PHỤNG VỤ, CÁC BÍ TÍCH – PHẢI THẤM VÀO TOÀN BỘ CUỘC ĐỜI KITÔ HỮU

Trong số trước, chúng ta đã đọc lại bài phân tích của Đức TGM Charles Chaput về liên hệ giữa phụng vụ và cuộc sống cùng với bổn phận rao giảng Tin Mừng, để trả lời cho thách thức do Cha Romano Guardini đưa ra,rằng con người hiện đại không có khả năng thực hiện hành vi thờ phượng đúng nghĩa: Phụng vụ không dừng lại ở Thánh Lễ,mà phải tôn vinh Thiên Chúa bằng toàn bộ cuộc sống. Trong số nầy, để hoà với nhận định của Đức TGM Chaput, BTGH giới thiệu hai bài viết của Brian Pizzalato – nhấn mạnh về sự cần thiết làm cho phụng vụ và bí tích thấm nhập vào đời sống – và bài viết của Jeff Mirus giải toả các thắc mắc về Nghi Thức Mới và Hình Thức Đặc Biệt,mà nhiều người đang có đối với Đức giáo hoàng Biển Đức XVI.

 – I –

 PHỤNG VỤ, CÁC BÍ TÍCH – PHẢI THẤM VÀO TOÀN BỘ CUỘC ĐỜI KITÔ HỮU

Brian Pizzalato

 Toàn bộ cuộc đời Kitô hữu phải để cho được thấm nhập và ghi dấu ấn bởi phụng vụ và các bí tích. Dấu hiệu phân biệt đời sống hằng ngày của người Công giáo trưởng thành phải là một đời sống phụng vụ.

Việc đón nhận các bí tích nầy làm cho chúng ta sống một cuộc sống phụng vụ và điều nầy không có nghĩa là chỉ đi lễ ngày Chúa Nhật và đi xưng tội mỗi năm một lần. Mỗi một ngày được hiểu là trở thành một ngày sống trong ân sủng bí tích và hiện sủng. Mỗi một ngày có rất nhiều ân sủng nhận được qua các bí tích và chúng ta phải đáp trả chúng ở mọi thời khắc trong mỗi ngày. Câu hỏi đặt ra là điều đó được thực hiện thế nào.

 SỐNG CUỘC SỐNG

Điều đầu tiên phải hiểu là: “Thánh Thể là nguồn mạch và đỉnh điểm đời sống Kitô hữu” (Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, 1324). Đó là nguồn mạch từ đó chúng ta có được sức mạnh để sống một cuộc sống bí tích hằng ngày, và đó là đỉnh điểm mà với tư cách là Kitô hữu,chúng ta hướng tới, cụ thể là hướng tới một sự kết hợp mật thiết hơn với Chúa Kitô. Ân sủng các bí tích luôn sẵn sàng và có thể được yêu cầu liên tục. Tất cả chúng ta đều được kêu mời nên những thánh nhân,nên những người nam và những người nữ thánh thiện. Các thánh là ai? Họ là những người đã hằng ngày đáp trả những ân sủng mà họ đã nhận lãnh được, đáp trả cuộc sống của Thiên Chúa trong họ.

Sống một cuộc sống bí tích cũng có nghĩa là được dìm mình vào trong đời sống và lời cầu nguyện của Giáo Hội. Phụng vụ Giáo Hội ở chính nơi mà điều đó được thực hiện một cách sâu xa nhất.  Sự tham dự đầy đủ và tích cực vào Thánh Lễ là nguyên tắc chủ đạo. Điều nầy có nghĩa là hiện diện ở đó cả thân xác và tâm hồn. Chúng ta phải hiểu chúng ta đang ở đâu, đang làm gì và những gì đang thật sự diễn ra trong Thánh Lễ.

Những ân sủng của Thánh Lễ do vậy phải được sống suốt cả đời người,cũng như những ân sủng của tất cả các bí tích khác. Chúng ta cũng phải xem xét việc tham dự thánh lễ hằng ngày

 PHỤNG VỤ CÁC GIỜ KINH

Còn một cách khác nữa để liên tục sống một cuộc sống bí tích, đó là đọc Phụng Vụ Giờ Kinh. Kinh nguyện nầy không còn dành riêng cho linh mục và tu sĩ mà thôi. Công Đồng Vatican II thúc giục tất cả chúng ta đọc kinh nầy của Giáo Hội . Những kinh nguyện nầy nối kết chúng ta với Thánh Lễ và có thể giúp chúng ta mở rộng và đáp trả những ân sủng nhận được ở trong Thánh Lễ.

 Kế đến có một sự đi sâu vào năm phụng vụ,được hiểu là để thấm nhập mỗi ngày cuộc sống chúng ta. Phụng Vụ Giờ Kinh, vốn theo năm phụng vụ, có thể giúp chúng ta thêm điều nầy. 

Cuộc sống cầu nguyện của chúng ta phải phản ảnh sự nhận thức và sự tham dự của chúng ta vào năm phụng vụ. Trong các lễ kính nhớ các thánh,những ngày lễ và ngày kính trọng thể, chúng ta phải cầu xin các vị thánh nầy chuyển cầu cho chúng ta, để giúp chúng ta đáp trả đầy đủ hơn đối với hồng ân sự sống Thiên Chúa ban cho, mà chúng ta có được qua các bí tích. Chúng ta cần suy tư gương họ nêu cho chúng ta về cách đáp trả ân sủng.

CÁC Á BÍ TÍCH.

Một cách thế khác nữa để sống cuộc sống bí tích thường ngày nầy, là dùng các Á bí tích.

Giáo Hội cho chúng ta nước phép để làm cho chúng ta nhớ lại phép rửa của chúng ta, những nến sáp thánh để nhắc chúng ta nhớ rằng Chúa Kitô là áng sáng thế gian và danh sách nầy có thể kể tiếp…

 Việc sử dụng sốt sắng các á bí tích được coi là những dấu hiệu của sự thờ phượng của chúng ta và chúng được coi là biểu thị ý định của chúng ta đón nhận các hiện sủng và đáp trả ơn thánh hoá. Vì thế chúng không thể được nhìn như một cái gì đó là ma thuật, và chúng ta không được rơi vào mê tín dị đoan liên quan đến chúng. Chẳng hạn, nếu các bạn quên làm dấu với nước phép khi bước chân vào nhà thờ, thì điều đó không có nghĩa là các bạn sẽ xuống hoả ngục.

 Tất cả điều nầy có nghĩa là phải có một sự kết nối mật thiết giữa đức tin của chúng ta, sự thờ phượng và cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Đức tin của chúng ta, việc thờ phượng và cuộc sống hằng ngày phải vừa công khai vừa riêng tư và tất cả điều đó được hiểu là một cuộc sống bí tích đức tin của chúng ta. Chúng ta không thể cho phép có sự phân cách giữa những điều nầy. Chúng ta cần thiết sống mọi ngày như chúng ta đang sống sự sống của thiên Chúa và đáp trả sự sống của Thiên Chúa trong chúng ta. Sống bất cứ cách nào khác là sống một lời nói dối, vì một khi chúng ta đã được rửa tội, thì chúng ta co sự sống của Thiên Chúa ở trong chúng ta. Sống như thể chúng ta khống,là một sự dối gian và một tội phạm thượng.

 SỰ SỐNG CỦA THIÊN CHÚA TRONG CHÚNG TA.

Khi chúng ta có sự sống của Thiên Chúa, nó không thể bị lấy lại,kể cả bởi chính Thiên Chúa. Người sẽ không muốn cất nó .Kế hoạch của Người từ đầu, là để cho chúng ta có sự sống của Người và đáp trả sự sống nầy trên cơ sở hằng ngày, trên cơ sở từng thời khắc một.

Hoả ngục của tình trạng mang tội trọng, là khi chúng ta chọn loại bỏ Thiên Chúa,tuy nhiên Thiên Chúa lại chẳng đi đâu hết. Chúng ta quyết định chúng ta không muốn có sự sống của Thiên Chúa, nhưng nó lại không thể bị tẩy xoá đi được.

 “Ở đâu tội lỗi tràn đầy, ở đó ân sủng càng chan chứa” (Rm 5,20)

Khi chúng ta phạm tội,Thiên Chúa vẫn tiếp tục gọi chúng ta trở về lại với Người và ban cho chúng ta ân sủng mà chúng ta cần có để làm như thế. Rồi khi chúng ta nhận bí tích hoà giải, mối tương quan với Thiên Chúa được phục hồi và Người gia tăng ân sủng trong chúng ta để không phạm chính những tội lỗi đã được xưng ấy.

Những ai đã nhận lãnh bí tích hôn phối cũng cần hằng ngày cầu xin Thiên Chúa giúp đỡ họ đáp trả ân sủng mà bí tích nầy ban cho. Không phải vì đó mà mọi sự có thể trở nên dễ dàng hơn, nhưng có ân sủng nầy để bền chí trong những lúc khó khăn. Thiên Chúa không để cho chúng ta mồ côi.

  Chúng ta cần phải học nhìn cuộc sống qua cặp mắt của Giáo Hội. Điều nầy sẽ xảy đến khi chúng ta dành thời giờ cho việc cầu nguyện cá nhân và khi chúng ta làm cho trí óc tâm hồn chúng ta rập theo Kinh Thánh, theo Giáo huấn Công giáo và đời sống phụng vụ của Giáo Hội.

 Trung tâm cho sự trưởng thành Kitô giáo và ‘quan điểm bí tích” nầy là sự canh tân tư tưởng và thái độ của chúng ta (x. Rm 12,2). Chúng ta càng nhìn thấy các sự việc như Thiên Chúa nhìn thấy chúng, thì càng dễ nhận ra thánh ý Người và làm theo. Khi chúng ta cầu nguyện, đọc Sách Thánh và cố tìm kiếm một đời sống bí tích, thì Thánh Linh sẽ canh tân tâm trí chúng ta và giúp chúng ta nhìn thấy mọi sự qua cặp mắt của Chúa Kitô và của Giáo Hội Người.

 —————————-

Brian Pizzalato là Giám đốc Tông Đồ giáo dân của giáo phận Duluth (Minnesota). Ngài cũng là ủy viên  của phân khoa Thần Học và Triết Học của Hịc Viện Maryvale,Birmingham,Anh. Ngài viết bài dạy giáo lý hằng tháng cho tờ The Northern Cross (Ngôi sao phương bắc) của giáo phận Duluth.

Nguyên tác : Liturgy, sacraments should permeate whole of Christian life

Giuse  Nguyễn Thế Bài chuyển ngữ

      – II –

  TINH THẦN CỦA GIÁO HỘI TRONG SÁCH NGHI THỨC MỚI (NOVUS ORDO)

      Jeff Mirus

 Trong những tuần vừa qua,nhiều nhà phê bình,những kẻ phản đối và những kẻ gièm pha gay gắt về Hình Thức Bình Thường của Nghi Thức Roma, đã quả quyết họ chỉ đơn thuần làm theo lời hướng dẫn của Đức giáo hoàng Biển-Đức khi Người còn là hồng y,và họ trích dẫn một hoặc nhiều tác phẩm của ĐHY Joseph Ratzinger, trong đó ĐHY diễn tả những vấn đề nầy trong công trình mang tính nghiên cứu học thuật và đặt vào ngữ cảnh, luôn rõ ràng rằng Đức Ratzinger với tư cách là một hồng y, không có ác ý đối với Nghi Thức Mới. Đúng hơn, Ngài quan tâm đến những cải tiến có thể thực hiện được (không có phụng vụ nào là hoàn hảo) và đặc biệt, Ngài chống lại cách thức xoay chuyển tự do, trong đó một số người phớt lờ các chữ đỏ (hướng dẫn) khi dâng Thánh Lễ,như chúng ta sẽ xem.

Bất luận thế nào, cần thiết phải trả lời những người phê bình nầy về hai vấn đề tranh cãi và tôi chợt nảy ra ý nghĩ là, xét thấy những tranh cãi dường như bất tận về phụng vụ, những người sự dụng nói chung sẽ quan tâm đến những gì chúng ta có thể gọi một cách hợp lệ là tinh thần Giáo Hội về Nghi Thức Mới. Do vậy tôi sẽ đưa ra những câu trả lời một cách công khai trong không gian nầy.

Thứ nhất, điều tuyệt đối then chốt là phải lưu ý rằng tinh thần của Giáo Hội hoặc của cả chính Đức giáo hoàng không thể xác định bằng việc nhìn vào các tác phẩm của một giáo hoàng tương lai,trước khi Ngài trở thành giáo hoàng. Việc bầu chọn một hồng y làm giáo hoàng tuyệt nhiên không làm cho những nhận xét trước đó của ngài có hiệu lực, tuyệt nhiên không có điều gì trong số đó được bảo vệ bởi ân sủng của nhiệm vụ sau nầy của Ngài. Khẳng định rằng tinh thần của Giáo Hội được biết từ công trình của ĐHY Joseph Ratzinger ,chẳng hạn vào năm 1990, thì chẳng sáng suốt hơn là nói nó có thể được biết bởi đối thủ thần học của Ngài,Walter Kasper.

Vì vậy ngay cả một số nhận xét của ĐHY Ratzinger có vẻ rất tiêu cực nếu đem xét riêng từng mục trong toàn bộ khối lượng đồ sộ các tác phẩm của Ngài – hoặc ngay cả nếu đã có thể đưa ra những lý lẽ rằng cái nhìn toàn diện của Ngài về Nghi Thức Mới là tiêu cực ( không phải là trường hợp nầy) – thì điều đó cũng chẳng nói lên điều gì về tinh thần của Giáo Hội. Không, muốn biết tinh thần của Đức giáo hoàng (và từ đó học biết một điều gì về tinh thần của Giáo Hội) về những vấn đề như là phụng vụ, chúng ta cần phải nhìn vào những gì Đức giáo hoàng đã nói khi đương nhiệm.

Thứ hai, khi đương nhiệm, Đức Thánh Cha Biển-Đức đã làm rõ sự phê chuẩn Nghi Thức Mới. Người cũng đã làm sáng tỏ rằng những lời phê bình nghiêm túc của Người không áp dụng cho chính nghi thức,nhưng cho sự giải thích sai Sách Lễ của Đức Phaolô VI, như một cái gì đòi hỏi phải không ngừng được thử nghiệm và cách tân, cứ như thể là các linh mục phải thêm những ứng biến riêng của họ vào phụng vụ chính thức và, khi làm như vậy, sẽ thường xuyên thay thế cái tầm thường bằng cái cao cả.

Đức Biển-Đức đã giải thích cặn kẽ những điều nầy trong khi giải thích quyết định của Người mở rộng việc sử dụng Thánh Lễ Triđentinô ( Sách Lễ của Đức giáo hoàng Gioan XXIII) trong tự sắc năm 2007, Summorum Pontificum. Các độc giả sẽ nhớ lại rằng Đức Thánh Cha đã công bố một thư gửi các giám mục kèm theo nhân dịp Ban Hành tự sắc nầy, để giải thích quyết định nầy của Người. Trong thư đó, Đức Thánh Cha thuật lại lý do Người muốn phổ biến rộng rãi việc sử dụng cái mà nay Người gọi là Hình Thức Đặc Biệt của Nghi Lễ Roma và, khi làm như vậy, Người chủ ý đáp lại sự lo sợ mà việc phổ biến rộng nầy bằng cách nầy hay cách khác bị coi là muốn hạ thấp Nghi Thức Mới (Novus Ordo) hoặc làm suy yếu lời Công Đồng Vatican II kêu gọi cải tổ phụng vụ.

Ta hãy nghe Đức Joseph Ratzinger nói với tư cách Giáo Hoàng:

Sự lo sợ nầy là vô căn cứ. Về mặt nầy, trước tiên phải nói rằng Sách Lễ do Đức Phaolô VI phát hành và sau đó được tái bản hai lần liên tiếp do Đức Gioan-Phaolô II, rõ ràng đang là và tiếp tục là Hình Thức Bình Thường – forma ordinaria – của Phụng Vụ Thánh Thể. Đức Biển Đức còn đi tới chỗ giải thích rằng nhiều người tiếp tục mong mỏi phụng vụ cũ hơn nầy ( vốn là một lý do để làm cho nó hiệu lực rộng rãi hơn, phụng vụ kia đang phải cố gắng hoà giải những ai đã không còn hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội), nhưng Người cũng đã giải thích những gì là vấn nạn thật sự :

Nhiều người vốn chấp nhận một cách rõ rệt tính chất ràng buộc của Công Đồng Vatican II và trung thành với Đức giáo hoàng và các Giám Mục, tuy nhiên cũng ước ao phục hồi hình thức của phụng vụ thánh vốn đã gắn bó với họ. Điều nầy đã xảy đến trên hết là vì trong nhiều nơi các thánh lễ cử hành không trung thành với những quy định của Sách Lễ Mới, nhưng sách lễ nầy thậm chí còn bị hiểu như là cho phép hoặc kể cả đòi hỏi tính sáng tạo, vốn thường xuyên dẫn tới những sự làm biền dạng Phụng vụ, vốn khó mà chịu đựng được.

Cuối cùng, Đức Thánh Cha chấm dứt cuộc thảo luận của Người về Nghi Thức Mới bằng việc nhận định rằng chìa khoá cho việc sử dụng nó trong việc thống nhất Giáo Hội là sự trung thành và tôn trọng với những hàng chữ chỉ dẫn (chữ ‘đỏ”) của chính cuốn Sách lễ và Ngài kết thúc bằng việc phát biểu ý kiến căn bản của Người về giá trị của hình thức Nghi Lễ bình thường nầy :

Bảo đảm chắc chắn nhất, rằng Sách Lễ của Đức Phaolô VI có thể hợp nhất các cộng đoàn giáo xứ và được họ yêu mến, nằm ở việc nó được cử hành với sự tôn kính lớn lao phù hợp với các chỉ thị phụng vụ. Điều nầy sẽ làm nỗi bật sự phong phú thiêng liêng và chiều sâu thần học của cuốn Sách Lễ nầy.

 Lời khuyên của tôi cho những ai thật sự không thích Nghi Thức Mới, là : Hãy thừa nhận sự ưa thích hơn của cá nhân bạn đối với Hình Thức Đặc Biệt nếu bạn muốn; Các tín hữu Công giáo đích thực không được chỉ trích bạn vì điều ấy, ngay cả khi họ thích Hình Thức Bình Thường hơn. Hãy chống lại những lạm dụng Nghi Thức Mới nơi nào bạn có thể. Giáo Hội sẽ cám ơn bạn vì điều đó.Nhưng đừng gièm pha chê bai chính nghi lễ nầy, như thể nó là một cái gì đó bất xứng hoặc trần tục vậy, và đừng bao giờ ngụ ý rằng những gì cả tỷ tín hữu Công giáo đang sử dụng và đã yêu thích,là một cách nào đó thấp kém hơn trong đức tin của họ.

 Có thể tranh luận những ưu khuyết điểm của bất cứ phụng vụ nào,nhưng không thể trích dẫn hoặc Đức giáo hoàng Biển Đức XVI hoặc tinh thần của Giáo Hội như là một cái gì đó không được ủng hộ hơn về việc sử dụng hình thức bình thường Nghi Lễ Roma đã được quy định . Cuối cùng, không có phụng vụ nào của Giáo Hội đã được phê chuẩn lại bị đối xử bất kính bao giờ, cũng như không được bêu xấu những người ủng hộ nó, nếu họ không phải bất phục tùng, vì đó là một sự thánh.

—————————————————–

Dr Jeff Mirus,

The Mind of the Church on Novo Ordo

13.08.2010

Giuse Nguyễn Thế Bài chuyển ngữ và giới thiệu.

Advertisements
%d bloggers like this: