TÔN VINH THIÊN CHÚA BẰNG CUỘC SỐNG: RAO GIẢNG TIN MỪNG VÀ CANH TÂN PHỤNG VỤ

Ngày 4-12-1963, Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI long trọng công bố Hiến Chế Phụng Vụ Thánh (Sacrosanctum Concilium), văn kiện đầu tiên và quan trọng của Công Đồng Vatican II. Nhưng nếu nó như luồng gió mới và luồng gió đổi đem lại những nét tươi mới trẻ trung và năng động, thì ở một khía cạnh nào đó, ta cũng có thể dùng hình ảnh “chiếc hộp Pandora” để so sánh những tác hại do hiểu sai và áp dụng sai nội dung Hiến Chế nầy, để rồi Phụng Vụ ở nhiều nơi bị biến dạng, bị tách khỏi đời sống, đến mức người ta nghi ngờ khả năng thờ phượng cá nhân và tập thể ( = phụng vụ) của thời đại ngày nay và của con người ngày nay. Trong các số tiếp theo,BTGH sẽ xin giới thiệu tiếp những bài nghiên cứu về chủ đề PHỤNG VỤ. Trong bài nầy,Đức TGM Chaput sẽ trả lời vấn nạn nầy,và cho thấy mối tương quan không thể tách lìa giữa việc canh tân phụng vụ và việc rao giảng Tin Mừng, giữa đời sống Kitô hữu và việc thờ phượng, từ đó Ngài chứng minh cho thấy con người ở bất cứ thời đại nào, cũng hoàn toàn có khả năng, – và phải – thực hiện hành vi thờ phượng.

  TÔN VINH THIÊN CHÚA BẰNG CUỘC SỐNG:

RAO GIẢNG TIN MỪNG VÀ CANH TÂN PHỤNG VỤ

 Đức TGM Chaput  suy tư về hai vấn đề : Rao giảng Tin Mừng và Canh Tân Phụng Vụ Công Giáo. Ngài xem xét những vấn đề chủ chốt nầy của việc thờ phượng theo phụng vụ ngày nay bên trong bối cảnh văn hoá Hoa Kỳ. Phụng vụ Công giáo ăn khớp chỗ nào với một nền văn hoá vốn đánh giá cao công nghệ, khoa học và bằng chứng vật chất, nhưng đã đánh mất từ vựng nầy [phụng vụ] để hiểu được nhu cầu lâu đời nhất và sâu xa nhất của nhân loại : niềm tin vào một Thiên Chúa vô hình?

(xin xem “giải thích” ở phần cuối bài)

 Tôi rất vinh dự được có mặt ở đây, đêm nay. Bài thuyết trình hằng năm nầy nhắc nhở chúng ta rằng Giáo Hội ở Chicago đã đóng một vai trò lịch sử,không chỉ trong việc canh tân phụng vụ,mà cả trong việc phúc âm hoá Hoa Kỳ.

Cái nhìn của ĐHY Mundelein và ĐHY Stritch, cùng với những nỗ lực tiên phong của các linh mục như Đức Ông Hillenbrand và các việc tông đồ giáo dân như Phong Trào Gia Đình Công giáo, đã mang hoa trái bền vững. Các Vị ấy đã truyền cho Giáo Hội nầy một sinh lực tông đồ vốn gần một thế kỷ sau hình thành những nét chính việc thờ phượng và bằng chứng Công giáo trong nền văn hoá nầy.

Vì thế tôi thấy hạnh phúc được ca ngợi điều đó. Nhưng sự việc Viện nầy mừng kỷ niệm 10 năm thành lập cũng nhắc cho chúng ta rằng di sản của Chicago đang được tiếp tục với nhiệt tâm và hiểu biết dưới sự lãnh đạo của bạn tôi, ĐHY Francis George.

Tôi là một thành viên uỷ ban các giám mục về Phượng Tự Thánh và tôi đã vinh dự được cùng làm việc với ĐHY George về việc triển khai sắp tới trong canh tân phụng vụ – bản dịch tiếng Anh phiên bản mới Sách Lễ Roma, mà chúng ta bắt đầu thực hiện đầy đủ ở Hoa Kỳ vào một thời gian nào đó năm tới đây.

Nhưng tôi không ở đây đêm nay để nói về cuốn sách lễ mới nầy. Tôi đã được yêu cầu nói về những vấn đề có tầm rộng lớn hơn của việc Rao Giảng Tin Mừng và Canh Tân phụng vụ và tôi sẽ nói. Dù vậy tôi cũng cần phải báo trước một điều : những tư duy tôi chia sẻ với qúy vị đêm nay là của tôi mà thôi, Tôi không nói thay cho bất cứ ai trong các anh em giám mục của tôi hoặc nhân danh HĐGM và tôi rất hạnh phúc làm theo quyết định của ĐHY George trong tất cả mọi vấn đề liên quan đến Công giáo.

Tôi muốn khởi sự cuộc nói chuyện của chúng ta bằng một chỗ không được chờ đợi xảy ra. Cảnh nầy xảy ra ở Mainz, Đức vào tháng tư 1964. Mới một ít tháng trước đó, vào tháng 12.1963, Vatican II đã công bố văn kiện đột phá về phụng vụ . Sacrosanctum Concilium (Hiến Chế về Phụng Vụ)  được cháo đón một cách chính đáng như là sự lóng lọc cô đọng tinh thần thực tiễn và thần học của phong trào phụng vụ.

Đó là những ngày của những cái đầu nóng và có thể thông cảm nhóm những người tụ họp ở Mainz tham dự Hội Nghị Phụng Vụ Đức lần thứ ba nầy đang ở trong một tâm trạng tự khen ngợi. Một trong những người bạn của họ, một nhà thần học đi tiên phong trong phong trào phụng vụ châu lục nầy, không thể tham gia với họ. Người bạn ấy là Cha Romano Guardini, tác giả của tác phẩm nay đã thành kinh điển, Tinh Thần Phụng Vụ.

Mặc dù không thể có mặt ở đó, Cha Guardini đã gửi một thư ngỏ đã được đọc cho hội nghị nghe. Trong thư, ngài ca ngợi công việc của Vatican II như là một chứng từ cho thấy Chúa Thánh Linh đang hoạt động và hướng dẫn Giáo Hội. Ngài nhìn thấy hiến chế Sacrosanctum Concilium mở ra một giai đoạn mới trong phong trào phụng vụ.

Nhưng phần chủ yếu thư của ngài là một suy niệm phức tạp về ý nghĩa của việc thờ phượng. Và trong những giòng kết thúc, ngài đưa ra một ý kiến làm nhiều người sững sốt. Ngài viết:

 “Chẳng phải hành vi phụng vụ nầy và cùng với nó là tất cả những gì diễn ra dưới danh từ ‘phụng vụ”, được kết dính với hậu cảnh lịch sử – thượng cổ,trung cổ hoặc baroc –  đến mức sẽ trung thực hơn nếu từ bỏ nó hoàn toàn? Chẳng phải sẽ tốt hơn nếu thừa nhận rằng con người trong thời đại kỹ nghệ và khoa học nầy, với cấu trúc xã hội mới của nó, không còn khả năng cần thiết [để thực hiện] hành vi phụng vụ nầy ư?”

 Nhận xét của Guardini gây xôn xáo náo động.Nhưng không có chứng cứ cho thấy các nhà thần học hoặc các nhà phụng vụ đã từng xem xét những quan tâm nầy của ngài một cách nghiêm túc. Cho phép tôi nói rằng tôi cũng như thế. Tôi cho rằng ngài đã vạch ra đúng một trong những vấn đề truyền giáo chủ chốt trong thời đại ngài và cũng là trong thời đại của chúng ta.

Những gì Guardini muốn nói qua hành vi phụng vụ, đó là sự biến đổi lời cầu nguyện và tâm tình đạo đức cá nhân thành việc thờ phượng tập thể thật sự, leitourgia, buổi lễ công cộng mà Giáo Hội dâng lên Thiên Chúa. Ngài công nhận rằng lời cầu nguyện tập thể của Giáo Hội rất khác với lời cầu nguyện riêng tư của cá nhân các tín hữu.

Hành vi phụng vụ nầy đòi buộc một loại ý thức mới, “một sự sẵn sàng đối với Thiên Chúa”, một nhận thức nội tâm về sự hoà hợp toàn thể con người,thân xác và linh hồn, với nhiệm thể của Giáo Hội,hiện diện ở trên trời và dưới đất. Nó cũng đòi hỏi phải hiểu rõ rằng những dấu hiệu linh thánh và những động tác của Thánh Lễ – đứng, qùy gối, hát và những cái tương tự như thế – cũng chính là  “cầu nguyện”

Guardini đã cho rằng tinh thần của thế giới hiện đại nầy đang xói mòn và hủy hoại những niềm tin vốn làm cho ý thức phụng vụ nầy có thể có được. Cái mà ngài nhìn thấu được ở đây, ấy là đức tin và sự thờ phượng của chúng ta không diễn ra trong một khoảng không vô nghĩa. Ở một mức độ nhất định,chúng ta luôn là sản phẩm của nền văn hoá của chúng ta. Những khung ý nghĩa của chúng ta,những nhận thức về thực tế của chúng ta, mang hình dạng nền văn hoá mà chúng ta sống trong đó – dù chúng ta có thích hay không.

Tôi muốn đưa thách thức của Guardini vào trong bối cảnh Mỹ hiện hành của chúng ta. Chúng ta hãy xem một vài điều trong chứng cứ nầy: chúng ta sống trong một xã hội trong đó nguyên tắc thành lập là tiến bộ công nghệ, được hình thành bằng những từ ngữ hạn chế,có tính khoa học và thiên về duy vật. Nền văn hoá của chúng ta được thống trị bởi những giả định của thế giới quan mang tính khoa học và nặng về vật chất nầy. Chúng ta đánh giá cái gì là ‘thật” và cái gì là ‘thực” qua những gì chúng ta có thể thấy, có thể sờ được và có thể thẩm tra qua nghiên cứu và thực nghiệm.

Trong loại văn hoá nầy, ý nghĩa nào có thể có được đối với khái niệm Công giáo truyền thống rằng con người được dựng nên theo hình ảnh của một Thiên Chúa vô hình; rằng con người nầy là một tạo vật có thân xác và linh hồn, được truyền”Thần Khí của phận làm con” qua phụng vụ và các bí tích?

Trong thực tế, gần như không có gì trong những điều chúng ta tin với tư cách là tín hữu Công giáo, được nền văn hoá chúng ta khẳng định. Ngay cả ý nghĩa của những từ “con người”(person) và “sinh linh” (human) cũng bị đem ra tranh luận. Và những giáo lý khác của nhãn quan Công giáo đang bị bác bỏ và phớt lờ một cách khiêu khích hung hãn.

Câu hỏi bây giờ là : Những hàm ý nào tất cả điều nầy có đối với việc thờ phượng của chúng ta – trong đó chúng ta tuyên xưng sự tiếp xúc thân xác và linh hồn với những thực tại thiêng liêng, ca hát với các thiên thần và các thánh, đón nhận Mình và Máu Thánh của Đức Chúa đã một lần chết và nay đã sống lại trên bàn thờ?

Và đây nữa một luận cứ khác : trong cuộc sống thường ngày của mình, chúng ta bị vây quanh bởi những chứng tích về quyền lực của chúng ta trên thiên nhiên và trên quy luật tự nhiên. Những phần thưởng của sự tự trị và tự túc có ở mọi nơi – nhà cửa,máy móc,thuốc men, sáng chế. Mọi thứ dường như chỉ ra khả năng cung cấp của chúng ta cho mọi nhu cầu của mình qua tay nghề và công nghệ riêng của chúng ta.

Lần nữa câu hỏi trở thành : Điều nầy làm gì cho tiền đề trung tâm sự việc thờ phượng của chúng ta – rằng chúng ta là những loài thọ tạo lệ thuộc vào Đấng Tạo Hoá của chúng ta,và rằng chúng ta có nghĩa vụ cám ơn Thiên Chúa vì mọi hồng ân tốt lành Người ban, khởi đầu với ơn ban sự sống?

Chúng ta có thể đặt ra những câu hỏi tương tự về sứ mệnh truyền giáo của chúng ta. Chúng ta rao giảng tin vui rằng thế giới nầy có một Đấng Cứu Độ có thể giải thoát chúng ta khỏi sự trói buộc của tội lỗi và sự chết. Tin vui của chúng ta có thể nói gì trong một thế giới mà người ta không tin vào tội hoặc chẳng có gì mà người ta thấy được cứu khỏi? Lời hứa chiến thắng trên sự chết có nghĩa gì với những người không tin có sự hiện hữu của bất cứ thực tại nào bên kia thế giới hữu hình nầy? Như vậy có phải Guardini đúng chăng? Có phải con người thời hiện đại có vẻ không thể nào thờ phượng thật sự chăng? Tôi cho là vậy.Nhưng vấn đề quan trọng hơn với chúng ta là câu hỏi nầy : nếu như ngài [Guardini] đúng, chúng ta sẽ làm gì về điều đó?

Một trong số ít người đã chống lại những vấn đề Guardini đưa ra, là một linh mục ở Chicago, vốn đã có những cống hiến quan trọng riêng cho sự canh tân phụng vụ và trí tuệ của Giáo Hội Chicago, Cha Robert Barron.

Barron đặt vấn đề nầy theo cách sau :” Kế hoạch nầy không định hướng cho phụng vụ theo những giả thiết của thời đại nầy,nhưng cho phép phụng vụ nêu ra câu hỏi và định hướng cho những giả thiết của bất kỳ thời đại nào. Có phải con người thời hiện đại nầy không thể nào làm hành vi phụng vụ chăng? Có thể lắm. Nhưng chẳng có lý do gì để thất vọng. Mục tiêu của chúng ta không phải là điều chỉnh phụng vụ cho ăn khớp với thế giới, mà là để cho phụng vụ cứ là chính nó – một hình tượng có tác dụng biến đổi của ordo (ngày giờ ấn định theo giáo lịch) của Thiên Chúa”.

Barron gợi ý rằng trong kỷ nguyên hậu công đồng, việc thiết lập phụng vụ Công giáo chuyên nghiệp chọn con đường cũ, có gắng thích nhi phụng vụ với những đòi hỏi của nền văn hoá hiện đại. Tôi sẽ đồng ý. Và tôi sẽ thêm rằng thời gian đã cho thấy điều nầy là một ngõ cụt. Cứ cố gắng nhào nặn sắp đặt phụng vụ cho ‘thích đáng” và ‘dễ hiểu” hơn qua một thứ sùng bái không ngừng cái mới lạ, thì chỉ dẫn tới lẫn lộn, hỗn loạn  và làm tăng thêm sự chia rẽ giữa những người tin và tinh thần phụng vụ đích thực.

Tôi không ở đây để lại biện luận những tranh cãi xưa cũ. Chúng ta cần phải hân hoan chờ đợi Chúa Giêsu Kitô. Điều đó có nghĩa là chúng ta cần phải nhận thách thức bao hàm trong câu hỏi của Guardini. Trách nhiệm lớn lao sắp tới của canh tân phụng vụ là xây dựng một văn hoá Thánh Thể đích thực, làm cho thấm nhuần một sự nhạy bén mới đối với bí tích và phụng vụ, giúp cho các tín hữu Công giáo có thể đương đầu với những tượng thần và giả thiết mà nền văn hoá chúng ta đưa ra,với sự tin tưởng của những người tin, vốn tìm thấy sự sống từ các mầu nhiệm thánh nầy, trong đó chúng ta được hiệp thông với Chúa Trời hằng sống.

Chúng ta cần phải khám phá những cách thức mới để đi vào mầu nhiệm phụng vụ; làm cho phụng vụ có vị trí trung tâm trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa; sống thật sự cuộc sống của chúng ta như một lễ vật thiêng liêng dâng lên Thiên Chúa; và nhận lãnh những trách nhiệm của chúng ta đối với việc nhiệm vụ truyền giáo của Giáo Hội với một linh đạo Thánh Thể được canh tân.

Tôi hy vọng phần còn lại cuộc nói chuyện nầy của tôi sẽ góp một phần nhỏ vào nhiệm vụ canh tân sắp tới nầy của chúng ta. Tôi xin nêu ra đây bốn điểm :

Điểm thứ nhất : chúng ta cần phải tìm lại cho được mối liên hệ nội tại và bất khả phân ly giữa phụng vụ và việc rao giảng Tin Mừng

Phụng vụ vừa là  nguồn mạch vừa là mục tiêu sứ mệnh truyền giáo của Giáo Hội. Đó là lời dạy của Chúa Kitô và điều mà Giáo Hội thời sơ khai vẫn thực hành. Và điều đó đã được Vatican II tái khẳng định.

Hiến chế Sacrosanctum Concilium nói như sau :” Phụng vụ và đỉnh cao mà hoạt động của Giáo Hội đều được hướng tới; đồng thời đó là nguồn mạch từ đó tất cả sức mạnh của Giáo Hội tuôn trào. Vì đích nhắm và đối tượng của các công việc tông đồ, là tất cả những ai được nên con cái Thiên Chúa nhờ đức tin và phép rửa, phải cùng nhau đến ca ngợi Thiên Chúa trong Giáo Hội của người, dự phần vào lễ hy tế nầy và ăn bửa Ăn Tối của Đức Chúa”.

Đây là một cái nhìn đẹp đẽ về cuộc đời được sống từ Thánh Thể và Thánh Thể. Điều nầy phải trở thành nền tảng không chỉ cho suy nghĩ của chúng ta về phụng vụ,mà còn đối với cả các chiến lược mục vụ của chúng ta. Lý do chúng ta rao giảng Tin Mừng là để đem người ta vào trong sự hiệp thông với Thiên Chúa hằng sống trong phụng vụ Thánh Thể. Và kinh nghiệm hiệp thông với Thiên Chúa nầy, đến lượt nó, thúc ép chúng ta rao giảng Tin Mừng.

Về mặt nầy, cuốn Novus Ordo (Sách Lễ Mới) được ban hành sau Công Đồng, đã là một phúc lành lớn lao cho Giáo Hội. Phụng vụ của chúng ta ban cho chúng ta nhiệt tâm truyền giáo và thánh hoá thế giới chúng ta. Tiếng bản xứ đã mở ra nội dung của phụng vụ trong những cách thức mới. Nó đã cổ vũ sự tham gia tích cực, sáng tạo nơi tất cả mọi tín hữu – không chỉ trong phụng vụ,mà còn trong mọi khía cạnh của nhiệm vụ truyền giáo của Giáo Hội.

Nhân tiện, để cho chính xác, tôi cũng rất biết ơn Đức Thánh Cha đã cho phép sử dụng rộng rãi hơn hình thức Triđentinô cũ – không phải vì cá nhân tôi ưa chuộng nó, thực tế tôi thấy Sách Lễ Mới (Novus Ordo) nếu được cử hành đúng đắn, diễn đạt việc thờ phượng phong phú hơn,-  mà vì chúng ta cần tiếp cận với toàn bộ trong di sản cầu nguyện và đức tin của Giáo Hội.

Vì vậy điểm thứ nhất tôi đưa ra là chúng ta không thể nhìn vào phụng vụ như một điều gì khác biệt với nhiệm vụ truyền giáo của chúng ta. Việc chúng ta thờ phượng Thiên Chúa trong Thánh Lễ được hiểu là một hành vi thờ lạy,tùng phục và tạ ơn. Nó cũng được hiểu là sự thừa nhận đầy yêu thương ơn gọi làm môn đệ của chúng ta. Chính vì thế mọi phụng vụ Thánh Thể kết thúc bằng một lời nhắn nhủ truyền giáo – chúng ta được sai đi, được ủy thác chia sẻ kho tàng mà chúng ta đã khám phá cho mọi người chúng ta gặp gỡ.

Đây là điểm thứ hai : Phụng vụ là một sự tham dư vào phụng vụ thiên đàng, trong đó chúng ta thờ phượng trong Tinh Thần và chân lý với Giáo Hội hoàn vũ và cùng các thánh thông công.

Đây có thể là chiều kích ít được chú ý nhất của phụng vụ ngày nay. Nếu các buổi phụng vụ của chúng ta làm cho chúng ta thấy chán ngắt, thiển cận hẹp hòi, quá tập chú vào các cộng đoàn và nhu cầu riêng của chúng ta; nếu chúng thiếu một ý nghĩa sự linh thánh và tính siêu việt mạnh mẽ, thì đó là vì chúng ta đã đánh mất ý thức về việc thờ phượng của chúng ta tham dự thế nào vào phụng vụ thiên đàng.

Để hiểu rỏ điều nầy hơn một chút, chúng ta nên nhớ lại truyền thuyết về việc Kitô giáo đến nước Nga như thế nào. Chuyện kể rằng vào khoảng năm 988, hoàng tử Vladimir I xứ Kiev tìm kiếm một quốc giáo. Ông gửi các đại sứ đến các quốc gia láng giềng để tìm những ưu điểm của riêng từng đạo Do Thái,Kitô giáo và Hồi giáo. Suốt trong hành trình tìm hiểu tình hình thực tế, những người hoàng tử sai đi đã có cơ hội tham dự một Thánh Lễ trong thánh đường lớn ở Hagia Sophia,Constantinople.

Họ hết sức kính sợ. Họ trở về và báo cáo :” Chúng tôi đã đến với những người Hy Lạp và chúng tôi có cảm tình với nơi mà họ thờ phượng Thiên Chúa của họ… Chúng tôi không hiểu chúng tôi đã ở trên thiên đàng hoặc ở dưới trái đất nữa… Chúng tôi chỉ biết rằng Thiên Chúa ngụ ở đó, ở giữa họ”. Chẳng bao lâu sau đó, hoàng tử Vladimir được rửa tội và vận động tất cả đồng hương của ông cũng được rửa tội.

Nguồn của câu chuyện nầy đã xa xưa và nhiều sử gia ngày nay cho rằng câu chuyện được nguỵ tác.Nhưng dù thế đi nữa, nó cũng làm sáng tỏ những chiều kích vũ trụ và truyền giáo của phụng vụ.

Thánh Lễ, – như những người hoàng tử sai đi được cho là đã trải nghiệm, – là một phụng vụ có chiều kích vũ trụ hợp nhất việc thờ phượng ở thiên đàng với việc thờ phượng của chúng ta nơi đây,trên trần gian. Trong Phụng Vụ Linh Thánh, Nước Trời đến trên trần gian như nó đang trên thiên đàng. Thiên Đàng và trần thế tràn đầy vinh quang Thiên Chúa. Đó là những gì chúng ta tin,nhưng tôi không chắc có được bao nhiêu kẻ tin thực sự sống điều đó.

Chúng ta nhìn thấy phụng vụ thiên đàng trong Sách Khải Huyền. Hãy nhớ Khải Huyền bắt đầu như thế nào. Thánh Gioan ở ‘trong Tinh Thần về Ngày của Đức Chúa”. Nói cách khác, ngài đang cử hành Thánh lễ vào một Chúa Nhật, khi Ngài được ban cho thị kiến việc thờ phượng ở thiên đàng và thế giới sẽ đến.

Cuốn sách nầy đầy hình tượng phụng vụ và bí tích. Có lúc Thánh Gioan nhìn thấy một đám đông không đếm xuể từ mọi chi tộc, ngôn ngữ,dân tộc và quốc gia thờ phượng trước Con Chiên Thánh Thể. Đỉnh điểm của cuốn sách nầy là “một trời mới và một đất mới” đến và lời loan báo :”Chú ý! Thiên Chúa ở với con người”.

Có hai điểm tôi muốn đưa ra ở nơi đây : Thứ nhất, việc thờ phượng của chúng ta là một hình tượng của những sự trên thiên đàng, một cửa sổ qua đó thực tại và số phận cuộc đời chúng ta được thoáng thấy. Kế đến, phụng vụ thiên đàng là chìa khóa cho tính hoàn vũ của nhiệm vụ truyền giáo của Hội Thánh. Trong cái nhìn Công giáo về lịch sử, chương trình cứu độ của Thiên Chúa được định đạt đỉnh điểm trong một phụng vụ mang tính chất vũ trụ,trong đó tất cả công trình tạo dựng ngợi ca và tôn vinh Thiên Chúa, Đấng tạo Đựng mọi sự. Chúng ta được nếm trước sự hoàn thành của lịch sử mỗi một khi chúng ta cử hành phụng vụ ở dưới đất.

Chân lý nầy phải làm thay đổi cách chúng ta thờ phượng. Nó phải làm cho chúng ta cảm động với lòng biết ơn rằng Thiên Chúa chúng ta sẽ ban cho chúng ta đặc ân được hợp cùng các thiên thần và các thánh đang thờ phượng trước Người. Nó phải làm cho chúng ta cố gắng để có được những buổi phụng vụ cung kính và đẹp đẽ và hướng tâm trí chúng ta tới những sự trên đây.

Chân lý nầy cũng phải thay đổi cách chúng ta nghĩ về chừng từ công khai của chúng ta trong nền văn hoá nầy. Chúng ta được kêu gọi làm chứng cho Chúa Giêsu Kitô, làm cho mọi người biết những lời Người giảng dạy, chiến đấu chống lại tất cả những gì phạm đến sự thánh thiện và sự công chính của Thiên Chúa. Và chúng ta cần hiểu nhiệm vụ truyền giáo của chúng ta trong ánh sáng của chương trình rộng lớn hơn của Thiên Chúa, được hình thành trước khi thiết lập thế giới nầy.

Mục đích tối hậu chứng từ của chúng ta là dọn đường cho phụng vụ vũ trụ nầy, trong đó tất cả nhân loại sẽ thờ lạy Đấng Tạo Hoá. Công việc chúng ta dự phần vào chương trình cứu chuộc trong đó Chúa Kitô tiếp tục hoà giải mọi sự,cho tới ngày mà mọi gối trên thiên đàng và nơi trần gian sẽ qùy xuống thờ phượng và Thiên Chúa là “tất cả trong mọi sự”,như lời Thánh Phaolô.

 Điểm thứ ba tôi xin nêu ra : Chúng ta cần cố gắng tìm lại cho được và sống với chính linh đạo phụng vụ và Phúc Âm sôi nổi mạnh mẽ giống như các Kitô hữu ban sơ.

Một số trong những ý tưởng phụng vụ tồi tệ nhất kể từ Công Đồng đã dựa vào một sự lãng mạn hoá mơ hồ về những gì các Kitô hữu thuở ban sơ tin và đã thờ phượng như thế nào. Người ta đã lập luận, chẳng hạn, rằng Giáo Hội thuở sơ khai đã không có chức linh mục bí tích và rằng Thánh Lễ được cử hành với nghi thức hạn chế, chủ yếu như một bửa ăn được chia sẻ giữa bạn hữu với nhau.

Tôi sẽ không để giờ bác lại những tuyên bố nầy. Vấn nạn nầy với tất cả những tái hiện hoài cổ chủ trương bắt chước thời nguyên sơ có thể tóm tắt trong một ý duy nhất : Không ai có nguy cơ phải chịu tra tấn và chết vì một bửa ăn cùng hạn hữu mình. Và tra tấn và cái chết là những hình phạt thường thấy khi bị bắt gặp đang cử hành Thánh Thể trong thế giới của Giáo Hội thời ban sơ.

Có vô số câu chuyện mà chúng ta có thể nêu ra. Một trong những chuyện đó đặc biệt làm tôi xúc động,là vào năm 304,trong thời kỳ vua Dioclete bắt đạo. Một cộng đoàn ở Abitina, một ngôi làng gần Carthage, bị vây kín. Bài tường thuật sinh động việc họ bị tra tấn nhục hình, do một nhân chứng viết lại chỉ một vài năm sau sự việc nầy,thật dã man. Những gì nỗi bật, ấy là đức tin Thánh Thể của những dân chúng nầy: khi được hỏi vì sao họ bất tuân chiếu chỉ của hoàng đế,một người đọc sách trẻ tuổi tên là Felix đã nói như sau :” Cứ như thể một ai đó có thể là một Kitô hữu mà không có Thánh Lễ hoặc Thánh Lễ có thể cử hành mà không có một Kitô hữu vậy!…Người Kitô hữu hiện hữu nhờ Thánh Lễ và Thánh Lễ [hiện hữu] trong các Kitô hữu! Cái nầy không thể hiện hữu mà không có cái nọ….Chúng tôi cử hành cuộc họp mừng vinh quang nầy.Chúng tôi cùng nhau tụ họp để đọc Sách Thánh Lời Đức Chúa trong Thánh Lễ”.

Trong lời tuyên xưng nầy,chúng ta để ý những chủ đề tương tự mà chúng ta đã nói tới. Thánh Lễ đối với những người môn đệ nầy không chỉ là bửa ăn. Đó là một ‘cuộc họp mừng vinh quang”,một phụng vụ ở thiên đàng. Phụng vụ nầy định rõ căn tính của họ, là những Kitô hữu. Và nó cũng định rõ căn tính của Giáo Hội; đến nỗi một trong những bạn tử vì đạo của Felix sẽ tuyên xưng :” Chúng tôi không thể sống mà không có thánh lễ”.

Đó là một loại đức tin phải thôi thúc việc thờ phượng của chúng ta. Và đó là một loại đức tin mà sự thờ phương của chúng ta phải thôi thúc thực hiện. Ngày nay chúng ta có thể thật sự nói rằng chúng ta sẵn sàng chết hơn là không được cử hành Thánh Lễ không?

Phụng vụ chỉ có thể thôi thúc chúng ta nếu chúng ta biến nó thành trung tâm cuộc sống chúng ta. Và đó là bổn phận của chúng ta trong gian phòng nầy. Trung tâm điểm của văn hoá Thánh Thể mới nầy, phải là việc cử hành Thánh Lễ ngày Chúa Nhật. Không có dấu hiệu lớn lao nào của ảnh hưởng nền văn hoá chúng ta trên Thánh Lễ, hơn là sự việc chúng ta không còn nhìn thấy Chúa Nhật như là ngày đầu tuần, mà như ngày cuối cùng của thời gian nghỉ cuối tuần cùa chúng ta (weekend).

Chúa Giêsu Kitô trỗi dậy từ kẻ chết vào ‘ngày đầu tiên trong tuần”. Chính vì thế mà các Kitô hữu tiên khởi đã thánh hoá Chúa Nhật như là “Phục Sinh hằng tuần”, Ngày của Đức Chúa. Chính vì thế mà chúng ta cũng đang làm như vậy.

Thánh Lễ phải trở nên lễ vật thiêng liêng mà chúng ta dâng để bắt đầu mỗi tuần sống, không phải như một điều gì chúng ta cố gắng ‘thích ứng” giữa những sinh hoạt lúc rảnh rỗi trước khi quay lại làm việc ngày Thứ Hai. Ngay sự thay đổi quan điểm khó nhận thấy nầy cũng có thể có một ảnh hưởng sâu xa đến cách chúng ta thờ phượng và cách chúng ta sống đức tin trrong thế gian nầy.

 Điểm thứ tư và cũng là điểm cuối cùng,là : Phụng vụ là một trường học tình yêu dâng hiến. Luật cầu nguyện của chúng ta phải trở thành luật đời sống của chúng ta. Lex orandi,lex vivendi. Chúng ta phải trở thành lễ vật mà chúng ta cử hành.

Thật đánh động khi nghe kể biết bao câu chuyện về các Kitô hữu tử vì đạo tiên khởi – nhất là những câu chuyện về các giám mục và linh mục – trong những gì chúng ta có thể gọi là một ‘chìa khóa Thánh Thể”.  Câu chuyện kinh điển là sự tử vì đạo của Đức giám mục cao niên Polycarp. Toàn bộ trường thuật nầy mở ra  những đường nét của một buổi phụng vụ. Đức giám mục Polycarp còn đọc một bài cầu nguyện dài làm mẫu mực sau kinh nguyện Thánh Thể trong Thánh Lễ.

Cuối cùng, Đức giám mục Polycarp cầu xin, lần nữa lập lại lời cầu nguyện trong Thánh Lễ :” Xin cho con được đón nhận ngày hôm nay..như một của lễ qúy giá và đáng được chấp nhận”. Bài tường thuật tiếp tục với việc Ngài bị nướng sống. Các nhân chứng làm chứng rằng họ ngửi thấy không phải là mùi thịt đang cháy,mà là hương thơm ngào ngạt của bánh mì mới ra lò”.

Một gương kinh điển khác là Thánh Inhatiô,giám mục Antiôkia. Trong tù, nơi Ngài chờ thi hành án vứt cho bầy chó ăn tươi nuốt sống,Ngài viết :” Là lúa miến của Thiên Chúa và được nghiền nát dưới răng của những con thú dữ nầy, tôi có thể chứng minh là bánh mì tinh khiết của Chúa Kitô”.

Nhưng không chỉ các đấng tử vì đạo phải nhìn thấy mình là lễ vật Thánh Thể. Các bạn và tôi cũng phải làm như thế. Và mọi tín hữu đã được rửa tội cũng phải làm tương tự. Nhiều lần chúng ta đọc thấy trong Tân Ước, rằng tất cả chúng ta được kêu gọi để tự hiến cho Thiên Chúa như một hy lễ tạ ơn sống động, rằng chúng ta phải trở thành một lễ vật hoàn hảo,thánh thiện và đáng được Thiên Chúa chấp nhận.

Đây là một viên đá tảng cho niềm tin Công giáo trong chức tư tế của tất cả mọi người đã nhận phép rửa. Các Kitô hữu thời sơ khai tin họ là những người thừa kế ơn gọi đã ban cho Israel – trở thành một ‘chủng tộc được chọn lựa, một chức tư tế vương giả,một quốc gia thánh thiện”. Bằng chức tư tế đời sống chúng ta, hết thảy những kẻ tin đã nhận phép rửa phải dâng hiến,không phải là máu chiên bò,mà là hy lễ tâm hồn chúng ta, biểu tượng cuộc sống chúng ta, noi gương bắt chước Chúa Giêsu Kitô.

Chúng ta dâng lễ tế ca ngợi đầu tiên và trước hết trong Thánh Thể. Đó là ý nghĩa đang sau lời Công Đồng kêu gọi giáo dân ‘tham dự tích cực” vào phụng vụ. Cụm từ nầy thật không may đã bị coi như một giấy phép cho tất cả mọi thứ hoạt động, sự rối loạn và những rộn ràng bên ngoài trong việc thờ phượng của chúng ta. Đó chẳng hề là những gì Vatican II muốn ghi nhớ.

“Tham dự tích cực” ám chỉ chuyển động thầm kín của tâm hồn chúng ta, sự tham dự nội tâm vào hành động dâng hiến Mình và máu của Chúa Kitô. Điều nầy đòi buộc những không gian yên lặng và những “lúc ngưng lại” trong việc thờ phượng của chúng ta, trong đó chúng ta có thể tập trung những tình cảm và suy nghĩ của chúng ta và thực hiện một hành vi tự hiến có ý thức. Chúng ta phải ‘nâng tâm hồn lên” và với lòng thống hối và khiêm nhường, đặt chúng lên bàn thờ cùng với bánh và rượu.

 Nhưng công việc của chúng ta không dừng lại ở Thánh Lễ.

Trong thời đại nầy, mọi thứ – công việc của chúng ta, những đau khổ chúng ta chịu, lời cầu nguyện và những việc phục vụ của chúng ta – mọi sự chúng ta làm và trải nghiệm, được dành để dâng lên Thiên Chúa như một lễ tế thiêng liêng. Tất cả mọi sự chúng ta làm cho trẻ chưa sinh,cho người nghèo và cho người khuyết tật; tất cả những gì chúng ta làm cho những người nhập cư, cho công bằng và phẩm giá của hôn nhân và gia đình : Tất cả những cái đó phải được dâng để ca ngợi và tôn vinh Danh Thiên Chúa và vì sự cứu rỗi của các anh chị em chúng ta.

Đây là một lời dạy lớn lao nữa của Công Đồng mà chúng ta chưa làm cho hoà nhập vào trong linh đạo Công giáo thông thường. Trong hiến chế Lumen Gentium (Ánh Sáng Muôn Dân – HC Tín  Lý về Giáo Hội), Công đồng dạy tằng tất cả mọi việc làm của chúng ta “cùng với lễ vật Mình Thánh Chúa …được dâng một cách thích đáng nhất trong việc cử hành Thánh Thể. Do vậy, khi những người ở khắp nơi thờ lạy trong hoạt động thánh thiện, thì giáo dân hiến dâng chính thế giới cho Thiên Chúa.

Tất cả những gì chúng ta làm – trong phụng vụ và trong cuộc sống của chúng ta trên trần gian – được dành cho việc dâng hiến thế giới nầy cho Thiên Chúa.

Như vậy thưa các Bạn, chúng ta đã quay về điểm xuất phát.

Đây là câu trả lời cho thách thức của Guardini. Các Bạn chính là câu trả lời cho thách thức củ Guardini.

Hành vi phụng vụ nầy trở nên có thể có được đối với con người hiện đại,khi các Bạn làm cho đời sống mình trở thành một phụng vụ, khi các Bạn sống cuộc sống mình một cách phụng vụ – như một lễ vật dâng lên Thiên Chúa trong lời tạ ơn và ngợi khen vì những ơn lành và ơn cứu độ Người ban. Các Bạn là tương lai của sự canh tân phụng vụ.

Hành vi phụng vụ nầy trở nên có thể có được đối với con người hiện đại,khi các Bạn nhìn thấy cuộc sống và công việc các Bạn trong ánh sáng chương trình của Thiên Chúa đối với thế giới nầy, trong ánh sáng của lòng Người ước ao cho tất cả mọi người nam và nữ được cứu thoát và đạt được sự hiểu biết chân lý.

Mầu nhiệm mà chúng ta cử hành với các thiên thần và các thánh phải bén rễ sâu vào cuộc sống và nhân cách của chúng ta. Nó phải mang hoa trái. Mỗi người chúng ta phải cống hiến tất cả cho kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa – là tất cả mọi tạo vật trở thành sự thờ lạy và lễ tế để ca ngợi Thiên Chúa. 

 Cám ơn các Bạn vì đã chú ý đêm nay. Và sẽ thích hợp khi chúng tôi nên kết thúc và rời đây bằng những lời của một trong những lời cầu nguyện giải tán mới của Sách Lễ La Mã mới. Như vậy lời chúng ta cầu nguyện cho nhau đêm nay sẽ là :” Hãy đi bình an, và tôn vinh Đức Chúa bằng cuộc sống các Bạn”.

 Nguyên tác : Glorify God by your life: evangelization and the renewal of the liturgy

Đức TGM Chaput

24.06.2010

 ——————–

GIẢI THÍCH: trong khi tìm bài viết cho chủ đề PHỤNG VỤ, BTGH chuyển ngữ bài nói chuyện của Đức TGM Chaput, mà không biết nó đã được Anh Khoa dịch,dưới tựa đề “Phụng vụ và truyền giáo trong bối cảnh văn hóa hiện đại”, đăng trong website HĐGM.VN ngày 27.07.2010. Tuy nhiên, BTGH không nhất trí với bản dịch nầy, nhất là ở câu trích từ “thách thức” của Guardini,mà Anh Khoa dịch: “Phải chăng hành động phụng vụ, kể cả dưới danh nghĩa phụng vụ, không liên quan gì đến bối cảnh văn hóa (cổ đại, trung đại, cận đại), thậm chí loại bỏ hoàn toàn mối liên hệ này thì tốt hơn? Cũng vậy, phải chăng con người thời đại công nghiệp và khoa học, với cơ cấu xã hội mới, sẽ chẳng còn khả năng tham gia hành động phụng vụ nữa?” (nguyên bản tiếng Anh : “Is not the liturgical act, and with it all that goes under the name ‘liturgy,’ so bound up with the historical background—antique or medieval or baroque—that it would be more honest to give it up altogether? Would it not be better to admit that man in this industrial and scientific age, with its new sociological structure, is no longer capable of the liturgical act?”).

–       “Baroc” không phải là ‘”cận đại” (modern,contemporary), mà là thuộc “ thời kỳ khai sáng”.

–       dịch “không liên quan” là phản nghĩa

Hơn nữa,tựa đề do Anh Khoa đặt không đúng tinh thần bài nói chuyện của Đức TGM Chaput.

Advertisements
%d bloggers like this: