NHƯ MỘT KỶ NIỆM 2011: LINH MỤC GIÁO PHẬN : MỘT NGƯỜI CỦA DÂN CHÚNG !

LINH MỤC GIÁO PHẬN :

MỘT NGƯỜI CỦA DÂN CHÚNG !

 Cách đây hơn năm rưỡi, dịp bế mạc Năm Linh Mục, có một ‘diễn đàn mở’ của Đức Thánh Cha vào buổi tối tại Quảng Trường Thánh Phêrô, với sự hiện diện của hàng chục ngàn linh mục từ khắp nơi trên thế giới qui tụ về. Câu hỏi đầu tiên là của một cha sở đến từ Brazil, nêu ra nỗi khó của các cha sở hôm nay trước trăm công ngàn việc. Vị giáo hoàng – dù sơ yếu lý lịch của ngài cho thấy hình như chưa bao giờ làm cha sở – đã tỏ ra rất cảm thông khi ngài thẳng thắn nhìn nhận rằng “làm cha sở ngày nay thật là khó.”

Cái ‘khó’ ở đây, trong hàm ý của cả người hỏi và người trả lời, trước hết gắn liền với khối lượng công việc ngày càng bề bộn đặt trên vai các cha sở, nhất là ở những xứ cựu trào Kitô giáo. Tình trạng thiếu linh mục buộc các địa bàn giáo xứ phải phình ra. Bốn, năm, hay có khi cả chục giáo xứ gộp thành một. Nhiều trường hợp không gộp được, thì xẻ cha sở ra làm hai, làm ba, làm bảy… để cùng lúc ngài phục vụ nhiều giáo xứ. Đàng khác, giáo xứ chẳng còn toàn tòng nữa. Ngay cả nhiều gia đình trong giáo xứ cũng không toàn tòng. Nhà thờ, nhà xứ, cha sở thời trước vốn là biểu tượng tinh thần cho cả một vùng dân cư, thì ngày nay lọt thỏm ở đâu đó giữa một thế giới và cuộc sống rất là lãnh đạm với đức tin, một thế giới thậm chí có nhiều yếu tố công khai đối nghịch lại Tin Mừng, một thế giới không ngừng dồn thêm gánh nặng lên vai các cha sở song lại không còn ngoan ngoãn ‘ăn nhời’ các “đấng làm thầy” như trong thuở vàng son nào đó đã qua rồi. Làm cha sở ngày nay quả thật là khó!

Đó là nói cái ‘khó’ theo một khía cạnh, khía cạnh công việc. Cái khó này là thực tế đang diễn ra hằng ngày ở Nam Mỹ, Bắc Mỹ, Châu Âu. Ở Việt Nam mình, tạ ơn Chúa, tình hình chưa căng như thế, ít là cho tới hôm nay. Đành rằng những hệ lụy của xã hội toàn cầu hóa hiện đại cũng đang đặt ra cho các cha sở Việt Nam ngày nay bao loại thách đố mục vụ rất mới, song đáng mừng là các đại chủng viện vẫn đang đầy kín, các lễ truyền chức vẫn đều đặn diễn ra tại các giáo phận. Khách quan mà nói, ngoại trừ vài giáo phận phía cực bắc và giáo phận Kontum ở cao nguyên miền trung, thì Giáo Hội ở Việt Nam hiện không bị áp lực nhiều lắm về nhân sự linh mục mục vụ giáo xứ. Tại một số giáo phận, bình quân mỗi linh mục hiện đang săn sóc chừng 400 hay 500 giáo dân. Một tỉ lệ ‘nằm mơ’ đối với người ta ở bao nơi khác!

Tình hình là như vậy, song câu hỏi vẫn mè nheo: Làm cha sở ở xứ mình phải chăng không khó ? Chắc là sẽ thú vị lắm, nếu dùng câu hỏi này mở một cuộc thăm dò hai nhóm đối tượng có thẩm quyền nhất để trả lời nó – một là, hỏi chính các cha sở (và các cha phó nữa), hai là, hỏi bà con giáo dân. Bao nhiêu phần trăm sẽ nói “khó”, và bao nhiêu phần trăm sẽ bảo rằng “không khó” đây ? Và tại sao “khó” hay tại sao “không khó”? Dù kết quả cuộc thăm dò ấy thế nào đi nữa, một điều chắc chắn là khi trả lời, nhiều người sẽ qui chiếu đến các khía cạnh khác nữa trong đời sống của một linh mục giáo phận, chứ không duy chỉ nghĩ đến có một chuyện là khối lượng công việc ít hay nhiều. Vấn đề không chỉ là – và không chủ yếu là – vấn đề áp lực công việc. Thật vậy, khoảng bốn chục năm trở lại đây, người ta nghe nói nhỏ nói to đó đây về những “khủng hoảng trong hàng linh mục,” song thực sự chưa bao giờ và chưa nơi nào xảy ra loại khủng hoảng trong đó hàng loạt linh mục ‘cháy máy’ (burnt out) hay ‘chạy làng’ vì công việc cả. Khủng hoảng, như đã xảy ra, là những khủng hoảng sâu xa hơn nhiều – chẳng hạn, khủng hoảng về căn tính (như làn sóng ‘hồi tục’ hồi cuối thập niên 1960, thập niên 1970), khủng hoảng về nhân cách, về đạo đức (như những ồn ào mới đây ở Mỹ, rồi ở Ai-len, và nhiều nơi khác)…

Chính vì vậy, liền sau khi nhìn nhận “làm cha sở ngày nay thật là khó,” Đức Thánh Cha cũng nhìn nhận và biết ơn “rất nhiều cha sở ở khắp nơi trên thế giới hôm nay đang dốc hết sức mình để loan báo Tin Mừng và để giúp cho người ta cảm nhận được sự hiện diện của Chúa.” Ngài thừa nhận rằng “chúng ta không thể làm hết tất cả những việc mà mình cần phải làm, vì sức chúng ta có hạn, và vì các hoàn cảnh khó khăn trong xã hội ngày càng đa diện và phức tạp hôm nay.” Đức Thánh Cha cũng xác quyết rằng điều quan trọng tiên vàn là anh chị em giáo dân không nhìn cha sở chỉ như ai đó làm một nghề, có những giờ làm việc, rồi cũng có những thời gian tự do để sống chỉ cho bản thân mình. Không, người tín hữu phải nhìn thấy được nơi cha sở là “một con người say mê Đức Kitô, một con người mang nơi mình ngọn lửa tình yêu của chính Đức Kitô.”

Đức Bênêđictô XVI vốn đặc biệt nhấn mạnh niềm vui trong đời linh mục. Suốt mấy chục năm trời, khi suy niệm, chia sẻ hay giảng dạy về đời sống linh mục, ngài luôn nêu bật khía cạnh niềm vui như một chìa khóa, một thứ bí quyết  – [trên trang xuanbichvietnam chúng tôi đã từng có bài điểm sách “Servitori della vostra gioia” của ngài]. Ở đây, đề cập đến nỗi khó của các cha sở, ngài lại một lần nữa có dịp nhấn mạnh đến chiếc chìa khóa “niềm vui” ấy. Ngài nói: “Nếu anh chị em giáo dân nhìn thấy cha sở đầy niềm vui của Chúa, họ sẽ thông cảm khi cha sở không thể làm hết mọi việc, họ chấp nhận những giới hạn của ngài và họ sẽ giúp ngài.” Và Đức Thánh Cha nói tiếp: “Tôi cho rằng điều quan trọng nhất là người ta phải thấy và cảm nhận được rằng cha sở mình thực sự xác tín ngài được Chúa kêu gọi và đầy tràn tình yêu của Chúa, đầy tràn niềm vui của Tin Mừng. Sau đó mới là chuyện chọn lựa, chuyện thiết lập thứ tự ưu tiên các công việc, chuyện ấn định có thể làm việc gì và đến mức nào…”

Vậy thì, làm cha sở không chỉ khó hôm nay, mà thời nào cũng khó vậy thôi. Bởi tình yêu ấy, niềm vui ấy luôn là cái gì thách đố tận trong sâu thẳm con người của cha sở, chứ không chỉ là vấn đề thời khóa biểu hay vấn đề kỹ năng làm việc này việc nọ. Đức Bênêđictô XVI, trong Thông Điệp “Thiên Chúa là Tình Yêu,” từng cảnh giác cách riêng đối với ‘chủ nghĩa hoạt động’ (activism) và tinh thần duy thế tục ngày càng tăng thậm chí nơi nhiều Kitô hữu làm việc trong lãnh vực từ thiện xã hội ; và ngài khẳng định rằng cần phải ý thức lại tầm quan trọng của cầu nguyện. Vị tiền nhiệm của ngài, Chân Phước Gioan Phaolô II, thì từng có một ghi nhận nhức nhối: “Ngày nay nhiều linh mục đắm chìm trong các ‘công việc của Chúa’ mà lại quên mất Chúa của các công việc!

Nói cho cùng, cha sở bận tâm nhiều đến công việc thuộc sứ vụ của ngài là điều hoàn toàn chính đáng. Cũng hoàn toàn chính đáng khi người ta nghĩ đến cha sở thì đồng thời nghĩ đến công việc sứ vụ của ngài. Bởi ngài đã được thánh hiến cho sứ mạng. Bởi ơn gọi của ngài là người phục vụ. Bởi ngài là người được sai đến với dân chúng, một người của dân chúng. Và nhất là, bởi vì ngài có nên thánh hay không, nên thánh ít hay nhiều, tùy ở cung cách ngài đảm nhận sứ vụ “một người của dân chúng” ấy. Đó là nét làm nên đặc điểm riêng trong ơn gọi của các cha sở, hay nói chung trong ơn gọi của các linh mục giáo phận, trong phân biệt với ơn gọi của – chẳng hạn – một tu sĩ.

Câu chuyện của Cha Jean-Jacques Olier, vị sáng lập Hội Các Linh Mục Xuân Bích, là một ví dụ thú vị. Ban đầu Olier nghĩ mình sẽ trở thành một tu sĩ, song rồi rất nhanh chóng Olier nhận ra ơn gọi của mình là trở thành một linh mục triều. Cuộc đời Olier, trước và sau khi làm linh mục, có vài cơn khủng hoảng, trong đó cơn khủng hoảng nặng nề nhất xảy ra khi Olier còn là một linh mục trẻ, mới chịu chức được sáu năm. Đang hăng say và đầy cảm hứng trong sứ mạng, bỗng dưng ngài bị suy sụp tinh thần trầm trọng. Mọi sự bỗng trở nên quá khó với ngài: khó giảng thuyết, khó giải tội, ngay cả khó cầu nguyện. Có vẻ như tất cả đều bỏ ngài, kể cả Thiên Chúa. Những lời khuyên của những người xung quanh chỉ khiến ngài thêm ngột ngạt, nặng nề. Hầu như mọi điểm tựa đều đổ vỡ. Trong cái đêm tối mịt mùng ấy Olier chỉ còn lại duy nhất một điều thôi, đó là nơi sâu thẳm tâm hồn mình ngài vẫn còn nguyên mối khắc khoải quan tâm đến dân chúng, đến những người được trao cho sự săn sóc của ngài. Nghĩa là, Thiên Chúa dường như cũng ‘mất’, chỉ còn lại các linh hồn thôi ! Và chính mối quan tâm còn lại này đã là điểm tựa để Olier vượt qua khủng hoảng, đi vào một kinh nghiệm sâu xa về Thiên Chúa, về chính mình, và mặc lấy một nhiệt tình dấn thân mới mẻ vào sứ mạng.

Một cha sở, hay nói chung một linh mục giáo phận, là một người của dân chúng. Ngài là một người của dân chúng được chọn riêng ra để thánh hiến và được sai trở lại với dân chúng. Vì thế ngài trở thành ‘một-người-của-dân-chúng’ trong tư cách ‘một-người-của-Thiên-Chúa’, như Đức Kitô. Hay có thể nói, ngài là hiện thân của Đức Kitô, một người của Thiên Chúa đang làm công việc của Thiên Chúa ở giữa dân chúng và cho dân chúng. Dân chúng phải nhìn thấy được Đức Kitô nơi ngài, và Đức Kitô phải gặp được dân chúng qua ngài. Hiện hữu của ngài là một hiện hữu lưỡng phân, như Đức Kitô, Đấng thuộc về Cha trăm phần trăm, và cũng thuộc về chúng ta trăm phần trăm. Linh mục phải thường xuyên ở trong mối căng thẳng, và mối căng thẳng này làm cho ngài trở thành “mầu nhiệm”, vì ngài “sống trong hai thế giới” – theo cách diễn tả của Đức Cố Tổng Giám Mục Fulton J. Sheen.

Xin cho tất cả chúng ta, những người đang hướng tới hay đang sống đời linh mục giáo phận, có đủ tình yêu và sự quảng đại, để sống hết mình mối căng thẳng ấy, một mối căng thẳng tuy khó nhưng cũng rất vui và rất đáng (thánh) giá !

  THIÊN PHONG

   (30.10.2011)

Advertisements
%d bloggers like this: