NHƯ MỘT KỶ NIỆM 2011: LỜI THIÊN CHÚA TRONG VIỆC ĐÀO TẠO LINH MỤC

LỜI THIÊN CHÚA

TRONG VIỆC ĐÀO TẠO LINH MỤC

Frédéric LOUZEAU

Giám đốc Khoa Notre-Dame

Nhiều ngôn sứ đáp lại tiếng gọi của Thiên Chúa bằng cách bắt đầu bằng việc cho rằng mình không « biết nói năng » (Gr 1,6), hay không « có tài ăn nói » (Xh 4,10), hay có « môi miệng ô uế » (Is 6,4), không xứng hợp để mang Lời Chúa. Dù những tuyên bố như thế chứa đựng những ý hướng nào, thế nhưng, Thiên Chúa không nói ngược lại các ngôn sứ của Ngài về điểm này ; hơn thế nữa, Ngài can thiệp mạnh mẽ để chỉnh sửa lỗ khuyết này. Chẳng hạn, Thiên Chúa giơ tay chạm vào miệng của ngôn sứ Giêrêmia và phán : « Ta đặt lời Ta nơi miệng ngươi » (Gr 1,9). Hay, đối với Môisê, Thiên Chúa phán : « Ai cho con người có mồm có miệng? Ai làm cho nó phải câm phải điếc, cho mắt nó sáng hay phải mù loà? Há chẳng phải là Ta, Thiên Chúa, đó sao? Vậy bây giờ ngươi hãy đi, chính Ta sẽ ngự nơi miệng ngươi, và Ta sẽ chỉ cho ngươi phải nói những gì» (Xh 4, 11-12).

Phải chăng các ứng viên linh mục bước vào trong lộ trình đào tạo của mình với ý thức sống động không biết ăn nói này ? Chắc chắn không phải là tất cả ! Phải chăng họ tự nhiên nghĩ đến sự phản đối của các ngôn sứ khi các ngài cự lại lời mời gọi của Chúa và tìm cách biện minh cho sự kháng cự của mình ? Hẳn là không phải ! Tuy nhiên, để đáp lại ơn gọi ngôn sứ của mình, họ thực sự sẽ phải biết và truyền đạt « những gì nơi Thiên Chúa » (x. 1Cor 2,11) ; họ sẽ phải học biết một tiếng mẹ đẻ mới trên đầu gối của Mẹ mình là Giáo Hội. Xem ra đó là vấn đề tối hậu về vị trí dành cho Lời Thiên Chúa trong việc đào tạo linh mục và, qua đó, chân trời cần nhắm đến trong suốt thời gian ở chủng viện : trao cho các ứng viên những phương tiện để cho họ được Lời Chúa hoàn toàn nắm lấy đến độ họ trở thành không chỉ là những người giải thích trung thành Lời Chúa, nhưng còn, cách triệt để hơn, là những người mang Lời Chúa cách sống động. Trong chừng mực có thể được, nó hệ tại việc sinh ra những con người mà qua họ Thiên Chúa sẽ nói với Giáo Hội và với thế giới hôm nay ; những con người mà, xuyên qua việc rao giảng và giảng dạy của họ, xuyên qua cách thức họ hướng dẫn cầu nguyện và các bí tích, xuyên qua phán đoán luân lý và việc đồng hành với anh chị em của họ, sẽ truyền đạt Lời Chúa, Lời khơi dậy đức tin, củng cố những tâm hồn tan nát, giải thoát những kẻ bị xích xiềng, an ủi những người sầu khổ (x. Is 61,1).

Đó là mục tiêu. Nhưng làm thế nào đạt tới đó hay làm thế nào lại gần nó ? Hai nhận xét sau đây sẽ mở ra những trang giúp suy nghĩ.

I. Đọc Thánh Kinh và biện phân Lời Thiên Chúa

Để thực hiện chương trình này, những gì tự nhiên nảy đến trong tâm trí nhất từ Công đồng Vatican II, những gì mà, trên thực tế, truyền thống hai nghìn năm của Kitô giáo đã biến cách dưới những hình thức rất khác nhau, đó là giúp ứng viên linh mục trở thành một người quen thuộc Thánh Kinh, một người ngập chìm trong Đại Dương mầu nhiệm Cựu Ước và Tân Ước, đến độ chúng trở thành hơi thở thâm sâu, thành mạch đập nội tâm của họ. Những phương tiện cụ thể giúp ứng viên linh mục ai cũng biết : siêng năng tham dự vào phụng vụ của Giáo Hội (Thánh Lễ, Phụng Vụ Các Giờ Kinh), không ngừng đọc Thánh Kinh, lectio divina, chia sẻ Lời Chúa, học các ngôn ngữ Thánh Kinh, các lớp chú giải, du lịch học hỏi ở Israël hay trên những vùng đất Thánh Kinh… Một loạt những phương tiện như thế là tốt, thậm chí là cần thiết trong chừng mực có thể.

Nhưng, và, theo chúng tôi, đây là điểm khó khăn nhất, Thánh Kinh không hoàn toàn đồng nhất hóa với Lời Thiên Chúa[1], được hiểu theo nghĩa mạnh của từ. Việc đọc và nghiên cứu Thánh Kinh để thông truyền Lời Thiên Chúa, để nói về « những gì nơi Thiên Chúa » trong ngôn ngữ mà Chúa Thánh Thần dạy dỗ chứ không phải trong ngôn ngữ mà sự khôn ngoan nhân loại dạy bảo (x.1Cor 2,13) mà thôi thì không đủ. Giữa Lời Chúa và Thánh Kinh có một sự khác biệt. Nhà chú giải không tất nhiên là ngôn sứ, cũng không phải là tông đồ ; hay nếu ông là như thế, thì đó không phải vì những khả năng chú giải của ông.

Cần phải suy nghĩ kỹ về sự khác biệt này, về khoảng cách giữa Thánh Kinh và Lời Thiên Chúa. Sự khác biệt này có thể được nhận thấy bằng những cách khác nhau.

Trước tiên, chúng ta đã biết nhưng chẳng vô ích để nhắc lại, nội dung chủ yếu của Tin Mừng không đồng nhất với chữ viết của bản văn. Tin Mừng là Lời sống động của các tông đồ, là lời rao giảng của các ngài, chuyển tải không chỉ một sứ điệp, nhưng còn hơn nữa chính thực tại của mầu nhiệm Chúa Kitô, sự Hiện diện cứu độ của Ngài ở đây và bây giờ. Vả lại, trong thời gian lâu dài, vào lúc khởi đầu, Giáo Hội không có những bản văn riêng của mình. Hơn nữa, thực tại của sứ điệp Tin Mừng này không hệ tại truyền đạt những thông tin, dầu là về Thiên Chúa, nhưng là chuyển tải một lời mời gọi, ra đi tìm kiếm con người để nói với họ : « Thiên Chúa muốn bạn và đó là những gì Ngài ban cho bạn để thực hiện thánh ý Ngài » ; rồi chuyển tải ân huệ hiệu nghiệm này, những gì mà không có bất kỳ bản văn nào có thể thực hiện được.

Mặt khác, nhìn dưới một khía cạnh khác, sự khác biệt giữa Thánh Kinh và Lời Chúa cũng được nhận thấy trong những cạm bẫy mà các độc giả của Thánh Kinh gặp phải, những ngõ cụt mà họ thường đi theo. Hai thái độ quá khích và đối lập nêu bật rõ điều đó. Một mặt, cám dỗ theo « khuynh hướng tôn giáo bảo thủ » (fondamentaliste) muốn lập tức phóng chiếu thế giới của mình vào bản văn Thánh Kinh, đòi hỏi được đọc theo nghĩa đầu tiên của nó, đến độ, trên thực tế, bản văn thánh trở thành cái cớ phô trương chính mình, biến những ước muốn tưởng tượng của bản thân thành một thực tại ngôn sứ[2].

Mặt khác, thường là phản ứng lại cám dỗ trên, có một cám dỗ khác tinh vi hơn, cám dỗ hợp lý hóa (rationalisation) Thánh Kinh, qua đó trí khôn con người bắt đầu trước hết bằng cách loại bỏ nguồn gốc thần linh của tất cả những gì xem ra trái ngược với lô-gíc riêng của mình – những gì đến từ Thánh Thần Thiên Chúa là một sự điên rồ đối với nó (x. 1Cor 2,14) – rồi giải thích lại các mầu nhiệm theo một phong cách tượng trưng hóa thuần túy nhân loại hay tự nhiên. Các lạc giáo lớn trong lịch sử Giáo Hội được xây dựng như thế. Đó cũng là thảm kịch hầu như phổ biến của khoa chú giải hiện đại, mà Bultmann đã là một trong những khuôn mặt minh họa nhất. Mối liên hệ nghĩa tử thần linh của Chúa Kitô, phép rửa của Ngài tại sông Gio-đan, việc xức dầu của Thánh Thần và Tiếng từ trời, việc hóa bánh ra nhiều, đi trên mặt nước, Biến hình, toàn bộ các phép lạ, kẻ chết phục sinh… tất cả những gì xem ra không « thật » dưới ánh sáng của những phê bình khoa học, độc giả « duy lý » phải tìm cách tái giải thích nó, chỉ tùy vào một khung cảnh duy nhất mà giảm thiểu ý nghĩa của nó thành một ý nghĩa ẩn dụ thuần túy nhân loại mà sau đó có thể tái hiện lại. Một lần nữa, Thánh Kinh trở thành cớ để nói về mình, một « cái tôi »[3] chắc chắn ít to lớn hơn cái tôi của khuynh hướng tôn giáo bảo thủ, nhưng trên thực tế lại đáng sợ hơn vì, xét đến cùng, nó thuộc về quỷ kiêu ngạo[4].

Sau cùng, một điểm cuối cùng cho thấy cần phải phân biệt giữa Thánh Kinh và Lời Chúa : đó là chính ma quỷ biết rõ văn tự của Thánh Kinh, có khả năng trích dẫn và sử dụng Thánh Kinh để cám dỗ những người nó tiếp cận và để chế ngự họ[5]. Đối diện với Chúa Giêsu trong sa mạc (x. Mt 4,6), Satan trích dẫn đúng từng chữ Thánh Kinh, tìm cách che đậy cho lời dối trá của nó bằng chính uy tín của Lời Thiên Chúa. Và nếu Kẻ Thù dùng một chiến thuật như thế với chính Chúa, thì làm sao chúng ta có thể tưởng tượng được rằng nó sẽ khác với các môn đệ đáng thương của Ngài là chính chúng ta ?

Từ tất cả những gì nói trên đây và cách riêng điểm sau cùng này, hệ quả là việc cần thiết quen thuộc với Thánh Kinh không thể không đi đôi với một sự thực hành biện phân chắc chắn và hữu hiệu để phân định Lời Thiên Chúa trong Thánh Kinh[6] (và cách chung hơn trong tất cả những lời của con người).

Đặt đúng Lời Thiên Chúa vào việc đào tạo linh mục đòi hỏi vận dụng một phương pháp đối với Thánh Kinh, tương tự với phương pháp mà các bài Linh Thao của thánh Inhaxiô Loyola khai triển đối diện với những tư tưởng và những chuyển động nội tâm của người tĩnh tâm đang tìm kiếm khám phá thánh ý Chúa, tức Lời Chúa được chứng thực nơi mình, và thực hiện nó. Bởi thế, nó hệ tại học biết biện phân các thần khí đối diện với Thánh Kinh và ở ngay trong Thánh Kinh[7]. Một khẳng định như thế không nên gây ngạc nhiên. Khởi đi từ một suy tư về vị trí của Lời Chúa trong việc đào tạo linh mục, không có gì ngạc nhiên khi chúng ta đi đến vấn đề biện phân. Vì đó là Lời Thiên Chúa sống động : « hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi: xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tuỷ; lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người »  (Dt 4,12). Và thậm chí, cuối cùng, Lời Thiên Chúa này không gì khác hơn Ngôi Lời Thiên Chúa làm người, đã đến trong thế gian « để phân xét » (discernement) (Ga 9,39), để « những tâm tư của nhiều tâm hồn » (Lc 2,35) được tỏ lộ.

Nói cách khác, việc đào tạo linh mục phải cung cấp những phương tiện chắc chắn và hữu hiệu cho phép người quen thuộc Thánh Kinh trả lời cho những câu hỏi đớn giản như : « trong đoạn Thánh Kinh này, Thiên Chúa nói gì ? » ; « đâu là vấn đề thiêng liêng đằng sau đoạn văn này và Thiên Chúa trả lời thế nào ? » ; « đâu là kế hoạch cứu độ và những giai đoạn của kế hoạch này mà Thiên Chúa mạc khải xuyền qua lời rao giảng của một ngôn sứ hay một sấm ngôn ? » ; « đâu là tin mừng mà đoạn Tin Mừng như thế mang lại ? »…

Cung cấp một phương pháp như thế, triển khai nó cách sâu rộng để xây dựng nền móng cho tất cả việc đào tạo thần học, xem ra, đối vơi chúng tôi, là một đòi hỏi của thời nay. Hơn bốn mươi năm sau khi Công đồng yêu cầu biến việc học hỏi Thánh Kinh làm linh hồn của thần học, một cơ hội lịch sử kép làm cho yêu cầu đó trở nên cấp bách hơn nữa. Một mặt, việc chú giải duy lý mà đã thống trị như là bậc thầy từ gần hai thế kỷ nay đang đi đến tận cùng những gì nó có thể sản sinh ra (duy chỉ một phương pháp giải thích Thánh Kinh đúng đắn về mặt thần học mới phòng giữ những thủ đắc của sự trung gian chú giải và sẽ cứu nó khỏi sự cạn kiệt của nó). Mặt khác, những phong trào trong Giáo Hội đã nảy sinh gần như khắp nơi. Chắc chắn, chúng sử dụng dồi dào Thánh Kinh như là Lời Thiên Chúa, nhưng với một sự kiểm soát hợp lý yếu đi, thậm chí là không có.

II. Vai trò của lý trí con người

Suy nghĩ về phương pháp biện phân Thánh Kinh này rõ ràng vượt quá khuôn khổ của bài viết này và vượt quá người viết nó. Dù sao, thay cho kết luận, có thể nói một vài lời về điều này. Trước đó, chúng ta cần phải nói rõ đôi chút, rồi tiếp đến, xác định ơn gọi của lý trí con người trong việc biện phân này.

Trước tiên, học biện phân Lời Thiên Chúa được chứa đựng trong chứng tá của Thánh Kinh giả thiết rằng đức tin phải là đầu tiên và sau cùng, và nó là cơ sở cho mọi thực hành biện phân. Nếu người giải thích không tin gì cả, thì Thánh Kinh sẽ vẫn là câm lặng. Thánh Kinh chỉ mạc khải những gì mà người giải thích cho phép nó tỏ lộ.

Quả thế, câu hỏi « Thiên Chúa nói gì, hay đâu là Lời Chúa trong đoạn Thánh Kinh này ? » chỉ có ý nghĩa nếu trước tiên người ta tin rằng Thiên Chúa thực sự đã nói với cha ông chúng ta, Ngài đã tỏ mình cho họ trong chính cuộc sống cụ thể của họ. Nhưng, hơn nữa, để Lời nói với cha ông được nhìn nhận như là Lời Chúa và thậm chí qua đó có thể được hiểu, thì cũng cần phải tin rằng Lời này vẫn còn soi sáng cho chúng ta, ở đây và bây giờ ; rằng tiến trình lịch sử, dù lâu dài, đã không làm mất đi bản chất của nó ; trái lại, nó vẫn giữ một nét cốt lõi trước sự xói mòn theo thời gian, nét cốt lõi mà kho ý nghĩa của nó không bị tát cạn bởi thứ quan niệm chốc lát về nó, nhưng trái lại được khám phá thêm hơn trong hiện tại để hướng dẫn bước đi của chúng ta. Nói tóm lại, nếu có một thời điểm lịch sử nào đó mà Lời xưa kia sẽ trở nên trống rỗng, thì đó sẽ không thể là Lời vĩnh cửu mà làm nền tảng cho thời gian.

Vả lại, người tín hữu tìm hiểu Thánh Kinh phải có thể thường xuyên chứng thực rằng mình đặt niềm tin vào Lời Thiên Chúa hằng sống chứ không vào lời của một ai khác. Thế mà, sự tách bạch hai lời này, sự biện phân các thần khí ngay trong Thánh Kinh này, thông thường chính lý trí tiến hành nó. Như Ngôi Lời Thiên Chúa mà nó là hình ảnh, « logos » (lời, lý) của con người cũng phải cắt đứt rồi tách bạch giữa cái thật và cái giả. Do đó, lý trí con người sở hữu nhân đức tuyệt vời này là có thể nói « Amen », « đó là thật », với Lời của Thiên Chúa hằng sống, tức là khả năng thừa nhận Lời Chúa để xây dựng cuộc sống trên đó. Đó là phẩm giá cao cả nhất của lý trí ; đồng thời đó cũng là giới hạn của nó.

Một lần nữa, việc so sánh với các bài Linh Thao của thánh Inhaxiô soi sáng cho điểm này. Quả thật, vào cuối tuần thứ hai, thánh Inhaxiô xem xét ba thì để người tĩnh tâm có thể thực hiện một chọn lựa lành mạnh và tốt lành. Thì thứ nhất là sự an ủi không có lý do : « Khi Thiên Chúa Chúa chúng ta thúc đẩy và lôi cuốn lòng muốn đến độ, không hồ nghi và cũng không thể hồ nghi, linh hồn tín hữu tuân theo những gì được chỉ cho mình » (số 175). Thì thứ hai là khi người tĩnh tâm, để chọn lựa, đã « lãnh nhận đủ ánh sáng và sự hiểu biết nhờ kinh nghiệm về những an ủi và những sầu não, và nhơ kinh nghiệm về sự biện phân các thần khí khác nhau » (số 176). Nếu việc chọn lựa không được thực hiện ở thì thứ nhất hay thì thứ hai, thì còn có một thì thứ ba. Thánh Inhaxiô nói với chúng ta : thì thứ ba là yên tĩnh « khi linh hồn không bị lay động bởi các thần khí khác nhau và sử dụng các năng lực tự nhiên của mình cách tự do và thanh thản » (số 177). Như thế, việc chọn lựa được thực hiện nhờ các năng lực của linh hồn, và chủ yếu nhờ lý trí. Chẳng hạn : « suy xét bằng trí hiểu của tôi và chọn lựa phù hợp với ý muốn rất thánh và nhân từ của Ngài » (số 180).

Cũng thế, việc hiểu biết thiêng liêng về Thánh Kinh (hay về một trong những đoạn Thánh Kinh) có thể được trực tiếp thông ban từ trên : chẳng hạn, Chúa Kitô phục sinh đã mở lòng mở trí cho nhóm Mười Một ở nhà Tiệc Ly để họ hiểu Thánh Kinh (Lc 24,45) và như thế đặt nền tảng cho chứng tá của họ ; hay Mầu Nhiệm đã được mạc khải cho « những người bé mọn » hơn là cho những người khôn ngoan và hiền triết (Mt 11,25) ; hay cho nhiều vị thánh và tín hữu cầu nguyện khiêm tốn[8]. Nhưng, ngoài sự kiện rằng ngay cả những mạc khải siêu nhiên cao cả nhất không thể tránh khỏi một « sự xác minh » mà lý trí phải làm việc[9] và thậm chí là một sự diễn tả bằng một ngôn ngữ dễ hiểu[10], thì sự thông ban như thế không biểu thị trường hợp hiểu biết Thánh Kinh thông thường nhất, ít ra là theo bề ngoài. Dó đó, mỗi lần sự biện phân thiêng liêng Thánh Kinh được thực hiện, thì sự trung gian lý trí vẫn giữ trọn vẹn vai trò của nó, hoặc để xác minh, hoặc để chuẩn bị khám phá Lời đến từ trên[11].

Tóm lại, dưới một số điều kiện (trừ sự dửng dưng của tự do ra), con người được phú bẩm lý trí tìm thấy nơi lý trí năng lực, ánh sáng đủ để giải thích Thánh Kinh và biện phân Lời Chúa trong Thánh Kinh.

Một khẳng định như thế cho phép đặt đúng vị trí của khoa học chú giải trong việc đào tạo linh mục. Vì không phải là tiếng nói đầu tiên, cũng không phải tiếng nói cuối cùng trên Thánh Kinh, nên khoa chú giải lý trí không được can thiệp như là điểm xuất phát hay như là điểm kết cục trong tương quan với Thánh Kinh. Trên thực tế, nó là một « thế giữa », hay, nói cách khác, là một sự trung gian cần thiết giúp cho việc khẳng định đức tin : nhờ những khám phá của nó, nó phải giúp tháo gỡ Mạc khải của Thiên Chúa thông ban cho con người, khỏi sự tưởng tượng phi lý không ngừng xâm chiếm nó. Như thế, công việc chú giải luôn hệ tại sự phân tách giữa lúa mì và cỏ lùng (x. Mt 13, 24-30), công việc mà sẽ chỉ tìm thấy kết cục của nó vào tận cùng thời gian.

Do lịch sử của khoa chú giải Tây phương trong hai thế kỷ vừa qua, do những thói quen và những khuynh hướng tri thức đã xâm chiếm đa số các phân khoa thần học, nên cần phải thừa nhận rằng ở đây nó hệ tại điều gì đó như là một cuộc đảo ngược copernic đích thực, và chúng ta phải đấu tranh chống lại một nếp nhăn được hình thành từ lâu, dai dẳng, chúng ta phải bắt đầu nơi chính chúng ta. Sự đảo ngược này hệ tại việc đặt công cụ tri thức chú giải, sức mạnh khoa học và phê bình có sức quyến rũ như thế của tâm trí con người, phục vụ hành vi đức tin để nó được thanh luyện hơn và tiến triển trong lịch sử. Hiện giờ, chỉ một số người thực sự đạt tới đó, với giá là phải bỏ công sức lớn lao (đầu tư cả cuộc đời !), và phải chịu nhiều gian khổ, bắt đầu bằng nỗi gian khổ không được hiểu, thậm chí là bị bác bỏ bởi những đồng nghiệp của mình.

Tuy nhiên, tầm quan trọng tiến hành cuộc đảo ngược này không được làm ai nản chí. Đây không phải là một cảm tính chóng qua, nhưng đó là sự đòi hỏi của việc Tân Phúc Âm Hóa. Trên thực tế, ở đây chúng ta đang vấp phải một cực quân bình luôn luôn nghịch lý, mà đức tin phải không ngừng gợi hứng và soi sáng cho công việc chú giải. Ai đón nhận Lời Thiên Chúa và thông truyền Lời Thiên Chúa thì đồng thời phải trang bị cho mình mọi ánh sáng có thể của lý trí phê bình, mọi nguồn mạch lý trí của tri thức khoa học để nhận biết và diễn tả cách trung thành hơn mãi Chân Lý của Lời Chúa, đồng thời vẫn ý thức rằng không bao giờ có bất kỳ bản văn nào của Thánh Kinh sẽ được tát cạn.

Nói cách khác, nó hệ tại đặt khoa chú giải thực sự khoa học phục vụ cho việc xác nhận chân lý của đức tin. Vả lại, khi tiến hành như thế, chính khoa chú giải sẽ được lợi trên lãnh vực thẩm quyền của mình, vì đức tin rọi chiếu ánh sáng dồi dào trên những yếu tố lịch sử mà lý thuyết của chủ thuyết duy lý hay của chủ thuyết duy khoa học ngăn không cho thấy[12].

Kết luận : học thuyết bốn ý nghĩa của Thánh Kinh

Sau cùng, để đi xa hơn, phải chăng ta còn có thể thử làm rõ hơn phương pháp dựa trên lý trí mà có thể giúp biện phân Lời Thiên Chúa trong Thánh Kinh ?

Những gì sắp được trình bày ở đây trong một vài dòng kết luận sẽ không thể đầy đủ được. Điều này đòi hỏi nhiều thời gian và nhiều khai triển, mà một số vẫn còn khó khăn đối với chúng tôi. Thế nhưng, kết quả thật có ý nghĩa để được đề nghị cho độc giả suy nghĩ. Khẳng định tiếp sau đây đã dần dần buộc chúng tôi phải nhìn nhận trong suốt việc đào tạo linh mục của chúng tôi, đặc biệt tại Học Viện Nghiên Cứu Thần Học của Dòng Tên ở Bruxelles, và nó đã được củng cố hơn nhân cơ hội làm luận án tiến sĩ về cha Gaston Fessard[13].

Đâu là trực giác-khẳng định này ? Học thuyết truyền thống về bốn ý nghĩa của Thánh Kinh cung cấp một phương pháp lý trí để biện phân Lời Chúa được chứa đựng trong Thánh Kinh[14]. Học thuyết bốn ý nghĩa[15] này, mà việc tái khám phá nó là nhờ Đức Hồng y Henri de Lubac trong hai tác phẩm lớn của ngài : trước tiến là tác phẩm Histoire et Esprit (1950), bàn về sự hiểu biết Thánh Kinh nơi Origène ; rồi bốn tập đồ sộ của tác phẩm Exégèse médiévale. Les quatre sens de l’Écriture (1959-1964). Cha de Lubac cho thấy rằng, từ lâu, học thuyết bốn ý nghĩa đã là cơ sở của khoa học thánh (doctrine sacrée), hay đúng hơn học thuyết này đã hình thành nên nó, cách tự phát, không được suy tư hay hợp lý hóa. Và « ngay cả sau sự lên ngôi của thần học kinh viện và sự phát triển của khoa chú giải Thánh Kinh, nó đã không ngừng âm thầm thúc đẩy đời sống thiêng liêng của các thần học gia và các nhà chú giải kitô hữu và do đó vẫn còn là nguồn mạch cho những phát biểu có giá trị nhất của họ, cho dù quá thường không được họ hiểu đúng [16]».

Nói thực ra, dường như cha de Lubac đã không ý thức hoàn toàn về sự quan hệ sâu xa của các công trình nghiên cứu của mình đối với việc giải thích Thánh Kinh hiện nay. Tuy nhiên, các thần học gia khác đã nhận thấy lợi ích mà Giáo Hội đã có thể rút ra từ đó.

Không thể không nhắc đến tên của cha Albert Chapelle, s.j. (1929-2002), người đã biên soạn phương pháp thần học của Viện Nghiên Cứu Thần Học bằng cách xây dựng nó trên học thuyết bốn ý nghĩa của Thánh Kinh[17].

Nhưng trước ngài, cha G. Fessard, s.j. (1897-1978) đã nhận thấy sự song song giữa học thuyết bốn ý nghĩa và lối biện chứng của bốn Tuần Linh Thao của thánh Inhaxiô. Ngài đã thấy trong sự trùng hợp này một bảo đảm mà cả hai mang lại một phương tiện chắc chắn và hữu hiệu để biện phân Lời Chúa trong mọi lời của con người[18].

Nói cách khác, đối với cha Fessard cũng như đối với cha de Lubac, […], học thuyết bốn ý nghĩa là điều hoàn toàn khác với một « sự sản xuất giả tạo » ; nó mang một lô-gíc sâu xa là lô-gíc của khoa học thánh cũng như của chính Thánh Kinh. Hơn thế nữa, đối với cha Fessard, lô-gíc này không chỉ là « lô-gíc của Mạc Khải Kitô giáo, nhưng còn là lô-gíc của mọi ngôn ngữ nhân loại xét như là ngôn ngữ này có thể dùng để biểu lộ Lời Thiên Chúa cũng như chân lý và sự tự do của lời con người [19]».

Tìm lại lô-gíc sâu xa mà việc hình thành quy điển Thánh Kinh và học thuyết bốn ý nghĩa chứng tỏ, lô-gíc mà thúc đẩy các bài Linh Thao của thánh Inhaxiô ; đặt các dụng cụ hữu hiệu nhất của khoa chú giải hiện đại phục vụ cho lo-gíc này, đó có thể là chân trời của những nỗ lực của chúng ta, để sự nhấn mạnh của công đồng Vatican II đặt việc nghiên cứu Thánh Kinh ở trung tâm của thần học và của việc đào tạo linh mục không phải là một lời vô ích.

————

Tóm tắt : Việc đào tạo linh mục phải không chỉ cổ võ nơi ứng viên sự quen thuộc với Thánh Kinh, nhưng còn dạy cho ứng viên biết biện phân Lời Chúa trong Thánh Kinh, nhờ một phương pháp giống với phương pháp Linh Thao của thánh Inhaxiô (I). Vả lại, sự biện phân như thế giả thiết sự dấn thân đức tin và sự vận dụng lý trí, có khả năng nhận biết Lời Chúa (II). Sau cùng, tác giả nhìn thấy nơi học thuyết bốn ý nghĩa phương pháp lý trí để đạt tới đó.

Tý Linh chuyển ngữ theo Frédéric Louzeau, « La Parole de Dieu dans la formation sacerdotale », in Nouvelle revue théologique, 131,1 (Janvier-Mars 2009).

clip_image002

Lời Thánh Ngài mãi vọng vang hồn thơ say lặng ngắm

Xuân Thiêng ấy luôn dào dạt trí mọn thỏa cung chiêm.


[1] « Lời Thiên Chúa không bao giờ chỉ hiện diện với chữ viết của bản văn. Muốn đạt tới Lời của Ngài, cần phải có một cuộc vượt qua và một tiến trình hiểu biết, được hướng dẫn bởi chuyển động bên trong của toàn bộ các bản văn, và từ đó, cũng phải trở thành một tiến trình liên hệ đến đời sống » (Verbum Domini, số 38). (chú thích của người dịch).

[2] Xem Tông Huấn Verbum Domini, số 44, trong đó Đức Bênêđictô XVI chỉ ra những sai lầm nguy hiểm của lối tiếp cận Thánh Kinh này. Đối với người kitô hữu, cách thức để trả lời cho khuynh hướng tôn giáo bảo thủ này là « đọc Thánh Kinh trong niềm tin được thực hành từ thời Thượng Cổ trong Truyền Thống của Giáo Hội ». (chú thích của người dịch)

[3] Chẳng hạn xem nhận xét của Đức Bênêđictô XVI liên quan đến sự nghịch lý của những lối tái xây dựng hình ảnh Chúa Giêsu lịch sử : « Khi đọc nhằm so sánh những lối tái hiện này với nhau, người ta phải công nhận rằng chúng phản ảnh các tác giả của chúng và những lý tưởng của họ hơn là làm nổi bật hình ảnh của Chúa Kitô, lúc đó đã trở nên lu mờ» (Jésus de Nazareth, 1. Du baptême dans le Jourdain à la Transfiguration, Paris, Flammarion, 2007, tr.8).

[4] Đức Bênêđictô XVI, trong Tông Huấn Verbum Domini, số 36, đã cảnh giác một lý trí « muốn loại trừ khả năng Lời Thiên Chúa đi vào trong đời sống con người và nói với con người bằng ngôn ngữ của con người ». Chính vì thế, đối với ngài, cần phải « mở rộng phạm vi của lý trí ». Xem thêm số 35, b bàn về lối giải thích trần tục hóa Thánh Kinh (chú thích của người dịch).

[5] Về vấn đề này, chúng ta có thể đọc các trang rất hay của tác phẩm trên đây của Đức Bênêđictô XVI, ibid., tr.55-56.

[6] Phương pháp mà, cách nào đó, thể hiện « sự tổng hợp » của khuynh hướng tôn giáo bảo thủ (nó có lý khi mong muốn Lời Chúa liên kết với nó nhưng sai lầm khi cất bỏ sự trung gian lịch sử và hữu lý của Lời Chúa) và của khuynh hướng duy lý (khuynh hướng này rất có lý khi muốn bảo vệ Thánh Kinh khỏi mọi hiện thân sai lạc của Siêu Việt, nhưng lại còn sai lầm nghiêm trọng hơn khi từ chối thân xác riêng biệt của Chúa Kitô).

[7] Những gì giả thiết tình yêu Chúa Kitô và đời sống cầu nguyện, như Đức Bênêđictô XVI nhắc lại trong một mô tả gần đây dành cho Origène : « Quả thế, đối với ông, dường như việc hiểu biết Thánh Kinh, còn hơn cả việc nghiên cứu, đòi hỏi sự thân mật với Chúa Kitô và đời sống cầu nguyện. Ông xác tín rằng con đường ưu việt để hiểu biết Thiên Chúa, đó là tình yêu, và người ta không thể truyền đạt « scientia Christi » (khoa học về Chúa Kitô) nếu người ta không được tình yêu Ngài đổ đầy. Trong Thư gởi cho Grêgôriô, Origène khuyên nhủ : « Con hãy chuyên tâm đọc Thánh Kinh (lectio des divines Ecritures) ; hãy cố gắng làm việc này cách kiên trì. Hãy dấn thân vào việc đọc (lectio) này với ý hướng tin tưởng và làm đẹp lòng Thiên Chúa. Nếu, trong khi đọc (lectio), con thấy mình đứng trước một cánh cửa đóng kín, thì con hãy gõ cửa, và người giữ cửa mà Chúa Giêsu đã nói đến sẽ mở nó cho con : « Người giữ cửa sẽ mở cửa cho họ ». Chuyên chú vào lectio divina như thế, cách trung thành và bằng một niềm tin bền vững vào Thiên Chúa, con hãy tìm kiếm ý nghĩa của Thánh Kinh, đang che giấu tầm sâu rộng lớn lao của nó. Không được bằng lòng gõ cửa và tìm kiếm : để hiểu những sự thuộc về Thiên Chúa, việc cầu nguyện (oratio) là tuyệt đối cần thiết. Chính để khuyến khích chúng ta cầu nguyện mà Đấng Cứu Độ không chỉ đã nói với chúng ta : « Hãy tìm thì sẽ được » và « Hãy gỡ cửa thì sẽ mở cho », nhưng Ngài còn thêm : « Hãy xin thì sẽ nhận được » » (Lettre à Grégoire, 4) » (Bênêđictô XVI, Doc. Cath. 2382 (2007) 561-562).

[8] Chỉ lấy một ví dụ, có thể đọc lại những dòng bổ ích sau đây của thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu : « Đối với những tâm hồn đơn sơ, không cần dùng những phương thế phức tạp ; như con thuộc về số người này, một sáng nọ đang khi con dâng lời tạ ơn, Chúa Giêsu đã ban cho con một phương thế đơn giản thực hiện sứ mạng của con. Ngài đã cho con hiểu lời này của sách Diễm Ca : « Hãy kéo em theo anh, đôi ta cùng mau bước !» (Dc 1,3). Ôi Chúa Giêsu, bởi thế, thậm chí không cần thiết nói : Khi lôi kéo con, Ngài lôi kéo những người mà con yêu mến. Chỉ cần nói « Hãy lôi kéo con » là đủ rồi. Lạy Chúa, con hiểu, khi một linh hồn để cho hương thơm của Chúa lôi cuốn, thì nó không thể bước đi một mình, tất cả các linh hồn mà nó yêu mến đều được lôi cuốn theo chân nó : điều đó được thực hiện mà không gò bó, vất vả, đó là một hệ quả tự nhiên của việc nó được lôi cuốn đến Chúa » (Manuscrit C, trong Œuvres complètes, Paris, Cerf/ĐB, 1992, tr. 281).

[9] Về vấn đề này, người ta không thể tìm được những lời rõ ràng nào (và theo một nghĩa « duy lý » nào đó) hơn là những lời của thánh Gioan Thánh Giá trong một đoạn văn danh tiếng của cuốn « Lên Núi Carmel » : « Lý trí tự nhiên, lề luật, học thuyết Tin Mừng là hoàn toàn đủ để tự hướng dẫn. Nhờ những phương tiện này, không có khó khăn nào mà không thể được tháo gỡ để làm đẹp lòng Thiên Chúa và vì lợi ích của linh hồn. Thậm chí chúng ta phải gắn bó với lý trí và với học thuyết Tin Mừng đến nỗi nếu đôi khi chúng ta nhận được sự thông ban siêu nhiên nào đó, bất chấp chúng ta hay sự sẵn lòng của chúng ta, thì chúng ta chỉ nên thừa nhận những gì hoàn toàn phù hợp với cái này và với cái kia, và trong trường hợp này, thừa nhận điều đó không phải vì đó là một mạc khải, nhưng bởi vì đó là một điều hợp lý trí, đồng thời để sang một bên những gì là thuần túy mạc khải. Thậm chí lúc đó, cần phải xem xét kỹ càng hơn nhiều phần hợp lý này nếu mạc khải đã không can thiệp. Lý do bởi vì ma quỷ có thói quen loan báo nhiều sự tương lai, vẻ bên ngoài rất thật và rất phù hợp với lý trí, nhằm đánh lừa chúng ta » (La montée du Carmel, II, 21, 4, dans Œuvres complètes, Paris, Cerf, 2004, tr.727).

[10] Cho dầu ơn gọi của thánh Phaolô trên đường Damas rõ ràng trước tiên nằm trong phạm trù của thì thứ nhất (x. Exercices spirituels, số 175), thế nhưng nội dung của nó phải được Kha-na-ni-a vén mở cho ngài bằng một đề nghị dễ hiểu (x. Cvtđ 9,16), là thánh Tông đồ sẽ cho thấy rằng nó được ứng nghiệm theo lời Thánh Kinh (x. Cvtđ 13,47 ; 28,28).

[11] Chắc chắn cũng thế đối với việc chọn lựa một bậc sống. Ba thì mà thánh Inhaxiô phân biệt để đạt tới một sự chọn lựa lành mạnh và tốt lành không phải là và không thể là không thống nhất. Đến nỗi sự biện phân được thực hiện theo thì thứ nhất và thì thứ hai phải luôn luôn, nếu nó là đích thực, có thể được diễn tả theo những lý do có thể được giải thích về mặt lý trí, những lý do mà thường thuộc về thì thứ ba và có thể thông tri cho người thứ ba (chẳng hạn cha linh hướng). Ngược lại, thì thứ hai và thứ ba, mỗi thì theo cách của nó, không có mục đích nào khác hơn là giúp đỡ tĩnh tâm viên phát hiện « chuyển động và sự lôi cuốn » của sự Tự do thần linh (x. Fessard G., La Dialectique des Exercices spirituels de saint Ignace de Loyola, t.1 : Temps-Liberté-Grâce, 1956, tr.70-103).

[12] X. Benoît XVI, Jésus de Nazareth… (đã trích ở chú thích 3), tr. 370 : «  Thoạt tiên, đó chính là phản ánh kinh nghiệm cụ thể của Chúa Giêsu: không phải các kinh sư, tức những người tuyên bố chú tâm đến Thiên Chúa, không phải họ là những người nhận biết Ngài, vì họ bị vướng víu vào sự rối rắm của những kiến thức của họ. Đơn giản nhìn xem cái toàn thể, nhìn xem thực tại của chính Thiên Chúa như nó được mạc khải, điều đó bị ngăn cản đối với họ do tất cả sự hiểu biết của họ đã làm tắc nghẽn tầm nhìn ».

[13] Được bảo vệ ở Phân khoa Dòng Tên ở Paris và ở Trường Cao Học Khoa Học Xã Hội, luận án của chúng tôi sắp được xuất bản tại nhà xuất bản PUF, tháng Tư 2009, dưới tựa đề : « L’anthropologie sociale du Père Gaston Fessard ».

[14] Đức Bênêđictô XVI quy chiếu đến học thuyết bốn ý nghĩa này ngay từ lời nói đầu của cuốn Jésus de Nazareth (2007) của ngài. Ngài làm nổi bật nó như là một phương pháp đã cho phép rút ra từ việc nghiên cứu Thánh Kinh « những chiều kích [khác nhau] của một lời duy nhất vượt khỏi thời gian của nó » (tr. 16), tức là khám phá ra ý nghĩa của nó bên kia « những gì đã có thể lập tức xảy đến nơi ý thức lúc đó của tác giả » (tr. 15), đó là những gì mà phương pháp phê bình-lịch sử, do bởi đối tượng của nó, bị hạn chế vào. Vả lại, tiến trình đọc lại và viết lại (một tiến trình mà giúp tạo nên toàn bộ Thánh Kinh) hẳn đã sẽ không thể khả thi « nếu những khai mở nội tại như thế đã không hiện diện ngay trong lời nói » (tr. 15). Do đó, học thuyết bốn ý nghĩa giải thích toàn bộ Thánh Kinh cách đồng nhất với sự hình thành của nó. Xem thêm bài giáo lý về Origène của buổi tiếp kiến chung ngày 25.04.2007 của Đức Bênêđictô XVI (Doc. Cath. 2382 (2007) 559-561.

[15] Tức là, theo Tông Huấn Verbum Domini, « nghĩa văn tự nói tới các biến cố, nghĩa ẩn dụ nói về những gì phải tin, nghĩa luân lý nói tới những gì phải làm, nghĩa loại suy nói về điều phải hướng tới ». Bốn ý nghĩa này được Tông Huấn tóm lại thành hai ý nghĩa chính : nghĩa văn tựnghĩa thiêng liêng, trong đó nghĩa thiêng liêng « được phân chia thành ba nghĩa, tức nghĩa nói tới các nội dung đức tin, đời sống luân lý và sự vươn tới cánh chung » (số 37). Với Tông Huấn này, Đức Bênêđictô XVI có cơ hội tiếp nối suy tư mà ngài đã thực hiện trong tác phẩm « Đức Giêsu Thành Nadarét » của mình. Đối với ngài, cần phải vượt qua nghĩa văn tự để chuyển sang nghĩa thiêng liêng hầu có thể hiểu và biện phân Lời Chúa cách đúng đắn trong Thánh Kinh. « Chính vì để đạt tới một Lời duy nhất mà chúng ta nhất thiết phải thực hiện cuộc di chuyển này » (Verbum Domini, số 38). Cuộc « vượt qua » này vừa là một hành vi của đức tin (số 25) vừa là một hành vi của sự tự do ý chí (số 38) của con người. Không có cuộc « vượt qua » này, Lời Chúa sẽ mãi chỉ là một bản văn của quá khứ và là một bản văn chết. « Chỉ trong viễn ảnh này, ta mới có thể nhận ra rằng Lời Thiên Chúa vẫn sống động và đang ngỏ lời với mỗi người chúng ta ngay tại đây và lúc này trong đời sống của ta » (số 37). (chú thích của người dịch).

[16] Gaston Fessard, La dialectique des Exercices spirituels de saint Ignace de Loyola, t. III : Symnolisme et historicité, 1984, tr. 398.

[17] Albert Chapelle, Au creux du rocher, Itinéraire spirituel et intellectuel d’un jésuite. Mémorial, coll. Au singulier 9, Bruxelles, Lessius, 2004, 182 trang. (đặc biệt các trang 116-128).

[18] X. Gaston Fessard, ibid., tr. 398.

[19] Ibid., tr.402.

%d bloggers like this: