ĐẶC TÍNH LINH THÁNH CỦA LINH MỤC NHƯ LÀ NỀN TẢNG CỦA ĐỜI SỐNG VÀ GIÁO HUẤN LUÂN LÝ CỦA NGÀI (I)

« Thánh thiện hơn ngươi ! » Thái độ được diễn đạt như thế, chẳng có kitô hữu nào – và chắc chắn chẳng có linh mục nào – thích người ta quy cho cho mình. « Thánh thiện hơn ngươi ! », danh ngôn thể hiện một sự tự công chính hóa, một tính tự phụ cao cả, không tương thích với sự khiêm hạ kitô giáo.

Chúa Giêsu đã dành những lời khiển trách gay gắt nhất của mình không chỉ đối với những người đã tự cho mình một vẻ đứng đắn nhưng còn đối với những ai đã cẩn thận chăm lo nhất đến việc tuân giữ luật pháp và đồng thời tìm thấy nơi sự trung tín này những gì để tự mãn với chính mình. Chắc chắn chính Chúa đã chịu những công kích của những người nhiệt thành tôn giáo, đã trách móc Ngài chữa bệnh vào ngày Sabbat. Thế nhưng, như Walter Grundmann nhận xét, Chúa Giêsu nghiệm thấy sự giả vờ đạo đức như thế bởi vì « nó không phụng sự Thiên Chúa từ lúc mà nó chứng tỏ sự khinh thường đối với một hữu thể nhân linh » (1). « Thánh thiện hơn ngươi ! » Sự khiển trách mà Tin Mừng biểu lộ cần phải ghi khắc sự khiêm tốn (modestie) cho mọi kitô hữu.

Tuy nhiên, theo một viễn ảnh khác, có điều gì đó đích thực nơi danh ngôn này khi nó được áp dụng cho linh mục công giáo. Theo cách rất khách quan, linh mục công giáo có một đặc tính thánh thiện mà phân biệt ngài với người kitô hữu giáo dân. Thế nhưng, để phòng ngừa trước một phản ứng bào chữa phẫn nộ, cần phải giải thích ngay những gì chúng tôi muốn hiểu khi tuyên bố linh mục « thánh thiện » hơn một kitô hữu (giáo dân) khác.

Quan niệm « thánh thiện ».

Rõ ràng vấn đề nổi lên vì nội hàm luân lý gắn với thuật ngữ « thánh thiện ». Khi chúng  ta gọi một người là « thánh thiện », chúng ta luôn có trong tâm trí một sự hoàn thiện luân lý xứng đáng nhận được sự quý mến cao nhất của chúng ta.

Thế nhưng phạm trù « thánh thiện » thực ra thuộc tôn giáo hơn là luân lý (2). Cho dù ý tưởng luân lý tính thường nối kết với ý tưởng của chúng ta về sự thánh thiện, nhưng theo một ý nghĩa đầu tiên (3), nó dường như không có liên can đến hạnh kiểm luân lý.

Chắc chắn, theo nghĩa chặt chẽ của thuật ngữ, sự thánh thiện chỉ được gán cho Thiên Chúa. Qadosh, Hagios, Sanctus : ba ngôn ngữ thánh của tôn giáo của chúng ta tuyên bố rằng Thiên Chúa là Đấng ba lần thánh. Chúng ta công bố chính điều đó ở mỗi cử hành Thánh thể : « Thánh, thánh, thánh, Chúa là Thiên Chúa các đạo binh ! » Người là vô song, Người hoàn toàn vượt lên trên những gì chúng ta có thể biết hay thậm chí chỉ tưởng tượng. Danh xưng đích thực của Người thánh thiện đến nỗi người Do thái đạo đức thậm chí không dám đọc (4). Trước sự hiện diện của Người chính các thiên thần phải che mặt, không ngừng ca tụng sự thánh thiện của Người.

Sự hoàn toàn « khác » (totale « altérité ») này được gặp thấy trong suốt Cựu Ước. Siêu việt mọi kinh nghiệm bình thường của con người, nó gây nên sự ngạc nhiên, bối rối, sửng sờ. Là điều lạ thường, nó vừa gây kinh sợ và cuốn hút. Tất cả những gì tiếp xúc với Thiên Chúa trong sự thánh thiện của Người đều lãnh nhận một dấu ấn, được dành riêng ra, tách khỏi những gì bao quanh nó. Sau cuộc thần hiển vĩ đại được ban cho Môisê ở đỉnh núi Sinaï, chỗ này đã trở thành Núi Thánh, thực sự khác biệt với thế giới phàm tục của các thụ tạo đến nỗi  hễ ai đặt chân đến nơi đó – người hay súc vật – đến lượt nó được dành riêng ra khỏi lãnh vực phàm tục – (hay) bị ném đá đến chết.

Các tư tế của Cựu Ước chăm sóc hết sức cẩn thận những đồ vật mà sự thánh thiện của Thiên Chúa đã chạm đến. Họ tuân giữ tỉ mỉ nghi thức thanh tẩy và chuẩn bị để tránh cho mình những hệ quả nguy hiểm của sự thánh thiện này. Trên mọi viền trong của áo khoác của vị Thượng Tế xen kẽ những quả chuông vàng nhỏ và những quả lựu xanh, tía, hồng điều, « theo cách mà người ta sẽ nghe tiếng lục lạc, khi ông đến nơi thánh, trước nhan Ðức Chúa, và khi ông bước ra: như vậy, ông sẽ khỏi phải chết » (Xh 28, 35). Phía trước khăn đội đầu của vị Thượng Tế được gắn một thẻ vàng lấp lánh nhờ một dải băng tím mang những từ « được thánh hiến cho Chúa ». Những sự thận trọng này được thực hiện là bởi vì, như tác giả Thư Do thái nói, « thật khủng khiếp khi rơi vào tay Thiên Chúa hằng sống » (Dt 10, 31). Về phần Đền thờ, đồ án của nó gồm những sân và phòng khác nhau, dẫn cho đến Đấng Thánh của các Thánh, nơi âm u và thinh lặng, với cường độ linh thánh tăng dần (5).

Các ngôn sứ cũng thế, họ ý thức về sự thánh thiện của Thiên Chúa. Khi ngôn sứ Isaia thị kiến trong Đền thờ, ông đã kêu lên không phải vì niềm vui nhưng là khiếp sợ : « khốn cho tôi, vì tôi là một con người với môi miệng không sạch ! ». Thiên Chúa, Đấng hoàn toàn thánh thiện không nói ngược lại với lời thú nhận này, nhưng Người thanh tẩy ngôn sứ bằng việc chạm than hồng trên môi của ông (Is 6). Trong một loạt trình thuật những cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa, thuật ngữ « thánh thiện » chỉ rõ thực tại này của Thiên Chúa, sự oai nghiêm không phải tạo thành và tuyệt đối bất khả tiếp cận, qua đó mọi thứ còn lại đối lập với Thực Tại này như là những gì hoàn toàn thiếu đi sự thánh thiện (6). Thế nhưng sự thánh thiện này không chỉ là tha thể tính (altérité) ; nó là toàn thể tính (totalité) của mọi sự hoàn thiện khả niệm. Sự thánh thiện của Thiên Chúa công lý của Người, như ngôn sứ Isaia nói : « Ðức Chúa các đạo binh sẽ được suy tôn, qua sự phán quyết của Người, và Thiên Chúa chí thánh sẽ biểu lộ sự thánh thiện của Người qua công lý của Người » (Is 5, 16).

 (còn nữa)

——–

(1) Walter GRUNDMANN, Das Evangelium nach Markus, Berlin, Evangelische Verlagsanstalt, 1968, 73.

(2) x. « Hagios », trong Theological Dictionary of the New Testament, éd. G. Kittel, Grand Rapids, Michigan, Wm. B. Eerdmans, 1968, I ; « Holiness », trong Sacramentum Mundi, éd. Karl Rahner, New York, Herder and Herder, 1969, III ; « Holiness of the Church », trong The New Catholic Encyclopedia, New York, Mc Graw-Hill, 1967, VII ; « Holy Consecrate, Sanctify, Saints, Devout », trong The New International Dictionary of New Testament Theology, éd. Colin Brown, Grand Rapids, Michigan, Zondervan, 1967 ; « Heilig », trong Theologisches Begriffslexikon zum Neuen Testament, éd. Lothar Coenen, Erich Beyreuther, Hans Bietenhard, Wuppertal, Theologischer Verlag Rolf Broxkhaus, 1969, II (bản gốc tiếng Đức trong The New International…được trích dẫn trên đây) ; « Sainteté », trong Dictionnaire de Théologie Catholique, éd. A. Vacant, E. Mangenot, E. Amann, Paris, Letouzey et Ané, 1939, IV ; « Heiligkeit », trong Handbuch theologischer Grundbegriffe, éd. Heinrich Fries, München, Kösel-Verlag, 1962, I ; « Heiligkeit der Kirche », « Heiligkeit (des Menschen) », « Heiligkeit Gottes », trong Lexikon für Theologie, éd. Josef Höfer, Karl Rahner, Freibourg, Herder, 1960, V.

(3) « Ý nghĩa đầu tiên » không phải theo niên đại nhưng xét như là nền tảng hơn. Rudolf OTTO, Le Sacré (Bibliothèque scientifique), dịch từ tiếng Đức bởi A. Jundt, Paris, Payot, 1949, cho ấn tượng rằng đã có lúc ý tưởng « thánh thiện » không bao gồm đặc điểm luân lý tính nào cả và sau đó, nó bị « xâm chiếm » bởi một nội dung luân lý. Tuy nhiên, Otto không bảo lưu quan điểm này cách chặt chẽ. Những cách dùng nguyên thủy nhất của thuật ngữ « thánh thiện » dường như được đánh dấu bằng một đặc điểm luân lý tính.

(4) Khi bốn chữ YHWH xuất hiện hiện trong Kinh Thánh, người ta thường thay thế nó bằng từ Adonaï. Trong Bản King James, Bản Revised Standard và New American Bible, mỗi khi từ lord viết thành chữ hoa, thì đọc giả có thể giả thiết rằng tiếng Hybá ở chỗ này chứa từ YHWH. Khi đọc bản Bảy Mươi, thì chữ Kyrios thay Tên của Thiên Chúa. Trong Tân Ước, khi thuật ngữ Kyrios được áp dụng cho Chúa Giêsu Nazareth, thì nó gợi ý như Bản Bảy Mươi, một sự gần gũi với Thiên Chúa của Abraham, của Isaac, của Giacóp. X. Reginald H. FULLER, The Foudations of New Testament Christologie, New York, Charles Scribner’s Sons, 1965 67-72.

(5) Y. CONGAR, Sacerdoce et laïcat devant leurs tâches d’évangélisation et de civilisation (deuxième édition revue et augmentée), Paris, Cerf, 1965, 99.

(6) Herberg HAAG-Paul van IMSCHOOT, « Heilig », trong Bibel-lexikon, 687 ; x. Manfred HAUKE, Women in the Priesterhood ?, San Francisco, Ignatius Press, 1988, 221.

 

HAAS, John, « Le caractère sacral du prêtre comme fondement de sa vie et de son enseignement moraux », in Cardinal J. Ratzinger, G. Chantraine, J. Haas, A. Vanhoye, Mission et formation du prêtre, éd. Culture et Vérité, 1990, p 51-80.

Louis Renard, s.j, dịch từ nguyên bản tiếng Anh bài tham luận của J. Haas.

Lm. Phêrô Võ Xuân Tiến chuyển ngữ.

Xem tiếp phần II, III, IV, V, VI

 

Advertisements
%d bloggers like this: