NHƯ MỘT KỶ NIỆM 2011: TƯỞNG NHỚ CHA DANIEL BOUIS, LINH MỤC XUÂN BÍCH

TƯỞNG NHỚ CHA DANIEL BOUIS,

LINH MỤC XUÂN BÍCH

Cha Pierre Gastine, người bạn đồng liêu, đồng hội, đồng thuyền đã viết về cái chết và đức hạnh của cha Daniel Bouis. Nhân lễ Giỗ Tổ Xuân Bích năm nay, xin cống hiến bài này để “như một kỷ niệm”, một nén hương tỏ lòng tri ân đối với các linh mục Xuân Bích nói chung, với cha Daniel Bouis nói riêng, là những vị thầy đã cống hiến cuộc đời cho sự nghiệp đào tạo linh mục tại đại chủng viện Liễu Giai, Hà Nội, trong thập niên 30-50 của thế kỷ XX.

clip_image002(Cha Daniel Bouis sinh năm 1907, chịu chức linh mục năm 1931. Tiếp đó, cha du học tại Roma (1931-1933). Mãn khóa, cha nhận bài sai đến dạy tại đại chủng viện Xuân Bích Liễu Giai, Hà Nội).

Ngày 22.10.1933, cha đặt chân tới Hà Nội trên chuyến tàu viễn dương cùng với các linh mục hội Thừa sai Hải Ngoại Ba Lê. Khi đến Việt Nam, hành trang của cha gói ghém chút vốn liếng tiếng Việt, nhờ trong hai năm ở Roma đã được một thầy Việt nam tại trường Truyền giáo truyền lại.

Trong ba bốn tháng đầu, cha ở tại chủng viện Liễu Giai. Hai năm kế tiếp, cha đến giáo xứ Kẻ Bạc (?) cách chủng viện khoảng 9 cây số, vừa học ngôn ngữ và tập tục, vừa tham gia mục vụ giải tội và giảng lễ. Mỗi thứ bảy, cha trở về chủng viện thăm anh em và làm linh hướng cho các chủng sinh.

Không lâu sau, cha có thể giảng trôi chảy tiếng việt, như trong hai cuộc tĩnh tâm cuối niên học 1934 và đầu niên học 1935 cho các chủng sinh.

Tháng 9.1935, cha về ở chủng viện và bắt đầu giảng dạy môn thần học tín lý, đồng thời phụ trách phụng vụ.

Trong đệ II thế chiến, là linh mục nhưng cũng là công dân Pháp, cha bị động viên hai lần, 5 tháng và 8 tháng. Vì bị điều đi xa Hà nội, có lúc sang tận Thái Lan, cha phải tạm ngưng việc dạy học ở chủng viện. Cha được tiếng là người bình tĩnh và gan dạ. Tháng 9.1941 đến tháng 10.1945, cha lại trở về chủng viện, tiếp tục giảng dạy. Khi chủng viện Liễu Giai tạm ngưng hoạt động, cha sang Vân Nam Phủ (Côn Minh hiện nay) giúp các đồng nghiệp Xuân Bích tại đó một thời gian. Cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ngay hôm ấy, 19.12.1946, cùng với năm cha Xuân Bích Pháp ở chủng viện, cha bị đưa lên Tuyên Quang, khởi sự con đường thánh giá và cũng là đỉnh đồi Can-vê của cha.

Quãng đời còn lại rất vắn vỏi, chỉ nhỉnh hơn một năm (19.12.1946 – 02.01.1948), trong đó cha liên tiếp bị những cơn sốt rét hành hạ, quật ngã. Xen giữa là những ngày ít ỏi tạm gọi là mạnh khỏe. Những người ở cạnh cha rất ngạc nhiên khi thấy sau cơn sốt rét, cha ra sức làm việc không ngơi nghỉ. Những lúc ấy, cha tận dụng hai ba cuốn sách còn sót lại hoặc cơ hội tiếp xúc với người bản xứ để học thêm tiếng việt. Mỗi lần di chuyển đến một nơi ở mới, cha tích cực sắp xếp chỗ ở tươm tất, ngăn nắp, hoặc sáng chế các dụng cụ bằng những vật liệu có trong tầm tay, như dùng ống tre để dẫn nước vào nhà, làm ghế đẩu, ghế dài, làm các hộp, ống đựng đồ đủ cỡ, làm cả lịch “vĩnh cửu”. Công việc cuối cùng cha đang làm dang dở, là chế tạo một cái “đồng hồ” giúp nhận biết giờ giấc ban đêm, nhờ vào vị trí của các ngôi sao trên trời.

Cha đặc biệt yêu thích thiên nhiên đến nỗi có thể phân biệt rạch ròi từng loại tre nứa, dây leo, hoa trái mọc trong rừng rậm. Cha ngủ rất ít, thậm chí không đủ ; ba rưỡi, bốn giờ sáng đã thức dậy, ngồi nguyện gẫm lâu giờ trên giường, hoặc khoác tấm mền đi đi lại lại ngoài trời mà cầu nguyện.

Ngày 11.5.1947, khi ở Tiên Phù, một làng nhỏ cách Phú Thọ vài cây số, cha bắt đầu bị sốt rét, phải nằm suốt cả ngày. Sáng hôm sau, đang khi dâng thánh lễ, cha phải ngưng một hồi lâu, vì cơn sốt rét tấn công và bắt cha liệt giường suốt hai ngày. Đã vậy, chỉ một ngày sau, người ta lại di chuyển các cha đến một nơi ở mới.

Khi đến Dany (?), một làng cách Tuyên Quang 18 cây số về phía đông nam, cha Bouis lại lên cơn sốt rét, lần này dai dẳng và nặng hơn. Suốt 9 ngày trời, mỗi ngày vào cũng một cữ: lạnh, run rẩy, nôn mửa, xuất hạn dầm dề và mệt rũ người. Để chống trả thì chỉ có vài viên ký ninh. Sau đó là giai đoạn bình ổn mà cha Bouis lấy lại sức lực được ngay và ăn uống thấy ngon miệng.

Ba tuần sau, thêm một đợt sốt rét khác. Mỗi ngày một lần, nhưng chỉ trong 3, 4 ngày rồi thôi. Sau đó là thời gian yên ổn được 20-25 ngày. Dù thiếu thốn thuốc men, tình trạng vẫn chưa đến nỗi đáng lo, vì chúng tôi thấy cha Bouis bình phục rất nhanh.

Ngày 17 tháng 10 năm 1947, người ta đưa chúng tôi từ Oang (?) đển một ngôi làng gọi là Khuon-Cossé (?) ở cách xa 16 cây số, và trong khi chờ dựng nhà, chúng tôi tạm trú một gia đình người Mán. Trong 3 tuần lễ liền, không thấy cha bị bệnh. Trời nắng ráo cả ngày, thuận tiện để đi dạo và tắm sông thỏa thích. Cha Bouis thích lặn tìm những hòn cuội đẹp. Thế rồi vào ngày 5 và 6 tháng 11, cha lại bị sốt rét, bỏ ăn vài ngày, rồi cũng bình phục.

Ngày 20 tháng 11, chúng tôi về nhà mới. Hôm sau, nhằm ngày 21 tháng 11, lễ Đức Mẹ dâng mình trong đền thờ, cha bề trên làm phép nhà mới, và sau bài hát “Quam pulchre graditur”, chúng tôi lập lại lời hứa giáo sĩ. Như thường lệ, cha Bouis lo việc hát xướng, nhưng sau đó cha thú nhận bị mệt, ăn không ngon lành. Những cơn sốt rét lần này làm cha nôn mửa hết chút gì ăn vào. Sức lực cha sút giảm trông thấy, khiến chúng tôi lo ngại thật sự, vì lần này không giống các lần trước.

Vào cuối tháng 11, những đợt sốt rét ngày càng gia tăng cường độ, dẫn đến tình trạng hôn mê. Chiều ngày 1 tháng 12, mạch của cha đập rất nhanh, trán nóng hầm hập. Cha Paliard nghĩ đã đến lúc phải xức dầu, và ngài xin cha Bouis phó dâng linh hồn. Người anh em của chúng tôi có lẽ ý thức được điều này, nên bập bẹ vài lời rồi lại rơi vào hôn mê. Cha Paliard đọc lời tha tội, còn tôi thì đưa tượng chuộc tội cho cha hôn. Tối hôm đó, mạch của cha vẫn còn nhanh, những mạnh hơn, tóm lại là chưa đến nỗi trầm trọng.

Ngày hôm sau, vào quãng 4 giờ chiều, viên y tá mà chúng tôi mời từ chiều hôm trước hay hôm trước nữa mới đến. Ông ở lại hai ba ngày, săn sóc cha Bouis rất tận tình và tỏ ra có nghiệp vụ. Khi được chăm sóc, cha Bouis khẽ nở nụ cười, như muốn nói mình vẫn biết những gì xảy ra.

Ngày 4 tháng 12, cơn sốt rét rút lui một cách bất ngờ, nhưng chỉ được vài ngày. Người anh em chúng tôi tỏ ra tỉnh táo và nói năng bình thường, nhưng rất yếu, chỉ ăn được chút chút.

Ngày 11 tháng 12, lễ bổn mạng của cha, thực đơn khá hơn một tí làm cho cha cảm thấy ngon miệng, nhưng cha còn yếu lắm. Dù rất muốn, cha không thể đọc sách nguyện nổi. Tình trạng của cha lúc này nói được là không nguy tử, nhưng rất yếu, kéo dài chừng 12 ngày, rồi cơn sốt rét lại xuất hiện. Dù không có biểu hiện gì dữ dội như những lần sốt rét đầu tiên, nhưng cũng đủ làm cha quỵ ngã. Sau khi cơn sốt rét dịu đi, cha cố gượng ngồi dậy, nhờ chúng tôi dìu cha đến ghế ngồi sưởi nắng. Chúng tôi lo ngại khi thấy cha lại bị sốt, nên mời ông y tá đến lần nữa xem sao. Ngày 31 tháng 12, khi y tá đến, cha Bouis ở trong tình trạng giống hệt như hồi đầu tháng 12, hay bị sốt cao, mạch đập nhanh, và hầu như không mấy lúc tỉnh táo. Viên y tá hết sức làm cho cha hạ sốt, nhưng không hiệu quả, cha rơi vào hôn mê, co giật các chi, tình trạng này kéo dài suốt hai ngày mùng 1 và 2 tháng giêng.

clip_image004

Các cha Xuân Bích ĐCV Liễu Giai và Côn Minh (21.10.1934)

(hàng sau) Gastine – Uzureau – Bouis

(hàng trước) Stutz – Grignon – Paliard – Raison

Khoảng 7 giờ tối ngày mùng 2 tháng giêng năm 1948, các cơn cơn co giật không còn, cha nằm nghiêng, hơi thở dồn dập và khò khè, hình như cha không còn biết đau đớn nữa, và đến 8 giờ, cha tắt thở. Sau khi cha Paliard đọc lời xá giải một lần nữa, chúng tôi tiến hành việc tẩm liệm : mặc áo dòng cho cha và xếp chéo tay cha trên ngực, rồi đọc kinh nhật tụng cầu cho người qua đời. Lúc này, cha Uzureau không biết điều gì đang xảy ra, còn hai cha Carret và Courtois thì không thể dậy nổi vì bị sốt rét làm cho rã rời.

Dân trong làng đã ghép những miếng ván dầy và cứng có thể tồn tại lâu để làm quan tài cho cha. Huyệt mộ được đào cạnh một giòng suối, dưới một vòm lá rậm rạp, xanh um, nơi cha Bouis đã nhiều lần đến ngồi đọc sách và cầu nguyện.

Hiện diện lúc an táng có chính quyền địa phương, viên an ninh canh gác chúng tôi và gia đình người nấu bếp. Trong năm anh em, chỉ cha Paliard và tôi có mặt, cha Uzureau vẫn còn chưa biết điều gì xảy ra và hai cha kia thì quá yếu mệt. Sau khi cầu nguyện cho người quá cố, tôi nói đôi lời cảm ơn những người tham dự, và mượn câu ngạn ngữ trung hoa “Sinh ký, tử qui” để nói lên niềm tin và hy vọng rằng cha Bouis sẽ được Chúa ban thưởng ở đời sau.

(Thời gian qua đi, qua đi, hoài niệm về cha Bouis có chăng chỉ còn đọng lại trong tâm tưởng vài linh mục hoặc cựu chủng sinh còn sót lại của thập niên 30-40 thế kỷ trước.

Vào năm nào không rõ, có một nhóm thanh niên công giáo Thái Bình đi dân công ở Tuyên Quang được dân địa phương người Mán chỉ cho phần mộ của cha, nằm trong khu qui hoạch làm đường, họ đã âm thầm cải táng cha về Thái Bình. Hiện nay, cha an nghỉ dưới bóng thánh đường giáo xứ Cát Đàm, cạnh chủng viện Mỹ Đức, giáo phận Thái Bình.

clip_image006“Hồn thiêng réo gọi”, phải chăng sự hiện diện thầm lặng của cha bên cạnh chủng viện Mỹ Đức đã thôi thúc vị Bản quyền của giáo phận Thái Bình, Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Đệ, để khi tái lập chủng viện giáo phận, đã nghĩ đến hội Linh mục Xuân Bích, và mời hội góp phần đào tạo linh mục cho giáo phận ngài? Đáp lời mời, hai cha Đaminh Trần Thái Hiệp và Micae-Phaolô Trần Minh Huy đã được gởi đến chủng viện Mỹ Đức, Thái Bình vào đầu niên khóa 2011-2012 này. Hẳn từ thiên đàng, cha Daniel Bouis đang mỉm cười mãn nguyện và cầu xin Chúa chúc phúc cho sứ mạng của hội).

 

*

* *

(Sau khi thuật lại cái chết thương đau của cha Bouis, cha Gastine đã ghi lại một vài nét đức hạnh của ngài, qua đó chúng ta có thể học được một vài gương sáng)

– Ý muốn cầu toàn trong công việc. Cha Bouis không chấp nhận một công việc dở dang, dấu chỉ của sự khinh xuất. Lòng yêu thích trật tự thể hiện ngay trong trang phục cha mặc, rất giản dị, nhưng không dính một vết nhơ cỏn con, một vết rách bé xíu trên áo quần. Phòng của cha toát ra sự ngăn nắp, sạch sẽ. Chữ viết thẳng nét, rõ ràng. Chu toàn bổn phận cách kỹ lưỡng là yếu tố làm nên sự thành công trong việc giảng dạy và linh hướng của cha. Cha chuẩn bị bài vở chu đáo, với văn phong la ngữ đơn giản và trôi chảy, cha soạn nên những bản tóm rõ ràng, nêu bật những ý chính của bài học. Khi cắt nghĩa, cha không tùy hứng, mà soạn trước, ít là lúc ban đầu. Các học trò đều cảm nhận sự trong sáng, dễ hiểu, chính xác, la ngữ trôi chảy, là những nét nổi bật trong cách giảng dạy của cha. Còn về việc linh hướng, những ai thụ hướng với cha đều hay nhái lại kiểu nói “chà chà”, gợi lên ý tưởng về sự an tâm, chính xác vào một nhận định hay quyết định đã được cha suy xét kỹ lưỡng và bây giờ trao đổi với họ bằng những từ ngữ chắc nịch và đúng đắn. Những lời khuyên trong tòa giải tội cũng mang tính chính xác : không hoa mỹ, nhưng xoáy vào tâm tư và đọng lại lâu ngày trong tâm hồn hối nhân. Việc chuẩn bị chu đáo kết hợp với văn phong nhẹ nhàng và sự am tường hoàn cảnh khiến cho chủng sinh thích thú các bài giảng của cha. Họ không ngớt lời khen những bài giảng của cha về sự chết, sự thành thật và đức vâng phục.

– Tính trật tự cùng với sự chính xác đã đánh động những ai tiếp cận cha Bouis. Cần phải thân tín mới có thể nhận ra cha là người giàu cảm xúc. Đàng sau vẻ nghiêm nghị của cha là cả một trái tim tinh tế và một tính tình vui vẻ. Các người thụ hướng được ngài yêu quý hơn các chủng sinh khác, nhưng tất cả, kể cả những ai hãi ngài từ xa, đều nhanh chóng bị tính hài hước của ngài chinh phục.

– Anh em Xuân Bích là những người được hưởng các phẩm chất tâm hồn của cha trong lúc giải trí, đặc biệt trong kỳ hè, khi mà cuộc sống cộng đoàn dễ thân tình hơn. Cha Bouis với tính vui vẻ, hài hước, thường có những tràng cười rất to, dòn dã không dứt đi theo các mẩu chuyện khôi hài. Hơn hết là tinh thần phục vụ của cha. Trong thời gian được tự do, ở chủng viện, cha thích thú đem sự khéo tay và óc thực tế phục vụ cộng đoàn và anh em. Nhưng nhất là trong thời kỳ bị quản thúc, cha đã có cơ hội trổ hết khả năng của một người tận tụy và khéo tay. Chúng tôi thích thú ngắm bàn tay với những ngón dài thon thả của cha lướt trên những mảnh gỗ hay tre, với một con dao nhỏ hay một cái rựa, để rồi “chiềng làng” một kiệt tác.

– Tôi cũng thấy cần phải nói thêm về sự khiêm tốn của cha, vốn không thích “nổ” về chính mình, phải thúc đẩy ghê lắm cha mới chịu nhận một công tác bất thường. Chẳng hạn năm 1945, giữa hai cuộc đảo chánh của Nhật và cướp chính quyền của Việt Minh, các cha dòng Đa-minh ở Hà Nội tổ chức những buổi hội thảo về tín lý cho nhóm giáo hữu trí thức người Âu. Chúng tôi phải thúc mãi cha mới hết dè dặt để nhận lời góp mặt vào các cuộc hội thảo này.

Khi cha Bouis vừa đến Hà Nội, chỉ sau tôi một ít lâu, đức cha Gendreau đã đặt tên việt cho cha là CẨN. Tên cha cùng với tên tôi, TÍN, hợp thành từ “Tín-Cẩn”, thường để chỉ người, do sự cẩn thận, sự chu đáo tận tình, đáng được tín nhiệm. Đức cha không ngờ rằng ngài đã chọn một tên rất thích hợp với cá tính và con người của cha Bouis.

(Dịch bài : “Notes sur la vie du Père Daniel Bouis” ; “Notes sur le caractère du Père Daniel Bouis” của cha P. Gastine, phần bổ túc thêm được in nghiêng, để trong ngoặc đơn. Xin cám ơn cha P. Phan Tấn Khánh, François Bouyer và Jean Longère đã cung cấp tư liệu và hình ảnh).

Lm. Anphong Nguyễn Hữu Long, pss

Advertisements
%d bloggers like this: