NGƯỜI HÀ-LAN CHẾ TẠO MỘT THÁNH LỄ KHÁC + PHỤNG VỤ BỊ TỔN THƯƠNG

Tuần nầy tại Castel Gandolfo, “Câu Lạc Bộ Sinh Viên Ratzinger” – hằng năm quy tụ các tiến sĩ môn sinh ccủa Đức Thánh Cha Biển-Đức XVI khi Người là giáo sư thần học ở Đại Học Regensburg – gồm 30 người sẽ thảo tựa đề “Công Đồng Vatican II : “Truyền Thống và Đổi Mới” và về văn kiện về phụng vụ của Công Đồng và những cải cách phụng vụ tiếp sau Công Đồng Vatican II. Sau những bài về phụng vụ trong các số vừa qua, BTGH xin giới thiệu hai bài viết của Sandro Magister và của ĐGM Marc Aillet, để thấy những tác hại gây ra do tính tùy tiện và vô kỹ luật của một số tu sĩ, đã dẫn giáo dân đi ngược với Thánh Truyền và Huấn Quyền Giáo Hội về Bí Tích, từ đóđi đến lầm lạc đức tin.

NGƯỜI HÀ-LAN CHẾ TẠO MỘT THÁNH LỄ KHÁC,

THEO GỢI Ý CỦA CÁC TU SĨ DÒNG ĐA-MINH

 Kinh nghiệm đã có sẵn. Thay chỗ cho vị linh mục, là những người nam và những người nữ được giáo dân chỉ định. Tất cả chung nhau, họ xướng lên những lời nguyện hiến tế và những lời nầy cũng thay đổi tùy thích. Theo các tu sĩ Dòng Đa Minh người Hà Lan, thì đó là những gì Công Đồng Vatican II muốn.

 Sandro Magister

Khi Người ban lại đầy đủ quyền được kể đến cho nghi thức cũ của Thánh Lễ, qua tự sắc ‘Summorum Pontificum” , Đức Thánh Cha Biển-Đức XVI đã cho biết rằng Người cũng muốn phản ứng với sự vượt quá giới hạn của “tính sáng tạo” trong nghi thức hiện đại, vốn “thường dẫn tới những sự méo mó biến dạng của phụng vụ đến mức khó có thể chịu đựng được”.

Xét những gì đang xảy ra ở một số nơi trong Giáo Hội, tính sáng tạo nầy không chỉ tác động trên phụng vu, mà còn chính trên cả các nền tảng của giáo lý Công giáo.

 Nimègue, Hà Lan : tại thánh đường các Cha Dòng Thánh Augustinô,thánh lễ Chúa Nhật do cùng lúc một người Tin Lành và một người Công giáo chủ trì. Theo thứ tự luân phiên, một người phụ trách phụng vụ Lời Chúa và bài giảng; còn người kia thì lo phụng vụ Thánh Thể. Người [đồng chủ trì] phía Công giáo gần như luôn là một giáo dân bình thường và thông thường là một phụ nữ. Với phụng vụ Thánh Thể, các bản văn do cựu tu sĩ Huub Oosterhuis viết được ưa chuộng hơn là những bản văn trong sách lễ. Tất cả mọi người chia sẻ bánh và rượu.

Không có giám mục nào từng cho phép hình thức cử hành lễ nầy.Nhưng Cha Lambert van Gelder, một trong những Cha Dòng Augustinô vốn là những người đề xướng và cổ xúy chuyện nầy, cứ cho là mình có lý :”Trong Giáo Hội, những hình thức tham dự khác nhau có thể có được, chúng ta là thành viên của cộng đồng Giáo Hội trọn vẹn. Tôi không tự coi mình là một kẻ ly giáo bao giờ”.

Vẫn là ở Hà Lan, các tu sĩ Dòng Đa Minh còn đi xa hơn nữa, với sự nhất trí của các bề trên miền của Dòng. Hai tuần trước khi tự sắc “Summorum Pontificum” có hiệu lực, các tu dĩ Dòng Đa Minh đã phân phát ở mỗi một trong 1.300 giáo xứ Công giáo một tập sách nhỏ dày 38 trang, có tựa đề “ Kerk en Ambt” (Giáo Hội và Sứ Vụ). Trong đó, họ đề nghị biến đổi thành luật chung những gì được thực hiện một cách tự phát trong những nơi chốn khác nhau.Các linh mục Dòng Đa-Minh đề xuất rằng khi vắng linh mục, một người được chọn trong cộng đoàn sẽ chủ trì việc cử hành Thánh Lễ.”Không quan trọng người đó là đàn ông hay phụ nữ, một người đồng tính hay giao hợp khác giới, đã lập gia đình hoặc độc thân”. Người được chọn nầy và cộng đoàn được mời gọi cùng xướng chung những lời truyền phép: “Việc xướng những lời nầy không phải là một đặc quyền dành riêng cho linh mục. Những lời như thế cấu thành sự diễn tả có ý thức về đức tin của toàn bộ cộng đoàn”.

Tập sách nhỏ mở đầu với sự đồng ý rõ ràng của các bề trên tỉnh dòng Dòng Đa Minh Hà Lan. Các trang đầu được dành riêng cho việc mô tả những gì xảy ra ngày Chúa Nhật trong các nhà thờ ở Hà Lan.
Do thiếu linh mục, thánh lễ không được cử hành trong tất cả mọi nhà thờ. Từ năm 2002 đến 2004, con số tổng cộng cá thánh lễ chúa nhật ở Hà Lan từ 2.200 xuống còn 1.900. Bù lại, cũng trong khoảng thời gian ấy, con số “buổi lễ cử hành Lời và hiệp lễ” từ 550 lên 630.  Đó là những buổi phụng vụ thay thề,không có linh mục và vì thế không có cử hành bí tích, nơi người ta rước lễ với bánh thánh đã được truyền phép  trước đó.

Trong một số nhà thờ, sự phân biệt giữa thánh lễ và nghi thức thay thế được giáo dân nhận thức rõ ràng. Nhưng đó không phải là trường hợp trong các thánh đường khác, nơi cả hai đều được coi có giá trị ngang nhau và hoàn toàn có thể thay thế nhau được. Sự việc một nhóm giáo dân chỉ định người nam hoặc người nữ hướng dẫn buổi phụng vụ thay thế, củng cố nơi chính các giáo dân ý tưởng rằng sự chọn lựa của họ “dưới đất nầy” quan trọng hơn là việc gửi một linh mục từ bên ngoài và “từ trên cao”

Cũng tương tự như thế với việc làm và đọc các lời nguyện và việc tổ chức nghi thức. Người ta thích được sáng tạo tự do thoải mái.Trong thánh lễ, những lời hiến tế thường được thay thế bằng “nhưng cụm từ dễ hiểu hơn và thích hợp hơn với kinh nghiệm hiện đại về đức tin”. Trong nghi thức thay thế, rất thưòng xuyên xảy ra là,khi rước lễ, những bánh chưa truyền phép được thêm vào những bánh đã được truyền phép rồi. Trong những ứng xử nầy, các tu sĩ Dòng Đa-Minh phân biệt ba cách rất phổ biến:

 –    rằng những người nam và những người nữ được giao phó việc chủ trì cử hành thánh thể, phải được  chọn “từ dưới đất”

–        rằng, tốt nhất, “sự chọn lựa nầy có được một sự xác nhận,một chúc lành hoặc được truyền chức từ phía các thẩm quyền Giáo Hội”

 –        rằng, những lời truyền phép “phải được xướng lên bởi những người chủ trì thánh lễ cũng như bởi cộng đoàn mà những người đó thuộc về”

 Theo ý kiến các tu sĩ Dòng Đa Minh Hà-Lan, ba việc nầy dưạ trên Công Đồng Vatican II.

Theo họ, cử chỉ dứt khoát của Công Đồng là đặt, – trong Hiến Chế về Giáo Hội, – chương về ‘Dân Chúa” trước chương về ‘tổ chức phẩm trật được lập từ trên xuống dưới do Đức giáo hoàng và các giám mục”.

Điều đó ngụ ý việc thay thế Giáo Hội “hình kim tự tháp” bằng một Giáo Hội ‘thân thể”, với hàng giáo dân như là khuôn mặt trung tâm, cũng là ám chỉ một cái nhìn khác về Thánh Thể.

Ý tưởng rằng Thánh lễ là một ‘hy lễ” – như lời khẳng định của các tu sĩ Dòng Đa minh Hà Lan – cũng được nối kết với một khuôn mẫu ‘theo chiều thẳng đứng”, theo phẩm trật, ở đó chỉ có linh mục mới được xướng lên một cách hiệu lực những lời truyền phép, một linh mục vốn phải là một người nam và sống luật độc thân,như “một lý thuyết cổ xưa về tình dục” quy định.

 Ngược lại, từ khuôn mẫu Giáo Hội “Dân Chúa” phát xuất một cái nhìn tự do và bùnh đẳng hơn về Thánh Thể : như một ‘chia sẻ đơn thuần bánh và rượu giữ anh chị em với nhau mà Chúa Giêsu ở giữa họ”,như một “bàn ăn cũng mở ra cho những người thuộc những truyền thống tôn giáo khác nhau”.

Công trình nầy của các tu sĩ Dòng Đa-Minh Hà Lan hoàn tất bằng việc cổ vũ các giáo xứ chọn “từ dưới đất” những người được trù định chủ trì thánh lễ. Trong trường hợp, vì các lý do kỹ luật, nếu Đức giám mục không xác nhận những người nầy – vì họ đã có gia đình hoặc vì họ là nữ giới – thì các giáo xứ sẽ vẫn cứ đi theo con đường của mình :” Ước gì những người nầy biết rằng ,dù có chuyện gì xảy đến đi nữa, họ có đủ tư cách để cử hành một thánh lễ đích thực và đúng thực mỗi lần họ họp nhau lại để cầu nguyện và chia sẽ bánh và rượu”.

Các tác giả tập sách nhỏ nầy là các linh mục Harrie Salemans, quản xứ ở Utrecht; Jan Nieuwenhuis, nguyên giám đốc trung tâm đại kết của các tu sĩ Dòng Đa Minh ở Amsterdam; André Lascaris và Ad Willems, cựu giáo sư thần học Đại học Nimègue.Một nhà thần học tu sĩ Dòng Đa Minh Hà Lan  khác, nỗi tiếng hơn, mà họ thường tham chiếu, Edward Schillebeeckx, 93 tuổi. Trong thập niên 1980, ngài đã phải qua một cuộc kiểm tra do Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin vì những luận đề gần với những luận đề ngày nay được tập hợp trong tác phẩm nầy.

 Hội Đồng Giám Mục Hà Lan hết sức tránh đưa ra một câu trả lời chính thức.Nhưng các Giám mục đã cho thấy ý kiến của các Ngài rằng tuyên bố củs các tu sĩ Dòng Đa minh tỏ ra “chống lại giáo lý Giáo Hội Công giáo”.

 Ở Roma, tổng bộ Dòng Đa-Minh phản ứng yếu ớt. Trong một thông cáo đề ngày 18.09.2007, – không được đăng trên trang điện tử của Dòng – Tổng Bộ Dòng Đa minh đã định nghĩa tập sách nhỉ nầy như “một điều ngạc nhiên” và đã giữ khoảng cách đối với ‘giải pháp’ được đề xuất.Nhưng Tổng Bộ đã tuyên bố chia sẻ “sự lo lắng” của các huynh đệ Hà Lan về sự hiếm hoi linh mục : “Có thể họ có cảm tưởng rằng các thẩm quyền Giáo Hội đã không làm việc đủ vấn đề nầy và, do vậy, họ đã đẩy vấn đề tới một cuộc đối thoại cởi mở hơn. […]. Chúng tôi cho rằng phải đáp lại sự lo lắng nầy bằng một suy tư thần học và mục vụ thận trọng giữa toàn thể Giáo Hội và Dòng Đa Minh”.

Ở Hà lan, các tu sĩ Dòng Đa Minh đã loan báo sẽ tái bản tập sách nhỉ nầy. 2.500 bản in đầu tiên đã mau chóng bán sạch.

Nguyên tác : Les Hollandais inventent une autre messe,inspirée par les Dominicains.

Chiesa.org, 03.10.2007

Giuse Nguyễn Thế Bài chuyển ngữ

 PHỤNG VỤ BỊ TỔN THƯƠNG

ĐGM Marc Aillet

 Nguồn gốc của Phong Trào Phụng Vụ là nguyện vọng của Thánh giáo hoàng Piô X,nhất là trong tự sắc Tra le Sollecitudini (Một  trong những mối quan tâm => Quy Luật Về Thánh Nhạc) [22.11.1903], nhằm phục hồi phụng vụ và làm cho những nét phong phú của phụng vụ trở nên dễ tiếp cận hơn, sao cho nó lại trở thành nguồn mạch đời sống đích thực Kitô giáo, để nhấn mạnh thách thức của một sự tục hoá đang lớn mạnh và để cổ vũ tín hữu hiến dâng thế giới cho Thiên Chúa. Từ đó, định nghĩa của Công đồng về phụng vụ như là ‘nguồn mạch và đỉnh điểm của đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội”. Ngược với mọi mong đợi, như vẫn thường được các Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II và Biển Đức XVI chỉ ra, việc thực hiện cuộc cải tổ phụng vụ đã nhiều lần dẫn tới một loại phi thần thánh hoá có hệ thống, trong khi phụng vụ ngày càng bị thâm nhập bởi văn hoá bị tục hoá của thế giới chung quanh, do vậy mà đánh mất bản chất và căn tính riêng của nó: “ Mầu nhiệm nầy của Chúa Kitô, Giáo Hội tuyên bố và cử hành trong phụng vụ của Giáo Hội, sao cho các tín hữu có thể sống từ đó và làm chứng cho nó trong thế giới nầy” (Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo – GLHT.CG –  1068).

 Dù không phủ nhận những hoa trái thật sự của cuộc cải tổ phụng vụ nầy, tuy vậy người ta có thể nói rằng phung vụ nầy đã bị thương tổn do cái mà Đức Gioan Phaolô II đã định nghĩa như là “những thực hành không thể chấp nhận được” ( Ecclesia de Eucharistia, 10) và Đức Biển-Đức tố cáo như là ‘sự biến dạng khó lòng chấp nhận” ( Thư gửi các Giám Mục nhân công bố tự sắc “Summorum Pontificum”). Do vậy mà căn tính của Giáo Hội và của linh mục bị tổn thương.

 Trong những năm tiếp sau Công Đồng, chúng ta chứng kiến một loại chống đối biện chứng giữa những người bênh vực sự tôn kính phụng vụ và những người cổ vũ cho sự mở ra với thế giới. Vì những người sau rút cuộc biến đời sống Kitô hữu chỉ còn là những nỗ lực xã hội mà thôi, dựa trên một cách giải thích thế tục về đức tin, cho nên những người trước, để phản ứng lại, nương náu trong phụng vụ thuần túy “theo sát chữ đỏ”, với nguy cơ khuyến khích các tín hữu tự vệ một cách thái quá. Trong Tông Huấn Scaramentum Caritatis, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đặt dấu chấm hết cho tranh cãi nầy và hoà giải sự chống đối nầy. Hành động phụng vụ phải  hoà hợp đức tin và đời sống. Chính khi cử hành Mầu Nhiệm Phục Sinh của Chúa Kitô, làm cho thật sự hiện diện giữa Dân Người, phụng vụ đem một hình thức Thánh Thể cho toàn bộ đời sống Kitô hữu, để làm cho nó thành “một việc thờ phượng thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa”. Do đó, sự cam kết của Kitô hữu vào thế giới và chính thế giới, qua phụng vụ, được kêu gọi dâng hiến cho Thiên Chúa. Sự cam kết của Kitô hữu vào nhiệm vụ truyền giáo của Giáo Hội và trong xã hội, trên thực tế, tìm thấy nguồn mạch và xung lực của nó trong phụng vụ, cho đến khi được lôi vào động lực của lễ vật tình yêu của Chúa Kitô được làm cho hiện diện trong đó.

 Địa vị hàng đầu mà Đức Biển-Đức XVI có ý đem lại cho phụng vụ trong Giáo Hội – “việc thờ phượng qua phụng vụ là cách diễn đạt tối cao của đời sống linh mục và giám mục”,Người nói thế với các giám mục Pháp  họp nhau tại Lộ Đức ngày 14.09.2008, trong một phiên họp khoáng đại bất thường – muốn đặt việc thờ lạy lại ở trung tâm đời sống của linh mục và giáo dân. Thay vào đó và thay chỗ cho “Kitô giáo trần tục” vốn thường đi theo việc thực hiện cải cách phụng vụ, Đức giáo hoàng Biển-Đức XVI có ý xúc tiến một “Kitô giáo thần học”, cái duy nhất có khả năng phục vụ những gì Người gọi là sự ưu tiên đang chiềm ưu thế trong giai đoạn lịch sử nầy, nghĩa là,:làm cho Thiên Chúa hiện diện trong thế giới nầy và làm cho dân chúng tiếp cận được với Thiên Chúa” (Thư gửi các giám mục Giáo Hội Công giáo, 10.03.2009).

 Nơi nào,trên thực tế, có thể tốt hơn là trong phụng vụ, để người linh mục đào sâu thêm căn tính của ngài, như tác giả thư gửi tín hữu Do Thái định nghĩa thật hay :”thượng tế nào cũng là người được chọn trong số người phàm,và được đặt lên làm đại diện cho loài người,trong các mối tương quan với Thiên Chúa, để dâng lễ phẩm cũng như tế vật đền tội”? (Dt 5,1)

 Việc mở ra với thế giới mà Công đồng Vatican II kêu gọi, thường được giải thích,trong những năm sau Công đồng, như một thứ “chuyển sang sự tục hoá”. Thái độ nầy không phải thiếu quảng đại,nhưng nó dẫn tới việc làm lu mờ tầm quan trọng của phụng vụ và làm giảm tối đa sự cần thiết phải tuân giữ các nghi thức, vốn bị coi là quá xa cách với đời sống thế giới,vốn phải là tình yêu và với nó mọi người phải được kết nối đầy đủ, đến mức bị nó mê hoặc. Kết quả là một cuộc khủng hoảng trầm trọng về căn tính của linh mục,khi ngài không còn có thể nhận thức tầm quan trọng của việc cứu rỗi các linh hồn và sự cần thiết loan báo cho thế giới sự mới mẻ của Tin Mừng Cứu Rỗi. Phụng vụ không cón nghi ngờ gì nữa,là nơi đặc quyền để đào sâu căn tính người linh mục, được gọi để ‘đấu tranh chống lại sự tục hoá”, vì như lời Chúa Giêsu, trong kinh nguyện linh mục của Người :” Con không xin Cha cất chúng khỏi thế gian,nhưng xin Cha gìn giữ chúng khỏi sự dữ. Chúng không thuộc về thế gian,cũng như con không thuộc về thế gian. Xin hãy thánh hoá chúng trong chân lý. Lời Cha là chân lý” (Ga 17,15 – 17).

 Điều nầy sẽ chắc chắn có thể có được qua việc tuân giữ nghiêm nhặt hơn những tiêu chí phụng vụ vốn gìn giữ vị linh mục khỏi mong muốn – kể cả là vô tình – làm giáo dân để ý đến cá nhân Ngài: nghi thức phụng vụ mà vị chủ lễ được gọi đón nhận từ Giáo Hội trong tình con thảo,trên thực tế,cho phép các tín hữu dễ dàng hơn đến với sự hiện diện của Chúa Kitô,mà việc cử hành phụng vụ nầy phải là một dấu hiệu đáng chú ý và phải luôn đến trước tiên. Phụng vụ bị thương tổn khi các tín hữu bị bỏ mặc cho sự độc đoán tùy tiện của chủ tế, cho những thói tật của ngài, cho những ý tưởng hoặc quan niệm cá nhân của Ngài, cho những thương tích riêng của ngài. Do vậy cũng theo sau là tầm quan trọng của việc không được tầm thường hoá các nghi thức vốn, khi giật chúng ta khỏi thế giới trần tục và do vậy khỏi cám dỗ nội tại và chủ quan chủ nghĩa, có khả năng bất ngờ dìm chúng ta vào tring Mầu Nhiệm nầy và mở chúng ta ra với Đấng Siêu Việt. Trong ý nghĩa nầy,người ta không bao giờ có thể nhấn mạnh đủ tầm quan trọng của sự im lặng đi trước cử hành phụng vụ, một mái hiên nội tâm, nơi chúng ta được giải thoát khỏi những lo lắng, kể cả là hợp pháp, của thế giới trần tục, để đi vào khong gian và thời gian thánh thiêng,nơi Thiên Chúa sẽ mạc khải Mầu Nhiệm của người; không ai có thể nhấn mạnh đủ tầm quan trọng của im lặng trong phụng vụ để mở lòng ra mọt cách sẵn sàng hơn cho Chúa hành động và không ai nhấn mạnh đủ sự thích hợp của một giai đoạn tạ ơn, được hay không được kết hợp vào trong lễ, năm rõ tầm mức bên trong của sứ mệnh đang chờ đợi chúng ta, một khgi chúng ta trở về lại trong trấn gian. Sự vâng phụ của vị linh mục với các hàng chữ đỏ tự nó cũng là một sự im lặng và là dấu chỉ hùng hồn của tình yêu Ngài đối với Giáo Hội,mà ngài chỉ là thừa tác viên,nghĩa là người phục vụ.

 Do vậy chúng ta thấy tầm quan trọng của việc đào tạo các linh mục tương lai trong phụng vụ và nhất là trong sự tham dự nội tâm, mà không có nó, thì sự tham dự bề ngoài được sự cải tổ biện hộ, sẽ là vô hồn,không có sức sống và sẽ tạo nên một nhận thức không hoàn chỉnh về phụng vụ, vốn diễn tả bằng những từ ngữ được kịch hoá màu mè quá mức các vai trò, ý thức và cảm nhận trí não (cerebralization) có tính chất giảm thiểu các nghi thức và việc tự cử hành có tính chất lạm dụng của cộng đoàn. Nếu sự tham gia tích cực, – vốn là nguyên lý vận hành của cải tổ phụng vụ,- không phải là hành sử “cảm thức siêu nhiên đức tin”, thì phụng vụ không còn là công việc của Chúa Kitô,mà là của con người. Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đào tạo các linh mục về phụng vụ, Công Đồng Vatican II đã biến phụng vụ thành một trong những chủ đề các nghiên cứu thuộc Giáo Hội, tránh làm nó giảm thiểu thành một sự đào thạo đơn thuần trí thức : tóm lại, trước khi là một đối tượng nghiên cứu, phụng vụ luôn sống động hoặc đúng ra,làm cho cuộc sống riêng mình tốt hơn để kết hợp với cuộc đời Chúa Kitô”. Đó là sự nhúng chìm của tất cả cuộc sống Kitô hữu : sự nhúng chìm trong cảm thức đức tin và trong cảm thức Giáo Hội, trong ngợi khen và thờ lạy, cũng như trong nhiệm vụ truyền giáo.

 Vì thế chúng ta được kêu gọi  “nâng tâm hồn lên” (sursum corda) thật sự. Câu nầy từ kinh tiền tụng,”hãy nâng tâm hồn lên”,dẫn tín hữu vào tâm của các tâm phụng vụ : lễ Vượt Qua của Chúa Kitô, tức là việc Người đi qua thế gian  ầy để về với Chúa Cha. Việc Chúa Giêsu phục sinh gặp Maria Mađalêna sáng ngày Phục Sinh rất quan trọng trong ý nghĩa nầy: Khi nói ‘đừng động tới Thầy”, Chúa Giêsu mời gọi Maria Mađalêna ‘nhìn vào những thức tại của những gì cao siêu nhất”, làm cho bà ý thức trong tâm hồn bà rằng Người chưa lên với Chúa Cha và yêu cầu bà đi và nói với các môn đệ Người rằng Người phải lên cùng Thiên Chúa của Người và Thiên Chúa chúng ta, cùng Chúa Cha của Người và Chúa Cha của chúng ta. Phụng vụ chính là nơi cho sự nâng [tâm hồn] lên, sự trải rộng [tâm hồn] hướng về Thiên Chúa, đem sự sống cho một chân trời mới và bằng cách ấy sự định hướng quyết định của nó, miễn là chúng ta không coi nó như là vật liệu sẵn có để chúng ta tùy tiện nhào nặn thao túng,nhưng chúng ta tuân giữ, với sự vâng phục thảo hiếu, những quy định của Hội Thánh.

 Như Đức Thánh Cha Biển-Đức XVI nhận định trong phần kết luận bài giảng lễ kính hai Thánh Phêrô và Phaolô năm 2008 : “Khi toàn bộ thế giới trở thành phụng vụ của Thiên Chúa, khi trong thực tại của nó, nó trở thành việc thờ phượng, thì khi ấy nó sẽ đạt được  mục tiêu của nó,và khi đó nó sẽ bình an vô sự”.

 ————————————————-

Nguyên tác : The Wounded Liturgy

ĐGM Marc Aillet (Catholic Culture.org).

Giuse Nguyễn Thế Bài chuyển ngữ và giới thiệu.

%d bloggers like this: