi quyết chống lại các bà mẹ nào có những hành động đại loại như thế. Theo quan niệm của một số các nhà thần học trổi trang, thì bà mẹ nào làm những việc như thế, cần theo tiếng nói của lương tâm, nếu hành xử như thế. (x. John Flader, The catholic Weekly 02/02/2010, tr. 11)

Ối chà! Đúng, là chính kiến. Rất chính qui. Khúc chiết. Không sai chạy. Của đấng bậc, vị vọng thuộc trường phái rất Opus Dei. Còn lại, chuyện hỏi rằng: được bao nhiêu đấng bậc lành thánh, rất mẹ hiền, hiểu và biết lập trường gai góc. Khó hiểu. Của đấng bậc thần học, trong Hội thánh. Rất như thế?

Bần đạo đây, thuộc giống giòng lào khào, ít vốn liếng những học về thần. Về giáo luật, thì chỉ ăn đong, đếm từng chữ. Đếm, để hiểu chuyện luân lý. Tín điều. Nên, vẫn hay đi vào giòng đời tìm tòi truyện kể. Thi văn. Âm nhạc, cho dễ nhớ. Bỗng, bất chợt gặp một vài âm hưởng thi ca vang vọng của người nghệ sĩ có cung điệu lai rai. Chảy dài. Rất xao xuyến. Như ý tứ/ý lời ở đời. Sau đây:

“Rồi mai, mình lang thang trên phố người,

sao mắt nhung

không nuối tiếc, khát khao đợi chờ.

Không có em, còn ai thương lá thu bay.

Còn ai vương vấn cơn say,

đời gian dối, cô đơn mình ta.

Bảo rằng “đời gian dối”. “Cô đơn” mỗi mình ta, là bảo: không có “em’, các bé chưa thành thân, hoặc thành người mà hiện hữu cùng người. Ở với đời. Thì cũng sẽ chẳng có ma nào “thương lá thu bay”. Và, cả “tình Chúa” hay tình người” cũng kém vui. Lẻ loi. Đơn độc. Và như thế, đời bạn và đời tôi cũng chẳng còn ý nghĩa. Gì nữa hết.

Phiếm Đạo chuyện cao siêu. Diệu vợi. Nhiều lý lẽ. Khúc mắc. Thâm trầm. Còn là phiếm bằng truyện kể, rất lễ mễ. Lai rai. Dài dài. Chuyện con gián rất đáng chán; hoặc con ve, rất lè nhè. Nhưng không ẹ, như sau:

“Có cô gái và thiếu niên nọ cùng bước xuống đò, đi đâu đó. Khi bà lão lái đò, chèo ra giữa sông, gã thiếu niên xích lại gần cô gái, bèn hỏi nhỏ:

-Em có muốn hôn anh không?

-Đồ nhóc con. Cô gái hét vào mặt gã.

Khi cô gái bước lên bờ, bà lãi lái đò bèn nói với gã:

-Hằng tháng, cứ vào đêm 30, cô ấy thường hay vào miếu làng khấn vái. Cô ta rất tin vào vị thần ở miếu thiêng. Nếu chú chịu núp sau tượng thần, khi thấy cô đến khấn, cứ nhảy ra rồi xưng mình là thần trụ trì ở đó, lúc ấy muốn gì cô ta cũng chiều ý hết. Gã thiếu niên làm y như lời lão bà, không sai chậy. Đúng vào đêm 30, cô gái đến miếu làng, khập đầu quỳ khấn khấn lạy lạy trong bóng tối, chẳng cần ai. Bỗng chốc gã thiếu niên giả làm thần, từ sau tượng, nhảy ra ngoài nói sang sảng:

-Ta đây, vị thần ở miếu này. Con cần chi?

Cô gái hồn vía lên mây, bèn thưa thốt:

-Con lạy thần! Lạy thần ạ. Con muốn xin thần một chuyện…

-Xin gì, thì cũng phải cưới ta làm chồng trước đã.

-Dạ thưa, con là gái còn trinh. Lấy thần, làm sao sau này lấy được chồng, và có con!

-Thôi. Không chịu lấy, thì phải cho ta ôm hôn một cái, mới được.

-Dạ. Thần dạy thế, con chẳng dám chối từ…

-Kha. Kha. Ta không phải là thần, chỉ là thằng nhóc thôi.

-Ha ha ha. Thì ta cũng đâu phải là cô gái, trinh trong gì đâu chú. Chỉ là lão bà chèo đò, có thế thôi. Ha ha ha…

Truyện kể trên, tưởng như chẳng có gì ăn nhập chuyện bạn và tôi, ta bàn định. Nhưng, người kể bao giờ cũng cứ muốn thêm thắt đôi ba lời bàn, cho có dáng. Dáng, của kinh sư, bậc thầy, hay nói chữ. Nên mới bảo: sống đạo làm người. Ở đời. Muốn chuyện gì, bao giờ cũng thế. Rất dễ. Dễ nói. Dễ phân giải.Nhưng thực hiện ý muốn, của người của mình, mới là khó. Khó, không ở chuyện nói ra. Bằng lý thuyết. Nhưng khó làm. Chí ít, là làm từ vị thế. Góc độ. Khác với người chỉ mỗi nói.

Chuyện ở đây, tưởng dễ hiểu. Dễ thực hiện. Ở đời. Và, với đời. Nhưng kỳ thực, cũng rất khó. Khó hơn cả, là khi người người sống đời hiện thực mãi cứ thấy: “đời gian dối, cô đơn mình ta.” Thấy rồi lại hát tiếp, câu nối kết. Hát rằng:

“Như ước mơ,

xin nhớ lần mình hẹn hò,

Xin cho nhau một lời rồi,

xin tình yêu hãy lên ngôi.

(Ngô Thụy Miên – bđd)

Xin cho nhau một lời để tình yêu lên ngôi, còn là xin cho tình của bé em cứ mãi mãi, được đi vào trần thế. Mà hiện hữu. Có người đời thương yêu. Vĩnh cửu.

Trần ngọc Mười Hai

Vẫn cứ cầu và cứ xin

để được như thế.

36. “Nếu anh còn trẻ, như năm cũ
Quyết đón em về, sống với anh”

(Phạm Duy/Hoàng Cầm – Tình Cầm)

Mt 11: 25

Sydney, đi dần vào những ngày cuối thu, năm 2010. Bần đạo được hân hạnh đưa đón Bề Trên Giám Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, Lm Vinh Sơn Phạm Trung Thành. Là, một trong những người hợp tác gầy dựng phong trào “Bảo Vệ Sự Sống” ở Sàigòn. Và, Lm Lê Đình Phương, Phó Giám đốc Học Viện DCCT, thăm thủ phủ. Gặp nhau, tay bắt mặt mừng, chuyện đã đành. Đành rành hơn, là ý/lời bài “Tình cầm” cứ luẩn quẩn, về trong đầu. Của bần đạo. Vì “sung” quá, nên bần đạo mất cả “tiếng”… tốt. Mất đi cái “giọng cũ gần xa”, êm ái đó. Nên hôm ấy, bần đạo chẳng dám hát bảo: “Nếu anh còn trẻ như năm cũ”, có sẵn trong đầu. Hầu, gửi đấng bậc vị vọng. Cao sang. Chốn ấy.

Còn trẻ gì, mà sao anh cứ hỏi. Và, cứ nói. Hỏi và nói, những điều mà người đời cho là vẩn vơ. Lờ khờ. Hết ý. Đón em về, là đón theo vị thế trên/dưới, rất đôi bề. Đón em về, là đón người anh/người em tuổi đời tuy thua kém, nhưng phẩm trật lại thật cao. Đón em về, là đón chứ không hỏi xem “anh (có) còn trẻ”, nữa hay không. Và, “nếu anh (vẫn) còn trẻ”, thì những gì anh nói với em. Với anh. Với người. Đâu có là chuyện dễ làm. Dễ nói.

Thôi thì, hôm nay, bần đạo/người “em” vừa mới có lại được “tiếng” tốt, nên hát tiếp:

“Những khi chiều vàng phơ phất đến,

Anh đàn, em hát níu xuân xanh.”

(Phạm Duy/Hoàng Cầm – bđd)

Đấy kìa, ngày anh đến. Với Sydney. Em và tôi, ta vẫn cứ ca và cứ hát, đấy chứ. Nhưng đâu nào níu được mùa xuân. Xuân tuơi trẻ. Ngày xưa ấy. Buổi “chiều vàng”. “Bàng bạc”, Nhiều “vầng mây”. Nên, anh lại hát:

“Có mây bàng bạc, gây thương nhớ

Có ánh trăng vàng, soi giấc mơ.

Có anh ngồi lại, so phím cũ,

Mong chờ em hát, khúc Xuân xưa.”

(Phạm Duy/Hoàng Cầm – bđd)

Xuân xưa. Xuân nay. Chắc em và tôi, ta cứ nói. Nói, về Đức Chúa của Mùa Xuân. Về Chúa Xuân. Ở cõi Trời, đầy tình mến. Để, tôi và em, ta nhớ lời Chúa Xuân, xưa vẫn dạy:

“Lạy Cha là Chúa trời đất,

Con xin ngợi khen Cha,

vì Cha đã giấu những điều ấy

cho hạng thông thái,

nhưng đã mạc khải ra

cho kẻ bé mọn.”

(Mt 11: 25)

Rõ ràng: em và anh, ta đâu là “hạng thông thái”. Vẫn, “bé mọn” ở muôn thời. Nên, Chúa mạc khải cho ta điều mà nhiều người không hiểu. Thế nên, ta cứ hát:

“Nhưng thuyền em buộc, trên sông Hận

Anh chẳng quay về, với trúc tơ…”

(Phạm Duy/Hoàng Cầm – bđd)

Sông Hận. Trúc tơ. Nay, em và anh, ta ít nghe những điều mình cần hiểu. Nên, vẫn bảo:

“Ngày tháng tỳ bà, vương ánh nguyệt,

Mộng héo bên song, vẫn đợi chờ.”

(Phạm Duy/Hoàng Cầm – bđd)

“Ngày tháng tỳ bà”, là tháng ngày của “sông Hận”. Bận “ánh nguyệt”. Của, “mộng héo” bên sông. Tháng ngày chờ mong. Chờ, niềm vui đến. Mong, hạnh phúc Chúa gửi. Đến muôn người.

“Ngày tháng tỳ bà”, là tháng ngày buồn khi người em bé bỏng chẳng biết Chúa Xuân, vẫn mạc khải. Bảo ban. Làm sao nghe, nếu em không có đôi tai tròn. Xinh xắn. Làm sao có, nếu mẹ cha không cho em chào đời. Sống với người.

Vâng. Nhân sinh người đời, vẫn chuyện buồn “sông Hận”. “Mộng héo”. Rất “Tỳ bà”. Nhân sinh cuộc đời, vẫn đợi và vẫn chờ. Chờ đợi, một giấc mơ. Xưa. Giấc cũ xưa, vẫn mơ giấc của người đời khi xưa. Trong Đạo. Vẫn về với ưu tư. Thắc mắc. Về, quyết định của nhân sinh người người. Về, sản sinh kẻ “bé mọn”, Chúa nhủ khuyên. Về ngừa thai, như thư của bổn đạo “miệt dưới”, rất Sydney.Thư, là thư về ngừa thai. Sinh đẻ. Kể như sau:

“Vẫn biết rằng, Hội thánh vẫn theo luật, để suy tưởng. Suy và tưởng, về biện pháp ngăn ngừa sử dụng ngừa thai không phù hợp với thiên nhiên. Thế nhưng, có những vợ chồng trẻ vẫn cố lẩn lách việc sản sinh ra bé em để dưỡng nuôi. Vậy, thì xin hỏi: có gì khác biệt giữa phương pháp ngừa thai tự nhiên, với kế hoạch hoá gia đình, như Giáo hội dạy? Xin cho biết lập trường đúng đắn của Hội thánh, để thực thi.”

Lập trường đúng. Chính qui. Thanh bạch. Nay muốn biết. Vẫn cứ vời đến lời đáp giải của đức thày nhà Đạo, tuy không mới. Cũng chẳng lạ. Nhưng, hãy xem đức thày vị vọng ở Úc, có lập trường phóng khoáng hơn xưa, không? Và đây, câu đáp trả:

“Trước hết, điều quan trọng là: ta nên tỉnh táo hiểu rằng: người thường có lý do nào đó dễ bào chữa cho hành động của mình, hầu lẩn tránh việc sinh con. Hôm nay. Mai ngày.

Năm 1968, Đức Phaolô Đệ Lục đã có tông thư được gọi là Hiến chế “Đời Sống Con Người” khi ngài viết: “Ở vào tình trạng khi mình có vấn đề về thể xác, kinh tế, tâm lý, xã hội, thì bậc cha mẹ phải có trách nhiệm khi ra quyết định phóng khoáng, độ lượng; ngõ hầu dựng xây gia đình, cho phải phép. Quyết định đề ra, phải do động lực thúc đẩy việc tôn trọng đạo đức, để không còn tránh né chuyện sinh con. Vào lúc này. Hoặc, trong tương lai.” (#10)

Nói thế, có nghĩa: những ai ở vào tình trạng có bệnh về thể xác, đau yếu tâm thần cả về phía vợ lẫn chồng, khiến họ có khó khăn nghiêm trọng trong cuộc sống, vv.. mới xác định được là mình nên đẻ thưa ra, hoặc tránh không nên có thêm con, vào lúc ấy.

Trở lại câu hỏi của anh/chị, thì: nếu vợ chồng có lý do chính đáng để thôi không nên có thêm con nữa, có gì khác biệt giữa kế hoạch hoá gia đình tự nhiên, với chuyện ngừa thai không? Câu trả lời là: Có chứ. Khác, một trời một vực.

Ý Chúa, là: Ngài ban cho con người sức mạnh dục tình là để họ có thể sử dụng nó mà diễn bày tình yêu mật thiết, của hôn nhân. Diễn bày, trong khuôn khổ đoàn kết hiệp nhất. Luôn mở ngỏ. Để tặng ban sự sống. Tặng ban, theo nghĩa đồng công tạo dựng sự sống.

Qua Hiến chế “Cuộc Sống Con Người”, Đức Phaolô Đệ Lục đã giải thích lý do nói tại sao tránh thai lại là động thái không đúng với luân lý/đạo đức con người, vì “những gì Chúa kết hợp, loài người không được phân ly”. Tức, ý Chúa muốn con người phải sinh sôi nảy nở, thì không ai được phá bỏ ý Ngài. Mà, chỉ làm theo ý mình. Sinh sản, là động tác phối kết vợ chồng. Phối kết hài hoà. Là, đồng công tạo dựng sự sống, cùng với Chúa. Nếu duy trì hai ý nghĩa kết hợp và đồng công tạo dựng sự sống, thì động tác giao thoa/phối kết sẽ bao gồm ý nghĩa thương yêu tràn đầy, theo hai chiều. Tựa hồ kêu gọi con người hãy tuân thủ ý hướng của Chúa mà làm cha làm mẹ, cho đúng nghĩa.” (#12)

Người phối ngẫu muốn thực hiện kế hoạch hoá gia đình cho đúng phép tự nhiên, thì họ nên chọn lối giao thoa/phối kết vào thời kỳ vô sinh, của người nữ. Làm như thế, họ không khoá đóng khả năng sinh sản. Nhưng, mở ra cho sự sống. Làm như thế, là họ tuân theo chu kỳ sản sinh, Chúa tạo dựng.

Vợ chồng có trao thân dục tình cho nhau hay không, tuỳ tự do của hai người. Thành thử, nếu cả hai chọn không quan hệ dục tình vào một số ngày nào đó trong tháng, thì việc ấy cũng chẳng có gì là tội. Hoặc, bất luân.

Hơn nữa, quan hệ dục tình vợ chồng, là động thái yêu thương rất đích thực. Nói đúng, là trao thân gửi phận, cả hai chiều. Có hỗ tương. Làm như thế, hành động của họ sẽ phản ánh việc Chúa trao ban Thân Mình Ngài cho con người. Và, khi vợ chồng tặng trao thân xác mình qua giao thoa dục tình, là họ quyết định đạt cho được sự đậu thai sung mãn. Không giữ lại gì. Làm như thế, là họ chấp nhận yêu con cái, Chúa tặng ban.

Ngược lại, khi sử dụng biện pháp ngừa thai, thì cả hai không còn tặng trao cho nhau trọn nguời mình. Có tặng có cho, cũng chỉ cho mỗi thân xác dục tình, mà thôi. Vẫn giữ lại khả năng sinh sản bằng các vật cản thể lý/hoá chất, để tránh việc có con. Làm như thế, tức là đã phản bác. Đã thay đổi tính tự nhiên nơi hành động tặng trao thân xác, của chính mình.

Điều này không chỉ mang tính ngược ngạo, kình chống kế hoạch của Chúa bằng sử dụng quan hệ dục tình thôi, lại cũng chẳng thể hiện tình thương yêu đích thực, như Chúa muốn.

Năm 1981, Đức Gioan Phaolô Đệ Nhị đã giải thích thêm bằng Tông thư mang tính khuyến cáo với tựa đề:“Familiaris Consortio” (Đồng Thuận Gia Đình) có ý bảo: “Ngôn ngữ bẩm sinh diễn tả trạng thái vợ chồng trao ban thân xác cho nhau là trao ban theo cung cách “có đi có lại”. Còn, việc thực hiện ngừa thai, lại bao choàng ngôn ngữ ngược ngạo nghĩ rằng như thế mới khách quan, nhưng thực ra cả hai đã không đích thực trao thân mình cho người kia, cách trọn vẹn. Hành động này, không chỉ dẫn đến trạng thái khước từ mở lòng mình ra với sự sống mà thôi. Nhưng, còn bóp méo sự thật nội tại của tình vợ chồng, nữa. Bởi lẽ, tình yêu vợ chồng kêu gọi hai người trao ban cho nhau con người mình, vẹn toàn. Và, thật lòng.” (#32)

Động thái giao thoa/phối kết vợ chồng mà sử dụng phương pháp ngừa thai, là: động thái chỉ mang tính dục tình thể xác, chứ không có nghĩa yêu thương gì hết. Vợ chồng nào lúc đầu có sử dụng biện pháp ngừa thai, nhưng sau này đã biết tặng trao cho nhau trọn con người mình, mà không tính đến biện pháp ngăn ngừa thụ thai gì hết, sẽ cảm nhận được sự khác biệt trong hành xử. Thương yêu. Rất nhiệt tình.

Thêm vào đó, vợ chồng nào thực thi kế hoạch hoá gia đình vì lý do chính đáng, sẽ nhận ra rằng tình yêu họ tặng trao cho nhau, mới đích thực tăng trưởng. Trao tặng tình yêu cho nhau, có đồng thuận nhín nhịn giao thoa mỗi tháng một ít ngày, sẽ làm cho đôi bên tôn trọng lẫn nhau, nhiều hơn. Càng khiến mình biết tự chủ. Làm chủ chính thân xác của mình. Làm chủ đời mình, nhiều hơn.”(Lm John Flader, The Catholic Weekly 23/5/2010 tr. 11)

Ấy đấy, lời ngọc ngà của đấng bậc vị vọng. Rất chính qui. Thanh bạch. Tận hiến, cho Chúa. Đây này, một lời khác. Lời, rất văn hoa/thi tứ của người viết nhạc, ở ngoài đời. Như sau:

“Nếu có ngày nào, em quay gót

Lui về thăm lại, bến Thu xa

Thì đôi mái tóc, không còn xanh nữa

Mây bạc trăng vàng, vẫn thướt tha…”

(Phạm Duy/Hoàng Cầm – bđd)

Cũng có thể, giòng chảy cuộc đời ở đôi phía, vẫn thướt tha. Song hành. Không trùng phùng. Bởi, con người sống ở đời, có quá nhiều nghịch lý. Ích kỷ. Trái khuấy. Tuy cũng lựa chọn yêu thương nhau, thật đấy. Nhưng, là chọn theo cung cách ngoài đời. Chứ không là chọn lựa theo kiểu con dân, Đạo Chúa. Lựa chọn, để tìm ra lối sống thích hợp. Hợp tình. Hợp lý. Với mỗi người.

Nói tóm lại, sống ở đời, mọi chuyện cần để Chúa hướng dẫn. Yêu thương. Quên mình. Mà, tặng trao. Trao tặng, niềm vui. Trong mọi sự. Như truyện kể để bớt căng, như sau::

“Truyện rằng:

Chú muỗi đực nọ cứ tàn tàn bay quanh trên đầu một người nọ, khiến người ấy tức chết được. Hắn bèn rình rập, đập nát thây. Muỗi ta thấy ức, nên khi về chầu Thượng Đế, muỗi bèn thưa:

-Thưa Ngài, con có làm chi nên tội đâu, mà sao loài người cứ tìm cách đuổi theo con rồi đập cho chết. Xin Ngài cứu xét tình cảnh khốn đốn, của con đây.

-Thế, anh có chích người ta không?

-Dạ không. Chỉ có muỗi cái khát máu, mới chích người. Tụi con đây là dân “chay trường” đâu dám hỗn.

Thượng Đế nghe vậy, bèn rà soát với các kỹ sư sinh đẻ, ở đời. Kết quả cho biết, đúng là chỉ muỗi cái, được tạo dựng theo cung cách đặc biệt mới đâm chích làn da con người, hút máu đám người để sinh sản, nuôi con. Vòi của muỗi đực, được tạo dựng theo dạng loa kèn, đâu để chích! Thượng Đế nhìn muỗi đực, thấy ngại, bèn hỏi lại:

-Này chú muỗi đực, thế nhà anh có hay chọc chích muỗi cái, không thế?

-Trình Ngài coi lại, chứ vòi của con đây mà chích được ai, cơ chứ!

-Anh hiểu sai ý Ta rồi. Ta muốn hỏi: anh có chích muỗi cái bằng thứ gì khác không?

-Dạ, chuyện ấy thì … thưa Ngài lâu lâu con cũng làm.

-Vì anh có làm, nên muỗi cái mới sinh con, nó cần chất bổ để nuôi con nên mới phải hút máu con người. Nếu anh không chích, làm sao giòng họ muỗi được tồn tại, đến hôm nay?..

Nghe Thượng Đế giải thích lý lẽ cuộc đời, muỗi đực bèn uất ức, bật tiếng khóc. Thấy vậy, Thượng Đế bảo:

-Thôi được Ta cho anh sống, với điều kiện…

-Thưa Ngài, điều kiện gì, xin cứ nói?

-Là, từ nay ngươi không được chích muỗi cái, chỉ để vui chơi cho thoả thích. Nhưng, mỗi lần làm thế chỉ để sản sinh muỗi con mà thôi. Con có chịu như thế không?

-Thưa Ngài, nếu vậy…nếu vậy, con xin thà chết sướng hơn…”

Truyện kể, có thể không như thế. Tức là, không thực. Chỉ là, tiếu lâm chay để người người, sống cho dễ. Nhưng, cũng là bài học ở đời. Theo cách khác. Không theo cách thế của Hiến chế Humanae Vitae. Nhà Đạo. Vẫn hơi khó, với dân thường. Khó hiểu. Khó thực hiện. Ở đời.

Lời cuối cho tôi, chứ không cho bạn, là lời khích lệ: ta nên về với truyền thống. Rất Thánh Kinh. Về, để suy tư. Kiểm điểm. Trong thinh lặng. Nguyện cầu. Chỉ mình ta, với Chúa. Chỉ để Chúa, phán với ta. Thinh lặng, để rồi sẽ hiểu ngôn ngữ thời buổi bây giờ. Dễ cảm thông. Đồng thuận.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn xin sự cảm thông. Đồng thuận.

Ở trong Đạo. Và, ngoài đời.

Rất người.

37. “Chiều lại chiều nghe vẳng tiếng, tiếng kinh buồn”
Chiều lại chiều nghe vọng đến, những hồi chuông, câu kinh buồn …
(Hoàng Thi Thơ – Kinh Chiều)

Mt 5: 43-45

Bẵng đi một dạo, bần đạo và một số bà con ưa nhạc lại quên bẵng mất rằng: trong vườn thơ/âm nhạc người mình, vẫn có sự hiện diện rất sáng chói của nghệ sĩ Hoàng Thi Thơ. Một người viết nhạc nhiều thi và thơ. Rất đầy mình. Bần đạo còn nhớ, người nghệ sĩ tên tuổi, đã một thời “trụ” cả một chương trình gồ ghề rất “Maxim’s”, ở Majestic. Trước 75.

Sắp đến, nhóm “Hát cho nhau” ở Sydney có tổ chức buổi thính phòng hoà nhạc, mang chủ đề “lắng tiếng chiều rơi”, bần đạo lại được tiếp cận với nhạc bản “chiều lại chiều”, đã thấy mê. Càng mê nên càng mệt, khi nghệ sĩ rất “Huế mình” cứ hát tiếp lời nhẹ nhàng/yêu thương sau đây:

Chiều lại chiều

vang trong lòng nhân dân mình

miệt mài cầu, cầu xin

Đang miệt mài cầu xin …

Xin yêu thương.” (Hoàng Thi Thơ – bđd)

Nghe kinh chiều, mà lại tụng bằng chất giọng thần kinh linh tinh rất đất Huế, thì hồn bạn/hồn tôi có cứng cách mấy đi nữa, cũng phải âm thầm mà đổ lệ, mất thôi.

Hôm nay, ngồi buồn nhắc chuyện “Huế mình” lòng dễ đổ lệ, bần đạo nhớ lại người em trong Dòng Chúa …(cứ thế mà) Cứu Thế, có cái tên rất ư là “Sáu nó”, sau 30 năm sống ở miệt Sađéc-Vĩnh Long, đã có một chuyến ghé bến Sydney, làm bần đạo “chợt muốn khóc”. Khóc, vì nhớ kinh-chiều-nhè-nhẹ của xứ Huế. Khóc và nhớ, vì lại được nghe giọng “Huế mình”, ở đất khách quê người. Sáu Duy, nay là Đấng Bề Cao rất Sè-Ghềnh, vẫn còn giữ chất Huế mình, có giọng nói rất thơ và nhạc. Giọng Huế mình, cũng thi. Và, cũng thơ. Một thành tích giỏi dang. Hiển hách. Hách hơn nữa, khi chú em mình lại nhắc đến lời ai đó, từng nhất quyết: ”Làm nhạc, phải biết thơ. Làm thơ, phải biết nhạc.” Thơ-nhạc/nhạc-thơ cứ quyện vào nhau làm nên chất Huế mình. Đê mê. Gợi cảm. Rất da diết.

Còn gì dễ mê và cảm cho bằng khi bạn và tôi, ta cứ nghe ra rả khúc kinh chiều. Nhè nhẹ. Thương yêu. Kinh chiều, là kinh: “miệt mài cầu xin…Xin yêu thương”. Vẫn cứ hát:

“Chiều lại chiều không còn nến, thắp giáo đường

Chiều lại chiều nghe đại bác, át hồi chuông,

những kinh buồn.” (Hoàng Thi Thơ-bđd)

Hôm nay đây, ở quê thôn cùng chốn thị thành, người người không còn nghe “đại bác át hồi chuông” thay cho kinh chiều, nữa. Nhưng, vẫn thấy âm vang thời đại, át cả chiều kinh/kinh chiều. Miệt mài. Thời đại. Những là âm vang thùm thụp. Chan chát. Chẳng ra nhạc. Chẳng là thơ. Chỉ mỗi âm thanh dậm dật. Kích động. Khiến lòng người những là cao bay xa chạy. Chạy, khỏi giáo đường. Khỏi, hồi chuông ngân nga tiếng kinh chiều. Nhè nhẹ. Thương yêu. Chân chất. Rất êm.

Cả đến lễ hội ả êm/êm ả, một Giáng hạ thời trước, nay cũng thành cơ hội để người người tìm cớ mà ăn chơi. Ăn cho đã. Chơi cho thoả. Để rồi, mang vạ vào thân. Với, những lạm dụng. Xô xát. Bần thần. Lẩn thẩn. Đầy những căng thẳng. Như, nhận định của tay viết ở trời Tây, dạo gần đây, là Vanessa Lloyd Platt, thuộc tổ hợp luật pháp Lloyd Platt & Co, tổ hợp chuyên tư vấn luật gia đình. Ly thân. Ly dị. Rất nhận định, như sau:

“Giáng Sinh nay thành thời điểm u uất. Rất căng thẳng. Căng, với gia đình. Thẳng, cả với vợ với chồng, cùng con cái, thời hậu Giáng Sinh. Bởi, cứ vào ngày này, sau Tết Tây, bà con đã lại rủ nhau tìm đến tư vấn, hầu giải quyết nỗi chán chường. Chồng chất. Sau ngày lễ. Trong số những người này, có bạn bè người thân của khách hàng tiêu thụ vào dịp lễ. Họ yêu cầu được tận tình giúp đỡ, về chuyên môn; hầu giải quyết những nố phức tạp, trong tương quan mật thiết. Đang mất dần. Cũng vì lý do đó, mà có lẽ chúng ta cũng nên kêu gọi mọi người hãy cứ cho nhau nhiều phiếu tặng quà tư vấn gia đình. Tặng, những người đang tìm kiếm quà dịp Giáng Sinh. Tặng, để giải quyết mọi căng thẳng. Đổ vỡ.” (x.Gianfranco Amato, MercatorNet 24/12/09)

Về, ăn chơi tiêu thụ vào ngày lễ, cũng tợ “chuyện dài nhân dân tự vệ”. Chuyện vượt biên/vượt biển. Đau thương. Tê tái. Chuyện nghe xong không thấy cười. Chỉ thấy nước mắt. Dù, nước mắt ấy có là nước thấm đầm đìa từ con mắt, có buổi chiều. Nhiều câu kinh. Có “nến giáo đường”, chiều lại chiều. Dù, nến có sáng, thắp suốt mùa lễ hội. Dù, lễ hội có lớn như hội mùa Giáng Sinh. Dù, hội lễ, có lễ mễ niềm vui cho gia đình? Hoặc, chỉ thêm căng thẳng cho thành viên, ở trong đó? Như cố vấn pháp luật nọ, đà nhận xét?

Với nhiều người, Giáng Sinh cũng như mọi hội lễ lớn/nhỏ, là mốc điểm để ta quan tâm đến người khác. Đôi khi, ta còn vượt phạm vi khuôn khổ gia đình, hầu đến với người sống rất lẻ loi. Đơn chiếc. Hội lễ nhỏ, là mốc điểm để người người quây quần. Tụ tập. Ở bên nhau. Nơi gia đình. Chòm xóm. Có bạn bè/ngýời thân. Lễ hội, là lễ là hội rất như thế, ở ðó ngýời ngýời có thì giờ mà suy tư. Kinh kệ. Và tưởng nhớ? Nhớ Chúa. Nhớ Cha. Là, điều rất tốt.

Nhớ Chúa. Nhớ Cha. Ngày hội lớn. Là, gom góp với nhau quà tặng gửi đến người thân. Sống cận lân. Hoặc, cận thân. Chưa một lần quen biết? Gửi, qua hệ thống thiện nguyện. Đình chùa. Nhờ thờ/nhà thánh? Hầu giùm giúp. Nhớ Chúa/nhớ Cha, còn nhớ cả gia đình. Nơi xa xôi. Ít lui tới. Nhớ, bằng cả tấm lòng vàng. Nhớ, bằng tình thương, chưa kịp nói. Nhớ Chúa/nhớ Cha ngày hội lớn, là nhớ qua kinh chiều. Có nguyện cầu. Như ý/lời ở nhạc bản kể trên, vẫn tiếp tục:

“Lời nguyện cầu ấy, gây cho nhau niềm tin,

Lời nguyện cầu ấy, gây cho nhau tình yêu.

Kinh chiều. Kinh chiều…” (Hoàng Thi Thơ – bđd)

Kinh chiều. Nguyện cầu. Chắc chắn, không phải để xin. Mà, “Lời nguyện cầu ấy”, chắc chắn sẽ “gây cho nhau niềm tin”. Gây cho nhau, tình yêu. Hy vọng. Bởi, hy vọng là cái mà xã hội ngày nay người ta, xem ra, còn thiếu. Không thiếu tiền. Nhưng, thiếu niềm tin. Yêu thương. Hy vọng. Thiếu rất nhiều. Có khi là, tất cả. Thiếu, tất tần tật.

Mới đây, Đức Giáo Hoàng Bênêđíchtô thứ XVI đã đề ra Tông huấn bàn về tầm quan trọng của hy vọng. Người Công giáo. Làm sao hy vọng? Làm thế nào duy trì nó? Đó, là vấn đề. Và, Đức Thánh Cha, đã về với Kinh thánh, để nói lên một sự thật mà rất nhiều người, rày đã quên: “Không có Chúa, chẳng làm sao có được niềm hy vọng.”

Hy vọng, không là nguyên do của đổ vỡ. Nhưng hy vọng, là giải pháp tìm lại tình yêu. Hy vọng, nếu đặt đúng chỗ, đúng nơi -như gia đình. Chòm xóm. Xã hội- sẽ đem lại tình trạng “nở đầy hoa”, trong giao tế. Hy vọng, là hy vọng ở đây. Bây giờ. Hy vọng, đồng hoá với tình thương của Chúa.

Người Công giáo, hễ có kinh nghiệm từng trải. Hễ sống trong hy vọng, đều có thể tiếp cận tình thương của Chúa. Kinh nghiệm của các giáo hữu thời tiên khởi, đã hàm ngụ phương thức đặc biệt ở quá trình sống. Sống, với thế gian. Sống sôi nổi. Dù, vẫn căng thẳng. Lo toan. Ngán ngẫm.

Ảnh hình trọng điểm của hy vọng, mà cộng đoàn dân Chúa thời ban sơ vẫn từng trải, là: hy vọng vào sự sống. Vào, sự sống lại. Buổi lai thời. Sống lại, không mang tính cá nhân. Riêng rẽ. Đặc biệt. Nhưng, đã biết nối kết với sự sống lại của Chúa. Nối, vào Tiệc Thánh. Nối, với cộng đoàn dân Chúa, như nối và kết với Thân Mình Đức Kitô, bằng hy sinh thân xác. Đặc biệt hơn, bằng cuộc sống khắc khổ. Tử đạo. Đấy, mới là nền tảng của hy vọng hằng ngày. Trong đời sống.

Thế đó, thời buổi trước. Thế này, ngày hôm nay. Hôm nay/thời này, người Công giáo ta bị chi phối bởi nhiều thứ. Những thứ, phát xuất từ xã hội trần tục. Bên ngoài. Ở xã hội có phân ranh/chia cách. Phân, hiện tại. Cách, tương lai. Cách phân, cả với Chúa. Với thế trần. Cách phân xác/hồn. Phân cách, lối sống Đạo. Cách phân/lục đục vì chuyện lố lăng, vật chất. Phân cách, thấy rõ ở chủ thuyết khắc kỷ. Ở phương Đông.

Bằng vào ý niệm ấy, niềm hy vọng và lời nguyện cầu, sẽ lại gặp nhau nơi câu kết của nhạc bản ở trên, có lời bàn:

“Lời nguyện cầu, ngay cỏ lá cũng bùi ngùi

Lời nguyện cầu, ngay sỏi đá cũng lệ rơi

Lời nguyện cầu xa xa vời

Lời nguyện cầu vang lên trời;

đi sâu vào lòng người. Và tôi.

Ôi lời nguyện cầu, từ lâu…

Xin thương nhau! (Hoàng thi Thơ – bđd)

Nói cho cùng, thì: hy vọng và nguyện cầu, buổi chiều vàng, lại đã dẫn về câu kết hậu: “Xin thương nhau”. Có thương nhau, như nhận định của tiền nhân, vẫn bảo: “Thương nhau mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua…” Vậy thì, sá gì phiếu tặng quà tư vấn luật gia đình? Để, cứ phải ly thân. Phân cách. Có sá chăng, chỉ là lời dặn của Đức Chúa. Ta vẫn nghe:

“Về nguyện cầu,

các ngươi chớ lải nhải như dân ngoại.”

(Mt 6: 7)

Hoặc:

“Các ngươi vẫn nghe bảo:

hãy yêu mến đồng loại và ghen ghét kẻ địch thù.

Còn Ta, Ta bảo các ngươi:

Hãy mến yêu thù địch

và khẩn cầu cho những người bắt bớ các ngươi;

ngõ hầu các ngươi trở nên người con của Cha trên trời.”

(Mt 5: 43-45)

Xem như thế, mục đích của nhạc bản “Kinh chiều”, vẫn không là lời lải nhải, ta thường làm. Nhưng, lại là “niềm hy vọng” để cầu khẩn. Khẩn và cầu, cả lúc chiều hôm, như người con của Cha trên trời. Đấng từng ban cho mọi người, niềm hy vọng ủi an, cả vào lúc người người mải vui say, ngày hội lễ. Có hay không, căng thẳng. Đổ vỡ. Rất đáng sợ.

Nói cho cùng, căng thẳng nhiều năm tháng, vì ăn chơi xả láng, cũng là do không nhớ lời dặn dò. Của Chúa. Cũng chẳng nhớ đề nghị 10 điểm, ở lời kinh. Ban chiều, Lời kinh, mang nhiều ý nghĩa, như sau:

“Đề nghị đây, là 10 quyết tâm rất đẹp. Nên nghe theo.

1. Hãy tập trung vui chơi, với mọi người. Đừng ham mê chè chén, vào ngày vui.

2. Hãy có kế hoạch tiêu pha những gì mình lưu giữ/tiết kiệm. Chớ bận tâm đến kế thừa, cho con cái. Bởi, khi về miên trường, con cái mình sẽ cãi tranh. Giành giựt. Và, sâu xé. Mất hết tình thân. Vẫn đáng quý.

3. Hãy sống với hiện tại. Hiện tại, là ở đây. Hôm nay. Đừng sống quá khứ. Hoặc, mai ngày. Bởi, chỉ hiện tại mới vận dụng được quá khứ lẫn mai ngày, rày chưa đến.

4. Hãy hân hoan vui sống với cháu con, để khi mình đi vào buổi xế chiều, nhiều lời kinh cũng chẳng đạt mục tiêu.

5. Hãy cứ chấp nhận thương đau, do tuổi tác. Bởi, đó là cuộc sống. Rất bình thường.

6. Hãy vui hưởng thân phận mình hiện đang mang. Bởi, những gì mình nắm trong tay, đã là “có”. Đừng cố chiếm, những gì mình không được tặng. Đó, là cái mình “không có”

7. Hãy vui sống đời mình, với mọi người. Những người cần đến tình mình thương yêu. Cần mình nuông chiều. Dễ luột mất.

8. Hãy thứ tha và chấp nhận sự tha thứ. Cứ vui hưởng giờ phút an bình. Rất hiếm. Cho mình. Cho hồn thiêng, của mình. Vì, mọi cái “có” đều dễ mất đi.

9. Đừng sợ khổ. Chớ lo chết. Đó mới là sự sống. Bởi, có chết đi mới sống lại được. Và, sự sống lại, vẫn chờ đợi mọi người. Chờ cả ta.

10. Hãy làm hoà với Tạo Hoá. Bởi, chính Tạo Hoá mới là Tất Cả. Kể cả, những gì mình đang “có” và sẽ “có”. Vẫn cứ “có”, sau cơn sầu buồn. Khổ đau. Căng thẳng.

Dĩ nhiên, đây chỉ là những đề nghị cỏn con. Để, ta hy vọng. Để, ta sống khoẻ. Sau cơn mê. Mê say cuộc đời này, nhiều lãng phí. Dĩ nhiên, đây cũng chỉ là tư tưởng vặt, chẳng gì mới. Nhưng sẽ rất mới, nếu bạn và nếu tôi, ta nhìn lại thời điểm có những khoảnh khắc, giống những:

chiều lại chiều

vang vang đều, dưới ánh hồng ngọn đèn hoả châu

dân mình nguyện cầu, cầu xin… xin yên vui.”

(Hoàng Thi Thơ – bđd)

Chiều là thế. Thế đó, một buổi chiều. Sau nhiều ngày vui, những lễ hội. Thế đó, những ngày chiều. Nhiều sự sống. Sống đời người. Nhiều thương đau. Một đời, cần hy vọng, để sống. Sống, với mọi người. Suốt đời. Có kinh chiều. Không buồn. Không sầu đau.

Trần Ngọc Mười Hai.

Vẫn suy tư thêm,

về quãng đời chiều

của nhiều người.

38. “Anh mơ, khi ánh trăng êm đềm trong sáng”
Bên em khẽ rung cung đàn yêu mơ màng
Say sưa tiếng em ngân hòa tiếng tơ vàng
Tình duyên đôi ta sẽ hòa,

sẽ hòa như muôn tiếng hát với cung đàn.”

(Văn Phụng – Tiếng Hát Với Cung Đàn)

Mt 22: 32

Hát với cung với đàn gì, thì cứ hát. Tiếng hát ấy, cũng nhào quyện vào chốn không gian, nghe vẫn thích. Nói theo giọng/theo tiếng gì, thì cứ nói. Tiếng/giọng tiếng ấy, vẫn êm đềm trộn lẫn với thời gian, thấy nhớ hoài.

Nói và hát, ở trời Tây, bên này, là hát và nói những lời, nghe cũng khó. Khó đây, chẳng vì hỏi: tiếng giọng của mình có hoà nhập cùng giòng chảy văn hoá khác biệt, hay không? Khó đó, cũng nào do mình luôn thấy đối chọi/hụt hẫng với tiếng giọng, rày biến đổi! Khó, còn ở chỗ: ta cứ phải hoà mình/hội nhập cùng một lúc với hai luồng văn hoá/văn minh, rất lình xình. Thực tế. Khúc mắc

Nói thực tế, thì vừa qua bần đạo có dịp lên xe đến trung tâm thương mại sầm uất nhất nhì miền Tây Nam Sydney, để thăm thú. Đây là huyện có số người sắc tộc tập trung nhiều hơn cả dân bản xứ rất Úc mình. Tiếng là thế, mà sao bần đạo vẫn bắt gặp rải rác ở đây đó, dăm người Úc/người Tây cứ là lăng xăng/hăng say đến với bần đạo, để trao tận tay mỗi tờ rơi, viết rất ít.

Tờ rơi, bần đạo nhận tận tay, hôm ấy, vỏn vẹn chỉ mỗi truyện kể, đọc rất dễ như sau:

“Hôm ấy, nhà buôn giàu có người I-rắc sai gia nhân đi đến phố chợ mua cho ông một số đồ dùng để xài. Ít hôm sau, người chủ biết là đầy tớ mình đã đi rất nhanh. Về rất sớm. Mà, chẳng làm được gì nên chuyện. Gặp lại chủ, người đầy tớ biết đã có chuyện, bèn thân thưa:

-Con tới phố chợ như thày dặn. Nhưng ngặt một nỗi, là vừa vào cửa đã thấy có người theo dõi dữ quá chân bước không rời. Nhìn kỹ, hoá ra người đó là Thần Chết cứ đeo đuổi, ruổi theo con. Hôm nay, con về đây là để xin ngài cho con mượn đỡ con ngựa mạnh hầu nhanh chân mà thoát thân, khỏi lưỡi hái của Thần Chết, vẫn chực chờ. Con chỉ đi Samarra ít ngày cho qua mắt Tử Thần, rồi về ngay.

Nhà buôn đồng ý. Và người đầy tớ đã ra đi. Phút chốc, người chủ chợt nhớ ra là mình vẫn cần đến món đồ định mua về để sử dụng trong nhà, bèn đích thân ra đi đến phố chợ ở Bát-đa, mà sắm lấy. Vừa tới nơi, lại cũng thấy Thần Chết đứng chực ở đó, giữa đám đông. Như rình mò, người nào đó. Lấy lại bình tĩnh, người chủ bèn đến gần Thần Chết hỏi cho ra chuyện liên can đến người đầy tớ của ông. Thần Chết phân bua:

-Chả là, hôm ấy ta thấy hắn chợt đến đó, thay vì hắn phải đi Samarra để gặp ta, như đã hẹn.”

Thời buổi này mà bạn đạo mình còn nghe kể về Thần Chết với tớ thày/thày tớ, cũng khá lạ. Thế nhưng, người viết truyện kể chỉ muốn nhắc người đọc nhớ một điều, là: tất cả, bạn và tôi, rồi ra ta cũng không thoát khỏi cuộc hẹn với Thần Chết, lúc nào đó, khó biết trước.

Nhưng ở đây, vấn đề là: ta có gặp hay không gặp vị Thần Chết tiệt ấy hay không, mà là trong suốt cuộc sống ở đời, mình vẫn nên hỏi và nên nhớ. Nhớ và hỏi xem có bao giờ mình gặp gỡ Đức Chúa của sự sống và sự sống lại, như lời Ngài:

“Người phán:

Ta là Thiên Chúa của Áp-ra-ham,

Thiên Chúa của I-xa-ác

và Thiên Chúa của Gia-cóp.

Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết,

nhưng là của kẻ sống."

(Mt 22: 32)

Về những nhung nhớ về sự sống, rất sống lại, nghệ sĩ cũng có nỗi niềm nhớ nhung, như sau:

“Đêm nay khi ánh trăng êm đềm trong sáng

Ngân nga tiếng tơ gieo sầu nhớ chan hòa

Xa xa bóng đôi chim nhẹ xóa trăng ngà

Buồn nhìn đôi chim nhớ người,

nhớ người tình mơ bóng dáng vẫn xa mờ.”

(Văn Phụng – bđd)

Với nghệ sĩ, dù có là ánh trăng êm đềm. Trong sáng. Hay chỉ là, tiếng ngâm nga. Gieo sầu. Hoặc, “bóng đôi chim nhẹ xoá trăng ngà”, vẫn cứ nhớ. Nhớ người tình. Rất “tình mơ”. “Bóng xa mờ”. Nhớ, còn là nhớ về đề tài khá nóng bỏng, còn dang dở. Ở trời Tây. Tức, những chuyện lan man rất liên can đến mỗi người, và mọi người.

Nhớ “ánh trăng êm đềm”, còn là nhớ ý tưởng và lời bàn của vị giáo sư thỉnh giảng Stephen J Henney phát biểu ở Đại học Thánh Tôma, St Paul bang Minnesota Hoa kỳ, về “Tình yêu và Hôn Nhân, Bây Giờ và Mãi Mãi Vẫn Là Một, Chẳng Tách Rời”, như sau:

“Abraham Lincoln có lần từng hỏi: chó có mấy chân? Nếu nhìn đuôi của nó, rồi gọi đó là chân, như thế ta sẽ thấy chó có 5 chân? Hỏi xong, ông tự trả lời: dù ta có coi đuôi của chó là cái chân kèm thêm đi chăng nữa, cũng chẳng thể nào tạo cho nó có thêm chân. Thật sự mà nói, phần dính liền vào với thân của chó, bao giờ cũng có xương có thịt, hẳn hòi. Đuôi chó, vẫn là cái gì đó dính vào thân, theo hình thù/góc độ, rất khác nhau. Dù đuôi của chó có cụp xuống, thì người người cũng khó nhận ra đâu là khác biệt.

Dùng ví dụ của chó, để định nghĩa sự vật, cũng tuỳ đặc tính cốt lõi của vật thể ấy. Nói như thế, cũng giống như kiểu mọi người vẫn thường định nghĩa về binh sĩ, là người mặc đồng phục, vai mang súng ống, rất tự tin. Hoặc, nói: sân banh, là mặt bằng rất rộng, có thể chứa đựng hàng hàng lớp lớp những ghế để ngồi. Để xem. Cả hai định nghĩa trên, đều rất đúng. Nhưng, vẫn không lột tả được hết chuyện mình muốn nói.

Thật ra thì, xương thịt ở chân chó, vẫn khác với thịt xương ở đuôi nó. Chân, là phần hỗ trợ giúp cho chó có thể chạy/nhảy. Không cần biết, là khi chạy nhảy như thế, nó có ngoắc đuôi không. Hoặc nó ngoắc mạnh thế nào đi nữa, đuôi chó vẫn không thể giúp nó chuyển động, chạy đây chạy đó, được. Nên, vấn đề không phải là hỏi rằng: chân chó có thịt hay không, mà là chân nó được sắp xếp cách nào? Sao lại thế? Và, chắc chắn một điều: đuôi không phải và không thể là chân, vì dù nó có cố gắng cách mấy đi nữa, vẫn không thể làm công việc của chân, được.

Có người lại chống chế: chân chó tuy có nhiều, nhưng không giúp nó chuyển động đó đây, vì bị gãy. Hoặc, thịt da rã rời, què cụt vì tai nạn xe cộ, chẳng hạn. Trường hợp đó, chân chó dù không còn giúp chức năng chảy nhảy nữa. Dù thương tật, vẫn cứ là chân. Tật nguyền, vẫn đổi thay sự vật, dù chỉ là chân chó. Nói cách khác, chân vẫn là chân, dù nó có què có quặt, hoặc lê lết. Đuôi vẫn thực hoàn đuôi, dù mềm cứng, ngoắc ngư mạnh/nhẹ. Bản chất hai sự vật, vẫn khác biệt.

Cũng thế, dù nhiều người có yêu cầu thông qua đạo luật thiết lập hôn nhân cho người đồng phái tính, cũng sẽ kéo theo định nghĩa méo mó, như ở trên. Ngày nay, người ta chú trọng nhiều đến đặc điểm của hôn nhân, như: 1) Phải có hai người dính phần. 2) Hai người đều thương yêu nhau. 3) Cả hai đều thèm muốn thực hiện chuyện ăn nằm xác thịt với nhau. 4) Cả hai đồng ý phối hợp đời mình với dục tình. Vật chất. Lẫn kinh tế. 5) Cả hai có sự hỗ trợ và thôi thúc của cộng đồng mình sống. Xem như thế, các cặp nào có chung một giới tính, lại hội đủ 4 yếu tố ở trên, mà tại sao xã hội vẫn bác bỏ mọi hỗ trợ, ghi ở điểm 5?

Thật ra cũng dễ hiểu lý do tại sao vấn đề này lại nên trầm trọng, không chỉ với các cặp đồng tính luyến ái thôi, mà với cả triệu người khác vẫn mong muốn được cộng đồng hỗ trợ cho quan hệ đồng tính mình vẫn có, với nhau. Nếu tiêu chuẩn ở trên, nói chung –và riêng với xã hội trời Tây hiện vẫn coi hôn nhân như một cái gì còn hơn thế nữa- nên mới từ chối không chấp nhận ủng hộ cho quan hệ đồng tính được thiết lập hôn phối như một bất công thật khó chịu.

Điển hình là, trên thực tế hôn nhân vẫn mang nặng những đặc trưng như thế. Và câu hỏi đặt ra, là: tại sao hôn nhân lại có các đặc trưng ấy? Vẫn biết rằng, ta còn nhớ cung cách quan trọng trong quan hệ cốt yếu để gọi được là hôn nhân. Và, ta vẫn nhớ: quan hệ vợ chồng luôn khác với các quan hệ khác, cũng rất nhiều.

Trước nhất, con người bao giờ cũng thao thức rất mạnh về việc dấn thân vào quan hệ tình dục, rất ăn nằm.

Thứ hai, chuyện nam nữ có quan hệ tình dục vẫn là quan hệ bình thường và thông thường. Quan hệ ấy, phải dẫn đến kết quả là: có con. Quan hệ có nam có nữ mới là phần “ắt và đủ” hầu kích tác hệ thống sinh sản, rất vẹn toàn. Thiếu một bên, không thể có sản sinh. Bởi nếu không, thì mọi người sẽ tự hỏi: bộ phận sinh dục được Tạo Hoá dựng nên để làm chi? Tại sao, người nam và nữ cứ bị thôi thúc trao thân, vẫn thèm khát dục tình?

Thứ ba, là: việc nuôi dạy con cái là trách nhiệm cả một đời. Là thành phần xã hội, con người vẫn nối kết với nhau từ thế hệ này đến thế hệ khác. Cả người lớn rất đùm đề, cho chí con cái vẫn cần bậc ông bà, thế hệ trước dẫn dắt. Với những người tham gia tiến trình này, đều thấy có được lòng yêu thương trìu mến, đến với nhau. Từ đó, mới có thể thiết lập những tình tự hiến cho nhau, trọn người mình. Diễn tả bằng hành động theo cách thương yêu, có chất người.

Thứ tư, là do quyết định sẽ có con đàn cháu đống, thì sự trao ban cho nhau thân xác đầy dục tình mới tạo kết quả tốt đẹp cho người đời. Điều này có nghĩa, như ta nghĩ, đây không chỉ là hành vi có tính tư riêng, thầm kín. Bởi, nó dính dự nhiều đến cả cộng đồng. Nó cũng làm một việc mang tính cộng đồng. Cho cộng đồng. Thế nên, cộng đồng hỗ trợ và sắp đặt tình tiết có ý nghĩa dục tình. Thành thử, ai không thực hiện đủ ý nghĩa trọn vẹn nơi hành vi giao hoan dục tình của con người, thì cộng đồng sẽ không hỗ trợ cho động tác ấy. Coi đó là hành vi không thích hợp với con người.

Để diễn tả sự hỗ trợ cho hành vi trao thân mang ý nghĩa đúng đắn và trọn vẹn, cộng đồng đề ra một định chế về hôn nhân. Bằng vào hôn nhân, mọi cặp phối ngẫu đều tuyên hứa trước mặt cộng đồng rằng mình quyết sống đời thuỷ chung trường kỳ khiến kết hợp thân xác với cuộc đời của hai người để thực thi ý nghĩa trọn vẹn quyết tâm ấy. Liền khi đó, cộng đồng hứa sẽ hợp tác với cặp phối ngẫu dành sự riêng tư/mật thiết để cho cặp ấy thực hiện động tác giao thoa tình dục chăm sóc cho nhau. Sau đó, cộng đồng còn hứa hỗ trợ cho gia đình của đôi tình nhân bằng những phương tiện bảo trì/gìn giữ phúc lợi cách thoả đáng. Cũng có thể, là các cặp phối ngẫu không thực hiện cùng một cung cách, nhưng vẫn nhận được phúc lợi từ nhiều mặt, vì nhiều lý do. Nhưng, đây là lý do khiến đem lại những lợi ích phong phú vŕ cốt thiết cho hôn nhân: lŕ để giúp cho hôn nhân được nở rộ. Có nhiều lợi ích rất chính đáng.

Động tác giao hoan tình dục nào không dẫn đến kết quả sinh con đẻ cái một cách tự nhiên, thì thông thường, khó mà giải thích được tại sao nó lại cứ thế mà tồn tại. Bằng không, người người sẽ cứ tin vào thuyết tiến hoá mang tính vật chất. Hoặc giả, ta có tin vào Đấng Tạo thành trời đất rất yêu thương, cũng chẳng để làm gì. Động tác giao hoan tình dục nào không dẫn đến kết quả sinh con đẻ cái, thì cũng khó mà giải thích cách thức hôn nhân xuất hiện ở đời người. Bởi có làm thế, cũng chẳng để làm gì. Nào ích lợi chi.

Có thể ngay từ đầu, tôn giáo đã chúc lành cho hôn nhân, nhưng đâu phải tôn giáo tạo ra nó. Bởi lẽ, việc như thế có liên quan đến thực tại của con người, rất sâu sắc. Rất hệ trọng. Thế nên, chẳng ai lấy làm lạ khi thấy động tác giao hoan dục tình và hôn nhân đều mang ý nghĩa tôn giáo. Thế nên, dục tình và hôn nhân sẽ còn hiện hữu bao lâu mà cộng đồng nhân loại còn tồn tại.

Nếu chấp nhận định nghĩa sai lạc về hôn nhân, mà lại dùng đặc trưng không cần thiết để tạo cho trọn kịch bản, thì khó có thể bài bác bất cứ hôn nhân giữa người đồng tính, được.

Và nói cho cùng, cũng không thể nào chấp nhận những chuyện như thế được. Dù mặt ngoài trông nó giống hệt như mọi cuộc hôn nhân rất đúng nghĩa, hôn nhân giữa người đồng tính luyến ái, không thể năng-hoạt như hôn nhân tự nhiên được.

Ngày nay, hôn nhân đổ vỡ, gia đình nát tan, xã hội khập khiễng, nguyên do từ đâu? Ta không sống cho sự thật. Ta chấp nhận định nghĩa méo mó về hôn nhân. Ta vẫn cứ ngầm chấp thuận bất cứ hoạt động nào sắp đặt cho một giao hoan tình dục này khác. Ta lại còn vinh danh mọi khát vọng ăn nằm, đối xử với con trẻ như đồ vật hoặc như phương tiện để thoả mãn dục vọng. Noi chung, các nghiên cứu khảo sát cho thấy: việc nuôi dạy con cái theo hình thức trong môi trường nào khác hẳn lối nuôi dạy có cha có mẹ đàng hoàng theo mặt tự nhiên, là việc nuôi dạy gây nguy hại. Đôi khi nguy hại ấy khó tránh, nhất thứ là khi người cha hoặc mẹ chết đi, để rồi người còn sống không tìm gì có thể thay thế cho tình thương yêu vẫn có ấy. Quả là, không thể nói được rằng chuyện không thể có thể lại là chuyện đã xảy ra trên trần thế.

Chúng ta cần sự thật. Cần được chữa lành chân tay bị tật. Còn lại, việc có gọi đuôi con chó là chân đi chăng nữa, cũng chỉ làm cho vấn đề trở nên rối tinh. Lỉnh kỉnh. Khó hiện thực.

Hôn nhân tự nhiên. Giao hoan dục tình theo cung cách “an nhiên tự tại” của con người bình thường vẫn là sự thật ở đời. Sự thật của cuộc đời. Có sống thực như con người đích thực, mới là sống đúng chức năng của con người. Dù, có sống mười năm. Trăm năm hay ngàn năm văn vật đi nữa, vẫn là sống/là chết như người bình thường. Rất tự nhiên như cỏ cây. Nhưng thực tế, lại có những sự sống rất không thực, dù ngàn năm. Ở đâu đó. Chốn thân quen. Lạ lùng. Hay, đất khách.

Như chuyện sống chuyện chết ngàn năm của con người. Muông thú. Ở thị thành, rành rành một truyện kể. Và, cũng là chuyện thực, cả ngàn năm. Như chuyện mới đây người ta, tức người và ta, ở quê nhà, cũng đã vui/đã mừng ngàn năm văn vật, chốn Thăng Long. Linh đình. Rộn rã. Mừng vui. Tuy thế, để gọi là mừng sự sống ngàn năm cũng đã có nỗi buồn của sự chết. Dù chỉ là sự chết của dăm ba người ngoại quốc. Vì, bất cẩn, chạy tội hay thiêu hủy dấu tích.

Thế mới biết, trong niềm vui, cũng có nỗi buồn. Trong chuyện buồn, đều loé lên ánh sáng của niềm vui nào đó. Nếu như người ta, tức người và ta, đều nghĩ tới niềm vui. Rất miên trường. Vĩnh cửu. Chứ không chỉ một ngàn năm. Rất Thăng Long. Hay chuyện của mình đi nữa, vẫn là việc nên suy tư. Nghĩ lại.

Cuối cùng thì, có niềm vui nào như niềm vui của sự sống rất đồng thuận với lời thơ/ý nhạc mà người nghệ sĩ ở trên vẫn mời hát:

“Chim ơi cho ta nhờ

Đưa tin sang bến bờ sông vắng nên thơ

Em ơi anh mong chờ

Xuân sang không hững hờ tình duyên anh mơ.”

(Văn Phụng – bđd)

Nhờ đưa tin, có là chim muông, mãnh thú hay tiên thần, ta vẫn cứ nên nhớ lại Lời của Đức Chúa, khi Ngài nói:

“Ta là sự sống và sự sống lại,

Ai tin Ta sẽ chẳng bao giờ chết.”

(Yn 11: 25)

Cuối cùng thì, tin hay không sức sống miên trường điều Chúa nói , hay cái chết ngàn năm của “thần rùa”, rất Thăng Long, cũng còn tùy. Tùy anh. Tùy chị. Ở Nước Trời. Cõi vĩnh hằng ở trần gian. Rất an và rất bình. Vẫn vui sống.

Trần Ngọc Mười Hai

vẫn suy nghĩ nhiều

về sự sống

rất ngàn năm

đâu cứ phải Thăng Long.

39. “Dìu nhau đi trên phố vắng
Dìu nhau đi trong ánh sáng.”

(Phạm Duy – Thương tình ca)

Mt 5: 38- tt

Nơi bạn sống, chỗ nào mà chả có ánh sáng. Có, bài tình ca, giống hệt nơi tôi ở. Giống ở chỗ: rất nhiều điều lạ. Lạ nước lạ cái. Lạ cả người thân. Rất gần. Nhưng, người người chẳng muốn sống. Cùng nhau. Với nhau. Một chút nào. Bởi, sống như thế cũng khá khó. Khó, như nghệ sĩ già từng hát:

“Nhịp chân, êm êm thánh thót.

Đừng cho, trăng tan dưới gót.

Chớ để mộng vỡ mơ tàn, dịu dàng

Đừng cho, không gian đụng thời gian.”

(Phạm Duy – bđd)

Mọi sự đời, nhất nhất đều như “nhịp chân êm”. Như: “trăng tan”. “Dưới gót”. Chí ít, là như: “không gian đụng thời gian”, thật khó lòng. Khó, như chuyện bần đạo vừa gặp, ở đường về. Sau khi lang bạt kỳ hồ, chốn tình quê. Tìm quà cáp, gửi tặng người thân, dù chưa một lần, quen biết.

Buổi trời đẹp hôm ấy, bần đạo đã gặp một người bản xứ mũi cao da trắng, rất đàng hoàng. Vẫn lăng xăng đưa tặng người qua đường, tập sách nhỏ có giòng chữ: “Chúa đòi gì, nơi ta?” Đúng như bần đạo dự đoán, đây là sinh hoạt của nhóm “Nhân Chứng Đức Giêhôvah” (tức Jehovah Witness), vẫn “ta bà” chòm xóm, chốn mây bay. Trong Đạo. Ngoài đời. Vẫn kháo láo. Bàn thảo. Đủ thứ chuyện. Từ chuyện Đạo. Hội thánh Chúa. Của chính mình. Cho chí chuyện người. Cùng niềm tin. Khác chính kiến. Quyền lực. Rất sung sức.

Có điều lạ, là: tập sách chỉ muốn nói về điều “Chúa những đòi và những hỏi”, gồm tóm đôi câu thoạt nghe, đã thấy rầu. Và cũng chán. Như con gián. Tuy rất cần:

“1. Làm sao tìm ra điều Chúa đòi hỏi?

2. Đức Chúa là ai?

3. Đức Kitô là ai?

4. Sự dữ/ác thần là gì?

5. Đức Chúa muốn ta làm gì cho quả đất, rất địa cầu?

6. Nước Trời là sao?

7. Kề cận Đức Chúa, có cần cầu kinh.

8. Đời sống gia đình, làm Đức Chúa vui.

9. Làm tôi Đức Chúa, phải ở sạch.

10. Hành xử, là hành hạ một cư xử, Đức Chúa đâu nào đã thích.

11. Niềm tin và thói tật, những điều Chúa chưa vui.

12. Tôn trọng sự sống, bảo vệ tâm huyết.

13. Đi tìm lòng Đạo, một tôn giáo.

14. Nhân Chứng Đức Giêhôva, sống và làm việc như thế nào?

15. Trợ giúp mọi người thực hiện được ý của Chúa.

16. Phục vụ Đức Chúa, vẫn là sinh hoạt của bạn?

(x. What Does God Requires Us? Watch Tower, Bible & Tract Society, Pensylvania)

Chán và rầu, không vì: ở đầu sách, có những câu:“Thông tin quan trọng của Kinh Thánh, tìm ở đâu?”, “Ai là tác giả?”, “Sao ta cần tìm đến với Kinh Thánh?” Tức, những điều mà nhóm Chứng Nhân Đức Giêhôvah vẫn thường nói. Và cũng hỏi. Nói và hỏi, những điều mà bạn và tôi, ít có thì giờ để rờ tới. Ít có thời gian, lan man mà thảo luận với người người thuộc mọi giới. Mọi tuổi. Ở nhiều nơi.

Chán và rầu, là vì: ở đây. Hôm nay. Có nhiều vị, cũng từng hỏi và từng nói. Về chuyện Đạo. Với luật đời. Vẫn liên quan đến đấng bậc bề trên. Ở nhà Đạo. Rất Công giáo. Về luật lệ quốc tế. Quyết cột buộc, các “đức thầy” nhà Đạo vào chốn nợ đời, đóng hộp cứng ngắc.

Chán và rầu, vì các vị ấy, chỉ những muốn gán ghép/áp dụng các chương/đoạn nào thật lắt léo của luật đời. Cho nhà Đạo. Để rồi, đấng bề trên nhà Đạo, sẽ không còn cơ hội mà “dìu nhau đi trong ánh sáng” hầu dẫn đưa đàn chiên nhỏ. Cho đúng lối.

Chán và rầu, còn như nghệ sĩ đời, thường nói và hỏi bằng câu ca/tiếng hát, rất nhang nhác:

“Đưa nhau, vào cõi vô biên.

Có chim uyên, tình thiêng.

Hát ru êm, triền miên.

Đưa nhau, vào chốn không tên,

mặc đời quên.

Không bến,

không thuyền.

Hết câu nguyền.”

(Phạm Duy – bđd)

Mới đây thôi, người ngoài đời lại muốn đưa “thiên-đàng-nhà-Đạo” vào chốn “không gian đụng thời gian” như nghệ sĩ già, đà mô tả:

“Dìu nhau, sang bên kia thế giới.

Dìu nhau, nương thân ven chín suối.

Dắt dìu, về tới xa vời. Đời đời.

Dìu nhau, đưa nhau vào ngàn thu.”

(Phạm Duy – bđd)

Ngàn thu nay, với nhiều người, không còn là chốn niết bàn/thiên đàng hạnh phúc, nữa. Ngàn thu nay, người đời lại cứ kéo níu dân gian người người, về với cãi vã. Tranh giành. Thúc ép. Ngàn thu nay, đã thấy có vị lập lờ chuyện luật pháp. Những là, đánh lận con đen. Tôi rèn luật lệ. Ngõ hầu, đưa thiên hạ/vạn sự về chốn “nhất nhật tại tù…”. Chẳng ngại ngần chuyện xung khắc. Chém giết. Chém, bằng lời. Giết, bằng luật.

Ngàn thu nay, còn đó những là Lời của Chúa, từng báo trước:

“Các ngươi đã nghe bảo:

Mắt thế mắt, răng đền răng.

Còn Ta, Ta bảo:

đừng cự lại người ác,

nhưng nếu ai vả má phải ngươi,

thì hãy giơ má kia nữa;

và kẻ muốn kiện ngươi để đoạt áo lót,

hãy bỏ cả áo choàng ra, cho nó.”

(Mt 5: 38-40)

Người thích đáo tụng đình, các vị bề trên, bên Đạo, nay không đòi “áo lót” của ai hết. Điều họ những đòi và hỏi, là mấy điều rất ít người ngờ. Cũng chẳng ai muốn thấy. Người thích chuyện “đáo tụng đình” nay thích đòi đấng “đầy tớ của các đầy tớ Chúa” phải tù đày. Rày khổ ải. Ngàn thu. Cho bằng được.

Người thích cáo thích kiện, như luật gia Geoffrey Robertson ở Liên Hiệp Quốc, những muốn giải thích lề luật theo thiên kiến, của riêng mình. Để rồi, cứ kiện và cứ đáo tụng đình chuyện không liên quan riêng mình Đức Bênêđíchtô XVI. Kiện và tụng, bằng lời lẽ lập lờ. Quyết cho Đức Giáo Chủ phải ngồi tù. Cứ cho rằng, Đức Giáo Chủ đã cả gan “bao che/bảo bọc” các giáo sĩ vướng mắc tội “lạm dụng tình dục”, với trẻ em.

Luật gia Robertson thích biện luận, rằng: tội của các giáo sĩ phạm pháp đáng được lên toà án quốc tế LaHaye, vì không chỉ có tính tư riêng, biệt lập. Nhưng, đã mang tính hệ thống. Phổ cập. Có tính toán. Vì thế, phải coi như tội ác. Kiểu Omar al-Bashir, nguyên Tổng thống nước Su Đăng.

Điều mà luật gia Robertson quên sót, là: nếu như thế, thì đương kim Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban-Ki-Moon và tiền nhiệm Kofi Annan, cùng các luật gia trong tổ chức quốc tế này, đều đáng bị giam giữ. Như ông muốn. Bởi, 6 năm trước đây, cũng Liên Hiệp Quốc đưa ra chính sách “không nhân nhượng” với bất cứ ai trong lực lượng bảo vệ hoà bình, của chính họ. Những người, từng dính dấp vào các vụ lạm dụng tình dục, với người khác. Dù còn trẻ. Hoặc lớn hơn.

Nội 7 năm, đã có đến 75 nhân viên trong đội ngũ bảo vệ hoà bình của Liên Hiệp Quốc dính dấp vào các vụ “lạm dụng tình dục”, ở nhiều nơi. Trong số những trường hợp như thế, các quốc gia cung cấp nhân sự cho Liên Hiệp Quốc, đâu nào ứng đáp đòi hỏi của cơ quan này. Năm ngoái, chỉ có 14 trong số 82 yêu cầu phải cung cấp thông tin về các tội phạm được gán ghép, là có hồi âm, mà thôi.

Về “lạm dụng tình dục” nơi hàng giáo sĩ, chính Đức Bêneđíchtô XVI đã đại diện cho Hội thánh nói lời “Xin lỗi!”, gửi đến nạn nhân và gia đình họ. Còn vị khác, như Thống đốc Rick Perry của Texas, nào đã nói gì. Dù, chỉ một lời nhận lỗi. Đối với nạn nhân. Với quốc tế. Bởi, ở nhà tù tiểu bang này thôi, đã có đến 12% trẻ vị thành niên bị nhân viên trại giam hoặc kẻ khác lạm dụng, rất trái phép.

Thêm một sự kiện khác: có người từng gửi thư lên một công ty bảo hiểm ở Mỹ, hỏi rằng: phải chăng Giáo hội Công giáo phải trả tiền thù lao/bảo hiểm cao hơn nhiều cơ quan khác, vì người của Giáo hội có nguy cơ phạm pháp, nhiều hơn người khác không? Câu trả lời từ cơ quan này, là: KHÔNG. Không phải thế. Đâu riêng gì Giáo hội. Đâu cứ gì, người Công giáo. Tin Lành. Hoặc, giới vô thần, không sư sách. Mới phạm nhiều.

Thật ra, vấn đề “lạm dụng tình dục” nên đặt theo cung cách khác. Cung và cách bảo rằng: ấu dâm đương nhiên là chuyện đáng gờm. Đáng tởm. Nhưng, có nên chăng tìm hiểu sự thiếu quân bình trong tính cách quyết định giữa người trẻ và kẻ chủ mưu, không? Có người lại hỏi: nếu trẻ đồng ý làm thế, thì việc đó có thay đổi đạo lý của hành động dục tình này không? Câu trả lời từ Đức Giáo Chủ, là: KHÔNG. Bởi, dục tính và dục tình là việc dành để cho hôn nhân, mà thôi.

Từ đó, có người cứ nghĩ và suy ra, là: mình có thể thực hiện chuyện tình dục bên ngoài hôn nhân/hôn phối, mà vẫn an toàn/lành lặn. Vì nghĩ thế, nên đời người không tránh được các sự thể mang tính bức bách. Rối loạn. Xà ngầu.

Nói gì thì nói, dục tính/dục tình, là chuyện dài, ở huyện. Những huyện có tự do sinh hoạt để sống. Và, hít thở. Những huyện, cứ chăm chăm đổ vấy mọi tội rất khăm, cho nhà Đạo. Cho hàng giáo sĩ. Hoặc, giáo dân hiền. Có lẽ, nay là lúc ta cũng nên đặt vấn theo cung cách hoàn toàn khác biệt. Đặt sao cho dung hoà. Tích cực. Và phấn chấn. Hơn là, cứ ngồi đó mà đổ tội. Để được lợi. Thứ lợi lộc, mà ít người nhận ra. Như tiền bạc. Tiếng tăm. Uy quyền.

Hỏi gì thì hỏi, có muốn giải quyết mọi bất bình và bất ổn, trong xã hội, có lẽ không gì bằng đề nghị, “ta về ta tắm ao ta”. Ao nhà, vẫn có văn thơ/âm nhạc tình người. Sẽ thích hơn. Thích dìu nhau. Trong yêu thương. Trong hy vọng. Dìu nhau vào chốn miền có Chân. Thiện. Mỹ. Có cả chân lý. Nơi con người. Bởi, hy vọng là tình thương nhẹ nhàng. Nề nếp. Một giấc mơ. Như bao giờ.

Hy vọng, là thế giới rất đẹp. Đáng sống. Ở nơi đó, có tình người sống với nhau, nề nếp. Thương yêu. Đùm bọc. Đùm và bọc, không ô trọc, dục tình. Sống hy vọng, là sống trải nghiệm một cuộc đời có Chúa. Đức Chúa Phục Sinh, vẫn giúp mình thoát khỏi cảnh tình chỉ biết sống theo bản chất. Cơ năng. Rất xác phàm. Sống trong Chúa. Sống có tình cộng đoàn. Có tình Nước Trời. Ở đời.

Hy vọng, là mộng ước “dìu nhau đi trong ánh sáng”, có hồn Thơ. Âm nhạc, đầy dẫn dắt:

“Dắt hồn về giấc mơ vàng, nhẹ nhàng

Dìu nhau đi chung một niềm thương.”

(Phạm Duy – bđd)

Hy vọng, là sự thể ổn định ở thế giới có tình thương yêu. Dàn trải. Thế giới, không gian dối. Lọc lừa. Điêu ngoa. Doạ dẫm. Nhưng, đã hiền hoà. Sống phải phép. Để làm cho vấn đề nêu trên được nhẹ nhàng, cũng nên tìm đến một vài truyện kể nhè nhẹ. Thanh thanh. Dù, không bố cục xuyên suốt. Khúc chiết. Mạch lạc. Như, truyện thường ngày, ta vẫn thấy ở đâu đó. Nơi đời người. Như sau:

“Lm John Tauler, một giáo sĩ chuyên chăm nguyện cầu. Luôn cầu và mong cho mình gặp người chỉ dẫn sống đời thanh khiết. Nhẹ nhõm. Chẳng bận tâm, một thứ gì. Dù, người đời gọi đó là dục tính. Dục tình.Hoặc, chăn gối.

Một hôm, nghe tiếng lương tâm réo gọi, vị linh mục bèn bước ra khỏi cửa hầu tìm kiếm vị quân sư ngoài đời/trong Đạo khả dĩ đem cho ông một tư vấn, rất khả thi. Nhìn ngang nhìn ngửa, linh mục chẳng thấy một ai ngoài ông ăn mày, áo quần rách nát, diện mạo bẩn thỉu. Hơi có mùi thôi thối, ở bên mình. Linh mục chào hỏi người khất thực, câu thông thường:

-Chào ông/bác. Ông/Bác may mắn. Khoẻ mạnh chứ?

-Tôi có ốm đau hay gặp rủi, đâu thưa ngài!

-Vậy, xin Ơn trên ban cho ông/bác mọi điều hạnh phúc.

-Cả đời, tôi chưa từng thấy khổ, bao giờ hết.

-Vậy xin hỏi: nếu Chúa bắt ông/bác xuống hoả ngục, có khổ không?

-Nếu bị thế, tôi sẽ ôm ghì vào người Chúa, cùng xuống luôn. Thà, sống nơi ngục thất có Chúa, hơn nơi nào tưởng là phúc hạnh, chẳng thấy Chúa đâu.

-Thôi thì thế này, xin ông/bác cho biết từ đâu tới, sao chưa gặp?

-Thưa ngài, tôi đến từ Thiên Chúa.

-Lạ nhỉ! Thế ông/bác tìm được Chúa ở đâu thế?

-Ở khúc quẹo cuộc đời, khi tôi bỏ rời của cải vật chất, rất dục tình.

-Thế, ông/bác là ai vậy?

-Tôi là Vua. Là, cha già dân tộc.

-Muôn tâu Đức Vua. Xin ngài cho biết vương quốc ngài hiện ở đâu?

-Vương quốc tôi, ở nơi tâm hồn. Đâu xa. Đó chính là hạnh phúc. Sâu xa. Đáng quý.

Thế đó, chốn thiên đình. Là, tình dân gian. Hạnh phúc. Rất thanh khiết. Niềm hân hoan. Cha ban, mà ta không biết. Và, cũng chẳng nhận ra niềm vui, hạnh phúc, bình yên ấy. Niềm an vui sẽ có, nếu mọi người biết quên mình, vì người khác. Quên, để sẽ không làm mọi người sầu đau. Khốn khổ. Nơi chốn giữ giam. Tù tội. Không lối thoát. Bởi, dù có bon chen. Kiện tụng. Hoặc kết tội một ai đó, cũng chẳng làm người ấy khổ đau. Hoặc u hoài. Nhưng, chính mình sẽ là người cảm nhận những đau buồn, ở trong tâm. Suốt đời.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn cứ mong cho mình

và cho người

mãi mãi bình an.

Ở tâm can.

40. “Đường vào tình yêu có trăm lần vui,”

có vạn lần buồn”.

(Trúc Phương – Đường vào tình yêu)

Lc 12: 51

Bấy lâu nay, bần đạo vẫn cứ viết và cứ lách. Viết rất nhiều. Lách không thiếu. Viết rồi lách những chuyện giông dài, có ở đời. Nơi nhà Đạo. Đa số chuyện bần đạo những viết và lách, chỉ loanh quanh chuyện tình dài vẫn cứ yêu đương và đương yêu. Có, những giòng chảy len vào đời. Cả nơi Đạo. Vẫn yên vui. Nồng thắm. Phấn khởi. Có đâu như chuyện buồn “len lén tâm tư”, của ai đó. Hoạ chăng, nếu luồn lách giòng nhạc trích ở trên, cũng chỉ thấy giọng ca ai oán tình đời, một Thanh Thuý:

“Đường vào tình yêu, có trăm lần vui có vạn lần buồn

Đôi khi nhầm lỡ, đánh mất ân tình cũ.

Có đau chỉ thế, tiếc thương chỉ thế

Khi hai mơ ước, không chung cùng vui lối về.”

(Trúc Phương – bđd)

Mấy lúc ngồi viết, bần đạo thường không quên đính kèm một truyện kể. Đọc cho dễ. Truyện vui không thiếu. Truyện buồn, cũng khá nhiều. Nhưng nào dám kể về giòng chảy xuyên suốt, buồn da diết, như truyện “con ruồi” mà bần đạo nhận từ điện thư, hôm trước, rất như sau:

“Có con ruồi rất nhỏ xíu. Vậy mà cái nhỏ xíu đó đôi khi lại là nguyên nhân của những chuyện tày đình. Với hôn nhân.

Tôi ốm. Và, vợ tôi pha cho một ly sữa. Tôi nốc một hơi cạn đến nửa ly và phát hiện ra là: trong ly có con ruồi. Con ruồi đen bập bềnh trong ly sữa trắng, "đẹp" khủng khiếp!

Thế nhưng, mọi chuyện bắt đầu từ đó.

Tôi vốn rất kỵ ruồi, cũng như gián, chuột, nói chung là kỵ tất cả các thứ dơ bẩn. Tối đang nằm mà nghe tiếng chuột bò sột soạt trong bếp là tôi không tài nào nhắm mắt được. Thế nào tôi cũng phải vùng dậy lùng sục, đuổi đánh cho kỳ được. Bằng không thì cứ gọi là thức trắng đêm. Vậy mà bây giờ, một trong những thứ tôi sợ nhất lại nhảy tót vào ly sữa tôi đang uống, và đã uống. Nói trắng ra, là nhảy tót vào mồm tôi. Biết đâu ngoài con ruồi chết tiệt trong ly kia, tôi lại đã chẳng nuốt một con khác vào bụng. Mới nghĩ đến đó, tôi đã phát buồn nôn.

Thấy tôi khạc nhổ luôn mồm, vợ tôi bước lại, lo lắng hỏi:

-Sao vậy anh?

Tôi hất đầu về phía ly sữa đặt trên bàn:

-Có người chết trôi kia kìa!

Vợ tôi cầm ly sữa lên:

-Chết rồi! Ở đâu vậy cà?

-Còn ở đâu ra nữa! Tôi nhấm nhẳng:

- Chứ không phải em nhặt con ruồi bỏ vào ly cho anh à!

Vợ tôi nhăn mặt:

-Anh đừng có nói oan cho em! Chắc là nó mới sa vào!

-Hừ, mới sa hay sa từ hồi nào, có trời mà biết!

Vì tôi đang ốm nên vợ tôi không muốn cãi cọ, cô ta nhận lỗi:

-Chắc là do em bất cẩn. Thôi để em pha cho anh ly khác.

Tôi vẫn chưa nguôi giận:

-Em có pha ly khác thì anh cũng đã nuốt con ruồi vào bụng rồi!

Vợ tôi trố mắt:

-Nó còn trong ly kia mà!

-Nhưng mà có tới hai con lận. Anh uống một con rồi.

-Anh thấy, sao anh còn uống?

-Ai mà thấy!

-Không thấy, sao anh biết có hai con?

Tôi tặc lưỡi:

-Sao không biết? Uống vô khỏi cổ họng, nghe nó cộm cộm là biết liền.

Vợ tôi bán tính bán nghi. Nhưng vì tôi đang ốm, một lần nữa cô ta sẵn sàng nhận khuyết điểm:

-Thôi, lỗi là do em bất cẩn! Để em…

Tôi là tôi chúa ghét cái kiểu nhận lỗi dễ dàng như vậy. Do đó, tôi nóng nảy cắt ngang:

-Hừ, bất cẩn, bất cẩn! Sao mà em cứ bất cẩn cả đời vậy?

Vợ tôi giật mình:

-Anh bảo sao? Em làm gì mà anh gọi là bất cẩn cả đời?

-Chứ không phải sao?

-Không phải!

-À, lại còn bướng bỉnh! Tôi nheo mắt:

-Chứ hôm trước ai ủi cháy cái quần của anh?

-Thì có làm phải có sai sót chứ? Anh giỏi sao anh chẳng ủi lấy mà cứ đùn cho em!

-Ái chà chà, cô nói với chồng cô bằng cái giọng như thế hả? Cô nói với người ốm như thế hả? Cô bảo tôi lười chảy thây chứ gì? Cô so sánh tôi với khúc gỗ phải không? Ái chà chà…Thấy tôi kết tội ghê quá, vợ tôi hoang mang:

-Em đâu có nói vậy!

-Không nói thì cũng như nói! Cô tưởng cô giỏi lắm phỏng? Thế tháng vừa rồi ai làm cháy một lúc hai cái bóng đèn, tháng trước nữa ai phơi quần áo bị đánh cắp mà không hay? Cô trả lời xem! Vợ tôi nhún vai:

-Anh lôi những chuyện cổ tích ấy ra làm gì? Hừ, anh làm như anh không bất cẩn bao giờ vậy! Anh có muốn tôi kể ra không? Tháng trước ai mở vòi nước quên tắt để cho nước chảy ngập nhà? Anh hay tôi? Rồi trước đó nữa, ai làm mất chìa khóa tủ, phải cạy cửa ra mới lấy được đồ đạc?

Tôi khoát tay:

-Nhưng đó là những chuyện nhỏ nhặt! Còn cô, năm ngoái cô lấy mấy triệu cho bạn bè

mượn bị nó gạt mất, sao cô không kể luôn ra?

-Chứ còn anh, sao anh không kể chuyện anh đi coi đá gà bị mất xe? Rồi năm ngoái, ai nhậu xỉn bị giật mất điện thoại?

Cứ như thế, như có ma xui quỉ khiến, hai vợ chồng thi nhau lôi tuột những chuyện đời xửa đời xưa của nhau ra và thay nhau lên án đối phương, không làm sao dừng lại được. Tôi quên phắt là tôi đang ốm. Vợ tôi cũng vậy. Chúng tôi mải mê vận dụng trí nhớ vào việc lùng sục những khuyết điểm tầng tầng lớp lớp của nhau. Và thật lạ lùng, có những chuyện tưởng đã chìm lấp từ lâu dưới bụi thời gian, tưởng không tài nào nhớ nổi, thế mà bây giờ chúng lại hiện về rõ mồn một và chen nhau tuôn ra cửa miệng. Từ việc tôi ngủ quên tắt TV đến việc vợ tôi mua phải cá ươn, từ việc tôi bỏ đi chơi ba ngày liền không về nhà đến việc vợ tôi đi dự sinh nhật bạn đến mười hai giờ khuya v.v…, chúng tôi thẳng tay quậy đục ngầu quá khứ của nhau và vẽ lên trước mặt mình một bức tranh khủng khiếp về đối tượng.

Trời ơi! Thế mà trước nay tôi vẫn sống chung với con người tệ hại đó! Thật không thể tưởng tượng nổi! Tôi cay đắng nhủ thầm và bùng dậy quyết tâm phá vỡ cuộc sống đen tối đó. Tôi đập tay xuống bàn, kết thúc cuộc tranh cãi:

-Thôi, tra khảo hành hạ nhau thế đủ rồi! Tóm lại là tôi hiểu rằng tôi không thể sống chung với cô được nữa! Tôi ngán đến tận cổ rồi!

Vợ tôi lạnh lùng:

-Tùy anh!

Câu đáp cộc lốc của vợ không khác gì dầu đổ vào lửa. Tôi nghiến răng:

-Được rồi! Cô chờ đấy! Tôi làm đơn xin ly hôn ngay bây giờ!

Tôi lập tức ngồi vào bàn và bắt đầu viết đơn. Ngòi bút chạy nhoáng nhoàng trên giấy với tốc độ 100km/giờ.

Viết và ký tên mình xong, tôi đẩy tờ đơn đến trước mặt vợ. Cô ta cầm bút ký rẹt một cái, thậm chí không thèm liếc qua xem tờ đơn viết những gì.

Thế là xong! Tôi tặc lưỡi và thở ra, không hiểu là thở phào hay thở dài. Cuộc đời cứ như xinê, nhưng biết làm thế nào được!

Ký tên xong, vợ tôi đứng lên và cầm lấy ly sữa.

-Cô định làm gì đấy?

-Đem đổ đi chứ làm gì!

-Không được! Để ly sữa đấy cho tôi! Tôi phải vớt con ruồi ra, gói lại, đem đến tòa án làm bằng cớ!

Đặt ly sữa xuống bàn, vợ tôi lẳng lặng đi vào phòng ngủ, đóng sập cửa lại. Trong khi đó, tôi hì hục lấy muỗng vớt con ruồi ra.

Tôi ngắm con ruồi nằm bẹp dí trên đầu muỗng và có cảm giác là lạ. Tôi đưa con ruồi lên sát mắt, lấy tay khảy nhẹ và điếng hồn nhận ra đó là một mẩu lá trà.

Con ruồi. Mẩu trà. Tất cả, chỉ là thế. Vẫn có thể, chẳng có chuyện gì ly dị/ly thân ghê lắm đâu. Chỉ là nguyên do/đầu đề, một cãi vã. Đấu tranh. Đổ vấy cho nhau, một vài tội. Để rồi, sẽ hiểu lầm. Chia rẽ. Cách ly. Và, hệ quả là: bung đầu. Nhức óc. Với, điếc tai. Điếc, cả tai mình, lẫn hàng xóm. Có khi còn kết cục bằng một rời bỏ. Xa cách. Chia ly. Có khi, cũng quay về. Với nhau. Cùng nhau ở lại. Và, lại ở. Với nhau.

Về với nhau. Trong đời. Sẽ, lại nghe câu ca tiếp của người nghệ sĩ nổi danh, vẫn đành hát:

Mình vào đời nhau,lúc môi còn non tuổi mộng vừa tròn
Hương thơm làn tóc, nước mắt chưa lần khóc
Đến nay thì đã đắng cay nhiều quá
Thơ ngây đi mất trong bước buồn giờ mới hay.”

(Trúc Phương – bđd)

Về với Đạo, có vị lại cứ bảo: sao Chúa mà cũng có những lời rất bạo. Dễ “xa nhau”, như sau:

“Các ngươi nghĩ:

Ta xuất hiện để ban bình an trên mặt đất ư?

Không đâu! Ta bảo các ngươi,

Không gì khác ngoài sự chia rẽ!”

(Lc 12: 51)

Những chia rẽ mà Chúa nói, đâu có là rẽ chia/buồn phiền, dù lên đến trăm/vạn lần. Cũng chẳng là mục đích Chúa hiện tỏ. Dù vẫn thấy. Rẽ chia/buồn phiền, thực sự, chỉ vì hai chữ “tự do”, của con người. Vì tự do, nên người người mới buồn phiền. Rẽ chia. Tranh chấp. Vì tự do, nên người người mới lơ là. Từ bỏ. Bỏ cả Chúa. Bỏ mọi người. Chỉ lo cho đến mình. Lo cho tự do, của mình.

Rẽ chia/buồn phiền, là vì con người có chọn lựa. Chọn điều này. Lựa cái khác. Lựa và chọn, cả những gì không vui. Chẳng mừng. Huống hồ, là bình an. Lựa và chọn, theo kiểu của người tình buồn, là chọn và lựa con đường khác khi trước. Khác, cả những điều được lương tâm/chức năng khuyên can. Nhắn nhủ. Khác, như “con người” đầu, từng làm khác. Chẳng giống ai. Khác, vì cứ dông dài muốn nổi cộm. Khác, vì cuối cùng vẫn cứ bám víu vào những chuyện buồn bã. Lã chã. Tức bực.

Rẽ chia/buồn phiền, có thể là do con người vẫn cứ hỏi và cứ xin, như sau:

“Bao năm qua rồi, còn gối chiếc

Nghe lòng, nhiều hối tiếc

Thương nhau rồi! Xa nhau rồi!

Một lần dang dở ấy

Đêm lạnh vui với ai ?

(Trúc Phương – bđd)

À, là thế. Rẽ chia/buồn phiền, là vì đêm lạnh, vui với ai? Rẽ chia/buồn phiền, cũng vì đã từng “một lần dang dở”, “nhiều hối tiếc”, nhưng vẫn cứ như là:

“Nụ cười ngày xưa, chết trên bờ môi, héo mòn tuổi đời

Đi thêm một bước, trót nhớ thêm một bước

Nếu ta còn nhớ, mắt môi người cũ

Xin mang theo tiếng yêu khi gọi anh với em!”

Thật đúng thế! Nếu ta còn nhớ, mắt môi người cũ, tức là nhớ đến niềm vui khi trước, thì chắc không phải lùng sục những bất cẩn của nhau để đem ra mà khoét sâu vết thương của nhau, mà là “mang theo tiếng yêu”, khi gọi anh/em vẫn cứ ngọt ngào như trước. Như khi trước, là lúc có sự ngọt ngào căn dặn của Đức Chúa, như Lời Vàng, cao sang Chúa vẫn bảo:

“Martha! Martha!

Ngươi lo lắng xôn xao về nhiều chuyện!

Cần thì ít thôi, hay một điều thôi!

Maria đã chọn phần tốt rồi.

Và sẽ không bị ai giựt mất!”

(Lc 10: 41-42)

Một điều thôi! Ai cũng đều biết. Nhưng chẳng chịu theo. Cứ lẽo đẽo, mà thả mồi bắt bóng. Bởi thế nên, vẫn cứ thấy/cứ gặp vạn lần buồn, trên đường vào tình yêu. Niềm vui Maria có, sẽ chẳng ai giựt đi mất, vẫn là điều Chúa khuyên nhủ người đàn ông thông (đủ thứ) luật, ở Tin Mừng:

“Hãy yêu mến Chúa, Thiên Chúa của anh em

hết lòng trí, linh hồn, sức lực

và yêu người thân cận, như chính mình…

Cứ làm như vậy, là sẽ được sự sống, đời đời.”

(Lc 10: 25-37)

Chính đó là bí kíp, của cuộc đời. Thế ấy, là đường lối đúng nhất để lựa chọn mà đi vào con đường, của tình yêu. Muốn sống vui/sống đẹp, trong tình yêu, cũng nên nghe người khác truyền cho mình nhiều bí kíp. Bí kíp, hay tuyệt chiêu, nhiều lúc chỉ “ vừa đủ”, như thế này:

“Hãy cố tạo,

vừa đủ HẠNH PHÚC, để tâm hồn mình luôn thanh cao,

vừa đủ THỬ THÁCH, để mình được dũng mãnh,

vừa đủ MUỘN PHIỀN, để mình có lòng nhân ái,

vừa đủ HY VỌNG, để hạnh phúc ngự trị mãi nơi tâm can,

vừa đủ THẤT BẠI, để giữ mình khiêm tốn,

vừa đủ THÀNH CÔNG, để mình kiên cường,

vừa đủ BẠN BÈ để giúp mình an vui,

vừa đủ VẬT CHẤT, để mình thảnh thơi,

vừa đủ NHIỆT TÌNH, để mình đi đến cùng mọi dự tính,

vừa đủ NIỀM TIN, để xua tan tăm tối khiến mình ngã chúi,

vừa đủ NGHỊ LỰC, để cuộc sống mình thêm đẹp,

vừa đủ TÌNH YÊU, để mình sẽ thực hiện mọi điều kể trên…

Ấy nhưng, thế nào là “vừa đủ”, đó mới là vấn đề. Và, đâu là vấn đề, thế đó là vừa đủ. Vấn đề để vừa đủ, vừa đủ rủ rê tạo vấn đề, tất cả vẫn cứ “xa luân chiến”, như tình yêu. Như cuộc đời. Của mọi người. Nắm bắt được bí kíp ấy, bạn và tôi, ta sẽ không hát như Thanh Thuý/Thuý Thanh, “xưa rồi Diễm”. Nhưng, vẫn cứ ca ta bà, bài hôm trước:

“Chúa yêu trần thế. Hallê! Hallêluyah!

“Đã chết cho đời! Và, đà sống lại.

Hát lên người ơi: Halelluyah!…

(Thành Tâm/Sĩ Tín – Hallêluyah Hát Lên người Ơi!)

Bởi thế nên, hãy cứ hát. Hát cho tình yêu. Hát cho cuộc đời. Rồi sẽ vui. Đến triệu lần.

Trần Ngọc Mười Hai

Từng kiếm tìm đường tình yêu

Vẫn thấy vui. Rất nhiều điều vui.

Chứ đâu nào buồn đến vạn lần.

Để rồi than.

41. “Buồn ơi trong đêm thâu,”
Ôm ấp giùm ta nhé
Người em thương mưa ngâu
Hay khóc sầu nhân thế…”

(Trịnh Công Sơn – Ướt Mi)

Yn 12: 24-25

Mỗi khi đi vào vùng trời những phiếm, là đã phiếm về lòng Đạo, giữa đời. Hoặc, phiếm về nhạc đời có Đạo. Đạo làm người. Làm, con dân Đức Chúa. Bần đạo lại nhớ đến nhạc phụ của mình. Nhạc phụ bần đạo, tuy chả khi nào chịu phiếm, dù chuyện đời. Hoặc lời thơ. Ý nhạc. Nhưng cụ rất thích nhạc đời có nghĩa đạo. Tuy, không theo Chúa. Đặc biệt, cụ thích nhất giọng ca của Thanh Thúy.

Có một lần, bần đạo mon men đến gần nhạc phụ để hỏi lý do làm sao cụ lại thích giọng ca “liêu trai”, như thế. Thì, cụ tủm tỉm cười, rồi bảo: “Đấy anh xem. Tìm đâu ra trên cái cõi đời này, ai mà có được giọng ca thiên phú, đến là thế.”

Nhạc phụ của bần đạo không nói rõ giọng Thanh Thúy đặc biệt ở điểm nào. Nhưng suy cho cùng, bần đạo thấy nhạc phụ mình rất có lý. Bởi, giọng đặc biệt trời cho không giống ai, thì đời này chỉ đếm được vài ba giọng, như của Edith Piaf, nước Pháp; Céline Dionne, của Canada, Joan Sutherland cua Úc, vv.. thế thôi.

Về người ca sĩ tên Thanh Thúy, bần đạo lại bắt gặp vài nhận định từ các bạn viết và lách ở các nơi, như lời phát biểu của nhà thơ kiêm nhà giáo là Nguyên Sa Trần Bích Lan, có lần nói:

“Thanh Thuý là người yêu trong mộng của cả một thế hệ, trong đó có những nhà văn, nhà thơ…” (x. Ngọc Lan, Chuyện trò trên mạng, điện báo Người Việt 04/08/2010)

Ngoài ra, phóng viên Ngọc Lan cũng thêm vào đó một nhận định:

“Tôi không diễn tả được giọng ca Thanh Thúy là như thế nào, chỉ biết rằng nghe Thanh Thúy hát, mình bỗng có một cảm giác da diết và khắc khoải đến lạ lùng. Và chỉ có Thanh Thúy mới hát được như vậy.

Giọng hát Thanh Thuý luôn mang đến cho người nghe một cảm giác vừa bồng bềnh, phiêu lãng, vưa du dương, chất ngất những nỗi niềm, những tái tê, nên nhắc đến Thanh Thúy, người nghe lại liên tưởng đến “tiếng hát liêu trai”, hay “tiếng hát khói sương”, tùy theo cảm nhận của mỗi người. Nhắc đến Thanh Thúy, người ái mộ không chỉ nhắc đến giọng hát, nhắc đến những bài ca khiến người nghe phải thổn thức, mà nhắc đến Thanh Thúy, người ta còn phải nhắc đến một thái độ nghiêm túc, chừng mực đối với hôn nhân, đối với cuộc đời.” (x. Ngọc Lan, Ca sĩ Thanh Thúy, nửa thế kỷ ca hát, Người Việt 04/08/2010).

Còn đây, là chính bộc bạch của nghệ-sĩ-có-giọng-hát-vượt-thời-gian, như sau:

“Tôi nghĩ ông trời cho tôi một giọng hát, và cho tôi thêm điều tốt may mắn là gặp toàn những điều tốt đẹp trong cuộc đời. Tôi luôn nghĩ mọi chuyện là do Trời sắp đặt. Cuộc đời không ai không trải qua những sóng gió. Nhưng phải luôn nghĩ đó là cuộc đời. Mình nghĩ mình hạnh phúc thì sẽ hạnh phúc. Tôi sinh ra đã thiếu thốn tình cha. Mẹ lại mất sớm. Nên gia đình, với tôi là tất cả. Tôi quan niệm ông Trời đã cho mình điều gì thì mình hãy chấp nhận, ngay khi có cả những gợn sóng bùng lên.” (Thanh Thúy, Chuyện trò trên mạng, bđd)

Nhận ra giọng ca hay định dạng cuộc đời, nhiều người cũng nhận định, tựa như thế. Giống như đời. Thế còn, nhà Đạo vốn thành thạo, với quả quyết của thánh nhân, trong Kinh Sách, thì sao?

Còn nhớ, Phaolô thánh nhân từng tâm tình với người bạn đồng hành cùng là đệ tử mang tên Timôtê, như sau:

“Hãy tránh những đam mê tuổi trẻ;

hãy theo đuổi công chính,

lòng tin,

lòng mến,

bình an,

làm một với những ai kêu cầu Chúa

với lòng trong sạch.”

(2 Ti 3: 22-23)

Về đời người. Hạnh phúc/sướng vui hay “buồn đêm thâu”, rất khổ não. Đâu nào do giọng ca “liêu trai”/buồn bã, nó vận vào người. Cũng chẳng vì ông Trời vẫn quan phòng, hoặc tiền định, đâu vì thế. Có đâu vì, lời ca bay bướm hoặc rất buồn. Rất lê thê. Não nề. Như lới hát, ở bên dưới:

“Mưa lạnh lùng rơi rớt giữa đêm về

Nghe não nề…

Mưa kéo dàu lê thê những đêm khuya,

Lạnh ướt mi

Ai còn buồn khi lá rớt trong một cuối đông.”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

Cho đi là mưa bão có kéo dài cả cuộc đời, nhiều ê chề. Ướt. Đến, lê thê đi nữa. Hoặc dù cuộc đời mình, thật ra vẫn cứ là:

“Ngoài hiên mưa rơi rơi,

buồn dâng lên đôi môi

buồn đau hoen ướt mi ai rồi

buồn đi trong đêm khuya

buồn rơi theo đêm mưa..”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

Mưa có rơi. Đời có buồn. Rất “ướt mi”. Hoặc, vẫn cứ là khi “rớt trong một cuối đông”, cuộc đời đi nữa, thì đời người vẫn cứ hiện rõ ở đâu đó, niềm vui như Lời Thầy hằng biểu tỏ:

“Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất,

Ai ghét sự sống mình nơi thế gian này,

thì sẽ giữ nó cho sự sống đời đời.”

(Yn 12: 25)

Tất cả là như thế. Những vui/buồn, một đời. Đều vẫn vậy. Vấn đề là, mình có bắt gặp và hiểu biết Lời Hằng Sống. Chúa vẫn nói. Thế thôi. Thật sự, thì điều mà các thân nhân ở ngoài đời hay trong Đạo vẫn quả quyết về ý định của Đức Chúa, rất rõ rệt. Nhưng, người đời xem ra chưa nhật biết rõ.

Chưa nhận rõ, nhiều khi chỉ vì người đời vẫn căn cứ vào những mộng tưởng, hoặc ảo giác. Mộng và ảo, chỉ vật vờ nằm ở nỗi vu vơ. Lờ mờ. Chưa hiện rõ. Người đời, vẫn cứ mộng tưởng. Nên, thấy mình còn quá nhỏ, trong nhận định về hạnh phúc/sướng vui, của đời người. Thế nên, người người cần nhận định. Học hỏi. Được hướng dẫn. Cho phải phép. Học về những nghịch thường trong cuộc đời, tỉ như: muốn tường tận Sự Thật, phải khiêm hạ. Chấp nhận mọi yếu kém. Rất thiếu sót.

Người người chỉ nắm bắt được Sự Thật hiển nhiên về cuộc đời, và người đời, nếu biết nhận ra Thiên Chúa là Tất Cả. Cả Quyền Uy. Sức mạnh. Bản Chất. Và, khi người đời nhận chân ra Sự Thật về Bản Chất của Đức Chúa. Và, đưa Ngài vào cuộc sống, rất hiện thực. Thì khi ấy, mới tiếp cận được với Ngài. Mới ăn uống, hít thở. Thực hiện những điều cao quý, trước mặt Ngài.

Sở dĩ, người người chưa đạt hạnh phúc, là bởi chưa học biết và thực hiện những điều cao cả trong công trình của Đức Chúa. Chưa biết rằng, Quyền Uy Sức Mạnh của Thiên Chúa, là để cho con người sử dụng. Trong yêu thương. Nhận lãnh. Nói tóm lại, chưa thực hiện được chữ YÊU. Trong cuộc đời. Thì, có làm gì đi nữa, vẫn như thế. Vẫn cứ thế. Vẫn hát lên, những câu rên rất buồn , như ở dưới:

“Còn mưa trong đêm nay,

Lòng em buồn biết mấy

Trời sao chưa thôi mưa

Ôi mắt người em ấy

Từ đây thôi mờ,

Nước mắt buồn mi em ngây thơ…”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

Chưa thôi mưa. Thôi mờ. Nước mắt buồn. Đâu phải vì “Trời sao chưa thôi mưa”. Cho bằng, lòng người vẫn cứ rên thưa. Buồn mi em. Ngây thơ. Người ca sĩ cho rằng gặp được phúc hạnh/hạnh phúc, cũng là vì “ông Trời vẫn sắp đặt”! Trong khi người khác cứ mải nghe mải tìm hạnh phúc ở đâu đâu. Không tìm Đức Chúa của những phúc hạnh/hạnh phúc ở phần sâu thẳm, của chính mình. Ở những nối kết với Đức Chúa. ngang qua Cha, Con va Thánh Linh.

Và Ba Ngôi Đức Chúa, vẫn nối kết với con người để thể hiện mỗi ước vọng của mọi người. Uớc vọng về một quan hệ đằm thắm. Rất kết thân. Với Chúa. Với mọi người. Chính đó mới là mục đích. Là, ý nghĩa của mọi sướng vui. Phúc hạnh. Trong đời.

Nhận ra được nỗi sướng vui. Phúc hạnh. Là, nhận lãnh những chuyện rất nho nhỏ, ở đời thường. Có nối kết. Như, nhận định của người viết có tên là Ngô Phan Lưu với truyện kể, ở bên dưới. Rất minh hoạ. Về “tờ lịch gỡ mỗi ngày”, sau đây:

“Nhà tôi treo một “bloc” lịch to nơi phòng khách. Mỗi sáng thức dậy. Tôi gỡ một quăng bỏ đi. Khi ló tờ mới, tôi xem kỹ câu danh ngôn nếu có, và coi đấy như lời dạy buổi đầu ngày, của các bậc tiền bối. Không biết ai sao, chứ riêng tôi thấy tâm đắc việc này lắm.

Ví như, sáng Thứ Hai tuần trước, ngủ dậy liền đến bóc tờ lịch, thấy tờ mới có câu của Tuerenne, như sau: “Tôi có ý kiến muốn tặng bạn: đó là, mỗi khi bạn muốn nói, hãy làm thinh.”

Xem câu ấy xong, tôi ngẫm nghĩ…và thấy có lý, hay lắm. Quá hay đi chứ! Lời khuyên răn này rất xác đáng. Đúc kết cả một kinh nghiệm quí báu trong cuộc sống đầy những chuyện khôn lường của lòng dạ con người. Và, ngày hôm đó, tôi cẩn ngôn hơn! Tôi chỉ thực hành có nửa câu nói ấy mà cũng thấy mình khá rồi! Còn thực hành nguyên câu, dĩ nhiên là không nổi!

Đến sáng Thứ Ba, ngủ dậy, tôi lại gỡ lịch gặp câu nói của Swift: “Nổi giận là tự gánh giùm tội lỗi, của người khác!”

Chí lý! Dại gì mà nổi giận cơ chứ! Quả nhiên, các câu ấy tác động nơi từng sâu thẳm tâm hồn, ngày hôm đó, gặp nhiều bực mình, mà tôi đâu có thèm giận. Ngu gì gánh lỗi kẻ khác! Lại phải cám ơn cái ông Swift hay bà Swift gì đó nữa!

Rạng đông ngày Thứ Tư, lại ló tờ lịch ghi câu của Montesquieu: “Phải khóc con người lúc sinh ra, chứ đâu phải lúc chết”. Chết rồi, có phải làm gì nữa đâu mà cực với nhọc! Thế thì cũng chả nên khóc lóc mà làm chi! Cái chết đột nhiên giảm bộ mặt khủng khiếp trong tâm tưởng tôi, nói chí tình cũng phải có chút ít tác dụng của Montesquieu mới ra thế! Và, ngày hôm đó tôi nghị lực hơn. Yêu đời hơn. Lại cảm thấy mình cứng cáp lên!

Sang ngày Thứ Năm, tờ lịch hiện lên câu ngạn ngữ của Ba Tư: “Lưỡi dài thu ngắn đời sống!” Nói lắm, chỉ được cái “ngu to”, chỉ được cái “rước hoạ vào thân”! Còn nhớ trong ngày ấy, lúc nhậu cùng bạn bè, vậy mà tôi cũng ráng tịnh khẩu! Cứ sợ sa vào cái “vạ mồm”!

Đến ngày Thứ Sáu, tờ lịch lấp lánh câu danh ngôn khác, thật cao siêu của Villier de l’Isle Adam: “Người nhục mạ bạn, họ chỉ nhục mạ ý nghĩ của họ có về bạn, tức là họ nhục mạ chính họ!” Câu này trong tầng sâu là đúng, nhưng thực hiện quả là thiên nan vạn nan! Lên hàng thánh mới xài được! Tâm đắc lắm nhưng cứ cất yên đấy! Công lực chưa đủ, chờ thời gian nữa hẵng hay!

Sáng ngày Thứ Bẩy, lại ló câu của Cervantès: “Ăn to thì di chúc nhỏ”. Úi cha! Cũng có lý quá! Tôi coi tiếp luôn ngày Chủ nhật xem sao… Đó là của G.Herbert: “Ai cũng có một thằng điên trong ống tay áo.” Trời đất!

Người kể ở trên tuy quan niệm rằng “thằng điên trong tay áo, là chính mình. Rớt từ ống tay. Rồi bèn cảm ơn tờ lịch gỡ mỗi ngày. Đâu cần phải đi thư viện…” Nhưng bần đạo lại nghĩ khác. Chẳng ai điên, ở trong đời. Hoạ chăng, là chưa nghĩ tới. Chưa nghĩ vào chưa gặp, cả những gì là hạnh phúc. Sướng vui. Thăm thẳm một cuộc đời.

Gặp, như thấy được luồng sáng quắc, mà tác giả khác là Thomas Merton, một tu sĩ thuộc dòng khắc kỷ, từng khẳng định, ở tờ lịch nào đó, rất như sau: “Ở trung tâm mỗi hữu thể của chúng ta, vẫn có vùng ánh sáng thần khiết. Một vùng mà tội lỗi. Ảo tưởng. Và gì nữa, vẫn không thể xâm phạm được.”

Nếu bắt gặp, cho dù là tờ lịch có giòng chữ, của ai đó. Hay gặp, chính Triết Nhân của đời người, hẳn là ta sẽ không còn những lời lê thê, như câu hát ở trên đó. Rất “ướt mi”, như sau:

“Ngoài hiên mưa rơi rơi

Lòng ai như chơi vơi

Người ơi, nước mắt hoen mi rồi

Đừng khóc trong đêm mưa,

Đừng than trong câu…”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

Đúng thế. Đừng có mà than như câu ca. Là đà, nhiều nuối tiếc. Hãy như tác giả Jean-Paul Ribes, có lời bạt cho sách “Đức Đạt Lai Lạt ma nói về Chúa Jésus”, nay xin trích:

“Thật vậy nếu phải đồng hành (cả một đời) đi tìm Thần Khí, thì cả việc đọc lẫn việc chú giải các bản văn, như chúng ta biết, sẽ không đủ.

Dấu ấn của Tinh thần nằm ở nội tâm, trong chiều sâu thinh lặng của mỗi người. Người ta chỉ có thể đạt đến bằng sư trầm tư. Chiêm niệm.” (x. Le Dalai Lama parle de Jésus, Vĩnh An dịch Thiện Tri Thức 2003, tr.9)

Phải chăng “Dấu Ấn của Tinh Thần, nằm ở nội tâm”, mới đúng là niềm phúc hạnh. Sung sướng cho con người. Ở đời thường. Hỏi rồi, hãy tự tìm câu giải. Hết thắc mắc.

Trần Ngọc Mười Hai

Tuy vẫn còn thắc mắc.

Nhưng đã tỏ con ngươi.

Con của Chúa.

Con của Người.

42. “Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng”
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng.”

(Phạm Đình Chương/Đinh Hùng- Mộng Dưới Hoa)

(Mt 21: 22)

Này hỡi, bạn và tôi. Hát câu trên, ta có thể “phán” thêm, mà rằng: vì chưa gặp, nên ta mới nói như thế. Chứ gặp rồi, ta có còn nhận định giống thế, nữa hay chăng? Trong sống Đạo giữa đời, có những tình huống cũng không khác thế. Đạo, là một hành trình. Đời đi Đạo, là hành trình dọc suốt cuộc đời để kiếm tìm. Một niềm tin. Tin ai. Tin gì. Phải chăng là tin vào Đức Chúa? Tin rằng: Chúa vẫn đẹp hơn trăng. Hơn sao. Và mọi nét đẹp trên đời. Nhưng tin rồi, có lúc ta lại thôi. Không tin nữa. Cứ như thể, một rượt bắt. Rất “trốn tìm”.

Quả là, Đức Chúa của mình thật quá đẹp. Ngài đẹp, không chỉ mỗi sắc diện ngoại hình, thôi. Nhưng Ngài đẹp toàn diện. Cả bên trong. Lẫn bên ngoài. Nói chung, Ngài rất đẹp. Chưa gặp, nên mình chưa tin. Vậy thôi. Bởi thế nên, hỡi bạn và hỡi tôi, ta thử men theo người nghệ sĩ, vẫn cứ hát:

“Ta gặp nhau, yêu chẳng hạn kỳ,

Mây ngàn gió núi đọng trên mi…”

(Phạm Đình Chương/Đinh Hùng-bđd)

Chắc hẳn gặp Ngài rồi, ta sẽ thấy mình: “yêu chẳng hạn kỳ”, thôi. Thế nhưng, đời người có nhiều “gió núi đọng trên mi”. Nên có lẽ vì thế, ta mới ngờ. Mới uý kỵ. Uý, niềm tin. Kỵ, niềm riêng. Của mình đấy. Cũng vì thế, nghệ sĩ mình cứ linh tinh những hát tiếp:

“Nếu bước chân ngà, (em) có mỏi?

Xin em dựa sát lòng anh…”

(Phạm Đình Chương/Đinh Hùng-bđd)

Cứ ví thử, người yêu của bạn và của tôi, là con dân nhà Đạo. Sống trong đời, lại được Chúa/được Cha nhắn nhủ bằng câu ca/tiếng hát, rất ở trên. Chắc hẳn: bạn và tôi, ta cũng thấy lòng êm ái, thương rất nhiều. Cũng êm. Và rất ái. Mới có tâm sự lòng thòng cùng Đấng Bậc, mình vẫn yêu? Vẫn chiều. Và vẫn mến. Bởi vậy, sẽ hát thêm:

“Ôi, vai kề vai.

Hương ngát mái đầu!

Đêm nằm nghe bước mộng trôi mau.

Gió ơi, gửi gió lời tâm niệm,

Và, nguyện muôn chiều.

Ta có nhau.”

(Phạm Đình Chương/Đinh Hùng-bđd)

Sự thể là, đời mình/đời người, có những vấn đề được đặt ra như thế này: ngồi lại mới thấy, nhiều lúc không thể tỏ bày chuyện trắng/đen, điều đã tỏ. Thế nhưng, vẫn cứ nửa nạc nửa mỡ, rất lờ mờ. Nên mới chết. Chết thật sự, nếu áp dụng vào địa hạt của một niềm, rất tin. Bởi lẽ: mới vừa “Ôi, vai kề vai” đây thôi, mà sao đã thỏ thẻ:

“Bước khẽ cho lòng (xin) nói nhỏ,

bao nhiêu mộng ước phù du…”

(Phạm Đình Chương/Đinh Hùng-bđd)

Vào với địa hạt của niềm tin, lẽ đáng ra ta phải nhớ đến Lời của Chúa, rất như sau:

“Và mọi điều,

các ngươi lấy lòng tin mà nguyện cầu,

các ngươi sẽ được.”

(Mt 21: 22)

Vừa qua, trong một dịp có những chia và sẻ rất đích thực ở buổi lễ tại gia, đã có bè bạn vẫn vương vấn một ưu tư/san sẻ rất thân thương. Mạn đàm. Tình thân. Như sau:

“Đọc Tin Mừng đoạn Chúa chịu thử thách, rồi nhìn lại bản thân, tôi thấy đời mình/đời người bao giờ cũng có hai thử thách sánh đôi. Ảnh hưởng rất hỗ tương. Lên nhau. Thứ nhất, là thử thách về niềm tin. Tin đó, rồi lại ngờ đó. Hai, là: thử thách về Quyền lực. Tức, quyền bính/quyền hành. Thử thách này tương tác hỗ trợ thử thách kia. Là người, ta luôn ước sao cho mình có quyền. Bởi, một khi có quyền rồi, là mình có tất cả. Và khi có tất cả, mình tự thấy uy thấy lực để hành. Hành xử. Hành sự. Và, hành hạ. Lẫn nhau. Có quyền, là có cớ để hành người khác. Trước nhất, là vợ. Là con. Tức, chỉ muốn người khác thực hiện ý của mình, mà thôi. Chứ tuyệt nhiên không muốn điều ngược lại. Và, khi có quyền và có lực rồi, mình sẽ không còn thời gian và cơ hội để nghĩ và nhớ đến Chúa. Huống hồ là, tin vào Chúa. Các thử thách này là những điều rất thực. Chúng đan kết với nhau, ảnh hưởng lên nhau. Luôn làm mình bận tâm. Chúng thay nhau dằn vặt mình. Dằn vặt người. Suốt đời.” (chia sẻ của bạn trẻ họ Trần, trong buổi họp mặt có thánh lễ tại gia ở Sydney 20/2/2010)

Thế đó, là chia và sẻ. Chia sẻ, theo nghĩa sẻ san cho nhau một cảm nghiệm. Về giữ Đạo. Trong đời. Chia sẻ vào buổi lễ, là để nghe ý kiến của người khác. Khác mình. Khác người. Là, kể cho nhau nghe chuyện đời mình. Đời người. Vào thời trước:

“Đúng như anh vừa nói, thử thách rất lớn trong đời sống của anh em mình, là: niềm tin. Để minh chứng cho chuyện này, tôi xin kể lại kinh nghiệm cá nhân về một thử thách lớn tôi từng gặp, là: vào thời điểm bước lên tầu thuyền để vượt biên/đi biển, tôi được tầu Na-Uy cứu. Họ cho bọn tôi ăn uống no nê, xong xuôi rồi bảo: ‘Biển hôm nay lặng như tờ, vậy xin mời bà con xuống thuyền tiếp tục mà đi. Nghe vậy, bọn tôi thay nhau làm tài công. Nhưng thật sự thì bọn tôi ai cũng có công nhưng không có tài, nên cứ thế đi hoài và đi mãi. Cuối cùng, lại trôi dạt vào bờ. Để rồi, công an cầu cảng buộc lòng phải ra tiếp. Xộ khám.

Thời gian trong tù, là thời gian tôi suy nghĩ ghê lắm. Vẫn cứ hỏi: Chúa đâu rồi? Sao Ngài cứ để tôi nằm mãi chốn giam cầm, rất đau thương. Và tăm tối? Chúa có còn thương tôi nữa không? Sao, tôi cứ phải trải qua hết đau thương này đến khổ cực khác? Đến độ, tôi đâm ra hoài nghi cả Chúa nữa. Cuối cùng, nhờ vào lời cầu nguyện, tôi được ơn lấy lại niềm tin, mình từng đánh mất.

Tóm lại, đối với tôi, thử thách lớn nhất trong đời, là: thách thức về niềm tin. Tin có Chúa giúp mình, trong mọi hoàn cảnh, của cuộc đời. Tin rằng: Ngài vẫn yêu tôi. Vẫn ra tay cứu giúp. Luôn hộ phù tôi, trong mọi lúc. Cả vào khi tôi rơi vào chốn tối tăm, của nghi ngờ. Có Ngài phù hộ, tôi mới vững tin đến bây giờ.” (thành viên họ Vũ, thêm vài ý tưởng nhỏ trong buổi lễ nói ở trên hôm 20/02/2010)

Thử thách lớn về niềm tin, là thế sao? Niềm tin, hay niềm riêng? Có là niềm yêu thương, hạnh phúc. Rất hoan Lạc. Bình dị? Niềm tin, có là niềm riêng, trong tương quan ta với Chúa? Hay, chỉ là niềm thương yêu, của chính ta? Với bạn bè, người chưa quen? Chưa thân thiết? Tin, có là niềm riêng tương quan rất cứng ngắc? Một huyền thoại? Thần thoại buồn. U tối. Biện luận. Của triết nhân?

Hỏi, là hỏi chỉ thế thôi. Có trả lời, cũng chẳng “trả” được “lời” nào. Cho mình. Và cho ai. Tốt hơn hết, có lẽ ta vẫn cứ tìm. Và cứ kiếm. Kiếm tìm/gặp gỡ, rất riêng tây. Đầy tràn. Thuyết phục. Tìm và kiếm, có đính kèm vài truyện kể. Bên lề. Để luôn vui. Kể cho nhau nghe, khi căng thẳng. Lúc nghi ngờ. Úy kỵ. Vậy thì, mình cứ kể. Dù truyện kể không thích hợp với chủ đề khúc mắc. Khó giải.

“Kể rằng:

Ngày nọ, Vua Salômôn muốn làm bẽ mặt ông Bê-na-ia, vị cận thần thân tín, nên vua bèn nói:

-Bê-na-ia à, ta muốn ông mang về cho ta một chiếc vòng để đeo trong lễ Sukkot này. Ta hạn cho ông sáu tháng để tìm chiếc vòng ấy.

Bê-na-ia trả lời:

-Thưa Bệ hạ, trên đời này, có bất kỳ thứ gì tồn tại thì hạ thần quyết tìm thấy mang nó về ngay dâng Bệ hạ. Duy có điều, hạ thần nghĩ: chiếc vòng ấy chắc phải có gì đặc biệt lắm, Ngài mới ra lệnh cho đi tìm.

Vua đáp:

-Chiếc vòng ấy, có sức mạnh thật diệu kỳ. Hễ kẻ nào đang vui mà nhìn vào, sẽ thấy buồn. Nếu ai đang buồn, mà nhìn vào nó sẽ thấy vui ngay.

Vua biết rằng trên đời này, làm gì có chiếc vòng như thế tồn tại. Nhưng vua muốn cho vị cận thần của mình nếm một chút bẽ bàng.

Mùa xuân trôi qua, mùa hạ chợt đến. Bê-na-ia vẫn chưa có tìm ra phương cách hay ý tưởng nào khả dĩ giúp ông tìm ra chiếc vòng tuyệt diệu đến như thế. Vào đêm trước lễ Sukkot, ông đang lang thang tìm đến một trong những nơi nghèo nhất ở Giêrusalem để tìm kiếm. Bỗng, đi ngang qua người bán hàng rong nọ đang bày bán những món hàng bình thường trên tấm bạt tồi tàn, Bê-na-ia bèn dừng lại hỏi:

-Này ông kia, có bao giờ ông nghe nói về chiếc vòng kỳ diệu có khả năng làm cho mọi người được hạnh phúc, nghĩa là đeo nó vào sẽ thấy mình luôn vui sướng. Còn người đau khổ hễ đeo được nó, sẽ quên đi mọi nỗi buồn, hay không?

Người bán hàng lấy từ tấm bạt đang treo, một chiếc vòng giản dị có khắc dòng chữ lạ kỳ. Bê-na-ia đọc dòng chữ trên vòng đó, khuôn mặt ông bỗng nở rộ một nụ cười.

Đêm hôm đó, trong lúc toàn thành phố hân hoan đón mừng lễ hội Sukkot, thì nhà vua gọi Bê-na-ia lại hỏi:

-Này, ông bạn của ta, ông có tìm thấy điều ta yêu cầu chưa?

Tất cả mọi cận thần đứng quanh vua, đều cười lớn. Chính vua Salômôn cũng cười.

Trước sự ngạc nhiên của mọi người, Bê-na-ia trịnh trọng đưa chiếc vòng cho vua và nói:

-Thưa Bệ hạ, chính nó là chiếc vòng nay.

Vua Salômôn đọc dòng chữ ghi trên vòng, bỗng nụ cười vụt biến trên môi. Chiếc vòng trông chẳng có gì đặc biệt. Đặc biệt, chỉ mỗi dòng chữ:"Điều đó rồi cũng qua đi".

Vào phút ấy, vua Salômôn chợt nhận ra rằng: hết thảy mọi khôn ngoan, vương giả và quyền uy của vua chỉ là phù du thôi. Bởi, một ngày nào đó, ông chỉ là cát bụi. Rồi cũng qua đi.

Thái độ của vua Salômôn, tuy được tiếng là vua-cha giỏi dang. Khôn ngoan. Nề nếp. Vẫn dễ tin. Tin rất dễ, những gì không là vật chất. Cát bụi. Bởi lẽ, mọi điều rồi cũng qua đi. Như cát bụi, một đời người. Chí ít, là tin vào lời. Của ai đó. Dù, lời đó có là lời kinh hôm. Ban sớm. Dù lời kinh, có là lời mình thuộc lòng, đọc lúc tuyên xưng, ở buổi lễ. Vẫn như thế.

Niềm tin hay đức tin, là: cả tấm lòng. Là, niềm riêng. Nhất quyết. Tin, là nhất định thực hiện cho bằng được những gì mình nhất quyết. Tin, là tuân theo và thực hiện ý muốn của Đấng/của người mình vẫn khâm phục. Yêu thương. Trân quý.

Tin, là biến khâm phục và thuyết phục thành hiện thực. Thành, hành động. Và, niềm tin người nhà Đạo, là biến hành động mình quyết tâm, bằng cử chỉ đẹp. Có yêu thương. Giùm giúp. Hiệu quả.

Tin và yêu, không đòi chứng minh. Thị thực. Theo luật. Nhưng, thông thường và vẫn ngang qua/kéo theo sự việc thực tế. Rất sống động. Bằng hành vi. Cử chỉ. Người đời, gọi đó là hành xử. Tức, xử sự bằng hành động. Hoặc, bằng hành vi rất năng động.

Tính năng động nơi hành vi tin, chỉ năng và động khi người người biết duy trì và chuyển tải niềm tin ấy, cho người khác. Chuyển tải, không có nghĩa dụ dỗ. Thuyết phục. Nhưng, bày tỏ cho người chưa nghe, chưa biết về một người. Một sự việc, ấy thôi.

Năng động trong niềm tin, là tự mình học hỏi. Đào sâu. Và xác tín. Tức, nắm phần chắc về điều mình tin. Mình học nơi sách vở. Từ người khác. Học, kinh nghiệm của chính mình. Qua, công trình tìm kếm, rất hăng say. Kiên trì. Hy vọng.

Tin, còn tuỳ cuộc sống và đường lối mình đang thực hiện. Để nói lên rằng: những gì mình tin đều có thật. Những điều mình được dạy bảo, là điều phải diễn tả và sống thực. Bằng, chính cuộc sống thực tiễn. Tin, luôn đi kèm/hoà hợp với tình yêu. Bởi thế nên, nhà Đạo mình vẫn gọi đó là “Tin-yêu”. Tin, là tin tưởng để thương yêu. Tin, để yêu hơn. Để, chứng tỏ rằng ḿnh tin nhiều hơn. Tin, là tin-yêu Đức Chúa. Qua con người. Với mọi người. Tin Chúa. Tin vào Tình thương của Ngài. Tin, không bằng lời nói. Mà, hành động. Như tinh thần truyện kể ở bên dưới:

“Truyện rằng:

Nhật Bản thời buổi đó, có câu chuyện rất thực, được kể cho dân nghe. Như sau:

Cư dân nọ, muốn sửa căn nhà mình đang ở, cho thông thoáng. Dễ thở. Ông bèn tháo dỡ bức tường hiện có, lôi tấm gỗ đặt giữa lớp xi-măng, xem có gì cần lắp ráp không. Khi tháo dỡ, ông phát hiện ra chú thạch sùng đang ngủ vùi, trong đó. Đuôi của chú dính chặt vào tường gỗ bằng một lỗ đinh, từ ngoài đóng xuống. Thấy cảnh tượng đó, ông thương cho chú thạch sùng, lại tò mò muốn biết: làm sao thạch sùng bị dính vào đó, như thế, lại có thể sống nhiều năm, mà không chết? Không đói. Cũng chẳng ăn?

Quan sát nhiều ngày. Cuối cùng, ông phát giác ra một điều: nhìn kỹ, ông thấy từ đâu đó bò ra một thạch sùng khác, đực/cái không rõ, miệng chú này ngoạm miếng mồi, kiếm được từ nơi nào đó, đem lại mớm cho chú thạch sùng bị nạn, ăn cho đỡ đói lòng. À thì ra, thạch sùng kia dở dĩ sống ngày này qua tháng nọ, là nhờ vào tình thương yêu đùm bọc của thú đồng loại. Vẫn thương yêu. Chăm chút.

Thế mới biết, loài thú mà còn có được niềm tin-yêu thương xót, huống chi nhân gian. Loài người. Thế mới biết, chính niềm tin-yêu, đùm bọc mới giúp cho con người và loài thú qua được mọi truân chuyên. Khổ ải. Của cuộc sống.”

Xác chứng sống động về niềm tin, bằng truyện kể, vẫn dễ nghe. Và dễ tin hơn lời kinh, rao giảng. Chẳng thuyết phục. Xác chứng, là chứng thực cách xác đáng bằng sự sống. Xác và chứng như thế, vẫn hay hơn là cãi tranh. Biện luận. Thuyết giảng. Chẳng thế mà, người người mang giòng máu có tính thi ca/nghệ sĩ, vẫn lan man một giọng hát. Hát rằng:

“Ôi, chưa gặp nhau như đã ước thề,

Mây hồng giăng tám ngả sơn khê.

Bóng hoa ngả xuống bàn tay mộng,

Và, mộng em cười, như giấc mê.”

(Phạm Đình Chương/Đinh Hùng- bđd)

Gặp rồi hay chưa, vẫn cứ tin. Bởi, tin là sức sống của mọi người. Không chỉ, mỗi người trong mộng. Như ước thề. Tin, là xác chứng rằng mộng của em và của anh vẫn đang cười, như giấc mê. Bởi lẽ, cuộc sống ở đời, thật ra chỉ là giấc mê. Hoặc, giấc mộng. Nếu không tin.

Trần Ngọc Mười Hai

rày đã thấy

kiếm tìm một niềm tin, không mấy khó.

Khó chăng, là duy trì và truyền tải.

Để thêm tin.

43. “Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo”
Em nhớ cho: Mùa Thu đã chết rồi!

(Phạm Duy – Mùa Thu Chết)

Mt 5: 27-28

Thu có chết, thì cũng chỉ chết trong lòng, một ít thôi. Thu chết, rồi Thu sẽ sống lại. Em cũng thế. Em chết đi, rồi em cũng sống lại. Dù, chẳng bao lăm. Một đời người. Bởi, có sống hay chết, vẫn là chuyện để ta nói. Và, bàn. Chí ít, là bàn chuyện cần nói khi người người nay chưa chết, nhưng vẫn cứ sợ. Sợ chết. Sợ tội. Quyết đi xưng. Đi hỏi. Cho ra nhẽ. Xưng/hỏi, đấng bậc chuyên hù doạ, chuyện không là tội. Vẫn, cứ đinh ninh là tội đáng chết. Thế mới chết!

Thành thử, hôm nay, bần đạo xin –lại xin nữa- mạn bàn chuyện chết chóc với lỗi tội, một lần nữa. Lần này, lại sẽ chua thêm đôi truyện kể, cho dễ. Dễ đọc. Và, dễ thấm. Truyện, là thế này:

“Có ông thầy bói nhiều lần bị thân chủ doạ đánh, vì đoán sai bét tè le. Ai được ông đoán bảo: sắp “ăn nên làm ra”, thì chỉ ít lâu sau đã “bể mánh”. Vỡ nợ. Sợ ông lắm. Hễ, ông đoán ai sắp chết đến nơi rồi, thì người ấy cứ khoẻ như vâm. Ông làm thân với ai là dấu hiệu kẻ ấy sẽ bị cô lập. Ông tránh ai, thì người ấy rồi sẽ làm nên. Ông đặt lời hy vọng vào ai, thì người ấy cầm chắc cái khốn khổ suốt đời.

Duy có một lần ông được hậu tạ, mà người đem quà biếu lại chưa hề trực tiếp nhờ ông đoán lần nào. Người này, nghe nói làm ăn khấm khá lắm, vừa có chức quyền. Vừa có tiền vài chục tỷ. Có uy tín. Ai cũng khen ông là một tấm gương của trí tuệ mới.

Ông Thầy bói ngờ ngợ, không dám nhận, nhưng người kia vẫn kính cẩn dâng quà và nói:

-Thiên hạ chê thày vì họ dốt cả. Thày là bậc tiên tri, chẳng có gì là không biết. Có điều là thày khinh đời nên điều gì cũng nói ngược đó thôi. Tôi được như thế này, là nhờ cái gì cũng làm ngược với lời khuyên/lời đoán của thày. Nếu có đem nửa cơ nghiệp để tạ ơn ấy, cũng chưa phải là quá đáng, sá chi chút lễ mọn!

Sau lần gặp người tri kỷ có một không hai ấy, ông Thày bói đập tráp, nhất định không chịu đoán cho ai nữa.” (x. Hà Sỹ Phu, Sáng trăng, CE 2004, tr. 105)

Kể truyện. Ngâm thơ. Hay, ca hát. Cũng đâu khác gì: những kể và kể. Kể cho nhau, chuyện trên trời/dưới đất, để mình tin. Tin rồi nhớ, mà thực hành. Thực thi. Truyện kể, nay chẳng có gì để thực thi. Thực nghiệm. Mà, chỉ là chuyện thực tình, đưa đẩy một thực tập, trong sống đời thực tế. Rất dễ khiến ta nói đại, chuyện thực tại. Hoặc, thực trạng nhà Đạo lâu nay, rất thực tiễn. Đáng để tôi và bạn quan tâm. Lâm râm. Chứng thực.

Thôi, thực gì thì thực, bạn và tôi, ta cứ ca/cứ hát thực tình chuyện người. Thực hư. Như sau:

“Mùa Thu đã chết,

Em nhớ cho… Em nhớ cho,

Đôi chúng ta,

sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa!

Trên cõi đời này, trên cõi đời này,

Từ nay mãi mãi, không thấy nhau.

Từ nay mãi mãi, không thấy nhau…”

(Phạm Duy – bđd)

Không thấy nhau. Đâu nào phải, vì mùa Thu nay đã chết? Hoặc, vì em chẳng sống thực, với mọi người. Nếu thu có chết, thì nay cũng đã chết rồi. Và, em. Và anh, ta đâu nào tin vào cõi sống. Có cuộc đời, đầy những tội. Hết muốn tin? Rồi, sẽ giống như nghệ sĩ già khi xưa, vẫn hát:

“Ôi ngát hương thời gian, mùi thạch thảo,

Em nhớ cho, rằng: ta vẫn chờ em.”

(Phạm Duy – bđd)

Chờ em. Chờ anh. Người người vẫn cứ chờ. Cả, thế kỷ. Có khi, cả một thiên niên kỷ. Để em. Và để anh, ta sẽ về mà nhớ. Nhớ, không chỉ mỗi thạch thảo, hương thời gian. Hoặc, mùa Thu chết. Nhưng nhớ rằng, ta chẳng còn nhìn nhau nữa. Trên cõi này. Vì nhiều tội? Và nhiều lỗi? Những tội và lỗi, khiến người người vẫn cứ sợ. Nên, mới hỏi những câu rất “tội” và khá “nghiệp”. Như, lời hỏi của người nhà Đạo ở Sydney, sau đây:

“Hôm nay, con có hai câu liên quan đến tội ở trong đầu, để hỏi. Câu thứ nhất, là: có gì gọi là tội, trong tâm tưởng. Tỉ như: các ý nghĩ vẩn đục, tục tằn. Và, những ý nghĩ vẩn đục như chuyện tình dục, có là tội hay không? Trọng hay nhẹ, xin cha cho biết.”

Chắc rằng, khi nhận được câu hỏi này, đức thày giòng họ Flader tên John hôm nay sẽ sướng mê tơi. Mê rất tơi, vì người hỏi lại xưng hô bằng cha với con. Rối cả lên. Đến, sốt cả cái ruột. Thôi thì, hôm nay, bạn và tôi, ta cứ cho đức ngài sung sướng tình cha/con. Tha hồ mà đáp với trả, rất như sau:

“ Đây là câu hỏi mà theo tôi, rất quan trọng. Bởi, như tôi nghĩ, hỏi là hỏi thế chứ người đặt câu hỏi khá lúng túng, cũng không ít. Rất nhiều vị lại cứ tin rằng mình đã phạm tội này tội nọ, mà thật ra chẳng tội tình gì, mà lỗi phạm, hết. Có vị khác, lại đã phạm những tội rất trọng, nhưng vẫn cứ không ngờ rằng mình đã sai phạm, đến như thế.

Thôi thì, để tôi bắt đầu bằng việc ngược giòng lịch sử xem tội với lỗi là thế nào? Tội trong tư tưởng, nghĩa là làm sao? Bởi, có như thế, ta sẽ thấy có trường hợp lúc đầu cũng chẳng là tội, là lệ gì hết. Nhưng về sau, nếu cứ tiếp diễn, dù từ ý nghĩ cỏn con, sau sẽ trở thành tội trọng. Và cuối cùng, sẽ là tội chết người, chứ chẳng chơi.

Hẳn, ai trong chúng ta cũng đều có qua kinh nghiệm về tâm tư/ý tưởng rất đủ loại tự dưng nhảy vào đầu mình, chẳng ai níu kéo mời chào, mà sao vẫn cứ đến. Có ý nghĩ, xét kỹ, cũng rất tốt chẳng mảy may là tội tình gì hết, như: mình chợt nhớ phải gọi điện cho ai đó. Hoặc nhớ về người tình, dù còn hay không một chân dung. Hoặc, trường hợp có ý nghĩ, là: ta đang ở trước mặt Chúa. Biết rất rõ, là: Ngài đang hiện diện, ở với ta. Những ý nghĩ như thế, đâu là tội.

Có những ý nghĩ ta cho là “không được tốt”, như: nhớ về những cơn nóng nảy/tức giận khi có người nào đó làm ta buồn rầu. Đau đớn. Như, các ý xấu những nào đam mê dục vọng, hoặc ghét ghen, hờn giận vv…

Khi các ý nghĩ không mời mà đến, cứ hiện diện nơi ta lúc nguyện cầu. Hoặc, khi mình đang làm việc lành, phúc đức khiến lo ra, chia trí. Chẳng biết nó thuộc loại tốt hay xấu.

Về những ý nghĩ mình không muốn có nhưng vẫn đến, cũng có thể là tội, cũng có thể không. Vẫn là ý ý tốt. Rất xứng đáng. Nhưng, vì ta là con người. Nên, trí tưởng tượng của ta dễ vùng vẫy, mang theo nhiều giòng chảy suy tư, khiến mình bận tâm. Suy nghĩ.

Cả vào lúc dù ta có ý nghĩ xấu xa, cũng không là tội. Dù nó chợt đến rồi chợt đi trong giòng chảy tràn đầy óc tưởng tượng. Phi trừ là ta đồng loã với chúng. Chấp nhận chúng. Tức, cũng hợp tác suy tư về thứ tư tưởng nào đó, không để gió cuốn đi. Cho đến lúc, nhận ra là nó đã xuất hiện, và ở đó. Trong đầu mình. Trong khi đó, lẽ đáng ra ta phải đuổi nó đi, mới là chuyện hợp lẽ.

Giả như vào giây phút ấy, ta cố đánh đuổi tư tưởng xấu ấy đi. Rồi, quay qua mà cầu nguyện cho được Ơn Trên thêm sức giúp đỡ, để mình tập trung vào chuyện khác, tốt hơn. Trong trường hợp ấy, ta chẳng có tội gì hết. Đây là trường hợp khi tư tưởng ấy cứ nhất quyết ở lại trong đầu, dù mình cố đuổi. Mà, lẩn tránh.

Điểm quan trọng, là: có nhiều người cứ đến toà giải tội thưa với linh mục những điều tương tự như: “con có tư tưởng không trong sạch”, mà thực ra, mình chẳng cố ý rập lòng với tư tưởng ấy, thì đâu có gì là tội.

Tuy nhiên, giả như ta biết đó là tư tưởng xấu vốn dĩ xâm nhập đầu mình, nhưng ta không cố gắng xua đuổi, cứ giữ nó lại. Rồi cùng nó, tìm thú vui hưởng lạc, thì một khi ta có ý thức chấp nhận nó, mà vui hưởng; thì khi đó, đã thành tội.

Tội và lỗi, lúc đầu không nghiêm trọng. Có thể dứt bỏ. Chẳng cần biết nó xấu xa đến độ nào, như: ý định làm hại ai, ý nghĩ muốn tự tử. Hoặc, thù ghét Chúa, hoặc dự tính có hành động nhơ bẩn, nếu chỉ thuận theo nó trong phút chốc, rồi đuổi nó đi, thì không thành tội.

Những chuyện như thế, chỉ do con người yếu kém. Yếu và kém, trong chậm trễ để xua đuổi. Xua, những tư tưởng mà ta cho là xấu. Không nghiêm túc. Chẳng cần xem xét mức độ nó xấu đến mực nào. Nhưng nếu ta cứ bình chân như vại, lại giữ nó trong đầu một thời gian lâu; hoặc, cứ tiếp tục mà tưởng tượng hoặc lên kế hoạch thực hiện dù chỉ để mơ mơ màng màng chuyện viển vông/đặc biệt, thì khi ấy có thể là ta đã phạm tội nặng rồi.

Lời Chúa trong Bài Giảng Trên Núi nói rất rõ, như sau: “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi.” (Mt 5: 27-28)

Thánh Tôma Akinô có viết về sự gian dâm trong tư tưởng, mà rằng: “Người nào nghĩ về chuyện gian dâm lấy làm thích thú để nó hoạt động trong đầu, thì điều này xảy đến là do người ấy thích thú ngả về hành động gian dâm. Khi người ấy vui thích chuyện như thế, có nghĩa là đã đồng thuận. Đã thích gian dâm. Giả như người ấy dứt khoát chọn ao ước/thích thú những thứ có thể là tội nặng, thì khi ấy đã là tội trọng rồi.” (x. Tôma I-II, q 74, #8)

Nói cho cùng, ta cứ phải phấn đấu mà kềm chế các tư tưởng của mình. Kềm chế, để quyết tâm có lòng trong sạch. Sách Sira cũng viết: “Mọi người đều phải biết mà kềm chế các tư tưởng của mình.” (Sira 21: 11) Và, Tin Mừng Chúa cũng đã dạỵ: ”Phúc cho người có lòng trong sạch, vì họ sẽ được thấy Chúa.” (Mt 5: 8) (x. John Flader, The Catholic Weekly 30/5/2010 tr. 13)

Bàn chuyện về những tội và những lỗi, dù trong tư tưởng, mà lại mở báo trang số “13” (tức con số không hên) ra đọc, thì đương nhiên sẽ gặp tư tưởng không chính đáng. Rạch ròi. Coi mòi không ổn. Hệt như chuyện, cứ gieo quẻ rồi đòi bói, chắc chắn thế nào cũng ra ma. Cứ cầm chổi, rồi quét. Thế nào cũng ra rác.

Nói, theo kiểu nhà Đạo rất đạo mạo. Lễ mễ. Thì, như thế. Nói, theo kiểu con dân ở dưới thế, hẳn sẽ khác. Khác, như con dân ở đời, sẽ chẳng nói. Mà chỉ những ca và hát, rất như sau:

“Em nhớ cho rằng ta vẫn chờ em.

Vẫn chờ em, vẫn chờ em

Vẫn chờ…. “

(Phạm Duy – bđd)

Ấy đó, là kiểu “trong Đạo ngoài đời”. Cũng có khi, cả người ngoài Đạo sống ngoài đời, cũng nói và nghĩ cách khác. Cũng có lúc, người trong Đạo, sống cùng và sống với nhà Đạo, vẫn sống và nói, hơi hơi khác. Như đấng bậc nhà Đạo, rất cao sang ở Mỹ, từng nói về và nói với các vị đã hoặc chưa từng một lần phạm tội. Như sau:

“Bình thường, khi đụng chuyện, ta vẫn hỏi: ‘Vào lúc tăm tối như thế này, Chúa làm gì?’ ‘Ngài có cách nào điều chỉnh không?”…

Lúc Fulton Sheen lên làm Giám mục, tôi chỉ là chủng sinh, chuyên lo cho ca đoàn của giáo xứ, cũng rất nhỏ. Hôm ấy, tôi đến sớm để sắp xếp mọi việc cho ra hồn, thì thấy ngài quỳ đó một mình. Hằng giờ. Lặng lẽ nguyện cầu ở nguyện đường nhỏ, cạnh nhà thờ. Trước giờ lễ. Cảnh tượng này, dạy cho tôi biết đắm mình trong kiên nhẫn. Hy vọng. Bền chí. Có như thế, Thánh Thần Chúa mới đem an bình nội tâm, đến cho tôi. Có nguyện cầu như thế, mới nhận thêm được sức mạnh và hy vọng, để mà sống. Có thầm lặng như thế, mới hy vọng đem đến cho người khác những ủi an, mình nhận được. Về chuyện ấy, thánh Phaolô, nói thế này: “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta. Người là Cha giàu lòng từ bi lân ái, và là Thiên Chúa hằng sẵn sàng nâng đỡ ủi an.4 Người luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách, để sau khi đã được Thiên Chúa nâng đỡ, chính chúng ta cũng biết an ủi những ai lâm cảnh gian nan khốn khó.” (2Cr 1: 3-4)

Và nhất là, vào những khi mình gặp khốn khó, cũng đừng quên sót việc Chúa làm, rất lớn lao. Mà, Chúa làm cả những việc lớn bé, trong lầm lũi. Tối tăm. Dân Do thái thoát khỏi Ai Cập trong tăm tối. Họ băng qua Biển Đỏ, trong tối tăm. Cũng thế, Đức Giêsu sinh ra trong đêm tăm tối, ở Bê Lem. Ngài dặn dò/trối trăn Tiệc Thánh vào Buổi Tạ Từ, trong âm thầm. Tăm tối. Thậm chí, Ngài còn chết trên thập tự vào lúc mà Tin Mừng bảo: “tối tăm phủ trùm mặt đất”, nữa. Ngài nằm đó trong cảnh lặng lẽ tối tăm của mộ phần. Rồi, ba ngày sau, Ngài trỗi dậy trong tăm tối, từ mộ phần cũng tối tăm. Nói tóm, Chúa vẫn làm việc trong bóng tối tăm, của mọi việc.

Thánh Gioan Thánh Giá mô tả đêm tăm tối của linh hồn đã trở thành đêm rất tối của mỗi người trong Hội thánh. Theo thánh nhân, đêm tối tăm, là kinh nghiệm lo âu/bối rối, trượt khỏi mọi đỡ nâng, từ mọi phía. Nó khiến ta cảm thấy như mình vô dụng, chẳng ai giúp. Tuy nhiên, nếu biết chấp nhận là nó do Chúa gửi, và vui lòng đeo mang vì tin thế. Thì, có thể ta sẽ mất tất cả những gì là thứ yếu, để tập trung vào mỗi một việc cần thiết/chính yếu là khám phá rằng Chúa không như mình nghĩ, Ngài vượt quá và vượt trên mọi sự ta có thể nhận ra. Kinh nghiệm, là nghiệm rằng ta không thể nào kiểm soát/kềm chế được Chúa. Đêm tối (của tội lỗi) chỉ tối là vì Chúa là ánh sáng vô biên vượt trội khả năng hạn hẹp của mọi ngưòi. Chính qua kinh nghiệm của đêm tăm tối, mà các kẻ tin trong Hội thánh biết rằng Chúa là tất cả. Đêm tăm tối của Hội thánh, (hoặc bất cứ ai gặp phải) là nhà sư phạm thần thánh dạy cho ta biết, bằng và qua đau khổ, rằng ta rất nghèo hèn. Hoàn toàn tuỳ thuộc Chúa.” (John R Quinn, Do not despair, Christ is present even in the darkness, America Magazine 3/5/2010)

Thành thử, điều mà tôi và bạn cần nắm giữ, là: trong bối cảnh sầu buồn của đau khổ hoặc tội lỗi, vẫn luôn có ánh sáng của hy vọng. Đó chính là điều mà Hiến Chế “Vui Mừng & Hy Vọng” của Công Đồng Vatican II, từng trấn an:

“Hội thánh tin vững chắc, rằng: chìa khoá, trọng tâm và mục tiêu rất cao của mọi lịch sử của con người chỉ có nơi Chúa, là Thầy Mình. Hội thánh ta, tin rằng: bên kia mọi đổi thay, vẫn có những điều không hề thay đổi. Những điều ấy, cuối cùng cũng sẽ đặt nền tảng nơi Đức Kitô. Mà Đức Kitô vẫn là Ngài cả ngày hôm qua, hôm nay và mãi mãi, không cùng.” (x. Gaudium et Spes, #10)

Thành thử, bàn chuyện tội và lỗi trong tâm tưởng là bàn và nói rằng; chẳng có gì ghê gớm đến nỗi không còn hy vọng mà chỉnh trang. Chí ít, là những chuyện tày trời như lỗi và tội thực sự, nơi hành động.

Cứ sự thường, mỗi khi bạn và tôi, ta phiếm với nhau về chuyện Đạo. Chuyện, sống ở đời. Với mọi người, trong Đạo/ngoài luồng, mình thường tặng nhau những truyện kể, để minh hoạ. Có khi là một đoạn tiếu lâm chay. Có lúc, là đoạn trích về quan niệm lập trường của ai đó, rất để đời. Hôm nay đây, bần đạo vừa nhận được đoản văn của người kể mang tên Ts Trần An Bài, do bạn gửi. Xin cống hiến ở đây, như đoạn kết. Hết chuyện. Như sau:

“Một nhà sư nổi tiếng đạo đức tên là Viên Thủ trung, trụ trì chùa Tô Châu, trưng bày chiếc quan tài nhỏ, trên bàn sách. Quan tài này, dài chừng 3 tấc, có nắp có thể mở ra/đóng lại được. Các đạo hữu thấy vậy, thắc mắc hỏi ông:

-Bạch thày, chiếc quan tài này có ý nghĩa gì?

Nhà sư giải thích:

-Người ta sống, tất có chết. Chết rồi thì, nằm trong quan tài giống như cái này. Tôi ngạc nhiên, là tại sao thiên hạ suốt cả đời cứ lo lắng. Vất vả. Chạy theo công danh. Phú quý. Tài sắc, thị hiếu mà chẳng ai biết cái chết là gì. Mỗi khi gặp điều bất ưng, tôi liền nhìn ngắm chiếc quan tài này. Tức khắc, tâm hồn tôi được yên ổn. Mọi lo âu/muộn phiền liền biến mất. Chiếc quan tài, là bài học luân lý đáng giá vậy.”

Và, người kể lại thêm một lời bàn, rất Đạo giáo. Như sau: “Bạn thân mến, mỗi khi bạn thấy phiền sầu. Khổ não. Vì bất cứ chuyện gì, như: thiếu tiền thiếu bạc, hoặc làm ăn lỗ lã. Ngay cả, những chuyện như phạm tội, cả trong tâm tư cũng như bằng hành động, hãy bắt chước nhà sư Viên Thủ trung, nhìn vào chiếc quan tài. Rồi nhới Lời Chúa dạy cách nay 2000 năm, về trước. như còn vang dậy đâu đây: "Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai? Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó." (Lc 12: 20-21)

Lời cuối, nay gửi bạn và gửi tôi, là lời rất cuối, của nhạc bản “Mùa thu Chết”, rất như sau:

“Em nhớ cho, rằng Ta vẫn chờ em.

Vẫn chờ… vẫn chờ… đợi em!”

(Phạm Duy – bđd)

Thế nghĩa là, dù em/dù anh, là người của Hội (rất) thánh có “ngát hương mùi thạch thảo”, hay đã toát ra, mùi của lỗi/tội, những quan tài, thì Đức Chúa là Chúa của niềm Vui Tươi và Hy Vọng, vẫn cứ chờ. Chờ em. Chờ ta. Chờ thánh hội rất thánh, là Hội thánh. Tự bao giờ.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn cứ hy vọng và hy vọng.

Hy vọng để sống. Rất đẹp.

Với đời.

44. “Ôi biết đem tin này,”
vắng như lòng giấy,

tình yêu lấp đầy.
Rồi biết quên câu cười,
biết cho đôi dòng, lệ rơi.”

(Ngọc Chánh/Phạm Duy – Bao Giờ Biết Tương Tư)

Stt 2: 16

Nếu cứ hỏi: “Bao giờ biết tương tư”? Rồi lại nói: “Rộn rã buồn vui đợi em dưới mưa”, thì ôi thôi, những chữ là chữ! Nghe cứ như: “Ngày nào cho tôi biết, biết đem tin này”, đưa ngay vào giấy, rất dầy. Lành lạnh. Vắng tanh. Thì, “tình yêu lấp đầy” cho lắm người, người cũng sẽ “quên câu cười.” Để, “dòng lệ rơi.” Mà thôi.

Bình và giải, những giòng chữ như trên, bần đạo chẳng muốn làm theo kiểu “giải mã” của Dan Brown như “The Da Vinci Code” nào đó, rồi áp dụng vào kỹ nghệ “biết đem tin này” đến thế giới, thì người người sẽ như bạn/như tôi, ta vẫn thấy “đệ tứ quyền” nay rất ư linh tinh. Lình xình. Lúng túng.

Lúng túng hơn, khi nhà thơ/văn và cụ già viết nhạc họ Phạm lại quả quyết, với câu hát:

“Ngày nào lòng tôi đã

biết vui biết buồn, ôm mối tương tư.

Ngày nào cánh Thiên Đường

đã mở hé tình yêu là trái táo thơm.”

(Ngọc Chánh/Phạm Duy – Bđd)

Ôi! Lại, vẫn chữ và chữ. Của loài người. Bởi, một khi “Tình Yêu đã trở lại” rồi, sao cứ còn “ôm mối tương tư”? Một khi “Cánh Thiên Đường” đã mở rồi, sao vẫn cứ “Tình Yêu là trái táo”, rất thơm tho? Táo thơm Thiên Đường, mà người người nghe/biết, vẫn thơm phức tình yêu thương, như Kinh Sách Cựu Ước, được dặn trước:

“Hết mọi trái cây trong vườn,

ngươi cứ ăn;

nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác,

thì không được.”

(Stt 2: 16)

“Táo Thiên đường”, có là táo thơm mà Adong/Evà từng ăn? Thế, sao anh vẫn kể. Để rồi hát:

“Tôi ghé răng cắn vào,

miệng môi ngọt đắng,

tình yêu cuối đường.

Là, trối trăn cuối cùng,

giấc mơ não nùng,

vợi tan…”

(Ngọc Chánh/Phạm Duy – Bđd)

Giấc mơ não nùng, vội tan”, có là giấc mơ về truyền thông, vi tính? Có, “biết đem tin này”, tin nọ, cho mọi người? Những tin và tức, truyền thông đem đến, vẫn là Tình Yêu? Là, táo Thiên Đường, rất thơm? Hay, chỉ vấn vương một “Tương Tư”, như sinh hoạt của người đời. Suốt cuộc sống, rất truyền thông?

“Giấc mơ não nùng”, nay có còn là giấc mơ của Adong/Evà, mà các đấng bậc đầu đời chỉ muốn biết “điều thiện/điều ác”, để rồi cứ ăn. Ăn táo. Ăn bánh “Thiên Đường”. Rồi, “tương tư”. Lừ đừ. Đầy sự thể, như câu tiếp:

“Ngày nào biết mong chờ,

biết rộn rã

đợi em dưới mưa…”

(Ngọc Chánh/Phạm Duy – Bđd)

À thì ra. “Giấc mơ não nùng” của thời trước, đâu phải để “tương tư”. Mà, để cho lời “Trối trăn cuối cùng”, “tình yêu cuối đường”, có, “miệng môi ngọt đắng”. Lệ rơi. Phơi bầy. Những, “yêu không lời”, vv và vv…

“Giấc mơ não nùng”, nay có là: giấc mộng về chuyện ”Biết đem tin này”. Rồi chờ mong/mong chờ. Cho tình yêu lấp đầy? Đó, là vấn đề. Vấn đề của đệ tứ quyền, mà Hội thánh ta cũng đã và đang rà xét lại, để chỉnh đốn. Chỉnh, những xốn xang. Cho đàng hoàng.

Truyền thông đại chúng, cũng là truyền và thông cho nhiều mối lo như truyện kể, ở dưới:

“Mai Công Trình ngồi chơi, nơi quầy rượu. Lòng buồn rười rượi. Chẳng buồn nhếch mép, với nói năng. Thấy thế, nạn bè liền tiến đến. Lân la, gạn hỏi những câu, rất gay go. Rất đáng lo, mà rằng:

-Này, đằng ấy bị bò đá hay bị cái gì sao mặt mày bí xị, đến là thế?

-Chẳng đá với đấm gì đâu cả. Chả là, tớ đang có vấn đề với truyền mà không thông…

-Này, cậu nới giỡn hay nói chơi vậy? Tớ hỏi thiệt đó.

-Chẵng giỡn cũng chẳng chơi, tớ đây chỉ nói thiệt, về truyền nhưng không thông, thôi.

-Hả? Cái gì? Truyền mà không thông, là cái gì?

-Là, vợ chồng cứ truyền thông ra hẹn với nhau: sẽ chỉ bắt đầu truyền và đạt cho nhau trở lại vào đầu tháng tới, nếu tớ biết cải tà qui chánh, dứt bỏ rượu chè be bét, thôi.

-Đúng rồi, chứ còn gì nữa! Hũ chìm hũ nổi như cậu, ai mà chịu. Thế chừ, đả thông chưa, thưa ông cụ?

-Đó chính là vấn đề. Vấn đề là: hôm nay đích thị đầy tháng, không truyền mà cũng chẳng có thông. Kể từ ngày mai, em lại mở đài, chết cái lỗ tai để nhận truyền thông/thông truyền của tớ, đấy các cậu!

À thì ra. Truyền mà không thông, là như thế. À ra vậy, truyền thông đại chúng mà không thông truyền cho chúng đại, cũng là thế vậy. Truyền thông, nhưng chưa thông mà vẫn truyền, vẫn là chuyện của thời đại cần xem xét. Cho nó thông suốt. Loan truyền về khắp chốn, cả nhà Đạo. Mới đúng.

Nhà Đạo mình, nay đã biết khôn nên cũng vẫn bàn nhiều về truyền thông đại chúng, cho dân chúng. Năm tháng qua, nhiều cơ quan chức năng trong/ngoài nhà Đạo, cũng có bản văn/văn bản bàn nhiều về truyền thông đại chúng, trong lẽ Đạo. Có, để dân con nhà Đạo nay không còn lúng túng, như người hành tinh đến từ miền đất, rất xa lạ. Khá rối rắm.

Như ở Úc, chính quyền và giáo quyền, đã và đang hợp tác chặt chẽ với nhau hầu thiết đặt hệ thống giúp các con em đi Đạo biết sống đời ăn khớp với thời đại truyền thông đại chúng. Nền giáo dục về Đạo lý, nay là chủ đề, để các em lớp 9 tại các trường Công giáo như ở miền Tây Sydney chú ý đến, rất nhiều. Hiệu trưởng và các thầy cô ở đây, đang phối hợp hoạt động nhằm đưa ra một giáo trình có sự tiếp tay của kỹ thuật truyền thông đại chúng, nhằm đưa niềm tin Kitô-giáo song hành với kinh nghiệm sống, của các em.

Thành quả mà mọi người nhắm đến, là làm sao phối hợp được các lớp giảng dạy về niềm tin đi Đạo song song với các lớp dạy về Kỹ Thuật Thông Tin Phần Mềm, trở thành điều mà họ gọi là Kỹ Thuật Công Giáo, rất độc đáo. Một trong các chủ trương của dự án này, là: giúp các em tạo được điều mà họ gọi là “Ảnh hình về Đức Giêsu”, tức thành lập đội ngũ chuyên chú vào việc tạo chân dung Đức Kitô qua lịch sử, chuyên sử dụng phần mềm Photoshop, thôi. Từ đó, khuyến khích các em đem công trình của mình đến với chuyên gia xem xét, rồi dự giải Blake Prize về Nghệ thuật Đạo. Đây là công trình được các sư huynh Dòng Marist Brothers tổ chức vào cuối năm 2010 này.

Ngoài ra, còn nhiều dự án khác, cốt để tạo cho các học sinh biết học hỏi theo tinh thần đồng đội. Có kỹ năng tổ chức, rất qui củ. Biết và thông hiểu truyền thông đại chúng qua chữ viết cũng như qua lời nói. Tóm lại, tất cả là để thế hệ trẻ hôm nay biết sử dụng phương tiện truyền thông hiện đại, mà nói về Chúa, theo kiểu mới. Có như thế, các em mới học hỏi và sống niềm tin, cho sống động.

Nhìn trước chuyện này, nghệ sĩ nhà ta lâu nay vẫn hát:

“Tình yêu đã trở lại,

đôi mắt đêm ngày,

vơi hết đọa đầy.

Tà áo em phơi bầy,

ngón tay em dài,

tiếng yêu không lời.”

(Ngọc Chánh/Phạm Duy – Bđd)

Với người trẻ, nói: “Tình yêu đã trở lại” kiểu như thế, là nói: “Ngón tay em dài”, tiếng yêu không lời”. Bởi, có dùng lời hay chữ viết, cũng chỉ nên dùng chúng, để nói về Chúa. Về niềm tin đi Đạo. Về, người trong Đạo.

Có thể là, một số người già tuổi tác như bần đạo, sẽ không đồng ý chuyện đổi thay. Rất có thể, vì nhiều người còn nuối tiếc thời vàng son, khi trước. Thời, mà các cụ vẫn muốn đốn củi bằng giáo mác, dao, rựa. Giặt giũ, thì các cụ chỉ muốn giặt bằng tay, chẳng cần dùng máy. Cũng có thể, đấng bậc nhà mình vẫn còn nghi và kỵ về hiệu quả của cái-gọi-là “Kỹ thuật cao”. Hay, hậu quả của những thứ mà các cụ vẫn cứ gọi là “lợi bất cập hại”. Bởi, nền kỹ thuật hiện đại dù cao hay thấp, vẫn là con dao hai lưỡi, rất dễ cắt. Cũng dễ xẻo thịt/cắt tay người sử dụng. Như bao giờ.

Hội thánh Chúa, ngay từ đầu, đã từng cởi mở lòng mình với nhiều loại truyền thông. Từ đầu, Hội thánh thời tiên khởi đã biết dùng mọi phương tiện sắn có lúc ấy để truyền đạt Lời Chúa. Hội thánh cũng biết tìm lời lẽ và hành vi nào khả dĩ kết nối mọi người về với Thiên Chúa. Giáo Hội, là chốn thánh thiêng, trong đó ta được phép tiếp xúc với Đức Chúa. Và, tiếp cận truyền thông với những người anh người, cùng là con cái Chúa. Hội thánh, vẫn tìm ra cung cách thích hợp để truyền đạt với nhau. Để rồi, cùng nhau tay nắm tay, ta đến với Chúa. Bởi thế nên, kỹ thuật chuyển đạt Lời Chúa đến với mọi người trong ngoài Hội thánh, vẫn là phương tiện truyền thông, rất cần thiết. Ở mọi thời.

Nhờ có truyền và thông như thế, Tin Mừng đến được với mọi người con của Chúa, tận hang cùng ngõ hẻm. Vùng sâu/vùng xa, rất hiểm trở. Nhờ truyền thông tân kỳ, dân con Đức Chúa, mới hiệp thông. Đả thông. Và thông đạt cho nhau mọi ơn lành, Chúa ban. Chẳng thế mà, với cuộc cách mạng của ngành in, kỹ thuật truyền thông cũng đã đổi thay, ngay tận gốc. Đổi thay hơn, với phương tiện tân kỳ, hôm nay. Với truyền hình. Vi tính. Rất di động.

Vấn đề là, vẫn còn nhiều thử thách, khi ta dùng trí tuệ và tài năng để phát triển sử dụng mọi kỹ thuật cũ/mới, hầu góp phần tạo niềm vui say/hạnh phúc. Tuy nhiên, kỹ thuật được lập ra, không phải để hành hạ con người, cho kết quả. Cũng chẳng phải để tìm giết hàng loạt người dân vô tội, ở đâu đó. Kỹ thuật như thế, dù tân kỳ/độc đáo cách mấy, cũng không nên tìm cách phát triển và đưa vào sử dụng. Bởi, kỹ thuật nào cũng đều có hai mặt của nó. Nghĩa là, cũng giúp ích hoặc làm hại bất cứ một ai. Giúp ích hoặc gây hại, là tùy cung cách người dùng nó mà thực hiện. Thế nên, điều cần là hãy tự hỏi xem kỹ thuật mình sử dụng, có giúp mình đào sâu tương quan với người khác, không. Hay, chỉ khiến cho mình ngày càng xa cách, hết mọi người?

Ngày nay, kỹ thuật tân kỳ còn là thách thức lớn đối với Hội thánh. Thách thức, là ở chỗ: nó có giúp ta tôn kính Tin Vui Tin Mừng, mà Hội thánh muốn truyền đạt cho con dân của mình, không? Có, tôn trọng trong sử dụng phương tiện truyền thông, để chuyển tải các sứ điệp Chúa dạy, hay không. Truyền thông hôm nay, là truyền và thông hai chiều. Tức, có tác dụng cả hai bên. Cho, người gửi và người nhận, có được thông tin mình muốn truyền, và muốn thông. Chẳng khi nào, ta có thể truyền và thông những tin tức một chiều. Khiếm khuyết.

Hội thánh cũng vậy. Hội thánh những muốn chuyển đạt các thông điệp của Chúa và về Chúa ngõ hầu dựng xây lòng kính trọng, giữa mọi người. Truyền thông, là trao đổi cho nhau và với nhau trong tự do, hiểu biết. Và tôn kính lẫn nhau. Có như thế, Hội thánh mới hấp dẫn được mọi người về với Lời Chúa, rất Tin Mừng. Bằng vào truyền thông, Hội thánh cũng như xã hội bên ngoài, phải luôn xét xem điều mình nói và nghe có là nói và nghe, theo cung cách nào đó, rất thích hợp. Nói cho ai? Nghe ai? Nghe gì? Nói gì? Có hiệu quả chăng?

Tựu trung, thì Hội thánh và xã hội ngoài đời, vẫn cần phải tỉnh táo mà sử dụng các phương tiện mới, cho hiệu quả, mỗi khi truyền và thông, với mọi người. Đó, là thực chất của kỹ thuật. Đó, là sự thật, của mọi phương tiện để truyền thông.

Để minh hoạ cho câu chuyện rất truyền và rất thông hôm nay, cũng nên kể cho nhau nghe đôi ba câu chuyện để thư giãn. Cho thông/cho suốt và truyền đạt với nhau, như sau:

“Hai bố con nhà nọ, quyết định làm một chuyến leo núi, xem có gì lạ. Có học hỏi được điều gì, ở cuộc đời. Họ đang đến gần triền núi, bỗng người con nhỏ trượt chân ngã, buộc miệng la lớn:

-Ôi chao!

Ngạc nhiên thấy ở miền núi phía xa có tiếng ai nhái lại, cũng “Ôi chao!”. Em lấy làm tò mò, bèn la tiếp:

-Ngươi là ai?

Lại có tiếng nhái lại: ngươi là ai?”

Quá tức giận, em bèn quát tháo:

-Đồ đốn mạt!

Lại có tiếng nhái tiếp: “Đồ đốn mạt”.

Em quay về phía cha mình, rồi hỏi:

-Như thế là thế nào, hả cha?

Người cha nhìn con nhỏ, mỉm cười, rồi nói:

-Con hãy xem ba làm đây. Nói rồi ông la lớn:

-Anh hay quá xá! Sau đó, cả hai cha con lại nghe có tiếng trả lời: “Anh hay quá xá!”. Sau đó, ông la tiếp:“Anh tuyệt vời quá! hai cha con cũng lại nghe tiếp câu trả lời hết như thế: “Anh tuyệt vời quá!” Người con nhỏ lấy làm lạ, vẫn chưa hiểu hết lý do, của đối đáp vừa rồi giống hệt như những gì bé nghe biết trong cuộc sống có truyền thông đại chúng. Thấy thế, người cha mới ôn tồn giải thích:

-Không có gì ghê gớm đâu con. Đó chỉ là âm vang của những gì con nói, từ cửa miệng. Âm vang ấy, đuợc truyền qua không gian, chạm vào vách núi hay gì đó, rồi dội lại. Cũng đơn giản như mọi thứ trong cuộc đời, đều có hiện tượng thông đạt. Truyền những âm bang, tâm tưởng đến người khác. Nếu con nói những lời lẽ không hay ho, đầy tức tối, thì đời cũng sẽ truyền lại cho người khác nghe những điều xấu xa, như thế. Đây là bài học con nên nhớ: sống ở đời, mọi người đều phải truyền thông, đạt đến cho nhau những lời nói hoặc những điều tốt đẹp. Nếu lời con nói là những điều tục tĩu xấu xa, thì nó sẽ lan rộng ra khắp mọi nơi, mọi người đều nghe biết. Đó cũng là lý lẽ của cái mà bây giờ người ta gọi là truyền thông, là thế đấy!

Nghe truyện kể, chắc hẳn sẽ có bạn hoặc chính tôi, cho rằng người kể lấy cốt truyện từ đâu đó, rồi pha chế, dùng nó làm đề tài cho mục đích mình muốn kể. Muốn nói. Thật rất đúng. Truyền thông vi tính, ở thời này, hệt như thế. Cùng một sự kiện, người nghe/người đọc có thể hiểu khác nhau. Sử dụng khác nhau, theo mục đích của riêng mình. Bởi thế vấn đề là, có nên dùng truyền thông vi tính, cho mục đích tốt đẹp, như truyền bá Lời Chúa. Để, giáo huấn mọi người như Chúa dạy, hay không? Câu trả lời xin dành để cho bạn, cho tôi. Cho mọi người. Trong đời.

Để kết luận câu chuyện đề ra hôm nay, về truyền thông hay thông truyền mọi chuyện, cũng nên tìm về Lời của Chúa, mà suy nghĩ. Lời ấy, nay gặp ở thư thánh Phaolô gửi giáo đoàn Côrinthô, như sau:

“Tôi được phép làm mọi sự,

nhưng không phải mọi sự đều có ích.

Tôi được phép làm mọi sự,

nhưng tôi sẽ không để sự gì

lạm phép trên tôi.”

(1C 6: 12-13)

Thánh Phaolô xác quyết điều ở trên, là về sắc dục. Nhưng ở đây, hôm nay, ta cũng có thể áp dụng vào địa hạt truyền thông, giống như thế. Truyền thông hôm nay, còn hiểm nguy hơn sắc dục, rất nhiều bề. Nếu không khéo, bạn cũng như tôi,ta cũng sẽ bị truyền thông “lạm phép”, trên chúng mình.

Trần Ngọc Mười Hai

vẫn tự khuyên mình

lắng nghe Lời Chúa

hơn lời của truyền thông,

không đại chúng.

45. “Đường em có đi, hằng đêm bước qua
nở những đoá thơ, ôi dị kỳ

(Phạm Duy – Đường em đi)

Mt 28: 18-20

Đường em đi, sao cứ nở những thơ/hoa. Dị kỳ. Kể cũng lạ. Lạ hơn nữa, hoa/thơ ở đây lại chỉ nở về đêm. Rất êm đềm. Có,”Em” bước qua.

Hẳn là, ban ngày/ban mặt nào đâu thấy những là “bước từng bước chân”. Rất âm thầm. Đầy nhịp sống. Có thơ, và có nhạc. Để, người em/người chị của chúng ta cứ thế, mà bước qua. Có cả anh/cả bạn sẽ cùng tôi đồng hành, ta tiến bước. Bước, hằng ngày. Đi, hằng đêm. Bước và đi, để nói lên rằng: đường tôi đang đi/đường bạn đang bước cũng rộ cũng nở, những hoa/thơ. Và nhạc, rất mến thương. Tình yêu đương. Ôi, da diết.

Đường bạn và đường tôi đi hôm nay, đầy Lời của Chúa. Êm đềm. Mật thiết. Rất như sau:

”Vậy, các ngươi hãy đi

mà thâu nạp muôn dân,

thanh tẩy họ

nhân Danh Cha, Con và Thánh thần,

dạy họ giữ hết mọi điều

Ta truyền cho các ngươi.”

(Mt 28: 18-20)

Con dân nhà Đạo, nay cứ bước và cứ đi, mà sống Đạo. Đi, để “thâu nạp” dân con mọi người. Đi, để nói với người chưa biết Chúa. Biết Mẹ. Điều Ngài dạy, như lời nghệ sĩ khi xưa hát:

“Đường êm có khi, chờ em bước qua,

là nghiêng giấc mơ.

Ước thề.”

(Phạm Duy-bđd)

Đường “em” đi, không là giấc mơ. Có ước thề. Đôi lúc vẫn là:

“Đường, dìu ngang bao ngõ đắng cay,

dừng chân phút giây. Xong chia lià.

Dường, dài thêm bao nỗi éo le,

dài thêm nắng mưa. Thêm ề chề.”

(Phạm Duy – bđd)

Vâng. Đúng thế. Ngõ đắng cay, bên đường. Là như thế. Đường ta đi theo Chúa, cũng rất đắng và rất cay, tợ như thế. Nhiều lúc đã đắng cay, rồi cũng éo le. Ê chề. Vì “dài thêm nắng mưa”. Vì, rụng rơi. Vướng mây tóc ngà. Nhiều thứ. Những thứ, những điều khiến tôi và bạn cứ khựng lại. Và khó đi. Bởi, vẫn cứ nắng/mưa. Lưa thưa, ba khúc mắc. Giữa đường. Lắm khi còn điểm vài ba chuyện ly kỳ. Đầy thắc mắc. Như truyện kể, ở ngay dưới:

“Truyện rằng:

Một hôm một người đàn ông trông thấy một lão bà đang ở bên chiếc xe bị ‘nạn’, bên đường. Trời sẩm tối, anh vẫn thấy bà như cần được giúp đỡ. Vì thế, anh tấp xe vào lề đậu phía trước xe của bà, rồi bước xuống. Chiếc xe cũ của anh vẫn để nổ máy khi anh đến gần trước mặt bà. Anh mỉm cười đến gần, nhưng bà lão tỏ vẻ lo âu.

Người đàn ông nhận ra là cụ bà vẫn còn vẻ sợ hãi, đứng cạnh chiếc xe, giữa trời lạnh. Anh muốn trấn áp nỗi lo sợ của cụ bà, nên mới nói:

-Thưa bà, tôi đến đây là để giúp bà mà thôi. Bà nên vào bên trong ngồi cho ấm. Luôn tiện, tôi tự giới thiệu tôi tên Bryan Anderson.”

Thật ra, xe của cụ bà chỉ bị mỗi chuyện là một bánh bị xẹp. Nhưng với bà, nó cũng đủ gây phiền não rồi. Bryan bèn bò xuống dưới gầm xe tìm chỗ để con đội. Sơ ý, cũng bị trầy da ở bàn tay. Chẳng bao lâu, anh đã thay xong bánh xe cho cụ bà. Nhưng tay anh bị dơ và có hơi đau rát.

Khi anh siết ốc bánh xe, cụ bà quay kính xe xuống và bắt đầu kể cho anh biết là: bà vừa từ St. Louis đến. Và chỉ mới đi được có một đoạn đường. Bà không biết cách nào để cám ơn anh cho đủ, về việc anh đã dừng lại và giúp đỡ. Bryan chỉ mỉm cười khi hoàn tất động tác cuối là đóng nắp thùng xe của bà. Cụ bà thắc mắc không biết phải đền dáp công ơn của anh là bao nhiêu. Bryan nói: đây không phải là nghề của anh. Và, anh chỉ muốn giúp những người cần được giúp. Và, có Chúa biết là rất nhiều người từng ra tay giúp đỡ anh, trong thời gian qua. Anh vẫn sống như thế, cả đời mình. Và chưa bao giờ nghĩ mình sẽ làm chuyện nhận tiền của ai, khi giúp đỡ.

Anh nói với cụ: nếu bà thật sự muốn trả ơn cho anh thì lần khác khi bà biết ai cần được giúp đỡ thì bà cứ ra tay giùm giúp và lúc ấy “hãy nghĩ đến tôi!”

Anh chờ cho cụ bà nổ máy xe đi, mới bắt đầu về nhà. Hôm ấy, trời ảm đạm và đổ lạnh. Nhưng anh lại thấy thoải mái khi về nhà.

Cụ bà chạy được vài dặm, thấy có tiệm ăn, cụ bèn ghé lại để tìm cái gì ăn cho đỡ lạnh, trước khi về. Nhà hàng mà cụ ghé, trông không được thanh lịch cho lắm. Bên ngoài, là hai cột bơm xăng rất cũ. Cảnh vật thật xa lạ, đối với cụ. Chị hầu bàn bước đến chỗ bà ngồi, đưa cho bà một khăn sạch để bà lau tóc ướt. Chị mỉm cười vui vẻ với bà dù phải đứng suốt ngày, để tiếp khách. Cụ bà để ý thấy chị hầu bàn này có thai chừng như khá lớn nhưng không thấy chị tỏ lộ căng thẳng hoặc mệt mỏi.

Bà cụ thắc mắc tự hỏi: tại sao khi cho, dù có ít, người ta vẫn cho cả những người lạ mặt từ nơi xa lạ đến. Không cần biết. Nghĩ rồi, cụ chợt nhớ đến anh Bryan lúc nãy.

Ăn xong, cụ bà trả tiền bằng tờ giấy một trăm đô. Chị hầu bàn mau mắn đi lấy tiền thối. Nhưng cụ bà đã cố ý bước nhanh ra khỏi cửa. Lúc chị hầu bàn trở lại thì bà cụ đã đi mất. Chị thắc mắc không biết là giờ này cụ đi đâu. Nhìn lại trên bàn, chị để ý thấy dòng chữ viết trên chiếc khăn giấy lau miệng, có giòng chữ viết:

“Cô không nợ tôi gì cả. Tôi cũng ở tình cảnh như cô thôi. Có ai đó, đã giúp tôi giống như tôi đang giúp cô. Muốn trả ơn, tôi đề nghị: Ðừng để chuỗi tình yêu thương này kết thúc nơi cô.”

Bên dưới tấm khăn giấy lau miệng bà cụ còn lót tặng thêm bốn tờ giấy 100.
Tối hôm đó, đi làm về chị hầu bàn vẫn suy nghĩ nhiều về số tiền lớn và những gì bà cụ nọ đã để lại. Làm thế nào cụ biết là chị và chồng chị đang cần số tiền ấy? Bởi, tình hình của chị sẽ khó khăn, khi sanh con vào tháng tới….

Chị biết chồng mình đang rất lo, nên đã thầm thì rót vào tai anh:

- ‘Mọi chuyện sẽ tốt đẹp cả thôi, anh ạ. Em thương anh lắm, hỡi Bryan Anderson.’

Con đường tình “em” đi. “Mọi chuyện sẽ tốt đẹp cả thôi”. Nếu “em” và tôi, ta xây dựng tình. Cho đẹp. Cho mọi người. Ở mọi nơi. Đừng dựng xây cuộc sống, cho riêng mình. Như người nghệ sĩ khi xưa vẫn hát:

“Đường em cứ đi, tình ta cứ xây,

Chờ em thoát thai, quay đường về.

Đường quanh khúc co, nhịp chân trói vo,

đường duyên ấm vui, đường mơ…”

(Phạm Duy – bđd)

Đường, “em” đi. Hãy cứ đi. Dù, đường đó có là đường trần. Chờ thoát thai. Hay, đường dài. Về muôn lối. Đường nhà Đạo cũng thế. Có “em” đi. Cũng đi, như hành trình kiếm tìm dựng xây một tình thương. Thương tình. Rất đùm bọc. Dọc đường đời, có “em” và tôi, ta gặp rất nhiều người. Nhiều khuôn mặt rất lừng danh. Nổi tiếng. Hạnh phúc. Những hạnh và phúc Chúa gửi, rất thân thương. Vẫn thấy có, trong/ngoài nhà Đạo. Ở Nước Trời. Nhiều lo lắng. Gặp, không chỉ mỗi diện mạo/khuôn mặt, thôi. Nhưng, còn gặp tình tự thân thương. Đậm nét. Rất sâu sắc.

Đây, người nhà Đạo có danh/có phận. Say sưa. Hưng phấn. Vẫn cứ sống, đời mục tử/chủ chăn, nhiều đắn đo. Suy nghĩ. Nghĩ và suy, tuy không lạ, cũng cũng dễ:

“Tôi đến học, những bốn trường do các linh mục, tu sĩ và giáo dân hợp tác dạy dỗ ở vùng Riverview, chịu ảnh hưởng đặc biệt từ các bậc thầy, ở đây. Tất cả, đã tạo niềm phấn khởi nơi tôi, ngay từ lúc còn trẻ. Và các vị đã hiến trọn đời mình cho Chúa. Cho dân Ngài. Các linh mục/tu sĩ nam nữ đều có đời sống chuyên tu. Hạnh phúc. Đây là niềm khích lệ lớn – hữu hiệu nhất khiến ơn gọi làm con Chúa, nên khởi sắc. Sau khi gia nhập Dòng thánh Đa Minh đạt chức linh mục, và giám mục, tôi vẫn ra đi tìm gặp các tu sĩ/giáo dân, ở rất gần.

Suốt thời gian nhiều thập niên, mọi người trong cộng đồng dân Chúa vẫn trải qua nhiều tháng ngày cam go. Vất vả. Có suy sụp trong ơn gọi. Cũng tục hoá, nhiều địa hạt. Có sách-nhiễu tình dục, rất buồn đau. Trong hành trình phục vụ, tôi vẫn gặp nhiều giáo dân. Linh mục. Tu sĩ. Và cả Giám mục đã xả thân, dâng đời mình cho Chúa. Và, dân Ngài. Nên, hạnh phúc!” (x. Sharyn McCowen, “Formed as a teacher, preacher and pastor”, bài phỏng vấn Gm Anthony Fisher, Parramatta, NSW, The Catholic Weekly 07/03/10 tr. 2)

Lời nhà Đạo, nhẹ là thế. Lời người thường, ở đời. Sẽ ra sao? Rất đa dạng. Mỗi người một ý. Ý sâu sắc. Đậm đặc. Một kiếm tìm. Tìm tình yêu. Hạnh phúc. Như lời trích dẫn của người mang tên Hồng Quang, ở trên mạng. Như sau:

Hạnh phúc là chân lý tối thượng của cuộc sống. Là cái, mà mọi người trong thâm tâm, dù ý thức hay vô thức, vẫn cứ tìm. Và nhân loại vẫn tìm mãi từ nhiều năm. Nhiều thế hệ. Những kiếp người. Vẫn ngẩn người ra mà ngạc nhiên. Đột nhiên, có một ngày người người sẽ hỏi: “Này ông/bạn! Hạnh phúc chứ?”

Hôm nay, câu hỏi nghe hơi lạ. Bởi, cuộc sống không cho phép ta tra vấn kiểu như thế. Hạnh phúc là gì, mà sao ta cứ phải viết hàng đống sách, chuyên về nó. Cứ giảng và thuyết mãi, về nó? Cứ lên đường tìm nó rồi lại hỏi những câu nói khá lẩm cẩm?” (x. Hồng Quang, Câu Chuyện Phụ Nữ: Lời thì thào của hạnh phúc, Calitoday.com 08.03.2010)

Thế đó, là ý nghĩ. Của dân thường. Ở huyện. Cũng nên thêm vào đây, lời người nghệ sĩ họ Từ, từng phát hiện về đời người. Kha khá buồn, như sau:

“…Trong đời sống, nỗi buồn bao giờ cũng dai dẳng hơn niềm vui. Sau niềm vui, nỗi buồn thường đọng lại… Mỗi người trong ta, ai cũng trải qua những dòng thời gian mang nhiều nỗi truân chuyên. Mỗi người đều có nỗi buồn riêng, nhưng tựu chung nỗi buồn của con người trong đời sống, lại quá nhiều.” (x. NS Từ Công Phụng: Như mọi người, tôi cũng có trái tim mẫn cảm 28/2/10)

Vui buồn. Hạnh phúc. Khổ đau. Đó, là hình ảnh một đời người. Hình và ảnh, về đời mình. Vẫn cung cách kiếm tìm hạnh phúc. Rất bận tâm. Theo ngôn từ nhà Đạo, hạnh phúc đồng nghĩa và hành trình kiếm tìm tình yêu. Có niềm tin, Chúa hiện diện. Nói các khác, kiếm tìm – gặp gỡ Chúa, là giáp mặt với Tình Yêu. Hạnh phúc. Tình yêu ấy. Hạnh phúc ấy, vẫn đến với con người. Trong đời. Chí ít, ở Nước Trời. Nơi trần thế.

Cuối cùng, vấn đề còn tùy chọn lựa. Của mỗi người. Tùy, cung cách mọi người tìm kiếm. Tìm Tình yêu. Kiếm Chúa Trời. Bởi, chính Chúa là Tình Yêu. Tình Ngài vẫn tồn tại. Cứ kéo dài. Khác chăng, chỉ vì mình chưa gặp. Hoặc chưa tìm. Có thế thôi.

Hạnh Phúc. Tình Yêu. Mỗi người tìm một cách. Mỗi người nhìn mỗi kiểu. Có kiểu, của người đời. Rất sành sõi. Có kiểu của nhà Đạo, khá độc đáo. Đạo hạnh. Hạnh đạo, như lời đấng bậc từng trải vẫn đoan chắc một khẳng định. Rất như sau:

“Người ta nói: Ngày nay Chúa Thánh Thần hoạt động nơi giáo dân hơn giáo sĩ. Không biết có đúng không. Nhưng có hiện tượng như thế. Trong xã hội, người ta lấy dân làm gốc. Trong Đạo vào lúc này, giáo dân được ơn Chúa soi sáng thúc đẩy hơn giáo sĩ. Ngoài Bắc, thấy cha xứ thiếu tư cách, giáo dân kiện lên Bề Trên, tẩy chay cha. Không đi lễ. Hoặc, nhắm mắt nói: ‘Cha có tội mặc kệ cha, mình chỉ tin Chúa’. Thái độ thụ động, chịu đựng thành thói quen trong chế độ, cả trong miền Nam. Ở miền Nam, họ đánh linh mục, đuổi linh mục như ở Hoàng Mai, Xóm Mới, Tân Sa Châu. Giáo quyền đóng cửa nhà thờ, giáo dân đành thiệt phận.

Một định giá xem ra có vẻ ngạo mạn, là: giáo dân tốt hơn linh mục. Linh mục hơn Giám mục. Điều đó, có thể chứng minh trong việc phong thánh. Giới nào vững vàng nhất. Ở trong tù, thường là thế này: giáo dân hơn tu sĩ. Tu sĩ hơn linh mục. Trong những vấn đề khó khăn: giáo dân vững vàng, linh mục nhẹ nhàng, Giám mục im tiếng, hoặc xuê xoa.” (x. Hồi ký Đức Cố Giám Mục Lê Đắc Trọng, Hiện tình tôn giáo sau năm 1975 www.catholic.org.tw/vntaiwan 28/2/10)

Đấng bậc vị vọng nói nhiều. Làm nhiều. Đó, là về các thánh. Trong Đạo. Nhưng, khi tìm/gặp Thiên-Chúa-Là-Tình-Yêu, nhiều vị đã và đang là thánh, nhưng vẫn chưa được phong. Chưa được thần quyền/giáo quyền vinh thăng thành hiển thánh. Trong giáo hội. Đó, là điều ta nên suy/nên hỏi: nếu từng gặp Thiên-Chúa-Là-Tình-Yêu. Là, Hạnh Phúc. Sao ta không thành thánh, được nhỉ? Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu, Ngài luôn cảm hoá người được yêu. Và đương yêu. Ngài không để mọi người luột mất Tình Yêu/Hạnh Phúc, Ngài ban phát. Có chăng, chỉ vì người ấy/người kia muốn ngược lại. Thế thôi.

Nói theo kiểu nghệ sĩ người đời/ở ngoài đời, là nói và hát, như thế này:

“Ngàn sao sáng xa,

nhìn Em thướt tha,

rụng rơi vướng mây, tóc ngà.

Đường thơm bóng gầy,

nhạc run lá bay,

hàng cây thiết tha, đắm say.”

(Phạm Duy – bđd)

Một khi đã gặp Tình-Yêu/Hạnh Phúc rồi, thì đương nhiên là “Em” và tôi, sẽ “thướt tha”. “Ngàn sao sáng xa”. Và khi đó, hàng cây/vũ trụ sẽ “thiết tha”. “Đắm say”. Như đã từng say Em/say tôi. Người con Chúa. Ở đây. Bây giờ. Vậy thì, hỡi “Em” và hỡi tôi, ta mạnh dạn lên mà ca và hát. Hát những lời cảm tạ. Cảm ơn đời. Cảm ơn người. Vì đời, vì người giúp ta tìm gặp Thiên-Chúa-Là-Tình-Yêu. Hạnh Phúc. Rất suốt đời.

Trần Ngọc Mười Hai

chừng như vẫn cứ tìm

mà không biết rằng mình đã gặp.

Tình Yêu. Và, Hạnh Phúc.

Rất trong đời.

MỤC LỤC CPDD- TẬP 5

1. Hôm qua đến tìm em

2. Ta còn những người ngôì quanh đây , trán in vết nhăn

3. Tình yêu đã vỗ cánh rôì

4. May mà có em

5. Chiều một mình qua phố

6. Như hoa đem tin ngày buồn

7. Chiều rơi trên đường vắng , có ta rơi giữ chiều

8. Chiều qua, bao nhiêu lần môi cười

9. Nơi em về ngày vui không em

10. Ước gì anh ở đây giờ này

11. Ai đang đi trên đường đê

12. Em đến thăm anh chgiều đông giá

13. Người ở đâu, ôi người ở đâu?

14. Chiều buồn len lén tâm tư

15. Xuân xuân ơi, Xuân ới xuân ơi

16. Ngày đó có em đi nhẹ vào đời

17. Ngày em thắp sao trời

18. Một chiều gió mưa

19. Em có bao giờ nhớ mùa xuân

20. Trên đường về nhớ đầy

21. Em có nghe mùa thu mưa giăng lá đổ

22. Tôi thích lang thang trong chiều chủ nhật

23. Em có yêu cuộc đời hôm nay

24. Phố vẫn hoang vu từ lúc em đi. Rồi trong mưa gió biết ai vỗ về

25. Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa

26. Không biết đêm nay vì sao tôi buồn

27. Yêu cho biết sao đêm dài

28. Từ khi yêu anh, anh bắt xa màu tím

29. Em ra đi mùa Thu

30. Những đồi sim, những đồi sim

31. Khi tình đã gọi tên

32. Mời người lên xe về miền quá khứ

33. Anh hát cho em bài tình ca thiết tha

34. Đôi khi anh muốn tin

35. Chiều nay , mình lang thang trên phố dài

36. Nếu anh còn trẻ

37. Chiều lại chiều nghe vẳng tiếng kinh buồn

38. Anh mơ, khi ánh trăng êm đềm trong sáng

39. Dìu nhau đi trên phố vắng

40. Đường vào tình yêu có trăm lần vui

41. Buồn ơi trong đêm thâu

42. Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng

43. Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo

44. Ôi biết đem tin này

45. Đường em có đi, hằng đêm bước qua

About these ads
%d bloggers like this: