BƯỚC TIẾP TRÊN CON ĐƯỜNG CHẲNG MẤY AI ĐI (10) : 9. VAI TRÒ CỦA TÔN GIÁO TRONG SỰ TRƯỞNG THÀNH TÂM LINH

9. Vai Trò Của Tôn Giáo

Trong Sự Trưởng Thành Tâm Linh

————————

Tôi rất dè dặt khi dùng những từ “tôn giáo”, “tín ngưỡng”. Chẳng hạn, tôi thường dùng khái niệm “tâm linh” nhiều hơn là “tín ngưỡng”. Tôi thích nói “quyền lực cao hơn” thay vì “Thiên Chúa”. Tôi phải dè dặt, bởi vì các từ ấy có thể gợi những liên tưởng tiêu cực. Một trong những tội lớn của tôn giáo cơ chế là rằng nó có chiều hướng phá hư một số từ ngữ rất thánh thiện. Và khi người ta đối diện với những từ này, họ liên tưởng đến những biểu hiện đạo đức giả của tôn giáo cơ chế, và họ không còn có thể thấy hay nghe được ý nghĩa thực của chúng.

Nhiều người trong chúng ta bị tôn giáo làm hại. Và khi tôi nói về sự cần thiết phải tha thứ cho cha mẹ bạn vì những tội lỗi mà cha mẹ bạn đã mắc phải đối với thời thơ ấu của bạn, tôi cũng muốn hàm ý rằng chúng ta cần biết thứ tha cả cho Giáo Hội vì những tội lỗi mà Giáo Hội mắc phải đối với thời thơ ấu của chúng ta nữa. Tha thứ không có nghĩa là đi trở lại. Tôi không bảo bạn quay trở lại nhà thờ của thời thơ ấu, tôi cũng không bảo bạn đi trở về mái nhà xưa của cha mẹ mình. Nhưng sự trưởng thành tâm linh của bạn đòi bạn phải tha thứ. Không có sự tha thứ ấy, bạn không thể tách bạch được những giáo huấn đích thực của Giáo Hội ra khỏi mớ râu ria kệch cỡm của nó. Vâng, những giáo huấn đích thực là cái mà bạn luôn cần.

Một quyển sách có tựa đề Oneness: Great Principles Shared by All Religions (Nhất Tính: Những Nguyên Tắc Chung Của Mọi Tôn Giáo) có in trích dẫn sau đây của Đức Đạt Lai Lạt Ma ngay trên lưng bìa:

Mọi tôn giáo lớn trên thế giới đều có những quan điểm giống nhau về tình yêu, đều có cùng mục đích chung là phục vụ con người xuyên qua các thực hành tâm linh, và cùng có hiệu quả chung là làm cho các tín đồ của mình trở thành những con người tốt hơn.

Bên trong quyển sách, bạn tìm thấy rằng các vị sáng lập của tất cả các tôn giáo lớn – trong đó có Đức Giêsu, Đức Phật, Krishna, Khổng Tử, Môhamét – đều dạy về tình yêu thương người đồng loại. Bất cứ khi nào bạn có thể chọn bến đỗ tâm linh của bạn, thì bạn cũng phải đồng thời chấp nhận những chân lý căn bản ấy. Bởi vì bạn cần những chân lý căn bản ấy như những biển báo giao thông trên hành trình tâm linh của mình. Nên chọn tôn giáo nào? Tôi không thể đưa ra một lời khuyên nào cho bạn, bởi vì mỗi chúng ta đều độc đáo!

TÍNH ĐỘC ĐÁO CỦA MỖI CÁ NHÂN

Tôi luôn luôn bị ngạc nhiên về những khác biệt khôn tả giữa người với người. Tài năng nơi mỗi người chúng ta đa dạng biết bao. Tôi không biết tính độc đáo được Thiên Chúa tạo ra trong linh hồn người ta trước khi họ sinh ra hay là nó nằm trong các tố chất di truyền của họ. Tôi chỉ biết rằng tính độc đáo ấy bắt đầu có ngay từ lúc ban sơ của mỗi người.

Hai con gái tôi rõ ràng là hai hữu thể khác biệt nhau ngay từ lúc mà Lily và tôi đưa chúng từ bệnh viện phụ sản về nhà. Nếu chúng tôi có một đứa trai và một đứa gái, rất có thể chúng tôi giải thích rằng “Chúng khác nhau vì phái tính của chúng khác nhau”. Nhưng ở đây là hai đứa cùng phái!

Người ta sinh ra không ai giống ai. Và một trong những vấn đề mà họ phải giải quyết là làm sao để xử lý tính độc đáo của mình, những khác biệt của mình, và dàn xếp được trôi chảy các mối quan hệ với người khác. Vì chúng ta khác nhau, nên mỗi người chúng ta đều có ơn gọi của riêng mình. Mỗi chúng ta đều có một ý chí, đều có sự tự do kỳ diệu để chọn lựa – sự tự do này làm việc bên trong những giới hạn nào đó về sinh học và những giới hạn về tài năng riêng của chúng ta. Có một điều tôi ân hận trong quyển Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi, đó là tôi đã mô tả cuộc hành trình có vẻ như một cái gì ‘có khuôn’rõ ràng hơn thực tế của nó. Khi tôi đọc lại quyển sách, tôi bị ngạc nhiên bởi chân lý sâu sắc đã được trao cho tôi, nhưng hơi thất vọng bởi cách trình bày không được tinh tế đúng mức của mình. Tôi đã không quan tâm đến tất cả những nét đa dạng vốn tồn tại trong thực tế.

Đa dạng là đặc tính tuyệt vời. Sự đa dạng nơi người ta là một yếu tố làm nên cộng đồng, một yếu tố cần để làm nên cái toàn thể. Chúng ta cần đa dạng để tạo ra cái toàn thể. Những con đường để chúng ta bước đi cũng rất đa dạng. Vì mỗi chúng ta là một con người độc đáo, chúng ta có quyền chọn lựa. Nếu chúng ta chịu cân nhắc kỹ lưỡng thì chắc chắn câu trả lời sẽ đến với chúng ta, và chúng ta sẽ chọn con đường đúng.

Gandhi nói: “Các tôn giáo là những con đường khác nhau đồng qui về cùng một điểm. Việc chúng ta theo những con đường khác nhau không phải là vấn đề – bao lâu chúng ta cùng hướng về một mục đích.” Và tất cả chúng ta đều cùng chiến đấu trên con đường chông gai sỏi đá của sa mạc để đạt đến Thiên Chúa.

Không giống như một số tôn giáo cơ chế, Thiên Chúa không hề phân biệt đối xử. Bao lâu bạn còn vươn tới Ngài, thì Ngài sẽ còn đi con đường của Ngài để đến gặp gỡ bạn. Có vô số nẻo đường đạt đến Thiên Chúa. Người ta có thể đến với Thiên Chúa xuyên qua chứng nghiện rượu, họ có thể đến với Thiên Chúa qua thiền Phật giáo, như tôi đã làm, và họ có thể đến với Thiên Chúa xuyên qua các Giáo Hội Kitô “Tư Duy Mới” khác nhau, ngay cả dù các Giáo Hội ấy rõ ràng là dị giáo! Theo tôi nghĩ, người ta có thể đến với Thiên Chúa qua Shirley MacLaine. Người ta ở nhiều mức độ sẵn sàng khác nhau. Có điều khi họ đã sẵn sàng thì hầu như bất cứ gì cũng có thể lên tiếng với họ.

Một mục sư Tin Lành đang bắt tay với cộng đoàn của ông sau buổi gặp gỡ ngày Chúa Nhật, và ở cuối hàng có một người đàn ông mà ông mục sư chỉ năm thì mười họa mới thấy xuất hiện ở nhà thờ. Người đàn ông tiến đến và nói: “Thưa ngài, thưa ngài, điều ngài nói hôm nay trong bài giảng quả đúng là điều tôi đang cần nghe. Cám ơn ngài nhiều lắm. Bài giảng ấy thật hữu ích cho tôi. Nó chắc chắn là cột mốc đánh dấu sự thay đổi trong cuộc đời tôi. Xin cảm ơn, xin cảm ơn!”

Vị mục sư tỏ vẻ rất mãn nguyện, nói: “Tôi mừng vì đã nói được điều gì đó có ích cho anh. Nhưng này, đó là điều gì vậy?”

Người đàn ông trả lời: “À, mục sư có thể nhớ đấy. Khi bắt đầu bài giảng, ngài nói rằng sáng nay ngài muốn nói chuyện với chúng tôi về hai điều. Rồi ở giữa bài giảng, ngài nói: ‘Đó là kết thúc phần thứ nhất mà tôi muốn nói với anh chị em, bây giờ đã đến lúc chuyển sang phần thứ hai trong bài giảng của tôi’. Và chính lúc đó, tôi nhận ra rằng mình đã đi đến điểm kết thúc phần thứ nhất của đời mình, và đã đến lúc mình bước sang phần thứ hai. Cám ơn mục sư, xin thành thật cảm ơn!”

CON ĐƯỜNG TÔI TỚI VỚI THIÊN CHÚA

Tôi đến với Thiên Chúa xuyên qua thiền Phật giáo, nhưng đó chỉ là chặng thứ nhất của con đường. Con đường mà tôi chọn cho chính mình, sau 20 năm ngụp lặn trong thiền, chính là Kitô giáo. Nhưng tôi nghi rằng rất có thể mình cũng chọn lựa như thế mà không cần qua thiền. Để đón nhận Kitô giáo, người ta phải sẵn sàng đón nhận nghịch lý. Và thiền Phật giáo – mà nhiều người cho rằng nên xem như một triết lý đúng hơn là một tôn giáo – là trường huấn luyện lý tưởng để giúp người ta đón nhận sự nghịch lý. Nếu không có sự huấn luyện ấy, tôi khó hình dung có cách nào khác để mình có thể sẵn sàng nuốt lấy những nghịch lý kinh khủng của giáo thuyết Kitô giáo.

Tôi trở thành Kitôhữu vài năm sau khi xuất bản Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi. Và hẳn bạn còn nhớ, câu đầu tiên trong quyển sách ấy là chân lý vĩ đại của Phật giáo: “Đời là bể khổ” – mặc dù trong vô thức, tôi đã nghiêng chiều về tư tưởng ấy suốt một thời gian, nhưng Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi chứa đầy những quan niệm Kitô giáo. Một vị nọ đã nói với tôi: “Này Scotty, anh thật khéo léo trong việc ướp Kitô giáo của anh vào Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi, và qua đó anh đã chuyển tải sứ điệp Kitô giáo đến cho mọi người.”

Tôi trả lời thành thật: “Ồ, tôi đã không hề ướp vào đó Kitô giáo nào của tôi cả. Bởi khi viết và xuất bản quyển Con Đường…, tôi nào đã là một Kitôhữu đâu!”

Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi có thể được xem như một cột mốc đánh dấu chỗ của tôi vào thời điểm đó trong cuộc hành trình. Và xét một số phương diện, bây giờ tôi đã tiến xa hơn lúc đó; xét một số phương diện khác, tôi đã không tiến xa mấy. Phần lớn những gì tôi đã làm kể từ khi xuất bản quyển sách ấy có thể coi như một loại triển khai những quan niệm hàm chứa trong đó.

Một trong những biến cố nội tâm trong cuộc hành trình của tôi đã xảy ra vào khoảng năm tôi 30 tuổi, khi tôi đọc The Screwtape Letters (Những Bức Thư Của Screwtape) của C.S. Lewis. Đó là một tiểu thuyết trong hình thức tuyển tập những bức thư khuyên nhủ được viết bởi Screwtape, một con quỉ già, gửi cho cháu trai của nó là Wormwood, kẻ đảm nhận công việc làm xói mòn đời sống tâm linh của một chàng thanh niên. Có một lần, Srewtape khuyên Wormwood cố làm sao cho chàng thanh niên ấy – lúc này là một Kitôhữu trẻ – xem “thời giờ của anh ta là thời giờ của anh ta”. Câu ấy, lúc đầu chẳng có nghĩa lý gì đối với tôi cả. Tôi đọc đi đọc lại ba lần. Tôi tự hỏi hay là ở đây có sự sai sót ấn loát nào đó. Thời gian của mình mà mình không nghĩ là của mình thì còn nghĩ cách nào khác nữa? Nhưng rồi, tôi chợt nhận ra rằng khả năng hiện hữu thời gian của tôi thuộc về một quyền lực cao hơn bản thân tôi. Tôi đã khó chịu với quan niệm ấy trong một thời gian khá lâu, và ngay cả hôm nay, tôi vẫn đang tiếp tục học cách để chịu trao thời gian của mình cho quyền sở hữu của Thiên Chúa. Sự qui phục luôn luôn là một vấn đề cấp độ, nhưng người ta có thể học được, như C.S. Lewis đã dạy tôi về điều đó. Tuy nhiên, hơn chục năm sau tôi mới thực sự chấp nhận lãnh Phép Rửa để trở thành một Kitôhữu.

Một trong những lý do mà tôi từ từ bị hút tới với Kitô giáo là bởi vì tôi tin rằng giáo thuyết Kitô giáo nhận hiểu đúng nhất về bản chất của tội lỗi. Đó là một sự nhận hiểu có tính đa chiều kích và nghịch lý. Khía cạnh nghịch lý đầu tiên nằm ở chỗ Kitô giáo chủ trương rằng tất cả chúng ta đềâu là những tội nhân. Chúng ta không thể không vương tội lụy. Có nhiều khả năng định nghĩa tội, nhưng đây là định nghĩa phổ biến nhất: tội là hoàn toàn đi lạc hướng! Và không có cách nào chúng ta có thể đi đúng hướng mọi lúc. Đôi khi chúng ta trật hướng vì chúng ta hơi bất cẩn. Dù chúng ta tốt đến mấy đi nữa, có những lúc chúng ta hơi mệt mỏi hay hơi cố chấp và không cởi mở chính mình ra cho đủ. Chúng ta không thể lúc nào cũng nhắm đúng mục tiêu, không thể lúc nào cũng trọn hảo.

Kitô giáo cho phép điều đó. Thật vậy, điều kiện cốt tủy đệ nhất để làm thành viên trong Giáo Hội Kitô giáo đích thực là gì? Đó là: Bạn phải là một tội nhân. Vâng, nếu bạn không nghĩ bạn là một tội nhân, thì bạn không phải là một ứng viên gia nhập Giáo Hội. Những khía cạnh khác của sự nghịch lý nằm ở chỗ Kitô giáo chủ trương rằng nếu bạn thú nhận hay nhìn nhận tội lỗi mình với lòng thống hối, thì tội lỗi ấy được tẩy xóa đi. Từ “thống hối” rất quan trọng ở đây – với nghĩa rằng bạn phải cảm thấy khốn khổ về những gì mình đã làm. Nếu bạn nhìn nhận tội lỗi của mình với lòng thống hối, thì những tội lỗi ấy được xóa sạch. Dường như những tội lỗi ấy đã không bao giờ tồn tại. Bạn có thể bắt đầu lại tất cả, hoàn toàn mới mẻ tinh khôi, vào bất cứ lúc nào.

Có một câu chuyện rất hay về quan niệm này. Một bé gái Philippin nói rằng em đã gặp và nói chuyện với Chúa Giêsu; dân làng bắt đầu bàn tán xôn xao về điều đó. Tin đồn lan rộng ra các làng chung quanh, và ngày càng thêm nhiều người bàn ra tán vào. Cuối cùng, câu chuyện đến tai giám mục ở tòa giám mục Manila, và đức giám mục bắt đầu quan tâm – bởi vì dù sao đi nữa bạn không thể có bất cứ vị thánh nào ‘cù bơ cù bấc’ và không được phê chuẩn trong Giáo Hội Công Giáo. Vì thế, đức giám mục chỉ định một đức ông điều tra vụ này.

Em bé gái được dẫn tới tòa giám mục để có một loạt những cuộc phỏng vấn thẩm định về tâm lý và thần học. Vào cuối cuộc phỏng vấn thứ ba, đức ông xoa tay và nói: “Ta chịu. Ta không biết phải làm gì đây. Ta không biết câu chuyện của con thật hay giả. Nhưng, có một cách trắc nghiệm để khui ra sự thật. Lần tới, khi con nói chuyện với Chúa Giêsu, ta muốn con hãy hỏi Ngài xem ta đã xưng những tội gì trong lần ta xưng tội mới nhất. Con đồng ý chứ?” Em bé gái gật đầu và rút lui. Tuần sau đó, em lại đến cho cuộc phỏng vấn theo lịch hẹn, đức ông hớn hở hỏi: “Nào, tuần rồi con lại nói chuyện với Chúa Giêsu nữa đấy chứ?”

“Thưa vâng ạ” – em đáp.

“Con có nhớ hỏi Chúa Giêsu xem ta đã xưng thú những tội gì lần gần đây nhất không?”

“Dạ có ạ.”

“Chà, vậy Chúa Giêsu đã trả lời con thế nào?”

“Dạ, thưa Cha, Chúa nói Chúa quên tuốt mất rồi ạ!”

Có hai khả năng để hiểu câu chuyện trên. Một là, cô bé gái ấy vừa có vấn đề tâm thần vừa rất ranh mãnh. Hai là, có nhiều khả năng cô bé thực sự có gặp Chúa Giêsu, bởi vì điều mà cô bé nói thì hoàn toàn xác thực, hoàn toàn phù hợp với giáo thuyết Kitô giáo. Một khi chúng ta xưng thú tội lỗi mình với lòng thống hối, thì Chúa không còn nhớ gì đến tội lỗi ấy nữa: chúng không còn tồn tại trong tâm trí của Ngài.

THỰC TẠI ĐỨC GIÊSU

Khi người ta hỏi tôi phải chăng tôi đã được ‘sinh lại’, tôi nói: “À, có lẽ vậy. Nhưng nếu gọi đó là ‘sinh lại’, thì đó quả là một ca sinh kéo dài và khó khăn.” Có vô số khúc quặt trong hành trình ấy, nhưng có lẽ khúc quặt quan trọng nhất là việc tôi đọc Tin Mừng lần đầu tiên ở tuổi 40. Lúc ấy tôi vừa viết xong bản thảo đầu tiên Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi. Tôi thuộc số những người có khuynh hướng viết trước rồi mới nghiên cứu sau, vì thế sau khi đã trích dẫn Đức Giêsu vài lần, tôi cảm thấy cần tra xét lại những tham chiếu của mình.

Đó quả là dịp tuyệt vời để tôi đến với các Sách Tin Mừng. Nếu trước đó khoảng chục năm, bạn hỏi tôi phải chăng Đức Giêsu là có thực, tôi sẽ trả lời rằng có thừa bằng chứng cho thấy có một Đức Giêsu lịch sử. Nói chính xác, đó là một chàng trai khôn ngoan, bị hành quyết theo kiểu của thời ấy vì tội phát biểu nhiều quá; và rồi, vì một lý do nào đó, người ta bắt đầu tạo ra một tôn giáo xung quanh chàng trai Giêsu này. Rất có thể tôi đã trả lời như thế! Và nếu vậy, tôi đã bỏ sót chính thực tại của Ngài. Bạn biết đó, các tác giả viết Sách Tin Mừng không phải là những người sống đồng thời với Đức Giêsu, các ông viết Sách Tin Mừng khoảng ba chục năm sau cái chết của Ngài. Và những gì các ông viết đều đã được truyền miệng qua năm lần bảy lượt rồi. Với khả năng hiểu biết của tôi trong thời đại tri thức này, tôi đã từng nghĩ rằng tất cả những gì được viết ra trong các Sách Tin Mừng chắc hẳn đều được trau chuốt và thêm thắt.

Nhưng cuối cùng, khi tôi đọc các Sách ấy, tôi đã đọc với hàng chục năm kinh nghiệm gian nan trong nghề chữa trị của mình, và tôi hiểu được chút gì đó về công việc chữa trị cùng những nỗi niềm của một nhà trị liệu. Với chút kinh nghiệm ấy, tôi đã hết sức sững sờ trước thực tại phi thường của con người Giêsu mà tôi gặp thấy trong các Sách Tin Mừng. Tôi nhận ra đó là một con người thường xuyên chán nản. Sự chán nản ấy hầu như bộc lộ nơi mọi trang Tin Mừng: “Tôi phải nói sao để các ông hiểu đây? Tôi phải lặp lại bao nhiêu lần để các ông hiểu đây? Tôi phải làm gì để đánh động được tâm can các ông đây?” Tôi cũng khám phá ra đó là một con người thường xuyên buồn và đôi khi suy sụp, thường xuyên lo âu và kinh sợ. Một con người từng bị thành kiến, mặc dù Ngài có thể thắng vượt thành kiến ấy bằng tình yêu đầy năng lực chữa trị của Ngài. Một con người cô đơn khủng khiếp, cô đơn tận cùng, nhưng vẫn thường cần được một mình. Tôi cũng khám phá ra một con người cực kỳ thực tiễn đến nỗi không ai có thể cho Ngài ‘đi tàu bay giấy’ được.

Tôi chợt nghĩ nếu các tác giả Tin Mừng đã thêm thắt – như mình từng giả đoán – thì họ phải tạo ra một loại Giêsu mà ba phần tư số người Kitôhữu hiện nay dường như vẫn đang cố tạo ra, loại Giêsu mà Lily gọi là ‘Giêsu nhút nhát’ kia chứ! Người ta thường muốn tô vẽ Đức Giêsu với một nụ cười tươi không bao giờ tắt trên môi, âu yếm xoa đầu các em bé, ung dung thanh thản rảo gót qua các thôn làng, bởi vì Ngài có sự bình an trong tâm hồn! Nhưng, Đức Giêsu của các Sách Tin Mừng – Đấng mà một số người cho là bí mật được che đậy bưng bít nhất trong Kitô giáo – thì không hề có sự an bình trong tâm hồn mấy (theo nghĩa thông thường của mấy tiếng ‘an bình trong tâm hồn’ mà người ta vẫn dùng). Chúng ta cũng vậy, càng trở thành môn đệ Ngài thì chúng ta càng không có an bình trong tâm hồn!

Tôi bắt đầu nghi rằng các tác giả viết Sách Tin Mừng đã không thêm thắt tùy tiện như mình vốn tưởng, trái lại các vị đã thực sự làm công việc tường thuật chính xác – đã lặn lội sưu tầm để ghi lại chính xác ngần nào có thể về những biến cố và những lời nói trong cuộc đời của một con người mà họ chưa thật hiểu mấy, nhưng họ tin rằng chính nơi con người ấy mà Trời và đất đã gặp nhau. Chính khi suy nghĩ như vậy, tôi đã bắt đầu ‘phải lòng’Đức Giêsu.

Dường như phần đông các Kitôhữu đã không hề đọc Tin Mừng, và dường như phần đông các giáo sĩ Kitô giáo thậm chí không thể rao giảng đúng sự thật của Tin Mừng, bởi vì nếu họ làm thế, các cộng đoàn của họ có nguy cơ giải tán sạch.

Tôi không muốn hàm ý rằng các Sách Tin Mừng có nội dung hoàn toàn chính xác. Chắc chắn có một số chi tiết đã được thêm thắt vào. Và tôi cho rằng cũng có nhiều chi tiết bị bỏ sót. Chẳng hạn, chúng ta không thấy nói đến khiếu hài hước của Đức Giêsu và thực tại tính dục của Ngài. Có lẽ người ta cố ý không nói đến tính dục của Đức Giêsu bởi vì nó có vẻ hàm hồ. Dường như Đức Giêsu rất thích Maria Ma-đa-lê-na, người phụ nữ vốn là một gái điếm, và người ta thường bắt gặp Ngài có những cử chỉ rất thân mật với Tông Đồ Gioan, người được mệnh danh là “môn đệ được Đức Giêsu yêu mến”. Tôi tin rằng nơi Đức Giêsu có lưỡng tính; nghĩa là Ngài không phải không có phái tính, không phải đơn tính, nhưng là có tất cả. Và tất cả đã làm nên một Giêsu thật sự ‘người’, một con người có thiên năng đặc biệt.

THIÊN NĂNG CỦA ĐỨC GIÊSU

Lily và tôi vốn thường tham gia một câu lạc bộ thể thao nhỏ ở miền duyên hải tiểu bang Maine. Hằng năm, vào mùa hè, chúng tôi thường đến ở lại đó vài ngày. Vào thời gian xuất bản quyển Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi, chúng tôi đang có mặt ở đó – và do chứng tự yêu của mình, tôi đã bộp chộp khoe ngay trong ngày đầu tiên mình đến câu lạc bộ rằng quyển sách ấy đã được xuất bản, rằng tôi không chỉ là một bác sĩ tâm thần mà còn là một tác giả viết sách nữa. Rồi, liền đó, tôi đã phải ân hận về chứng tự yêu ấy của mình. Số là, vào buổi tối thứ hai của chúng tôi ở đấy, một trong những ông khách – là một luật sư có tiếng – đã đến gặp tôi và hỏi: “Nghe nói ông vừa viết một cuốn sách phải không? Sách bàn về chuyện gì vậy?”

“Về mối hòa hợp giữa tâm lý học và tôn giáo” – tôi đáp.

“Nghe có vẻ hay đấy nhỉ. Nhưng cụ thể ông nói gì trong đó?” Ông ta hỏi, tỏ vẻ là một nhà nghiên cứu ‘thứ thiệt’.

“À, quyển sách nói khá nhiều chuyện. Tôi không biết ông có sẵn sàng ngồi lại một tiếng đồng hồ để tôi có thể giải thích cho ông về nội dung của quyển sách hay không.” Tôi trả lời, với giọng không sốt sắng mấy.

“Ô, chẳng cần phải thế đâu. Tôi chỉ muốn ông nói tóm tắt về cuốn sách trong vài câu thôi mà.”

Tôi trả lời: “Thưa ông, nếu tôi làm được điều đó, thì tôi đã chẳng cần phải mất công viết cả một cuốn sách!”

“Hứ!’” – ông khách vẫn nằn nì – “Trong ngành luật của chúng tôi, người ta vẫn nói rằng bất cứ điều gì đáng nói thì cũng đều có thể được nói gọn trong một hay hai câu.”

Tôi chỉ còn cách là bày cớ: “Ồ, nói cho cùng thì quyển sách ấy chẳng có gì đáng cho ông quan tâm đâu.” Và tôi quay lưng bỏ đi.

Một ví dụ cho thấy thiên năng của Đức Giêsu, đó là khi rơi vào tình huống giống như tình huống của tôi, Ngài đã xử lý tuyệt vời hơn tôi gấp muôn triệu lần. Lần nọ, giữa đám đông có một người – lại cũng là một ông thầy luật ! – tách ra, tiến đến với Ngài. Và ông ta hỏi: “Này, thưa thầy Giêsu, thầy đang cố giảng dạy điều gì vậy? Tôi không muốn nghe những bài giảng dài như kiểu bài giảng trên núi. Xin vui lòng tóm tắt cho tôi sứ điệp của thầy chỉ trong một hay hai câu cô đọng thôi.” Và Đức Giêsu đã đáp ứng yêu cầu của ông ta: Ngài đưa ra hai câu cô đọng đến nỗi quyện lại thành một. Ngài nói: “Hãy yêu mến Đức Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết sức ngươi. Và hãy yêu thương anh em ngươi như chính mình.”

Đó là bản chất của một người Kitôhữu. Thật tiếc, phần đông người ta không hiểu nỗi khổ đau ẩn đàng sau những lời ấy. Yêu mến Thiên Chúa với hết lòng, hết linh hồn và hết sức, điều đó có nghĩa là trao phó trọn con người mình cho Ngài. Việc trao phó bản thân mình cho Thiên Chúa là một tiến trình lâu dài và cam go. Nhiều năm sau khi đã trở thành một Kitôhữu, tôi vẫn nhận ra rằng mình chưa hoàn thành tiến trình ấy gì cả.

Sau khi tôi đọc các Sách Tin Mừng và quyển Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi đã được chấp thuận xuất bản, tôi quyết định làm một chuyến đi nghỉ. Vì không muốn đi với gia đình, cũng không muốn một mình ra bãi biển ngồi nhìn trời đất mông lung, tôi đưa ra một quyết định hơi bất ngờ: đi tĩnh tâm! Thế là tôi đến một tu viện và làm cuộc tĩnh tâm hai tuần lễ.

Tôi có nhiều dự tính cho kỳ tĩnh tâm này. Một trong số những dự tính đó là bỏ thuốc lá – điều mà tôi đã thành công chỉ trong thời gian hai tuần lễ ấy mà thôi! Nhưng dự tính lớn nhất của tôi là quyết định xem mình sẽ làm gì nếu lỡ xảy ra trường hợp quyển Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi khiến mình trở thành có tên tuổi. Nếu trở thành nổi tiếng, tôi nên từ bỏ mọi việc riêng tư để đi diễn thuyết đó đây, hay tôi sẽ vào rừng ở ẩn kiểu như J. D. Salinger, và đăng ký ngay một số điện thoại kín để không bị thiên hạ quấy rầy? Tôi phân vân không biết chọn đường nào. Tôi cũng chẳng biết Chúa muốn tôi chọn con đường nào. Vì thế, tôi vuốt ve hy vọng rằng trong sự thinh lặng của kỳ tĩnh tâm này và trong bầu khí thánh thiện ấy, tôi có thể nhận được một mạc khải từ Thiên Chúa để biết phải rẽ hướng nào giữa ngã ba đường.

Tôi tự nhủ mình sẽ cố gắng hết sức để cộng tác với Thiên Chúa trong cuộc mạc khải đó bằng cách chú ý đến các giấc mơ của mình – vì tôi tin rằng các giấc mơ có thể đóng vai trò một trung gian chuyển trao mạc khải. Tôi bắt đầu ghi lại tất cả những giấc mơ của tôi. Nhưng tôi thất vọng, bởi vì tôi toàn mơ thấy những gì rất đơn giản, chẳng hạn những cây cầu, những cánh cổng … Chẳng có gì liên quan đến bước đổi đời của mình cả!

Nhưng rồi, xảy đến một giấc mơ ngoài sự mong đợi. Trong giấc mơ ấy, tôi trông thấy một gia đình trung lưu. Trong gia đình có một chàng trai mười bảy tuổi, thuộc loại con trai mà mọi cha mẹ đều mơ ước. Chàng là lớp trưởng ở năm cuối trung học, sẽ là người đọc diễn văn trong lễ tốt nghiệp sắp tới. Chàng cũng là đội trưởng của đội bóng đá nhà trường. Chàng đẹp trai, chăm chỉ, có làm một công việc bán thời gian sau các giờ học. Thêm vào đó, chàng có một bạn gái xinh đẹp, thùy mị và rất duyên dáng. Chàng có bằng lái xe – và chàng luôn lái xe một cách hết sức đàng hoàng, cẩn thận như một người lớn chín chắn. Chỉ có một người quyết không cho phép chàng lái xe, và người đó chính là cha chàng. Ông bố này nhất mực lãnh phần lái xe đưa con trai mình đi mọi nơi anh cần đi: đi dượt bóng đá, đi làm, đi hẹn hò, đi dạo chơi … Thêm nữa, ông bố yêu cầu con trai phải trích từ số tiền còm anh kiếm được để trả cho ông 5 đô la mỗi tuần về khoản chi phí đi lại mà ông phục vụ cho anh – dù anh không hề cần ông phải phục vụ như vậy. Tôi thức dậy từ giấc mơ này với cảm xúc bực bội đối với người cha độc đoán ấy.

Tôi không biết phải suy diễn điều gì từ giấc mơ ấy. Nó dường như cũng chẳng có nghĩa gì. Nhưng ba ngày sau khi viết câu chuyện đó ra giấy, tôi đọc lại những gì mình đã ghi và phát hiện rằng mình đã viết chữ ‘Cha’ với ‘C’ hoa! Tôi tự nhủ: “Hay là mình nghĩ người cha trong giấc mơ là Thiên Chúa? Nếu vậy, chàng trai mười bảy tuổi ấy phải chăng là chính mình?” Cuối cùng, tôi hiểu rằng mình đã nhận được một mạc khải. Thiên Chúa đang nói với tôi: “Này, Scotty, cứ lo tính tiền đi; còn việc lái xe, hãy để đó cho Ta.”

Tôi vốn vẫn nghĩ về Thiên Chúa như một người bạn vô cùng tử tế, tốt lành. Nhưng trong giấc mơ, tôi đã đặt Ngài vào một vai độc đoán và khắc nghiệt, hay ít nhất tôi đã nghĩ về Ngài với sự ghê tởm và phẫn nộ. Dĩ nhiên, vấn đề là đây không phải một loại mạc khải mà tôi mong đợi. Tôi không hề muốn nghe loại mạc khải ấy. Tôi chỉ muốn một lời khuyên nào đó của Chúa mà tôi hoàn toàn có tự do để đón nhận hay khước từ. Tôi không muốn một mạc khải lớn như thế. Tôi không muốn một mạc khải mà trong đó Thiên Chúa nói với tôi rằng “Cứ để Ta lái xe”!

Muời sáu năm sau, tôi vẫn còn cố tập sống sứ điệp mạc khải ấy: cố phó thác chính mình cho Thiên Chúa bằng cách tiếp nhận Ngài vào chỗ ‘ghế tài xế’trên chiếc xe cuộc đời mình – một cuộc đời vẫn còn rất chập choạng.

PHÉP RỬA – NHƯ LÀ CHẾT ĐI!

Một điều khác nữa cũng đã xảy ra trong hai tuần tĩnh tâm ấy của tôi, đó là tôi bắt đầu trăn trở với ý nghĩ trở thành một Kitôhữu. Một mối trăn trở không dễ chịu chút nào. Trở thành Kitôhữu, điều ấy đồng nghĩa với một sự chết đi nào đó. Trước hết, tôi vốn là người định đoạt việc sử dụng thời gian của chính mình. Trở thành Kitôhữu, thời gian của tôi dường như sẽ không còn là của tôi nữa; nó sẽ thuộc về Thiên Chúa, thuộc về Đức Kitô, thuộc về Nhiệm Thể Đức Kitô … Quyền sở hữu trên thời gian của mình sẽ chết đi – và điều đó nào khác gì chết đi chính mình!

Không ai lại muốn chết, vì thế tôi chần chừ nấn ná lâu chừng nào hay chừng nấy. Tôi tìm mọi lý lẽ để tránh né việc nhận Phép Rửa. Lý lẽ ‘nặng ký’ nhất là rằng tôi không thể quyết định lãnh Phép Rửa trong Giáo Hội nào giữa rất nhiều Giáo Hội Kitô giáo: Chính Thống Đông Phương hay Công Giáo Rôma, Trưởng Lão hay Lu-thê hay Báp-tít hay Mê-tô-đít …? Nhiều như nấm vậy đó, nên nếu cứ theo lý mà cân nhắc, chắc hẳn tôi sẽ chỉ có thể đi đến một quyết định sau ít nhất … ba chục năm cứu xét! Nhưng rồi, tôi chợt nhận ra rằng mình khỏi phải mất công với vấn đề chọn Giáo Hội nào, vì quả thật Phép Rửa không thuộc riêng Giáo Hội nào cả. Cuối cùng, khi tôi được dìm xuống nước vào ngày 9 tháng 3 năm 1980, thì người dìm tôi là một mục sư Mê-tô-đít đến từ North Carolina – và nghi thức diễn ra trong một nguyện đường của Giáo Hội Giám Chế (Episcopal) trong một buổi gặp gỡ phi giáo phái. Cho đến nay, tôi vẫn giữ cái đặc tính ‘phi giáo phái’ ấy của mình, vì hai lý do: thứ nhất, như vậy xem ra tiện lợi nhiều việc; thứ hai, vì tôi không tin vào các giáo phái. Tôi vẫn tin rằng nên có nhiều sắc thái phụng tự khác nhau cho những nhóm người khác nhau; nhưng sự việc Giáo Hội này từ chối hiệp thông với Giáo Hội kia – hay kể cả trường hợp tuyệt thông một cá nhân – là một cái gì kinh tởm đối với tôi. Phần mình, tôi cảm thấy hoàn toàn thoải mái bước chân đến nhà thờ của bất cứ Giáo Hội nào, bởi vì tôi là người của nhà thờ ấy!

TỘI LỖI CỦA GIÁO HỘI

Nếu như tôi không nghĩ rằng Kitô giáo là một tôn giáo tốt nhất – hoặc nếu tôi nghĩ tôn giáo nào cũng như nhau, thì tôi đã không lãnh Phép Rửa và trở thành một Kitôhữu vào cái năm 43 tuổi ấy. Trên bình diện tri thức, lý do tôi trở thành Kitôhữu là bởi vì tôi dần dần tin rằng giáo thuyết Kitô giáo tiếp cận thực tại Thiên Chúa và mọi thực tại nói chung tốt hơn bất cứ tôn giáo nào khác. Nói vậy không có nghĩa là phủ nhận rất nhiều điều đáng học hỏi từ các tôn giáo khác. Tôi cho rằng trách nhiệm của một Kitôhữu có học thức là phải học hỏi càng nhiều càng tốt những lẽ khôn ngoan trong các truyền thống tôn giáo khác.

Có lẽ tội lớn nhất của Giáo Hội Kitô là tính cách kiêu ngạo, hay tự yêu, dẫn đến sự kiện là rất nhiều Kitôhữu cảm thấy rằng mình đã chiếm hữu được Thiên Chúa làm của riêng mình. Nhiều người nghĩ rằng mình nắm giữ toàn bộ chân lý và nơi mình chỉ có toàn chân lý, còn những kẻ không có niềm tin giống như mình thì chắc chắn mất ‘phần rỗi’. Tôi cho những người ấy chỉ có một ‘thiên chúa’ rất nghèo nàn và méo mó. Họ không hiểu ra sự thật rằng Thiên Chúa vĩ đại gấp bội lần hơn thần học của họ. Như tôi đã từng nói, Thiên Chúa không thuộc về chúng ta để cho chúng ta độc chiếm. Trái lại, chúng ta thuộc về Ngài và được Ngài chiếm hữu. Và không gì bóp nghẹt Tin Mừng cho bằng nhãn giới tự yêu quá thiển cận kia.

Khi tôi trở thành Kitôhữu, tôi hiểu rằng một khi đã nhìn nhận căn tính mình như thế, tôi phải đảm nhận – cách này hay cách khác – những gánh nặng tội lỗi của Giáo Hội Kitô giáo, mà kiêu ngạo chỉ là một trong đó mà thôi. Một gánh tội khác phải được nhìn nhận, đó là thái độ bài Sê-mít (17) độc ác của Giáo Hội qua các thế kỷ và, gần đây hơn, Giáo Hội đã không làm điều cần phải làm để chặn đứng cuộc Chiến Tranh Thế Giới Thứ II. Tôi tin rằng nếu các Giáo Hội Kitô công khai phản đối chủ nghĩa quốc xã, vạch trần rằng chủ nghĩa ấy còn tệ hại hơn cả dị giáo, và đe dọa tuyệt thông những người theo chủ nghĩa ấy, … thì rất có thể dòng lịch sử đã đi theo một hướng khác rồi.

Một gánh nặng khác nữa là gánh nặng bị hiểu lầm. Vừa khi tôi đề cập đến Đức Giêsu hay Kitô giáo, nhiều người bị dị ứng bởi vì họ thuộc một tôn giáo khác hay bởi vì họ đã từng kinh nghiệm thói đạo đức giả trong Giáo Hội. Một trong những người đó là vợ tôi – vốn là con gái của một mục sư Tin Lành Báp–tít Bảo Thủ người Trung Hoa, được nuôi dạy lớn lên trong một gia đình nơi mà đức tin và tình yêu được rao giảng, song cũng là nơi mang đầy dấu vết của sự sợ hãi và lòng đố kỵ. Thế đó, tôi bắt đầu thích thú với tất cả những quan niệm “mới” gắn liền với những ý nghĩa tích cực – những quan niệm và những ý nghĩa mà Lily cho là cửa ngỏ của tính đạo đức giả. Vợ chồng tôi đã trải qua một giai đoạn khó khăn do xung khắc như thế, cho đến khi tôi dần dần biết giảm bớt ‘máu giảng đạo’ của mình, và Lily dần dần biết nhận ra rằng có nhiều cấp độ Kitô giáo khác nhau (điều này cũng đúng cho mọi tôn giáo khác) và cô ấy biết tôi không đang ở cùng một cấp độ như bố mẹ cô ấy trước đây.

Ngay cả trước khi lãnh nhận Phép Rửa, tôi cũng đã hiểu rằng nếu tôi nói về các niềm tin tưởng của mình, sẽ có nhiều người ghét và bác bỏ mình do các thành kiến cố hữu của họ. Nhưng Đức Giêsu từng dạy rằng cuộc sống không phải là một cuộc thi đua chiếm cảm tình nơi người ta. Vì thế, Phép Rửa còn mang ý nghĩa một cái chết đối với tôi ở chỗ chính bản thân việc nhận Phép Rửa đã là một hành động công khai tuyên nhận rằng mình là Kitôhữu và do đó gắn liền với việc phải chấp nhận những thành kiến của nhiều người.

Trong ý thức chấp nhận như thế, tôi đã gặp thấy một sự an ủi nào đó trong một tờ tạp chí ban đầu có tên là The Wittenberg Door, nay đổi lại thành The Door. Đó là một tạp chí hài hước Kitô giáo – nhưng một số người có thể nghĩ nó không hài hước tí nào. Nhóm thực hiện tờ tạp chí là một nhóm người thuộc phái phục hưng Tin Mừng, rất dị ứng với những tội lỗi của Giáo Hội và những sự bóp méo tinh thần nguyên tuyền của Tin Mừng. Họ dùng sự trào lộng để bày tỏ thái độ của họ. Mỗi số báo đều có nêu giải thưởng “Green Weenie”, trao cho ai nói lên được khía cạnh dở tệ nhất của Kitô giáo. Một tháng nọ, giải thưởng được trao cho Dây Lưng Kinh Thánh (một loại dây thắt lưng bằng da rắn, có đính một quyển Thánh Kinh nhỏ xíu). Có một bài vịnh được kèm theo, như sau:

Drop kick me Jesus

through the goal posts of life,

Straight over, end over end,

through those righteous uprights.

(= Hãy sút con đi, hỡi Chúa Giêsu,

sút con xuyên qua những cột ‘gôn’của đời,

Qua, qua tuốt

qua khỏi những cây trụ công chính đứng thẳng băng kia.)

Tôi hiểu tại sao nhiều người Kitôhữu Chặng II chỉ trích tôi, một số trong họ thậm chí biểu tình cản trở các buổi diễn thuyết của tôi, gọi tôi là “tên phản Kitô”. Một số người thuộc phong trào Thời Đại Mới thì phê bình rằng tôi quá bảo thủ. Tôi vốn chẳng bao giờ chủ trương trung dung, thì đây, tôi nhận ra mình là một Kitôhữu trung dung. Và tôi thấy trung dung không ‘dở’ như mình vốn nghĩ. Trung dung không phải là trung lập, đứng giữa, không thiên về bên nào. Đúng hơn, nó là một lối đi đầy căng thẳng. Một giáo thuyết quan trọng của Phật giáo là Trung Đạo, đảm nhận trong mình nó những tính cách đối ngược nhau. Chính bản thân Đức Phật, sau khi theo hai con đường đối cực – con đường nghiên cứu đạo pháp và con đường tu khổ hạnh – cuối cùng đã chọn con đường trung đạo. Chỉ sau khi ngài nhịn đói đến gần chết và ngồi dưới cây bồ đề, ngài mới giác ngộ. Người Trung Hoa thích mô tả Đức Phật trong dáng người mập, bởi vì béo mập mang ý nghĩa sung túc trong văn hóa Trung Hoa. Song thỉnh thoảng bạn cũng có thể bắt gặp một tượng Phật gầy còm da bọc xương. Nhưng nói chung, người ta thường trình bày Đức Phật không gầy cũng không mập, theo con đường Trung Đạo của ngài!

BÊN KIA CÁI CHẾT

Trong khi tôi tiếp tục vận dụng những gì mình đã học hỏi được từ Phật giáo, thì vẫn có những khía cạnh của Phật giáo – chẳng hạn vấn đề hóa kiếp – rõ ràng đặt tôi vào chỗ ‘bất khả tri’. Nghĩa là, tôi không chống song cũng chẳng tin; tôi chỉ không biết.

Một đàng, có một chuyên gia tâm thần, Bác sĩ Ian Stevenson, đã khảo cứu về vấn đề hóa kiếp trong nhiều năm trời. Lần cuối cùng tôi nghe về công trình nghiên cứu của ông, cách đây khoảng chục năm, ông đã hoàn toàn lật tẩy hiện tượng ‘đi ngược về kiếp trước bằng thôi miên’, nhưng có ít nhất khoảng bảy trường hợp mà ông không thể giải thích được nếu không nại đến ý niệm về hóa kiếp. Nếu một đầu óc cứng cỏi như Bác sĩ Stevenson mà tin vào sự hóa kiếp, thì rõ ràng tôi không thể xem thường vấn đề này được. Đàng khác, tôi vô cùng dị ứng với bất cứ giả thuyết nào có khả năng giải thích mọi sự. Mà ý niệm hóa kiếp là một giả thuyết như thế – nó có thể được người ta sử dụng, hay lạm dụng, để giải thích hết mọi sự!

William James, trong quyển Tính Đa Dạng Của Kinh Nghiệm Tôn Giáo, đã giới thiệu ý niệm về “các linh hồn già”, một ý niệm mà tôi cũng phải quan tâm. Ông nói rằng có những người dường như được sinh ra với những kiến thức sống có sẵn trước đó. Tôi từng biết có những em bé khôn ngoan phi thường, và tôi đã viết quyển sách thiếu nhi The Friendly Snowflake (Bông Tuyết Thân Thương) – “dành cho những người trẻ với linh hồn già và những người già với linh hồn trẻ”.

Trong khi vẫn cởi mở với khả tính của hóa kiếp, có lẽ tôi sẽ càng quan tâm tới thuyết lý ấy nhiều hơn nếu như không có một khả năng khác giải quyết vấn đề. Và khả năng khác này gây ấn tượng cho tôi sâu sắc hơn rất nhiều – đó chính là niềm tin truyền thống của Kitô giáo về sự sống bên kia cái chết, với những ý niệm về Thiên Đàng, Hỏa Ngục, và Luyện Ngục. Mặc dù Luyện Ngục chủ yếu là một ý niệm của Công Giáo Rô-ma, trong tư cách là một bác sĩ tâm thần, tôi vẫn đón nhận nó hoàn toàn thoải mái. Tôi hình dung Luyện Ngục là một bệnh viện tâm thần tuyệt vời, với những kỹ thuật hiện đại nhất để giúp người ta học tập một cách êm ái và ít đớn đau nhất, dưới sự coi sóc của Thiên Chúa.

HỎA NGỤC

Quan niệm của tôi về Hỏa Ngục cũng không giống với truyền thống Kitô giáo, mặc dù ở đây tôi nhận ảnh hưởng rất nhiều từ C.S. Lewis, tác giả Kitô giáo vĩ đại nhất của thế kỷ này. Tiểu thuyết The Great Divorce (Cuộc Ly Dị Vĩ Đại) của ông là một câu chuyện kể về một nhóm người trong Hỏa Ngục – nơi mà ông mô tả như một thành phố u ám và khốn khổ ở miền Trung nước Anh. Nhóm người ấy xoay xở leo lên được một chuyến xe buýt chở họ về Thiên Đàng. Thiên Đàng là một nơi sáng sủa, rực rỡ và đầy hoan lạc. Họ được chào đón hết sức nồng nhiệt bởi các bạn hữu và thân quyến của họ. Nhưng, vào cuối ngày hôm ấy, tất cả họ – chỉ trừ một người – đã leo trở lên xe búyt để về lại Hỏa Ngục!

Tại sao thế? Lewis sử dụng rất nhiều ví dụ. Bạn có thể xem ví dụ mà tôi dẫn ra sau đây như đặc trưng về điều đã xảy ra với tất cả nhóm người nói trên. Thử hình dung một trong những người trên chuyến xe búyt đó là một người đàn ông được chào đón bởi đứa cháu họ mình. Ông ngạc nhiên trông thấy thằng cháu họ ấy trên Thiên Đàng, bởi vì ông nghĩ hồi trên trần gian nó chỉ là một thằng nhãi hết sức tầm thường thôi, không có gì hay ho đáng kể cả. Nhưng, đúng là nó đấy; nó đang nồng nhiệt tiếp đón ông – và Thiên Đàng thật sáng ngời, vui vẻ! Ông nói với thằng cháu họ: “Chà, Thiên Đàng quả là một nơi rất tốt. Cậu muốn ở lại đây. Mà này, cháu biết đó, cậu vốn là giáo sư sử học tại Đại Học Columbia. Ở đây cũng có các trường đại học chứ, hở cháu?”

“Dạ có ạ, thưa cậu” – Chàng thanh niên trả lời.

“Chắc cậu sẽ được nhận một chân giáo sư chính thức chứ?”

“Ồ, dĩ nhiên là cậu sẽ được làm giáo sư chính thức. Cậu biết đó, ở Thiên Đàng này ai cũng được làm giáo sư chính thức cả.”

Người đàn ông sửng sốt: “Ai cũng làm giáo sư chính thức! Sao kỳ quái vậy? Chứ bộ ở đây không phân biệt người giỏi và người thường sao?”

“Mọi người ở đây đều là người giỏi cả, thưa cậu!” – Đứa cháu đáp.

Ông cậu bắt đầu cảm thấy khó chịu, song ông tiếp tục điều tra thêm, cầu may: “À, cháu còn nhớ không, cậu vốn là chủ tịch khoa tại Đại Học Columbia, chắc cậu sẽ được làm chủ tịch khoa ở đây chứ?”

”Ồ, rất tiếc, ở đây không có chủ tịch khoa, cậu à. Ở đây không tổ chức theo lối đó. Mọi người ở đây đều có trách nhiệm, và làm việc tiếp ứng với nhau, chứ không cần chức vụ chủ tịch.”

Lúc ấy, người đàn ông lắc đầu: “Khỉ thật, tổ chức gì đâu mà hầm bà lằng: không phân biệt người giỏi với kẻ dở, coi ai cũng như ai!” Và ông quay lại, lầm lũi bước lên xe búyt để trở về Hỏa Ngục.

Nhãn quan của tôi về Hỏa Ngục rất giống với nhãn quan ấy của Lewis. Cánh cổng Hỏa Ngục mở rộng. Người ta có thể đi ra khỏi nó. Nhưng sở dĩ người ta ở trong nó là bởi vì họ quyết định không ra khỏi nó. Tôi biết đó không phải là quan niệm truyền thống của Kitô giáo về Hỏa Ngục. Nhưng, về Hỏa Ngục, tôi còn lạc xa quan niệm của Kitô giáo ở nhiều khía cạnh khác nữa. Tôi không thể chấp nhận cái nhìn Hỏa Ngục trong đó Thiên Chúa phạt con người trong vô vọng và linh hồn con người bị hủy diệt mà không có một cơ hội được cứu độ. Tôi cho rằng Thiên Chúa không thể mất công dựng nên linh hồn người ta, với tất cả tính chất phức tạp của nó, chỉ để cuối cùng thí đốt nó thiên thu!

THIÊN CHÚA, MỘT CHUYÊN GIA VỀ HIỆU NĂNG

Người ta thường yêu cầu tôi nêu tên quyển sách nào tôi đã đọc và đã ảnh hưởng trên tôi nhiều nhất. Tôi ước giá chi mình có thể nói đó là một quyển sách của Platon hay Aristote hay Tôma Aquinô. Nhưng thực tế đó chính là quyển Cheaper By The Dozen (Cả Chục, Rẻ Hơn) của Frank Gilbreth – quyển sách mà tôi tình cờ đọc được hồi năm lên 10 hay 11 tuổi. Quyển sách kể câu chuyện thật về một đôi vợ chồng có mười hai đứa con. Đôi vợ chồng này là những chuyên gia về hiệu năng, nên họ đã tổ chức gia đình đông đúc của họ một cách tuyệt vời, đầy hiệu quả. Đó là lần đầu tiên tôi làm quen với ý niệm “chuyên gia về hiệu năng”; và tôi nghĩ: “Chà, sau này lớn lên mình cũng sẽ là một chuyên gia như thế!” Một mức nào đó, tôi có thể nghĩ rằng mình quả đã trở thành điều mà mình ước mơ ngày xưa – trong tư cách là một nhà tâm lý trị liệu để giúp người ta sống cuộc sống của họ một cách hiệu quả hơn, rồi trong tư cách một diễn giả và một tác giả viết sách, cũng để cố giúp người ta sống cuộc sống của họ một cách hiệu quả hơn; rồi trong lãnh vực công tác cộng đồng, tôi cũng cố gắng giúp các nhóm hoạt động một cách có hiệu quả.

Trong tư cách một chuyên gia về hiệu năng – nếu tôi được phép tự nhận như thế – tôi rất ngưỡng mộ những chuyên gia khác có khả năng xuất sắc trong lãnh vực này. Và tôi phải sợ tính hiệu năng của Thiên Chúa. Chẳng hạn, vào năm 1982, tôi nhận một thù lao rất ‘bèo’ để đăng đàn tại một cuộc hội thảo của giáo phái Mormon ở Salt Lake City – tôi nghĩ đó sẽ là một cơ hội tuyệt vời để mình tìm hiểu thêm về giáo phái này. Vào giờ phút chót, tôi hỏi con gái lớn của tôi – lúc đó 20 tuổi – xem thử có muốn cùng đi với bố đến Salt Lake City hay không. Con gái tôi đồng ý. Và chuyến đi đó đã trở thành một thời gian hết sức quí giá đối với mối quan hệ giữa bố con tôi. Chúng tôi đã làm quen thêm một vài người bạn tốt. Riêng phần mình, tôi đã học biết thêm tất cả những gì mình cần biết về giáo phái Mormon, và cuộc gặp gỡ của tôi với họ cũng thành công mỹ mãn.

Khoảng ba ngày sau khi tôi trở về Connecticut, tôi nhận được một cú điện thoại từ một phụ nữ. Chị muốn xin tôi một cái hẹn. Sau đó vài ngày, chị đến gặp tôi. Thì ra, chị là một thành viên của giáo phái Mormon. Chị nói rằng một cách nào đó chị đã được bồi dưỡng đáng kể bởi Giáo Hội Mormon, song chị cũng cảm thấy bị Giáo Hội này đè nén rất nhiều, và thực tế đã xảy ra xung đột. Tôi cảm thấy chắc hẳn mình đã không thể cảm thông với thế lưỡng nan của người phụ nữ này sâu sắc đến thế nếu như mình đã không có mặt tại cuộc hội thảo kia. Lúc bấy giờ ở vùng thôn quê tây bắc Connecticut chẳng còn có mấy thành viên giáo phái Mormon, và trong 10 năm tôi làm việc ở đó, đây là trường hợp đầu tiên một bệnh nhân như thế đã bước qua ngưỡng cửa văn phòng mình. Tôi ngạc nhiên: “Lạy Chúa, phải chăng Chúa bảo con đi Salt Lake City chỉ nhằm để sửa soạn làm việc với người phụ nữ này thôi sao?” Nhưng ngay lập tức, tôi nhớ lại tất cả những ích lợi khác nữa mà mình đã gặt hái được trong chuyến đi nói trên. Tính hiệu năng của Thiên Chúa làm tôi vô cùng kinh ngạc. Ngài chẳng làm việc gì vu vơ cả!

Lily và tôi có một vườn hoa xinh đẹp. Chúng tôi đã mất nhiều năm tỉ mỉ chăm sóc vườn hoa ấy. Không bao giờ có chuyện tự dưng người ta có một vườn hoa. Để có một vườn hoa xinh xắn, người ta cần phải bỏ ra khá nhiều tiền bạc, thời gian, và sự quan tâm săn sóc. Cũng không thể nào có chuyện tôi điên khùng lái một chiếc xe ủi hay dùng một súng phun lửa triệt phá khu vườn mà chúng tôi đã đầu tư bao tâm lực vào đó. Cảm nghĩ của tôi về cuộc sống bên kia cái chết cũng tương tự như thế. Đã nhìn nhận tính hiệu năng của Thiên Chúa, tôi không thể hình dung được rằng Ngài mất công tạo dựng linh hồn người ta chỉ để rồi phá hủy nó đi, coi nó như rác ruởi. Chắc hẳn Ngài phải hành động một cách nào đó khác!

THIÊN ĐÀNG

Tôi đã đề cập đến Hỏa Ngục và Luyện Ngục. Còn Thiên Đàng thì sao?

Một số người gọi tôi là một “thần học gia tay mơ”, chắc hẳn ám chỉ rằng tôi nói về Thiên Chúa mà chẳng hề đọc sách vở nào. Nhưng có một điều mà các nhà thần học ‘thứ thiệt’ hiện nay nói chung cùng nhất trí với nhau, đó là Thiên Chúa yêu thích sự đa dạng. Nào, bạn hãy ngồi xuống giữa một cánh đồng vào một chiều hè nhàn tản và hãy nhìn xung quanh bạn. Chỉ cần ngồi yên một chỗ, bạn cũng có thể trông thấy hàng chục loài cây cỏ khác nhau. Hàng trăm loại côn trùng khác nhau cùng lên tiếng làm rộn ràng bầu không khí. Nếu như bạn có thể nhìn thấy rõ tất cả những thứ nhỏ li ti – chẳng hạn với một kính hiển vi – thì ngay dưới chân bạn là cả một xã hội lúc nhúc những vi trùng và vi rút đang sinh hoạt xôn xao. Thật là đa dạng!

Bây giờ bạn hãy nhìn lại loài người chúng ta thử xem sao. Từ nhiều năm nay, tôi không chỉ ngày càng bị ấn tượng bởi tính đa dạng phi thường của con người mà còn bị cuốn hút bởi tính đa dạng ấy nữa. Chúng ta là nam và nữ, là già và trẻ, là da trắng và da đen hay da vàng, da đỏ, là Do Thái giáo hay Kitôgiáo, Hồi giáo, Aán giáo… Thế giới này sẽ buồn thảm biết chừng nào nếu tất cả mọi người đều giống hệt như tôi hay như bạn, phải không?

Vì Thiên Chúa yêu thích sự đa dạng, nên có một điều tôi có thể quả quyết về Thiên Đàng, đó là: Thiên Đàng không thể hợp với ý niệm rập khuôn kiểu các thiên thần giống hệt nhau với những vầng hào quang theo tiêu chuẩn như nhau, ôm đàn hạc ngồi cưỡi những đám mây trắng muốt. Có lẽ câu trích dẫn thông thuộc nhất tại các lễ tang là: “Trong nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở.” Hồi còn bé, tôi nghĩ rằng câu ấy nhằm cho biết kích thước rộng lớn của “nhà Cha Ta” – tức Thiên Đàng. Tôi tưởng tượng Thiên Đàng rộng lớn đến nỗi có thể chứa đựng trong đó vô số những căn phòng cho người ta ở. Nhưng bây giờ tôi hiểu rằng câu nói ấy nhằm cho biết sự đa dạng của Thiên Đàng. Tôi hình dung khi chúng ta vào Thiên Đàng, chúng ta sẽ gặp thấy rất ‘nhiều chỗ ở’ – dĩ nhiên. Một số chỗ ở xây bằng gạch, một số bằng gỗ, một số lợp ngói, một số lợp tranh, một số có bể bơi, một số tọa lạc trên triền núi đá, một số ở giữa thung lũng … Vâng, “trong nhà Cha Ta, có nhiều chỗ ở” !

Ngoài ra, tôi chẳng biết gì hơn nữa về Thiên Đàng. Tất cả những gì liên quan đến Thiên Đàng, Hỏa Ngục và Luyện Ngục đều thuộc về “thần học giả đoán”. Tất cả những gì chúng ta có thể làm là giả đoán. Chúng ta sẽ không biết cho tới khi chúng ta được giải thoát khỏi thân xác này bằng cái chết của mình.

Nói về việc nhận biết là, đó là ‘nghề’ chính của tôi. Bạn biết đó, tôi là một con người khoa học trước khi là một con người tín ngưỡng. Giới khoa học chúng tôi thường được mệnh danh là những “con người thường nghiệm”. Chủ nghĩa thường nghiệm (empiricism) chủ trương rằng con đường tốt nhất để hiểu biết – tốt nhất, chứ không phải duy nhất – là con đường kinh nghiệm. Vậy thì chúng tôi, những nhà khoa học, sẽ làm gì nếu không phải là tiến hành các thí nghiệm để tìm hiểu và cuối cùng đạt tới tri thức? Phần tôi, chính nhờ đi qua các kinh nghiệm cuộc đời mình – các kinh nghiệm về ân sủng – mà tôi đạt được chút tri thức nhỏ bé của mình về Thiên Chúa.

Về phương diện này, tôi thấy mình rất giống với Carl Jung, cũng là một nhà khoa học. Hồi cuối đời ông, có lần ông nhận trả lời phỏng vấn trong khuôn khổ một phóng sự điện ảnh. Sau nhiều câu hỏi ‘sáo’ thông thường, cuối cùng người phỏng vấn hỏi: “Thưa Bác sĩ Jung, sắc thái tôn giáo được thấy bàng bạc trong các tác phẩm của ông. Vậy, ông có tin rằng có Thiên Chúa?”

Ông già Jung bập một hơi thuốc lá từ ống tẩu, khẽ nhíu mày, lẩm bẩm: “Tin rằng có Thiên Chúa ư? Ờ, ờ, chúng ta dùng chữ “tin” khi chúng ta nghĩ rằng một điều gì đó là có thật song mình không có một chứng cứ cụ thể để chứng minh cho điều đó. Vậy thì … Không! Tôi không tin có Thiên Chúa. Tôi biết có Ngài.”

BẢN HỢP ĐỒNG BẤT THÀNH VĂN

Có một cơn đói đang cồn cào ngày nay, một nỗi bất mãn bứt rứt đối với những câu trả lời do chủ nghĩa duy vật và do các tiến bộ khoa học đem lại, một khát vọng quay quắt về cuộc sống nội tâm … Ngày càng có nhiều người Mỹ bắt đầu đi vào trong lãnh giới của tinh thần và tâm lý để tìm phương giải quyết cho cơn đói khát ấy của mình.

Những giòng trên không phải được trích từ một tác phẩm ‘best-seller’ nào đó mới đây đâu. Nó được trích từ tờ tạp chí U.S. News & World Report, số ra ngày 7 tháng 12, 1992. Trong số này, tờ tạp chí dành 5 trang để cố giải thích tại sao Carl Jung – hơn 30 năm sau khi qua đời – bỗng dưng được thiên hạ ngày nay nhắc đến nhiều như thế. Và tờ tạp chí kết luận rằng Jung đã dàn xếp được một cuộc hôn nhân hoàn hảo giữa tâm lý và tâm linh, giữa tín ngưỡng và khoa học.

Quyển Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi có thể được xem như ‘tiếng nói của Jung được chuyển thể cho thính giả đại chúng’. Và sự kiện quyển sách được đón nhận hết sức rộng rãi như thế chắc chắn có liên quan đến yếu tố rằng nó được xuất bản đúng thời điểm chín muồi, thời điểm mà ‘cơn đói’ ấy được người ta cảm nhận một cách cồn cào hơn bao giờ. Chính tôi cũng ngạc nhiên về sự nổi tiếng của quyển sách. Bởi vì tôi chẳng nói điều gì mới mẻ trong đó cả. Tôi chỉ lặp lại những gì mà Carl Jung, William James và những người khác đã nói từ rất lâu rồi. À, thì ra dù tôi không nói điều chi mới, song đối với người ta nó vẫn cứ ‘mới’ – bởi trước đây họ đã không lắng nghe. Bây giờ thì họ đã sẵn sàng lắng nghe hơn. Và chính sự khác biệt này giải thích vì sao quyển sách của tôi nổi tiếng.

Ít lâu sau khi xuất bản, Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi được đặc biệt xôn xao nhắc đến bởi những người thuộc học phái cơ yếu Thánh Kinh. Đầu tiên, phần lớn những lời mời tôi thuyết trình đều đến từ nhóm này. Thật lạ, vì tôi đâu phải là một người theo trường phái cơ yếu (fundamentalist)! (18) Tôi chợt nhận ra rằng những người muốn nghe tôi nói chuyện có thể ở trong môi trường cơ yếu Thánh Kinh nhưng không chia sẻ não trạng đặc trưng của môi trường ấy. Có vô số người giàu thiên hướng về Thiên Chúa và tâm linh nhưng được nhồi nhét một thứ niềm tin tôn giáo quá ‘đơn giản hóa’, thứ niềm tin trong đó người ta tự nhận rằng mình có lời giải đáp cho tất cả mọi sự và chẳng có chi là huyền nhiệm với họ cả. Những người ấy đang khao khát một luồng khí mới. Họ cần có một nhịp cầu nối qua hai bờ vịnh, giữa một bên là khoa học thuần tính duy vật và bên kia là một thần học giáo điều cứng ngắt.

Để hiểu tại sao có tồn tại một cái vịnh ngăn cách như thế, chúng ta phải đi ngược dòng thời gian, trở về thời mà thậm chí chưa hề có cái gọi là khoa tâm lý. Chúng ta cần khảo sát lịch sử mối quan hệ giữa tôn giáo và khoa học.

Cách đây khoảng hai mươi lăm thế kỷ, mối liên hệ ban sơ giữa tôn giáo và khoa học là một mối liên hệ hòa hợp. Mối hòa hợp này có một cái tên, đó là ‘triết học’! Vì thế, các triết gia đầu tiên như Platon và Aristote, rồi những triết gia sau này như Tôma Aquinô … đều là những người có khuynh hướng khoa học. Họ lập luận mạch lạc chặt chẽ và họ chất vấn các tiền đề, nhưng họ cũng hoàn toàn xác tín rằng Thiên Chúa là một thực tại khẩn thiết.

Nhưng rồi đến thế kỷ 16 thì mọi sự bắt đầu tệ hại đi, và điều tệ hại nhất đã xảy ra vào năm 1633 khi Galileo bị gọi đến trước Tòa Điều Tra. Biến cố ấy đã dẫn tới những hệ quả hết sức ‘chán’. Galileo bị ép tuyên bố rút lại niềm tin của mình đối với thuyết Copernic (thuyết cho rằng các hành tinh quay quanh mặt trời) – và ông bị quản thúc cho đến mãn đời. Tuy nhiên, về phía Giáo Hội, tình hình cũng ảm đạm không kém, ít là trong một thời.

Để nhận diện được diễn tiến của tình hình, tôi xin dựng ra một câu chuyện ở đây. Nào, chúng ta hãy đặt mình vào thời điểm năm 1705, nơi chốn là Luân-Đôn. Chúng ta được cho phép chứng kiến một cuộc gặp gỡ bí mật trong tư dinh của Nữ Hoàng Anne. Giáo Hoàng Clement XI đã bí mật vượt quãng đường từ Rôma đến đây để có mặt trong cuộc gặp gỡ ‘kín’ này. Và một nhân vật khác nữa, theo lệnh triệu tập của nữ hoàng, đã đến từ phòng thí nghiệm của mình ở Hội Hoàng Gia Luân-Đôn Phát Triển Kiến Thức Tự Nhiên – người ấy chính là Isaac Newton.

Nữ hoàng lên tiếng để bắt đầu cuộc họp: “Như các ngài biết đó, Thiên Chúa trao cho tôi trách nhiệm về trật tự chính trị và về kỷ cương của xã hội chúng ta. Tôi rất biết ơn Giáo Hoàng vì gần đây ngài có gửi cho tôi một thông điệp kín, đề nghị thực hiện một hành động nhằm – nhờ ơn Chúa – tạo điều kiện cho tôi chu toàn trách nhiệm của tôi. Vâng, cuộc gặp gỡ hôm nay chính là sáng kiến của Giáo Hoàng. Vậy, xin Giáo Hoàng vui lòng đích thân chuyển đạt ý kiến của mình cho ngài Newton.”

“Xin cảm ơn, xin cảm ơn.” – Giáo Hoàng quay nhìn Isaac Newton – “Ngài biết đó, thưa ngài Newton, vụ Galileo đã đặt Giáo Hội vào tình thế khó xử trong ít lâu nay. Điều tôi muốn đề nghị với nữ hoàng là cần gấp rút có một giải pháp nào đó để giải tỏa sự xung đột giữa khoa học và tôn giáo.”

“Vâng, đó chắc chắn là mối quan tâm hàng đầu của xã tắc hiện nay.” – Nữ hoàng nói xen vào.

Newton sốt sắng đưa ra lời giải thích rằng các phương tiện và mục tiêu của khoa học được phát triển trong thế kỷ vừa qua không hề giống với các phương tiện và mục tiêu của tôn giáo. “Thời đại của các triết gia sa-lông không còn nữa” – ông nói – “tôi thấy chúng ta không thể và không nên quay ngược bánh xe lịch sử.”

“Ồ, vâng, tôi hoàn toàn đồng ý thế, thưa ngài Newton.” Giáo Hoàng nói – “Việc thống nhất hai đàng trở lại là điều không thể được. Tuy nhiên, chắc chắn có thể có ít nhất là một sự hòa giải nào đó, có thể vãn hồi một mối hữu nghị giữa tôn giáo và khoa học.”

“Nhưng cụ thể các ngài muốn tôi làm gì?” – Newton hỏi.

“Một thỏa thuận, Isaac à. Đã đến lúc cần có một thỏa thuận.” – Nữ hoàng nói.

“Vâng, một thỏa ước” – Giáo Hoàng tiếp lời – “Nhân danh Tòa Thánh, tôi xin bảo đảm rằng Giáo Hội sẽ không bao giờ gây khó dễ cho bất cứ một nhà khoa học chân chính nào, miễn là bên phía quí vị là các nhà khoa học cũng đừng chõ mũi vào các vấn đề của tôn giáo.”

Nữ hoàng gật gật: “Điều chúng tôi đề nghị, thưa ngài Newton, đó là có một sự tôn trọng lẫn nhau. Chúng ta cần có một sự cân bằng ổn định về quyền lực và một mối quan hệ hợp tác trong đó đôi bên cùng có lợi. Chúng ta cần ký hiệp định nhìn nhận những ranh giới đang có sẵn. Thưa ngài Newton, mục đích của ‘Hội Hoàng Gia’ của ngài, mà hiện nay đang được tôi bảo trợ, là phát triển kiến thức tự nhiên – theo đúng như danh xưng của nó. Và, cần ghi nhận là kiến thức tự nhiên thì hoàn toàn khác với kiến thức siêu nhiên. Tôi tin rằng ngài Newton sẽ đồng ý nhìn nhận rằng kiến thức siêu nhiên là lãnh vực hoàn toàn thuộc riêng của Giáo Hội. Phải không nào?”

“Cũng như chính trị là lãnh vực hoàn toàn dành riêng cho các chính khách” – Giáo Hoàng phụ họa vào – “Rõ ràng là nỗ lực của khoa học nhằm phát triển kiến thức tự nhiên không thể bị bôi nhọ bởi những thói thất thường của chính trị phàm tục. Khoa học cần phải đứng trên các vấn đề chính trị và đứng ngoài lãnh vực tôn giáo. Tôi đề nghị nhà nước bảo trợ cho khoa học bằng cách chi ngân sách cho các phân khoa khoa học tại các trường đại học cũng như tài trợ cho việc sắm sửa các trang thiết bị ngày càng phức tạp hơn trong lãnh vực nghiên cứu khoa học.”

“Đúng vậy, ngài Isaac ạ,” Nữ hoàng nói – “nếu ngài nhất trí ủng hộ ý niệm về lãnh giới khoa học thuần túy như chúng tôi đề xuất, thì tôi chắc chắn Giáo Hội sẽ biểu dương các nhà khoa học chân chính như những bậc anh hùng.”

Giáo Hoàng gật gật, tỏ vẻ đồng ý: “Và như vậy, một phần ngân quĩ nhà nước sẽ có thể được sử dụng vào các chi phí nghiên cứu khoa học – dĩ nhiên là chỉ giới hạn trong lãnh vực nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên.”

Newton ngồi yên, trầm ngâm hồi lâu. Cuối cùng, ông lên tiếng: “Ờ, ờ, nghe có vẻ hay đấy!”

Nữ hoàng mỉm cười: “Ngài Isaac, trong tư cách là chủ tịch Hội Hoàng Gia, ngài là nhà khoa học có nhiều ảnh hưởng nhất trong giới Kitô giáo. Nếu ngài ủng hộ quan điểm về khoa học thuần túy như chúng tôi vừa trình bày, tôi tin chắc rằng đây sẽ là yếu tố quyết định có tính bảo đảm cho sự ổn định của nền văn minh Kitô giáo trong những thế kỷ sắp tới. Nhưng, dĩ nhiên, tất cả phải được thực hiện một cách âm thầm. Vì đây là vấn đề quan điểm, một loại vấn đề rất tế nhị. Tôi nghĩ chúng ta không cần tiết lộ cho bất cứ ai biết về cuộc họp này. Chúng ta sẽ triển khai tất cả những nghị quyết đã nêu ra mà không cần kèn trống gì cả. Tôi tin rằng ngài sẽ tích cực cộng tác với tôi trong vấn đề này.”

“Tôi hứa sẽ làm hết khả năng mình, thưa nữ hoàng.” Newton nói.

“Ồ, tốt lắm, ngài Isaac.” Nữ hoàng cười thật tươi – “À, tôi biết ngài có thể bảo mật nên tôi không ngại tiết lộ với ngài rằng tôi đã có dự tính phong cho ngài tước hiệp sĩ nội trong năm nay!”

Đó là tất cả những gì tôi tưởng tượng ra. Dĩ nhiên, đã không hề xảy ra một cuộc gặp gỡ như thế. Tuy nhiên, một hợp đồng xã hội ngầm với nhau trong việc phân chia lãnh giới giữa nhà nước, khoa học và tôn giáo như thế đã được triển khai vào khoảng cuối thế kỷ 17 và đầu thế kỷ 18. Người ta đã không triển khai bản hợp đồng đó một cách ý thức. Nó dường như là một sự đáp ứng vô thức đối với các nhu cầu của thời bấy giờ. Dù sao đi nữa, bản hợp đồng xã hội bất thành văn ấy đã đóng vai trò chủ chốt trong việc xác định bản chất của khoa học cũng như của tôn giáo kể từ đó.

Thật vậy, bản hợp đồng ngầm ấy có thể được xem như là một trong những sự kiện tri thức vĩ đại của loài người. Nó đem lại bao nhiêu điều tốt đẹp: Tòa Điều Tra bị xóa sổ, các pháp sư không còn bị thiêu sống nữa, các két tiền của Giáo Hội vẫn đầy ắp trong vài thế kỷ, chế độ nô lệ bị bãi bỏ, thể chế dân chủ được thiết lập mà không có biến loạn, và – có lẽ nhờ tự giới hạn mình trong lãnh vực hiện tượng tự nhiên – khoa học đã chắp cánh, khai sinh ra cuộc cách mạng kỹ thuật ngoạn mục đến mức không thể tưởng tượng được, thậm chí có khả năng mở đường cho một nền văn hóa hành tinh.

Chỉ có một vấn đề duy nhất, đó là bản hợp đồng ngầm ấy không còn có tác dụng tích cực nữa. Thật vậy, một hợp đồng như vậy đối với chúng ta thời nay rõ ràng là một hợp đồng ma quỉ! Ma quỉ xúi quẩy chuyện phân chia, tách biệt (19). Bản hợp đồng ngầm ấy đang xé rách chúng ta ngày nay.

CÁI HẠI CỦA VIỆC PHÂN NGĂN

Hồi năm 1970-71, tôi đang làm việc trong quân đội; tôi thường rảo bước qua các hành lang của Lầu Năm Góc, nói chuyện với người ta về cuộc Chiến Tranh Việt Nam. Hiểu mối ưu tư của tôi, những người đối thoại với tôi thường đưa ra lời giải thích đại khái là: “Ờ, vâng, thưa Bác sĩ Peck, chúng tôi hiểu quan điểm của ông. Nhưng, ông cũng biết đó, chúng tôi chỉ là bộ phận tiếp liệu, chúng tôi chỉ có bổn phận lo sao cho các quả bom na-pan được sản xuất và được gửi sang Việt Nam kịp thời. Còn chính vấn đề cuộc chiến tranh ấy thì chúng tôi thực sự không có trách nhiệm quyết định. Đó là phần việc của bên bộ phận đặc trách chính sách. Tốt hơn, ông nên đi xuống hành lang và trao đổi với những người ở phòng chính sách về chuyện ấy.”

Tôi nghe lời, đi xuống hành lang và nói chuyện với những người trong phòng chính sách, và họ nói: “Vâng, thưa Bác sĩ Peck, chúng tôi hiểu mối quan tâm của ông. Nhưng ở đây là phòng chính sách, chúng tôi chỉ có trách nhiệm thi hành các chính sách; chúng tôi không phải là những người đề ra các chính sách, đó là công việc của bên Nhà Trắng.” Thế đấy, xem chừng toàn thể Lầu Năm Góc hoàn toàn không có chút trách nhiệm gì về cuộc Chiến Tranh Việt Nam!

Kiểu phân ngăn như vậy cũng xảy ra trong bất cứ tổ chức lớn nào. Người ta có thể nhận thấy lề thói này trong các xí nghiệp, các cơ quan nhà nước, các bệnh viện, các trường đại học, các Giáo Hội… Khi một cơ chế nào đó trở nên to lớn và được phân thành các ngành các ban, thì lương tâm của cơ chế ấy thường sẽ bị xé ra manh mún và nhạt nhòa đến như không còn tồn tại nữa, và chính bản thân tổ chức ấy sẽ trở thành một sự dữ.

Kiểu phân ngăn như thế cũng xảy ra nơi các cá nhân nữa. Chúng ta có một khả năng đáng kể trong việc xử lý những vấn đề nhạy cảm, dễ gây đụng chạm giữa mình và người khác: chúng ta nhốt những vấn đề ấy vào trong những buồng kín riêng rẽ nhằm để tránh đụng chạm nhau và tránh gây đau đớn nhiều cho nhau. Tất cả chúng ta đều không lạ gì những người đi nhà thờ vào sáng Chủ Nhật, nghĩ rằng mình yêu Chúa, yêu các tạo vật của Ngài và yêu đồng loại, nhưng vào sáng thứ hai, ở công ty mình, thì thoải mái đổ chất thải độc hại xuống sông rạch một cách vô tội vạ. Anh ta làm thế vì nơi con người mình, anh ta chứa tôn giáo trong một ngăn và công việc của anh ta trong một ngăn khác. Anh ta quả xứng đáng với danh hiệu “Kitôhữu sáng Chủ Nhật”! Thật là thoải mái, song chẳng nhất quán tí nào.

Từ “nhất quán” (integrity) cùng gốc với từ “hội nhập” (integrate). Nó có nghĩa là đạt đến tính toàn bộ, tính trọn vẹn, đối ngược với sự phân chia, tách ngăn. Phân ngăn ra là điều dễ dàng. Hội nhập cho nhất quán mới khó, bởi nó gây đau khổ. Nhưng nếu không hội nhập thì không thể có được sự trọn vẹn. Sự nhất quán đòi chúng ta phải hoàn toàn cởi mở đón nhận những áp lực, những ý tưởng và những căng thẳng xung đột nhau trong cuộc sống.

ĐIỀU GÌ BỊ BỎ SÓT?

Đứng trước bất cứ giải pháp nào được đề xuất cho xã hội, tôi luôn luôn có một qui tắc vàng, đó là tự hỏi: “Điều gì đang bị bỏ sót ở đây?” Lần đầu tiên tôi học biết phải tìm kiếm điều bị bỏ sót là trong cuộc Chiến Tranh Triều Tiên. Lúc ấy tôi mười bốn tuổi, sáng nào cũng chạy ra sạp báo mua tờ New York Times. Bữa nọ tôi đọc thấy trong bản tin rằng 37 chiếc MIG bị bắn hạ – một chiến thắng đậm đà cho Không Lực Hoa Kỳ, vì phe ta chẳng có thiệt hại nào. Hôm sau, tôi càng phấn khởi hơn, khi đọc thấy rằng 41 MIG bị bắn hạ, và tất cả các máy bay chiến đấu Mỹ đều trở về căn cứ an toàn. Hôm sau nữa, 43 MIG bị bắn hạ, chỉ một máy bay Mỹ mất tích. Hôm sau nữa, 39 MIG bị hạ, phía Không Lực Mỹ hoàn toàn vô sự. Rồi hôm sau nữa, 43 MIG bị bắn hạ, một máy bay Mỹ bị hư hại nhẹ. Tôi vừa thầm tiếc cho chiếc máy bay Mỹ bị hư hại nhẹ và chàng phi công Mỹ bị mất tích kia, vừa rất phấn khởi với những con số thiệt hại của đối phương như được nêu trong các bản tin. Cũng chính tờ Times ấy giải thích rằng sở dĩ Không Lực Mỹ chiến thắng lẫy lừng như vậy là nhờ ở trình độ vượt trội của Mỹ trong việc sản xuất máy bay so với Nga. Tờ Times ấy cũng nói rằng các phi công Mỹ chúng ta được huấn luyện tốt hơn nhiều so với các phi công Trung Quốc và Bắc Triều Tiên vừa nghèo vừa đói rách!

Rồi cũng trong chính tờ New York Times ấy, tôi đọc thấy rằng Nga và Trung Quốc là những quốc gia rất kém cỏi, chưa phát triển. Cứ thế, năm này qua năm khác, tôi tự hỏi tại sao những nước có nền công nghiệp tồi như thế lại sản xuất ra những chiếc MIG tội nghiệp ấy chỉ để cho người ta bắn rơi! Và rồi, tôi chợt nhận ra rằng chắc chắn có một điều gì đó bị bỏ sót trong các bản tin kia. Từ ấy, tôi không thể nào tin hết mọi điều mà mình đọc thấy trong tờ New York Times nữa.

Tôi gặp lại bài học đó lần nữa ở trường y, khi tôi và Lily đọc quyển Atlas Shrugged của Ayn Rand, một quyển sách tuyên truyền mạnh mẽ chủ nghĩa cá nhân và tư tưởng vị kỷ cực đoan. Quyển sách ấy suýt chút nữa đã đẩy tôi đứng vào hàng ngũ Cộng Hòa cánh hữu! Nhưng, có một điều gì đó quấy rầy tôi về quyển sách ấy. Và khoảng mười ngày sau khi đọc xong quyển sách, tôi mới nhận ra rằng trong trọn câu chuyện của quyển sách 120 trang đó, hầu như không có bóng dáng một đứa trẻ nào! Trẻ em bị bỏ sót. Và đó chính là yếu huyệt làm cho triết lý vị kỷ của Rand phải phá sản.

Tất cả những bài học ấy lại được xác nhận lại trong quá trình học ngành tâm thần của tôi, khi tôi học biết rằng những gì bệnh nhân nói ra thì không quan trọng bằng những gì họ không nói ra. Nếu thân chủ của bạn thoải mái nói đủ thứ về hiện tại và tương lai nhưng không bao giờ hé một lời nào về quá khứ, thì bạn có thể nắm chắc rằng thân chủ ấy có một điều chi đó không ổn trong quá khứ của mình. Hoặc nếu thân chủ chỉ nói toàn chuyện quá khứ và tương lai nhưng không hề đề cập đến hiện tại, thì hầu chắc anh ta hay cô ta đang có vấn đề gì đó trong hiện tại. Cũng vậy, nếu thân chủ chỉ nói về quá khứ và hiện tại mà không bao giờ nói chuyện tương lai thì bạn có thể đoán rằng thân chủ có trục trặc với tương lai – một trục trặc gì đó về niềm tin hay về hy vọng.

SỰ PHÂN NGĂN TRONG TÂM THẦN HỌC

Khi vấn đề của bệnh nhân là một vấn đề về niềm tin hay về hy vọng, thì tâm lý trị liệu sẽ thấât bại nếu nó phân ngăn thay vì hội nhập, hoặc nếu nó không giải quyết vấn đề giá trị. Hồi tôi học ngành tâm thần, chúng tôi được dạy rằng tâm lý trị liệu – theo mẫu thức của khoa học thuần túy – phải cố gắng đứng ngoài các giá trị. Nhà trị liệu phải đứng ở thế hoàn toàn khách quan đối với các vấn đề giá trị, và cần lưu ý đừng áp đặt các giá trị của mình lên bệnh nhân. Vì nếu có sự áp đặt như vậy, cuộc trị liệu sẽ đi vào lãnh giới nguy hiểm của đối chuyển vị (countertransference) (20), trở thành bị vẩn đục và không còn trong sáng nữa.

Vị khoa trưởng của chúng tôi đã từng dạy các sinh viên rằng một nhà trị liệu giỏi là nhà trị liệu phải nói với bệnh nhân ngay từ đầu rằng “Tôi không ở đây để phán xét bạn!” Ghi nhớ bài học ấy, khi tôi bắt đầu làm việc dài hạn với các bệnh nhân ngoại trú, tôi đã nói với khoảng hơn chục người đầu tiên rằng tôi không ở đó để phán xét họ. Và tôi thấy điều ấy thật chẳng có nghĩa lý gì. Sở dĩ việc người ta nhận trị liệu tâm lý là một hành vi can đảm là bởi vì họ hiểu rằng họ sẽ không đạt được gì khả quan hơn trừ phi họ sẵn sàng nhận sự phán xét.

Thực tế thì chẳng bao giờ có cái gọi là ‘tâm lý trị liệu đứng ngoài các giá trị’. Chí ít thì các nhà tâm lý trị liệu cũng có hệ thống giá trị của mình trong vô thức, và hệ thống giá trị chiếm ưu thế hơn lúc bấy giờ được gọi là nhân bản thế tục (secular humanism). Đó là một hệ thống giá trị nhấn mạnh đến các vấn đề của cuộc sống trần thế này và đào thải các mối ưu tư về thế giới khác. Về nhiều phương diện, nó là một hệ thống giá trị rất tốt, và nhiều người chống đối nó sẽ được khuyên nên bắt chước chính những nhà nhân bản thế tục mà họ tố cáo.

Tôi xin kể vài ví dụ về các giá trị nhân bản thế tục. Freud, một con người vô thần, đã định nghĩa sự lành mạnh tâm thần bằng hai thuật ngữ là lieben và arbeiten – nghĩa là ‘yêu’ và ‘làm việc’. Yêu đúng đắn là một giá trị nhân bản thế tục, cũng vậy, làm việc một cách đầy hiệu suất là một giá trị nhân bản thế tục. Một ví dụ khác: Cách đây khoảng 15 năm, tôi gặp một nữ thân chủ cực kỳ trầm uất. Thật khó mà cạy được một lời từ môi miệng chị ta. Trong suốt năm đầu tiên của cuộc trị liệu, chị cứ đến đúng giờ và nói: “Ôi, tuần này tôi cảm thấy nản hơn!”. Tôi hỏi: “Này, tại sao chị nghĩ thế?” Và chị lập tức trả lời: “Tôi không biết.” Cũng có đôi lần, chị đến và nói: “Tuần này tôi nghe đỡ nản hơn.” Và tôi hỏi: “Này, tại sao chị nghĩ thế?” Chị vẫn trả lới tức thì: “Tôi không biết.”

Cuối cùng, tôi nói: “Này chị, tôi yêu cầu chị nghĩ về một điều gì đó. Và chị trả lời ‘tôi không biết’ chỉ trong một phần triệu giây! Như vậy, chị đã không làm điều mà tôi yêu cầu chị làm – nghĩa là chị đã không suy nghĩ chút nào cả. Thế mà, chúng ta không thể đạt được một sự tiến triển nào nếu trước hết chị không học biết suy nghĩ.” Suy nghĩ – đó cũng là một giá trị nhân bản thế tục.

Hệ thống giá trị nhân bản thế tục có thể đáp ứng sự trị liệu cho khoảng 60% các bệnh nhân tâm thần. Nhưng đối với khoảng 40% còn lại, chỉ nguyên hệ thống giá trị ấy thôi vẫn không đủ. Và đó là lý do tại sao AA, chẳng hạn, tỏ ra có tác dụng hơn ngành tâm thần trong việc điều trị các con nghiện rượu – là những người thường rơi vào nhóm 40% nói trên. Sở dĩ thế một phần bởi vì, như chúng ta đã đề cập, AA nhắm đến các nhu cầu tâm linh của những người ấy – loại nhu cầu mà tâm lý trị liệu truyền thống, với những giá trị nhân bản thế tục của nó, không hề nhắm tới.

Những ý tưởng và quan niệm tâm linh tín ngưỡng là yếu tố cần cho việc trị liệu đối với rất nhiều người – chứ không chỉ đối với những kẻ nghiện rượu hay ma túy mà thôi. Những người bị ám ảnh sợ hãi cực độ một điều gì đó, chẳng hạn, là những người thuộc trong số này. Trong nghề nghiệp của tôi, bất cứ ai đến với tôi trong một nỗi ám ảnh đặc biệt về một đường phố nào đó, về những con mèo, về những máy bay… thì rồi cuối cùng đều té ra rằng đó là những người không ham thích lắm với các xa lộ, với loài chó, hay với xe lửa! (21) Và quả thực, tôi nhận ra họ bị ám ảnh bởi chính đời sống. Nhân cách của họ được gọi là nhân cách hoảng loạn.

Qua nhiều năm làm việc với một số bệnh nhân như vậy, tôi chú ý sự kiện rằng cái nhìn của họ về thế giới có hai điểm chung: Thứ nhất, họ xem thế giới như một nơi vô cùng nguy hiểm; và thứ hai, họ cảm thấy rằng họ hoàn toàn một mình trong cái thế giới nguy hiểm đó, một mình họ phải tự xoay xở để sống còn. Vì cảm nghĩ như vậy, họ sợ hãi và có xu hướng giới hạn tầm hoạt động của mình lại, thu hẹp thế giới của mình lại chỉ còn một khoảnh mà mình có thể hoàn toàn kiểm soát được – và trong thế giới đó mình có thể cảm thấy an toàn được.

Chẳng hạn, cách đây khoảng mười lăm năm, tôi làm việc một phụ nữ mắc rất nhiều nỗi ám ảnh – trong số đó có nỗi sợ đối với nước và việc bơi lội trong nước. Chị có hai đứa con, một đứa năm tuổi, đứa kia bảy tuổi – tức độ tuổi tập bơi. Vì vậy, nỗi ám ảnh kia trở thành một vấn đề rất rắc rối đối với chị. Sau khi theo đuổi trị liệu khoảng một năm, một buổi sáng nọ chị đến và kể với tôi rằng chị vừa trải qua một cuối tuần tuyệt vời. Chị cho biết vào sáng Chủ Nhật chị đã đưa các con đến bể bơi, nơi chị đã cùng bọn trẻ đùa nghịch thỏa thích dưới nước. Tôi hoàn toàn bất ngờ, vì thời gian ấy tôi không thấy có biến chuyển tâm lý gì mới lạ nơi người phụ nữ này, vì thế tôi gãi đầu và nói:

“Tôi vẫn tưởng chị sợ chuyện bơi lội chứ ?”

Chị đáp: “Vâng, nhưng tôi không sợ các bể bơi.”

Tôi càng khó hiểu.

“Sao kỳ thế?” – tôi hỏi.

Và chị trả lời: “Vì ở bể bơi, nước trong chứ không đục.”

Thì ra chị không sợ bơi mà chỉ sợ biển, sông, hồ … những nơi mà chị không bao giờ lội xuống quá đầu gối – bởi vì nếu lội sâu hơn, chị không còn nhìn thấy được các ngón chân của mình. Ai biết được điều gì có thể xảy ra cho các ngón chân của chị khi chị không nhìn thấy chúng!

Sau một thời gian, tôi nhận thấy rằng không có cách nào để điều trị những người như vậy nếu không chuyển hóa thế giới quan của họ về hướng tích cực hơn: giúp họ nhìn thế giới như một nơi ít nguy hiểm hơn, hay ít nhất một nơi mà họ không phải xoay xở một mình song còn có ân sủng của Thiên Chúa bảo vệ họ nữa.

Tôi tin rằng việc sử dụng các quan niệm tôn giáo cách thích đáng có thể hỗ trợ đắc lực cho tâm lý trị liệu trong rất nhiều trường hợp quá nhạy cảm đối với phương pháp truyền thống. Những quan niệm tôn giáo ấy có thể được sử dụng cả để thách thức lẫn để an ủi bệnh nhân. Chẳêng hạn, khi người ta cần ngừng day dứt xót xa cho chính mình, tôi có thể nhắc họ rằng Đức Giêsu đã dạy chúng ta vác thập giá mình một cách vui tươi tự nguyện. Nhưng đối với những người có lương tâm đặc biệt sáng suốt và chín chắn, thì có thể cứ để cho họ day dứt lúc này lúc khác. Với những người như thế, tôi sẽ giải thích rằng khi Đức Giêsu dạy chúng ta vui tươi vác thập giá mình, Ngài không có ý kỳ vọng chúng ta vác thập giá một cách vui tươi 24/24 giờ. Chỉ những ai bị tổn thương não bộ cách nào đó thì mới có thể vui tươi vác 24/24 giờ như vậy. “Theo bạn tưởng tượng thì Đức Giêsu cảm thấy thế nào khi Ngài leo lên Núi Gôn-gô-tha với cây gỗ 300 cân đè trên vai?” – tôi hỏi. Và các bệnh nhân này trả lời: “Hẳn Ngài cảm thấy xót xa phận Ngài.” Tôi kết luận: “Vậy thì bạn cũng có quyền tự cho phép mình cảm thấy xót xa phận mình mỗi ngày hai lần, mỗi lần dăm phút chứ.”

TRẦM CẢM VÀ HOANG TƯỞNG

Trong khi hành nghề trị liệu, tôi thường gặp những người trầm cảm mà tôi gọi là các Hoàng Tử hay Công Chúa. Người đầu tiên tôi gặp là một phụ nữ. Trước đó chị đã tiến triển tốt trong việc xử lý chứng trầm cảm của chị nhờ theo đuổi trị liệu với một bác sĩ tâm thần khác. Và chị đến với tôi chỉ vì cảm thấy “còn một chút xíu nữa cần giải quyết nốt”. Sau khi làm việc với tôi được gần một năm, bữa nọ chị đề cập đến một vấn đề rất phức tạp với con cái chị. Chị như hoàn toàn lúng túng, không biết phải làm gì. Khi đang xem xét vấn đề ấy của mình, chị bỗng thốt lên: “Ôi, tôi sẽ thật sung sướng khi cuộc trị liệu này kết thúc!” Tôi hỏi: “Tại sao chị nói như thế?” Chị đáp: “Tôi sẽ sung sướng khi cuộc trị liệu kết thúc và tôi sẽ không còn phải khổ sở với những vấn đề này nữa!”

Tôi cảm thấy có một hoang tưởng nơi người phụ nữ này – hoang tưởng rằng tâm lý trị liệu sẽ tống khứ không chỉ mọi phiền não của hiện tại mà cả những phiền não của tương lai nữa. Đó là sự hoang tưởng rất thường gặp nơi các ‘Hoàng Tử’ và các ‘Công Chúa’.

Để giải thích làm sao người ta có thể có những hoang tưởng như thế, tôi phải nhắc lại ở đây bối cảnh tâm lý trẻ em. Theo những gì chúng ta nhận định được, trẻ em trong năm đầu tiên bắt đầu nhận biết cái mà chúng ta gọi là các vành đai bản ngã của chúng. Trước khi chúng nhận biết được điều đó, chúng không thực sự nhận ra sự khác biệt giữa, chẳng hạn, bàn tay của chúng và bàn tay của mẹ chúng; chúng nghĩ rằng bởi vì chúng đau bụng nên mẹ chúng cũng đau bụng và cả thế giới này đều đau bụng. Qua tuổi thứ hai, chúng học biết các vành đai thể lý (dù chưa nhận ra các vành đai quyền lực) của mình. Vì thế chúng vẫn nghĩ rằng chúng là trung tâm của vũ trụ, còn cha mẹ, anh chị, chó mèo … chỉ thuần túy là những thuộc hạ phục vụ cho vương quyền riêng của chúng.

Rồi trong độ tuổi lên hai – tuổi ‘bạo chúa’ – ấy của đứa trẻ, cha mẹ bắt đầu ngăn cản chúng trong nhiều việc mà nó muốn làm. Như vậy, chỉ trong một năm, đứa trẻ từ vị trí của một đại tướng rớt bịch xuống chỉ còn là binh nhì. Chẳng lạ gì khi đó là một giai đoạn của suy sụp và quạu quọ, những tính chất đặc trưng cho lứa tuổi lên hai.

Tuy nhiên, nếu cha mẹ tỏ ra dịu dàng với đứa trẻ và nâng đỡ nó hết sức có thể để giúp nó vượt qua giai đoạn này, thì vào khoảng thời gian giã từ tuổi lên hai, đứa trẻ đã có thể bước được một bước dài ra khỏi chứng tự yêu (narcissism) nơi mình. Tiếc là trong thực tế thì sự việc không luôn luôn xảy ra như vậy. Đôi khi cha mẹ không dịu dàng cũng chẳng nâng đỡ đứa trẻ trong giai đoạn hụt hẫng này, thay vào đó lại đẩy nó vào chỗ hụt hẫng nhiều hơn.

Người phụ nữ có hoang tưởng trên kia là một người đã lớn lên trong một gia đình rất khắc nghiệt. Chị không thể nhớ cái tuổi lên hai kinh khủng của mình, nhưng chị có thể nhớ giai đoạn mà mình lên ba hay bốn tuổi – với những khuôn thức cụ thể rành rành định sẵn cho mình bất cứ khi nào mình làm điều chi sai trái. Làm quấy ư? A lê, hãy bước lại lấy cây roi đang treo trên tường, đem roi lại và đưa cho bố. Rồi, kéo quần ra, lật váy lên, nằm sấp xuống, nằm yên như thế để bị quất roi cho đến khi đau quá phải thét rống lên và giãy đành đạch – và bố ngừng đánh đòn. Rồi, kéo quần lên, đem cây roi trả về chỗ cũ. Rồi, đi lại chỗ mẹ để được dỗ cho khuây bớt. Mẹ dỗ một chặp, nín khóc. Mẹ sẽ bảo: “Nào, hãy quì xuống và nói lời xin lỗi Chúa.” Thế là răm rắp quì xuống, xin lỗi Chúa. Xong, mẹ sẽ bảo: “Được rồi đó. Nào, bây giờ bước lại xin bố tha lỗi.” Con bé ngoan ngoãn bước lại chỗ bố, hoàn thành thủ tục cuối cùng này. Vậy là xong, chờ đến lần giở chứng sai quấy khác thì mọi sự sẽ lại diễn ra y như thế.

Bằng cách nào những đứa trẻ ‘bị’ đối xử kiểu ấy có thể sống còn được? Chắc chắn không phải bằng cách chúng vứt bỏ cảm thức toàn năng và tự yêu ấu trĩ nơi mình; trái lại, chúng sống còn bằng cách cố bám giữ những cảm thức ấy. Sự cố giữ này được thúc đẩy bởi một động lực chuyên biệt đến nỗi các bác sĩ tâm thần phải đặt một cái tên riêng, đó là “lãng mạn gia đình”. Những đứa trẻ như thế sẽ tự nhủ: “Hai người này tự nhận là cha mẹ mình, nhưng thật sự họ không phải là cha mẹ mình. Mình là con gái của Vua và Hoàng Hậu. Mình là Công Chúa, và một ngày kia mình sẽ được nhìn nhận đúng như vậy. Lúc ấy, mình sẽ cho mọi người biết tay!”

Đây là một hoang tưởng đầy an ủi, giúp đứa trẻ vượt qua sự hụt hẫng của nó. Chỉ có điều là khi đứa trẻ lớn lên, mối hoang tưởng ấy chìm dần vào vô thức, và chẳng có ai dẫn nó tới với Vua hay với Hoàng Hậu cả. Chẳng có ai nhìn nhận nó như nó mường tượng cả. Thế là, nó trở nên suy sụp. Những người suy sụp như vậy là những người gặp trục trặc về nhận thức; và cốt lõi của trục trặc này nằm ở chỗ họ nghĩ rằng những điều tệ hại không nên xảy ra cho họ. Dĩ nhiên, về những gì tiêu cực, họ đón nhận một cách có lựa lọc và miễn cưỡng (vì họ nghĩ rằng đáng ra họ không phải bị những điều đó); đồng thời, họ không cảm nghiệm được những điều tích cực mà họ cho rằng đương nhiên phải thuộc về họ – bởi họ là ‘con Vua’ kia mà!

————————–

(17) Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II trong ngày khai mạc Mùa Chay Thánh, 12-3-2000, đã công khai nhân danh Giáo Hội đã xin lỗi nhân loại về tội bài Sê-mít này, cùng với nhiều tội khác nữa.

(18) trường phái của những người hiểu Thánh Kinh theo sát nghĩa mặt chữ.

(19) từ Anh ngữ “diabolic” (= thuộc ma quỷ) có gốc ở từ Hy lạp “diaballein” (= tách rời ra, phân ngăn ra)

(20) để hiểu thuật ngữ này, xin xem Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi của cùng tác giả

(21) nghĩa là điều mà họ thực sự lo sợ không phải là điều mà họ tưởng rằng họ lo sợ

Advertisements
%d bloggers like this: