BƯỚC TIẾP TRÊN CON ĐƯỜNG CHẲNG MẤY AI ĐI (6) : 5. YÊU MÌNH HAY TỰ TÔN MÌNH

5.

Yêu Mình

hay Tự Tôn Mình

—————————–

Khiêm tốn là hiểu biết về mình như sự thực của mình.

Đó là một diễn giải được trích từ một quyển sách có tựa đề Đám Mây Vô Tri, do một thầy tu vô danh viết hồi thế kỷ 14. Một định nghĩa thật sâu sắc và một kim chỉ nam cần phải nắm vững cho bất cứ ai đang trong cuộc tìm kiếm nhận biết mình!

Chẳng hạn, nếu tôi nói với bạn rằng tôi là một cây viết hạng bét, thì đó không phải là khiêm tốn. Đành rằng tôi không phải là cây viết vĩ đại nhất, nhưng cứ chiếu theo thực tế thì tôi là một cây viết tương đối khá. Vì thế, nói mình hạng bét là khiêm tốn giả tạo. Đàng khác, nếu tôi nói với bạn rằng tôi là một tay đánh gôn cừ, thì đấy là cực kỳ ngạo mạn. Vì về môn đánh gôn, tôi rất xoàng. Sự khiêm tốn đích thực thì luôn luôn đúng với thực tiễn.

Phải thực tiễn! Đó là điều vô cùng quan trọng để hiểu biết sự thực vềâ mình và để có thể nhận ra cả những khía cạnh tốt lẫn những khía cạnh xấu nơi mình. Hơn nữa, theo tôi nghĩ, có một sự phân biệt giữa yêu mình và tự tôn mình. Và sự khác nhau giữa yêu mình (mà tôi cho là điều tốt) và tôn mình (mà tôi cho là một vấn đề còn có trục trặc) thì thường không rõ ràng lắm – vì chúng ta thực sự không có những từ ngữ chính xác cho hiện tượng mà tôi sắp thảo luận ở đây. Tôi hy vọng rằng cuối cùng vấn đề sẽ được giải quyết, chẳng hạn, bằng cách phát triển các từ ngữ mới, song trong hiện tại thì chúng ta còn bị kẹt với những từ ngữ cũ của chúng ta.

Trước hết, tôi có ý nói gì qua hai tiếng ‘yêu mình’? (11)

Hồi tôi còn làm việc trong quân đội với tư cách là một bác sĩ tâm thần, ngành quân sự rất quan tâm đến những gì đã giúp cho những người thành công đạt được các thành tích ngoạn mục của họ. Nhiều người thành công như vậy đã được tập trung lại để nghiên cứu. Họ là những đàn ông và phụ nữ ở độ tuổi trên dưới 40, và tất cả đều được nhìn nhận là rất thành công. Họ được thăng cấp trước các bạn đồng lứa của mình, họ cũng rất được người xung quanh yêu thích … Những người có gia đình dường như có một đời sống gia đình hạnh phúc; con cái họ học giỏi, ngoan ngoãn, tháo vát… Dường như họ có ‘trời đất phù trợ’!

Họ được nghiên cứu theo nhiều khía cạnh khác nhau, đôi khi theo nhóm, đôi khi riêng từng cá nhân. Có một phần trong cuộc nghiên cứu này bao gồm việc yêu cầu từng người trong họ viết ra trên một mảnh giấy ba điều quan trọng nhất trong đời mình, theo thứ tự ưu tiên. Dĩ nhiên họ không có cơ hội để tham vấn nhau về vấn đề này.

Có hai hiện tượng rất đáng ghi nhận về cách mà nhóm làm công việc ấy. Một là tính nghiêm túc khi họ trả lời. Người đầu tiên nộp giấy trả lời sau hơn 40 phút, và nhiều người trong họ mất hơn một giờ để hoàn thành phần trả lời của mình (dù những người này biết rằng đa số trong nhóm đã nộp bài xong xuôi rồi). Điều đáng ghi nhận thứ hai là trong khi các điều quan trọng thứ nhì và thứ ba trong câu trả lời của họ khác biệt nhau rất rộng rãi, thì tất cả 12 người ấy đều trả lời hoàn toàn giống nhau về điều quan trọng thứ nhất : “Chính tôi!” Vâng, họ không cho tình yêu là quan trọng nhất, họ không cho Thiên Chúa là quan trọng nhất, họ cũng không nghĩ gia đình là quan trọng nhất! Mỗi người trong họ đều nghĩ điều quan trọng hạng nhất là chính mình.

Tôi cho đó là một biểu hiện của thái độ yêu mình cách trưởng thành. Yêu mình là săn sóc, kính trọng, và có tinh thần trách nhiệm đối với việc nhận biết chính mình. Không yêu mình thì chẳng thể yêu người khác được. Nhưng bạn đừng lẫn lộn yêu mình với thái độ qui ngã. Những con người nam cũng như nữ thành công này là những người vợ / chồng, những cha / mẹ, và những thượng cấp đầy tấm lòng yêu thương.

Vậy thì, tôn mình có nghĩa là gì?

Khoảng tám hay chín năm sau cuộc nghiên cứu ấy trong quân đội, tôi có dịp gần gũi với một người thuộc nhóm ‘dối trá’. Hẳn bạn còn nhớ, tôi định nghĩa người dối trá chủ yếu là người ác. Thật khó gần gũi với những người như thế, nhưng tôi đã tiếp cận được một người như vậy và hỏi anh ta: “Điều quan trọng nhất trong đời anh là gì?”

Bạn đoán xem anh ta đã trả lời ra sao! Anh ta nói: “Lòng tự trọng của tôi!”

Hãy lưu ý hai câu trả lời gần nhau biết bao. Muời hai người thành công trên kia đã viết: “Chính tôi!” Còn người đàn ông này nói: “Lòng tự trọng của tôi!’

Tôi tin rằng câu trả lời của anh ta là đúng xét theo cách mà những người thuộc ‘nhóm dối trá’ trả lời. Lòng tự trọng của họ là điều quan trọng nhất trong đời họ. Họ sẽ làm bất cứ gì để giữ vững lòng tự trọng của họ mọi nơi, mọi lúc và bằng mọi giá. Nếu có bất cứ gì đe dọa lòng tự trọng của họ, nếu chung quanh họ có bằng chứng nào cho thấy sự khiếm khuyết nơi họ hay nếu có một cái gì đó có thể khiến họ cảm thấy mình dở tệ, thì thay vì dùng chứng cứ ấy và những cảm nghĩ ấy để thực hiện một sự điều chỉnh nào đó, họ sẽ cố xoay xở để tiêu trừ chính chứng cứ! Và đây là chỗ mà những cung cách xử sự tệ hại của họ bộc lộ ra. Vì họ cần giữ vững lòng tự trọng bằng mọi giá. (12)

Có một sự khác biệt giữa việc kiên thủ nhìn nhận chính mình là quan trọng ( tức thái độ biết yêu mình) và việc cố sao cho mình luôn luôn cảm thấy mình tuyệt vời (tức luôn luôn bảo vệ lòng tự tôn nơi mình).

Hiểu và biện phân được sự khác biệt ấy là điều rất quan trọng để chúng ta nhận biết chính mình. Để trở thành người tốt, người lành mạnh, chúng ta phải trả cái giá gạt qua một bên thái độ tôn mình nơi chúng ta lúc này lúc khác – nghĩa là chúng ta không luôn luôn cảm thấy thỏa mãn với chính mình. Nhưng, chúng ta phải biết luôn luôn yêu mình và trân trọng mình, ngay cả dù không tự tôn mình.

NHỮNG LỢI ĐIỂM CỦA MẶC CẢM TỘI LỖI

Khí cụ giúp chúng ta không thỏa mãn về chính mình (khi cần phải có một sự tự điều chỉnh) gọi là sự dằn vặt cần thiết. Chúng ta cần biết dằn vặt một mức nào đó, cần biết ray rức một mức nào đó, để tồn tại. Không biết dằn vặt, chúng ta sẽ thiếu một động lực cần thiết để tự điều chỉnh. Nếu chúng ta cứ nghĩ rằng mình lúc nào cũng ổn, thì dĩ nhiên chúng ta không thể điều chỉnh những phần không ổn nơi mình.

Nhiều người biết quyển sách của Thomas Harris: Tôi Ổn, Anh Ổn (I’m Okay, You’re Okay). Đó là một quyển sách rất hay, nhưng tôi thực không thích cái tựa đề ấy lắm. Bởi vì điều gì sẽ xảy ra nếu bạn không ‘Okay’? Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn thức giấc mỗi đêm lúc hai giờ sáng, ướt đẫm mồ hôi vì cơn ác mộng chết đuối, và rồi bạn khiếp sợ đến nỗi không thể ngủ lại cho đến sáu giờ – và sự việc không chỉ diễn ra đêm này qua đêm khác mà còn tuần này qua tuần khác, tháng này qua tháng khác? Như vậy bạn có còn ung dung nghĩ rằng mình ổn?

Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn không thể đi đến một cửa hàng mà không có một cơn hốt hoảng cực độ? Phải chăng như vậy bạn vẫn không có vấn đề gì? Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn đang đẩy con cái vào ma túy hay vào những rắc rối lớn và bạn thậm chí không ý thức về điều đó? Phải chăng như vậy bạn cũng vẫn đang ‘rất ổn’?

Tôi tin rằng những người trong Hiệp Hội AA có một cách nói tốt hơn nhiều để diễn tả điều đó. Họ có câu nói trào lộng: “Tôi không ổn, anh không ổn, nhưng như vậy là ổn!”

Quả thực, khi tôi hành nghề trị liệu tâm lý, tôi thường nghĩ rằng mình đang ‘làm ăn’ với những người tự nghĩ mình không ổn. Bởi vì những kẻ tự nghĩ mình không có vấn đề sẽ không đến với tâm lý trị liệu. Chỉ những người nghĩ mình không ổn mới tìm đến, họ có đủ khiêm tốn để chấp nhận tìm kiếm sự giúp đỡ nhằm giúp họ tiến lên trong hành trình nhận biết chính mình.

Tôi xin lấy chính bản thân mình làm ví dụ. Khoảng một năm trước khi tôi thực sự đi vào ngành tâm lý trị liệu, tôi đã quyết định rằng đó sẽ là ngành tốt cho tôi dấn thân vào. Lúc đó tôi là một bác sĩ tâm thần trong quân đội và tôi biết một nhà trị liệu đang làm việc tại bệnh viện của tôi. Ông ta có vẻ vui vẻ, nhiệt thành và hầu chắc sẽ nhận lời trị liệu miễn phí cho tôi. Nhưng khi tôi trình bày nguyện vọng của mình cho ông, ông hỏi tại sao tôi muốn nhận trị liệu tâm lý. Tôi trả lời ông: “À, tôi hơi lo lắng về chuyện này chuyện khác. Việc nhận trị liệu sẽ là một kinh nghiệm nghề nghiệp hữu ích cho tôi.” Ông ta nói: “Vậy thì anh chưa sẵn sàng.” Và ông từ chối chữa trị cho tôi.

Tôi quay lưng bước ra khỏi văn phòng ông, hậm hực. Nhưng dĩ nhiên, ông hoàn toàn đúng. Tôi đã không đủ sẵn sàng. Tôi cứ nghĩ rằng tôi không có vấn đề gì. Nhưng khoảng một năm sau, tới một ngày nọ, thì tôi đủ sẵn sàng.

Tôi sẽ kể cho bạn chính xác điều gì đã xảy ra vào ngày hôm ấy. Nhưng trước hết tôi xin nói rõ rằng dù tới lúc đó tôi đã không nhận ra, song thực sự tôi vốn có một vấn đề về quyền bính. Số là, suốt thời gian hai mươi năm trước đó, dù tôi làm việc hay học tập ở đâu, luôn luôn có một ‘tay hắc ám’phụ trách tôi, một tay màø tôi ghét cay ghét đắng. Đó luôn luôn là một người đàn ông lớn tuổi hơn tôi. Mỗi nơi tôi gặp một người khác nhau, nhưng ở đâu cũng có một người như thế. Và tôi nghĩ rằng vấn đề của tôi luôn luôn là do lỗi của người ấy, chứ tôi không có lỗi gì.

Vào thời điểm ấy, ‘ngáo ộp’ của tôi là vị tướng giám đốc của bệnh viện, một người đàn ông mà tôi sẽ gọi là Smith. Tôi ghét cốt cách của Smith. Và có lẽ vì tôi ghét ông, nên ông cũng chẳng tỏ ra tử tế mấy đối với tôi. Chắc hẳn ông cũng cảm nhận được mối ‘căng thẳng’ ấy.

Ngày tôi nhận sự trị liệu tâm lý bắt đầu với một buổi hội thảo chuyên môn lâm sàng, trong đó tôi phải cho chạy lại một băng cát-sét ghi buổi phỏng vấn của tôi với một bệnh nhân. Các đồng nghiệp của tôi và một trong những vị thượng cấp lắng nghe cuốn băng. Khi cuộn băng kết thúc, họ bắt đầu hạch sách tôi vì cái cách vụng về, ấu trĩ mà tôi đã thể hiện trong cuộc phỏng vấn. Thế là ngày hôm ấy tôi đã bắt đầu một cách không vui vẻ gì. Nhưng tôi vẫn có thể bảo vệ lòng tự tôn của mình bằng cách tự nhủ rằng đấy chỉ là một sự phê bình thường tình mà giới bác sĩ nội trú tâm thần và bất cứ sinh viên nào theo học ngành tâm lý trị liệu đều phải trải qua. Người ta luôn luôn ‘bới lông tìm vết’, và thực ra điều đó không có nghĩa rằng mình có trục trặc ở mặt nào đó. Song, nói gì thì nói, tình hình diễn ra như thế cũng không lấy gì làm thú vị lắm.

Rồi, tôi có được chút thời gian rảnh, và tôi chợt nghĩ mình sẽ dùng khoảng thời gian ấy để đi hớt tóc. Thực ra tôi không nghĩ mình cần hớt tóc, nhưng bạn đừng quên rằng lúc ấy tôi đang ở trong quân đội – và tôi biết rằng Tướng Smith có lẽ đang nghĩ tóc tôi đã đủ dài để nên được hớt đi. Thế là, sau khi bị chỉ trích bởi đồng nghiệp và thượng cấp, tôi đi đến tiệm hớt tóc – một việc mà mình không muốn.

Trên đường tới tiệm hớt tóc, tôi đi ngang qua bưu điện – và tôi quyết định ghé vào kiểm tra hộp thư của mình, xem thử có thư tín gì không. Quả thật hôm ấy tôi có thư. Thật là ‘đại hạn’! Khi mở hộp thư ra, tôi bắt gặp một … phiếu phạt giao thông. Số là hai tháng trước đó, tôi đã có lần lái xe vượt đèn đỏ trên đường tới sân tennis để chơi tennis với vị chỉ huy bưu điện theo hẹn trước – ông này là một đại tá mà tôi sẽ gọi là Connor, một người mà tôi có nhiều cảm tình. Bạn biết đó, khi bạn nhận một vé phạt từ bên Kiểm Soát Quân Sự gửi qua bưu điện, thì bao giờ một bản sao của nó cũng được gửi cho cấp chỉ huy trực tiếp của bạn – trong trường hợp của tôi, thì cấp chỉ huy đó là Tướng Smith.

Tôi vốn nằm trong ‘sổ đen’ của Tướng Smith, nên tôi không thích thú gì về chuyện ông ấy nhận thêm một cái gì đó nữa không tốt về tôi. Vì thế, khi cuối cùng tới sân tennis, gặp Đại Tá Connor, tôi đã mánh khóe bịa chuyện với ông: “Xin lỗi Đại Tá, tôi hơi trễ giờ. Nhưng tôi bị rầy rà bởi một trong những anh lính Kiểm Soát Quân Sự của ông khi tôi vượt đèn đỏ trên đường – chỉ tại cố đến đây kịp giờ!” Connor ra chiều thông cảm và nói: “Ồ, đừng lo, để tôi sẽ thu xếp cho cậu.” Quả vậy, sáng hôm sau, vị sĩ quan chỉ huy bưu điện đã gọi tôi và cho biết: “Bác Sĩ Peck, hôm qua ông có chuyện lôi thôi về giao thông phải không? Tôi xin báo cho ông rằng phiếu phạt đã ‘thất lạc’ trong mớ thư từ rồi. Từ nay xin ông lái xe cẩn thận hơn nhé!” Và tôi nói: “Cám ơn nhiều, thưa ông.”

Nhưng khoảng sáu tuần sau, viên chỉ huy bưu điện bất ngờ được lệnh chuyển giao công việc gấp rút – và ông ta không có đủ thời giờ để thanh lý bàn giấy của mình. Khi người ta tiếp quản và dọn dẹp lại các giấy tờ sổ sách trong văn phòng của ông, họ tìm thấy một lô phiếu phạt, và họ đã cho gửi các phiếu phạt tồn đọng ấy tới các người nhận! Thế là, ngày hôm ấy, bắt đầu với sự chỉ trích của các đồng nghiệp và thượng cấp của mình, sau đó tôi đi làm một công việc mà mình không thực sự muốn trong thời điểm đó: đi hớt tóc! Rồi tiếp theo, tôi nhận một phiếu phạt mà mình nghĩ là đã được ‘giải quyết’ rồi nhưng thực sự lại chưa được ‘giải quyết’! Rõ ràng là một ngày toàn chuyện lôi thôi. Tôi tiếp tục đi tới tiệm hớt tóc.

Tôi ngồi vào ghế, và người thợ bắt đầu hớt tóc cho tôi. Công việc tiến hành đã được ba phần tư chặng đường thì có một người khách bước vào hớt tóc. Bạn đoán thử đó là ai? Tướng Smith! Và cho dẫu ông ta có gấp rút đến đâu, ông ta cũng phải ngồi xuống chờ tới phiên mình. Bạn biết đó, dù là một đại tướng cũng không thể đuổi bất cứ ai ra khỏi ghế hớt tóc khi mà người ta đang được hớt nửa chừng. Phần tôi, tôi bắt đầu lúng ta lúng túng. Tôi phân vân không biết nên lên tiếng chào ông ấy hay là không. Và tôi phân vân mãi như thế. Tôi thấy mình kẹt cứng.

Đôi khi có người hỏi tôi: “Khi nào là lúc cần nhận sự trị liệu tâm lý?” Tôi trả lời: “Khi bạn bị kẹt.” Thì đây, trong trường hợp của mình lúc ấy, tôi đang bị kẹt.

Cuối cùng, tôi quyết định ‘ngậm tăm’luôn. Khi người thợ hoàn tất công việc hớt tóc cho tôi, tôi bước ra khỏi ghế, đi ngang qua Tướng Smith, tôi chào: “Good morning, General Smith!” – rồi bước luôn ra khỏi tiệm. Ngay lập tức, người thợ hớt tóc chạy ra, đuổi theo tôi và nói: “Thưa Bác Sĩ, ông chưa trả tiền ạ!” Thế là, tôi phải quay trở vào tiệm, và bạn biết không, khi móc tiền ra, tôi lúng túng đến độ đánh rơi tất cả tiền lẻ của mình xuống sàn nhà, ngay dưới chân Tuớng Smith. Và một hình ảnh thật kỳ cục đã xảy ra: tôi quì xuống trước mặt ông ta, ông ta ngồi chễm chệ phía trên tôi, cười khúc khích về tình huống dở khóc dở cười của tôi.

Cuối cùng, khi bước ra khỏi tiệm, tôi thấy mình run lên bần bật, và tôi tự nhủ: “Này Peck, mày rất không ổn rồi. Mày cần tìm sự giúp đỡ.”

NHỮNG KHOẢNH KHẮC TAN NÁT

Đó là một khoảnh khắc vô cùng đau đớn – tôi gọi đó là một khoảnh khắc ‘tan nát’. Khi những khoảnh khắc tan nát qua đi, người ta nghe khá nhẹ nhõm, và trường hợp của tôi đã diễn ra như thế. Tôi cho rằng Chúa biết tôi không thể chịu nổi nhiều đau đớn.

Nhưng ngay cả dù đó là một khoảnh khắc rất đau đớn, đó cũng là một khoảnh khắc tuyệt diệu nhất. Bởi vì chưa tới một giờ sau, những ngón tay run rẩy của tôi vẫn còn tiếp tục run khi dò qua quyển Những Trang Vàng để tìm địa chỉ một nhà tâm lý trị liệu, với một thái độ hoàn toàn sẵn sàng để xử lý tình trạng của mình. Và dù đau đớn, đó cũng là một bước vô cùng quyết định cho hành trình lớn lên của tôi, một bước dài tiến về phía trước, xuyên qua sa mạc để tiến tới sự cứu độ, tiến tới sự chữa trị cho mình.

Sự tan nát như thế được biểu hiệu trong các Thánh Lễ của các nhà thờ Kitô giáo, khi ở giữa nghi thức Thánh Lễ, vị linh mục đưa tấm bánh lên và bẻ nó ra. Một khoảnh khắc của tan nát! Và một trong những điều mà người ta muốn diễn tả khi thực hiện nghi thức ấy – dù họ có ý thức hay không (thường là không) – đó là họ muốn sẵn sàng bị bẻ chính mình ra. Điều này quả thực đã làm cho Kitô giáo trở thành một tôn giáo rất lạ lùng – một tôn giáo của những người sẵn sàng bị bẻ chính mình ra. Để làm gì? Để qua những tan nát này, người ta mở rộng mình ra, và thực hiện những bước quyết định tiến về phía trước.

Chúng ta cần những khoảnh khắc tan nát khi chúng ta bắt đầu nhận ra rằng mình không ổn, rằng mình có vấn đề, rằng mình không hoàn hảo, rằng mình không hoàn toàn vô tội. Những khoảnh khắc dằn vặt, những khoảnh khắc ray rức, những khoảnh khắc mà chúng ta xót xa đối mặt với cái tôi tệ hại của mình … là những khoảnh khắc vô cùng cần thiết cho sự trưởng thành của chúng ta.

Nhưng ngay cả trong những khoảnh khắc này, chúng ta cũng cần biết yêu chính mình và trân trọng chính mình. Yêu chính mình và nhìn nhận mình khiếm khuyết, đó không chỉ là điều có thể làm mà còn là điều có thể làm đồng thời nữa. Thật vậy. thường thì việc yêu chính mình có bao hàm việc nhìn nhận rằng có gì đó trục trặc nơi mình mà mình cần giải quyết.

HÀNH LÝ QUÍ BÁU

Cách đây khoảng sáu năm, tôi có một thân chủ: một chàng trai mười bảy tuổi đã từng sống một mình cho đến tuổi 14. Anh ta có cha mẹ, nhưng họ là những bậc cha mẹ rất tệ hại. Trong một buổi gặp, tôi đã nói với anh ta: “Jack, vấn đề lớn nhất của anh là anh không yêu chính bản thân anh, anh không trân trọng chính mình.”

Cũng buổi tối hôm ấy, tôi phải lái xe từ Connecticut đi New York giữa một cơn mưa bão dữ dội. Cơn mưa trùm phủ xối xả trên xa lộ và hầu như tôi không còn nhìn thấy gì – không thấy được lề đường cũng chẳng thấy được lằn vôi. Tôi phải dán chặt mắt vào mặt đường để lái xe, dù rất mệt mỏi. Nếu tôi lơi lỏng sự tập trung, dù chỉ một tích tắc, tôi sẽ lạc tay lái và văng ra ngoài lề dễ như chơi! Và cách duy nhất để tôi vượt qua 90 dặm hành trình trong mưa bão đó là liên tục tự nhủ mình: “Này, chiếc Volkswagen bé nhỏ này đang chở một hành lý cực kỳ giá trị. Hành lý quí báu đó phải được đem đến New York một cách an toàn.” Và quả chuyến đi buổi tối hôm ấy đã kết thúc an toàn.

Ba ngày sau, trở về Connecticut, tôi gặp chàng thân chủ trẻ của tôi và được biết rằng trong cùng cơn mưa bão tối hôm ấy, anh ta cũng đã lái xe đi một quãng đường ngắn hơn tôi nhiều, và anh không mệt mỏi bằng tôi, song anh đã lạc tay lái và văng trật ra ngoài lề! May là anh ta không bị thương tích gì nghiêm trọng lắm. Chàng trai này đã làm thế không phải vì anh ta có một xung năng tự tử – (mặc dù khi người ta không biết yêu mình, họ có thể đi đến chỗ tự tử) – nhưng chỉ vì anh ta không thể tự nhủ rằng chiếc Volkswagen bé nhỏ của anh ta đang chở một hành lý vô cùng giá trị.

Tôi xin dẫn một ví dụ khác. Ít lâu sau khi Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi được xuất bản, tôi bắt đầu công việc trị liệu cho một phụ nữ phải đi từ New Jersey tới chỗ tôi cư trú, mỗi lượt mất ba giờ di chuyển. Người nữ thân chủ này đến gặp tôi bởi vì chị đã đọc quyển Con Đường … và rất thích nó. Đó là một phụ nữ trải qua cả đời trong ‘nhà thờ’. Chị được nuôi dạy và lớn lên trong nhà thờ và thậm chí đã kết hôn với một giáo sĩ. Trong năm đầu tiên, chúng tôi làm việc với nhau mỗi tuần một lần, và chẳng có kết quả gì! Mọi sự vẫn dậm chân tại chỗ! Rồi một hôm chị bước vào văn phòng tôi cho buổi gặp thường lệ, chị nói: “Ông biết không, sáng nay khi lái xe đến đây, tôi bất chợt nhận ra rằng điều quan trọng nhất là phải phát triển linh hồn của chính mình.” Tôi phá lên cười vì cuối cùng chị đã thấy ra được điều đó, nhưng đó cũng là một tiếng cười trào lộng, vì tôi vốn giả định rằng người phụ nữ này – đã đến gặp tôi vì thích quyển Con Đường … và bấy lâu nay vẫn sẵn sàng lái xe sáu tiếng đồng hồ mỗi tuần để đến làm việc với tôi, và chị đã trải qua trọn cả đời trong nhà thờ – chắc hẳn đã biết rằng điều quan trọng nhất là sự phát triển linh hồn của chính mình chứ! Nhưng chị vốn đã không biết điều đó, và tôi nghi rằng phần lớn các tín đồ Kitô giáo cũng không biết điều đó. Nhưng, một khi chị nhận ra được như vậy, thì sự tiến bộ trong cuộc trị liệu chị sẽ xảy ra.

CÔNG VIỆC CHUẨN BỊ

Vì thế, điều quan trọng là chúng ta phải yêu chính mình. Thật vậy, đó là điều quan trọng đến nỗi tôi thậm chí muốn xem đó là một mạc khải thánh! Cách đây ít năm, tôi đang hướng dẫn một cuộc tĩnh tâm ở Chicago, trong một cơ sở Công Giáo lớn. Cuộc tĩnh tâm được dự kiến sẽ kết thúc vào chiều Chúa Nhật, với một Thánh Lễ trọng thể trong nhà thờ được trang trí lộng lẫy. Trước khi cuộc tĩnh tâm bắt đầu, vị tu sĩ tổ chức nó đã mời tôi phụ trách bài giảng trong Thánh Lễ ấy. Và trong một khoảnh khắc ‘bộp chộp và rồ dại’, tôi đã trả lời: “Ồ, được chứ.” Tôi quên mất rằng trong Giáo Hội Công Giáo, bạn không thể giảng về bất cứ đề tài gì tùy thích. Bạn phải giảng theo những đề tài riêng, hoặc theo những bài đọc được chỉ định sẵn cho ngày hôm ấy, và thường là theo bài đọc Tin Mừng được ấn định trước hẳn hoi.

Rồi, trong một lúc thinh lặng, khi những người tĩnh tâm đang sinh hoạt trong những nhóm nhỏ, tôi cầm quyển Thánh Kinh lên, và tìm thấy bài đọc Tin Mừng cho Chúa Nhật hôm ấy. Đó là bài dụ ngôn nói về năm cô trinh nữ khôn ngoan và năm cô khờ dại. Tôi hoảng. Tôi chưa bao giờ thích bài dụ ngôn này. Tôi thậm chí chưa bao giờ hiểu nó.

Dụ ngôn kể về cách mà mười cô trinh nữ đón chờ Chàng Rể – là Đức Kitô hay Thiên Chúa – xuất hiện. Vì có khả năng Chàng Rể sẽ xuất hiện vào giữa đêm, nên họ có thể phải đi ra ngoài trời tối để đón gặp chàng. Năm cô trong họ đem theo đèn với dầu đầy đủ. Còn năm cô kia thì không. Và, vào nửa đêm ấy, có tiếng gõ cửa, và gia nhân kêu lên: “Kìa Chàng Rể đã đến. Hãy ra đón Chàng Rể!”

Năm cô khôn ngoan lập tức thắp đèn và bước ra, trong khi nghe năm cô khờ dại nói với mình: “Các chị cho chúng em ít dầu. Chúng em cũng muốn đón Chàng Rể. Xin các chị chia sẻ một tí thôi.” Nhưng năm cô khôn ngoan từ chối và đi thẳng ra ngoài cửa.

Khi họ gặp Chàng Rể, tôi tưởng tượng chắc hẳn Chàng Rể sẽ nói với họ rằng: “Hỡi các cô gái ích kỷ, bủn xỉn, khốn nạn, ác đức! Tại sao các cô không chia sẻ một chút dầu của mình cho các bạn tội nghiệp, kém may mắn của mình?” Nhưng Chàng Rể đã không nói thế. Thay vào đó, chàng nói: “Kìa các cô gái khôn ngoan. Các cô thật tuyệt vời! Tôi yêu mến các cô. Chúng ta hãy vào hưởng niềm vui vĩnh cửu. Còn những cô gái khờ dại kia sẽ phải nghiến rằng trong Hỏa ngục mãi mãi.”

Dụ ngôn ấy thật bất ngờ đối với tôi trong tư cách là một người hoàn toàn không phải Kitôhữu. Kitô giáo dạy điều gì trên đời này nhỉ, nếu không phải là dạy người ta biết chia sẻ? Nhưng tôi phải đưa ra một bài giảng về dụ ngôn này, do vậy tôi phải suy nghĩ về nó. Đôi khi rất đáng ghi nhận điều có thể xảy ra khi chúng ta suy nghĩ. Tôi không phải mất nhiều thời giờ để nhận ra rằng dầu trong câu chuyện dụ ngôn này tượng trưng cho sự sửa soạn, và rằng Đức Giêsu muốn nói với chúng ta – (Ngài vốn thực tiễn) – rằng chúng ta không thể chia sẻ sự sửa soạn của mình. Bạn không thể làm giúp bài tập về nhà của kẻ khác. Hoặc nếu bạn làm bài tập về nhà của họ, thì bạn cũng không thể lãnh bằng thay cho họ (bằng cấp là biểu hiệu cho sự sửa soạn!). Vì thế, chúng ta không thể tặng người khác sự sửa soạn của chúng ta. Điều duy nhất chúng ta có thể làm – và thường rất khó – là cố gắng hết sức để truyền đạt cho người khác một động lực để họ biết tự sửa soạn. Và tôi nghĩ không có cách nào để làm việc đó ngoại trừ cố gắng dạy cho họ biết họ quan trọng đến mức nào, họ dễ thương và đẹp đẽ đến mức nào trước mặt Thiên Chúa.

Không có gì ngáng trở chúng ta tiến tới sự lành mạnh tâm thần, tiến tới sự lành mạnh xã hội, tiến tới Thiên Chúa … cho bằng cảm nghĩ rằng mình không quan trọng, mình không đáng yêu, mình là ‘đồ bỏ’! Tôi thường rất ngạc nhiên khi nhận thấy người ta đánh giá mình quá thấp. Cách đây 10 năm, tôi có tham dự một bữa tiệc nọ. Trong bữa tiệc, các thực khách khác đang bàn tán về một nhà sản xuất phim nổi tiếng và về những dấu ấn mà ông để lại trong lịch sử. Bất chợt, tôi buột miệng thốt lên: “Tất cả chúng ta đều để lại dấu ấn trong lịch sử!” Và câu nói ấy đã làm cho cả bàn ăn lặng thinh, như thể tôi đã nói một điều gì đó hết sức trật chìa, bá láp!

Dường như chúng ta không thích nghĩ rằng mình rất quan trọng. Vì nghĩ như vậy là tự đặt lên vai mình trách nhiệm về mình. Chúng ta thích nghĩ rằng những người đang ngồi trong Điện Cremlin mới là những nhân vật quan trọng, những nghị sĩ và thành viên quốc hội ở Washington mới là những nhân vật quan trọng. Và nếu chúng ta nghĩ rằng mình tầm thường và không quan trọng, thì chúng ta không thể chịu trách nhiệm về lịch sử, phải không? Dù muốn hay không, chúng ta vẫn quan trọng và dù ý thức hay không, chúng ta vẫn để lại dấu ấn (tốt hoặc xấu) trong lịch sử. Như có câu nói rằng: “Nếu không là bạn, thì là ai? Và nếu không bây giờ, thì bao giờ?”

Tất cả chúng ta đều dường như có cái hoang tưởng rằng mình không quan trọng, mình không đáng yêu, mình tầm thường. Cách đây sáu năm, tôi có lần đi Dallas để nói chuyện tại một hội nghị khoa học. Vừa khi tôi nhận chìa khóa tại phòng tiếp tân ở khách sạn, trên đường đi tới phòng mình, một chàng trai bước sát bên tôi và nói: “Ông là Bác Sĩ Peck phải không? Anh bạn cùng phòng của tôi muốn đến dự cuộc hội nghị này, nhưng anh ta không đến được. Anh ta nhắn nếu tôi gặp ông thì nói với ông rằng xin Chúa thứ tha cho ông!”

Thật là kỳ cục hết sức! Tôi chẳng hiểu gì. Nhưng khi đã vào phòng mình, tôi nghĩ lan man về chuyện vừa xảy ra, và nhận ra rằng có một phần nơi tôi vẫn chừng như cho thấy tôi chỉ là một cậu bé 15 tuổi, đầy mụn nhọt, ngơ ngơ ngáo ngáo và chắc chắn chẳng là ‘gờ-ram’ gì để đáng cho hội nghị khoa học nào đó lắng nghe mình. Nhưng phần đó của tôi không phải là biểu hiện của sự khiêm tốn chân thành. Nó không lành mạnh và không thực tiễn. Nó cần được chữa trị, được giải quyết, được tha thứ, được thanh tẩy.

Vì thế, tôi xin nhắc lại với bạn rằng không có gì ngáng trở chúng ta tiến tới sự lành mạnh tâm thần, tiến tới sự lành mạnh xã hội, tiến tới Thiên Chúa … cho bằng cảm nghĩ rằng mình không quan trọng, mình không đáng yêu, mình là ‘đồ bỏ’! Thiên Chúa là Chàng Rể, và Ngài đang nói với chúng ta: “Hãy vào với Ta, vào giường hợp cẩn.”

Nhưng chúng ta dường như muốn thưa: “Ồ không, không! Con mập quá.”

Và khi Chúa nói: “Con không hiểu. Ta yêu con, Ta cần con. Con xinh đẹp lắm. Hãy vào với Ta”, chúng ta vẫn tiếp tục nhún vai, lắc đầu, viện cớ rằng chúng ta quá già hay quá trẻ, quá tầm thường hay quá xấu xí, và không xứng đáng với Ngài.

Chúng ta hãy biết tự sửa soạn. Và chúng ta hãy làm thế bằng cách học đi học lại cho biết rằng mình thật rất quan trọng, mình xinh đẹp lắm, mình đáng yêu lắm, chứ không như mình vốn lầm tưởng. Và trong khả năng có thể của mình, chúng ta hãy bước ra giữa đời, nói lên cho mọi người biết rằng họ thật rất quan trọng, họ rất xinh đẹp, rất đáng yêu, chứ không như họ vốn lầm tưởng.

—————

(11)  tác giả dùng từ “yêu mình” (self-love) với nghĩa tích cực, phân biệt hẳn với chứng “tự yêu” (narcissisme) là một từ mang ý nghĩa tiêu cực.

(12) từ ngữ “lòng tự trọng” – cũng như lòng “tự tôn” – trong văn mạch chương này dùng để dịch self-esteem của nguyên bản, với nghĩa tiêu cực.

Advertisements
%d bloggers like this: