HỌC HỎI THÁNH PHAOLÔ (8): CẦU NGUYỆN

Lm Dubreuil

Lourdes 2010

Bài 7

 CẦU NGUYỆN

 Ba ngày ròng rã Phao-lô chịu sống trong tăm tối, dìm mình trong mù lòa, là kinh nghiệm cay đắng, một thử thách, với chay tịnh mà ông muốn thực hành để chuẩn bị cho mình một việc sắp tới.  Thời gian nầy, bên ngoài xem ra như chết lặng, lại đã mang đến sự sống; một cách nhiệm mầu, sự sống mới đang nẩy mầm.  Chúng ta biết được việc nầy qua điều Đức Chúa nói với Kha-na-nia-a trong thị kiến, con người nầy được sai đến trước Phao-lô để mặc khải cho ông sứ vụ của ông và, một cách nào đó, đem lại cho ông sự sống nhơn danh Đức Chúa.  Kha-na-ni-a đã phải sống sự hoán cải để chấp nhận làm việc nầy, ông dấn thân với sự sợ hãi, run rẫy và bị ép buộc.  Hãy đọc lời Đức Chúa nói với Kha-na-ni-a: “10 Bấy giờ ở Đa-mát có một môn đệ tên là Kha-na-ni-a. Trong một thị kiến, Chúa phán với ông: ”Kha-na-ni-a!” Ông thưa: ”Dạ, lạy Chúa, con đây.” 11 Chúa bảo ông: ”Đứng lên, đi tới phố gọi là Phố Thẳng, đến nhà Giu-đa tìm một người tên là Sao-lô quê ở Tác-xô: người ấy đang cầu nguyện 12 và thấy một người tên là Kha-na-ni-a đi vào, đặt tay trên mình để làm cho mình lại thấy được” (Cv 9, 10-12).

 Chúng ta được biết cùng với Kha-na-ni-a từ miệng Đức Chúa, rằng người mù nầy, lả đi, đuối sức vì tự mình ăn chay, không ở trong thế bị động: “Ông đang cầu nguyện”; điều nầy có ý nghĩa hoàn toàn khác với tình trạng có phần “yếu đi” mà ông rơi vào và nhấn mạnh đến khía cạnh “chờ đợi” của thời chuyển tiếp nầy.  Thị kiến chuẩn nhận rằng, trong thời gian cầu nguyện nầy” Phao-lô đã có thị kiến và ông nghe nói đến một người tên là Kha-na-ni-a sẽ đến thăm ông, đặt tay trên ông và làm cho ông sáng mắt.  Người ấy, cho đến lúc đó, không được nói tên, mà tiếng nói trên đường chỉ nói vắn gọn: “Người ta sẽ nói cho anh điều anh phải làm”, xuất hiện và được loan báo.  Đó là dấu chỉ của sự khai mào được Phao-lô đón tiếp nồng nhiệt trong tình trạng cầu nguyện,  Điểm ghi chú nhỏ nầy mời gọi chúng ta tìm hiểu kỹ hơn sự cầu nguyện của tông đồ Phao-lô và tìm hiểu làm sao sự cầu nguyện nầy phục hoạt, gợi hứng cho sự cầu nguyện của chúng ta.  Nêu lên cầu nguyện làm chúng ta ở lại trong truyền thống Do thái (mà người Hồi giáo và cả chúng ta nữa tham gia vào)  kết hợp chay tịnh, cầu nguyện và bố thí, nhấn mạnh rằng chay tịnh chuẩn bị dọn chỗ cho Đức Chúa; chay tịnh cũng cho phép quay nhìn về tha nhân và chia sẻ cho họ quà tặng, là những gì mình đã kiêng khem.

 Phao-lô xuất hiện như con người cầu nguyện.  Trong các Thư của Phao-lô, rải rác chỗ nầy chỗ kia các lời cầu nguyện.  Phao-lô bước đi trên con đường ngay thẳng của Kinh Thánh, của Cựu Ước và Tân Ước: trong Kinh Thánh có nhiều lời cầu nguyện; Sách các Thánh vịnh hoàn toàn là sách cầu nguyện, nơi mà lịch sử của Dân và lịch sử cá nhân, được doãn lại dưới dạng thức cầu nguyện.  Trong sách các Thánh vịnh, Lời Chúa được mặc khải cho chúng ta biết rằng Đức Chúa ngỏ lời với chúng ta, cổ vũ chúng ta lời đáp trả, đó là lời cầu nguyện, mà chính tựa đề của sách gợi lên.  Các Thánh vịnh không ngừng dưỡng nuôi đời sống cầu nguyện nơi các môn đệ của Chúa Giê-su.  Trong hai sách Tin Mừng Lu-ca và Mát-thêu nói về thời thơ ấu và việc giáng sinh của Chúa Giê-su, thật ngạc nhiên khi nhận xét rằng cầu nguyện rất hiện diện nơi những con người chờ đợi điều mới lạ, mong đợi ơn giải phóng: đó là bài ca “Magnificat” của Đức Maria, bài ca “Benedictus” của Da-ca-ri-a, bài ca “Nunc dimitis” của Si-mê-ôn; những ca khúc nầy hoàn toàn được lấy từ các Thánh vịnh.  Những nhân vật xướng lên các bài ca đó tự nhận lấy cho mình lời kinh trong các Thánh vịnh và lấy đó làm của riêng mình, theo hoàn cảnh sống của họ và theo những biến cố mà họ gặp phải.  Tin Mừng dưới dạng kinh nguyện.  Trong việc tông đồ mà Phao-lô dấn thân theo sau tiếng gọi đã nhận được trên đường Đa-mát, thật không lấy gì làm ngạc nhiên khi kinh nguyện hiện diện ngay từ ban đầu.

 Nội dung của lời cầu nguyện đó thế nào, đã không được viết lại.  Người ta có thể suy đoán ra mà không phản lại sự thật, rằng lời cầu nguyện đó hoàn toàn là lời cầu nguyện của lòng ao ước, lời cầu nguyện của chờ đợi, lời cầu nguyện của niềm cậy trông, được ăn rễ trong những điều cao trọng mà Đức Chúa đã không bao giờ ngừng hoàn tất vì lợi ích cho dân của Người.  Người ta có thể suy nghĩ và hiểu như vậy.  Đối lại người ta tìm thấy nhiều lời kinh nguyện của Phao-lô khi rảo qua các Thư của ông.  Phao-lô viết thư cho những cộng đoàn mà ông đã thiết lập, ông biết họ và không biết họ, tuy nhiên ông ao ước muốn biết họ, như người Rô-ma chẳng hạn; thật ngạc nhiên khi nhận thấy rằng các thư của Phao-lô luôn luôn bắt đầu bằng một lời cầu nguyện Phao-lô chúc tụng Đức Chúa  về những gì Người đã làm phúc cho những người mà ông viết thư; Người ta gặp thấy như thế trong nhập đề của các Thư 1Cô-rin-tô, 2Cô-rin-tô, Thư Ê-phê-xô, Thư Cô-lô-xê …

 Hãy lắng nghe một số lời kinh của Phao-lô qua đó biết được tâm tư của ông; biết bao nhiêu là lời mời gọi cố gắng đi trước mọi cuộc đối thoại như chúng ta có thể có bằng một lời kinh nguyện thầm lặng, hoàn toàn nội tâm, và nó giúp chúng ta sống những đối thoại nầy: “4 Tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa của tôi vì anh em, về ân huệ Người đã ban cho anh em nơi Đức Ki-tô Giê-su. 5 Quả vậy, trong Đức Ki-tô Giê-su, anh em đã trở nên phong phú về mọi phương diện, phong phú vì được nghe lời Chúa và hiểu biết mầu nhiệm của Người. 6 Thật thế, lời chứng về Đức Ki-tô đã ăn sâu vững chắc vào lòng trí anh em, 7 khiến anh em không thiếu một ân huệ nào, trong lúc mong đợi ngày Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, mặc khải vinh quang của Người. 8 Chính Người sẽ làm cho anh em nên vững chắc đến cùng, nhờ thế không ai có thể trách cứ được anh em trong Ngày của Chúa chúng ta là Đức Giê-su Ki-tô. 9 Thiên Chúa là Đấng trung thành, Người đã kêu gọi anh em đến hiệp thông với Con của Người là Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta” (1Cr 1, 4-9).  Lời tạ ơn nầy đi đôi với niềm cậy trông: Phao-lô dâng lời tạ ơn Thiên Chúa về những gì Người làm cho cộng đoàn nầy và ông kết luận rằng Đức Chúa sẽ tiếp tục đồng hành với cộng đoàn nầy trong chờ đợi Ngày của Người, ngày của thị kiến, của gặp gỡ đầy đủ và toàn vẹn.

Người ta cũng tìm thấy những điều như vậy trong Thư 2 Cô-rin-tô; Phao-lô nhận lấy trách nhiệm cách mạnh mẽ đối với những người nhận thư của ông, họ cáo tội ông quanh co, không biết điều mình muốn, không trung thực với điều ông đã hứa: 3 Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta. Người là Cha giàu lòng từ bi lân ái, và là Thiên Chúa hằng sẵn sàng nâng đỡ ủi an. 4 Người luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách, để sau khi đã được Thiên Chúa nâng đỡ, chính chúng ta cũng biết an ủi những ai lâm cảnh gian nan khốn khó. 5 Vì cũng như chúng ta chia sẻ muôn vàn nỗi khổ đau của Đức Ki-tô, thì nhờ Người, chúng ta cũng được chứa chan niềm an ủi. 6 Chúng tôi có phải chịu gian nan, thì đó là để anh em được an ủi và được cứu độ. Chúng tôi có được an ủi, thì cũng là để anh em được an ủi, khiến anh em có sức kiên trì chịu đựng cùng những nỗi thống khổ mà chính chúng tôi phải chịu. 7 Chúng tôi lấy làm an tâm về anh em, vì biết rằng anh em thông phần thống khổ với chúng tôi thế nào, thì cũng sẽ được thông phần an ủi như vậy” ( 2Cr 1, 3-7).  Hãy chú ý đến sự lặp đi lặp lại từ ngữ “an ủi”, một từ ngữ nói lên sự âu yếm của Đức Chúa.  Chúa chúng ta là một Thiên Chúa an  ủi, nghĩa là cho phép thoát khỏi ưu sầu, mang lại niềm vui và bình an.  Người tông đồ sống việc tông đồ của mình như là một thừa tác vụ an ủi, một thừa tác vụ dẫn đến rao giảng và lặp lại cho nhân loại mà ông gặp gỡ, rằng Thiên Chúa thì ở gần bên họ, trong Đức Giê-su, nhờ Thánh Thần để không ngừng an ủi nhân loại, để kéo họ ra khỏi ưu phiền và đưa họ vào niềm hân hoan.

 Trong Thư Ê-phê-xô, một lời cầu nguyện dẫn nhập y như thế dâng lên cho Thiên Chúa vì những hồng ân Người đã thực hiện cho các tín hữu nầy luôn luôn với ý ca tụng, tạ ơn Thiên Chúa :

3 Chúc tụng Thiên Chúa

là Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.

Trong Đức Ki-tô,

từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc

cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần.

4 Trong Đức Ki-tô,

Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ,

để trước thánh nhan Người,

ta trở nên tinh tuyền thánh thiện,

nhờ tình thương của Người.

5 Theo ý muốn và lòng nhân ái của Người,

Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử

nhờ Đức Giê-su Ki-tô,

6 để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời,

ân sủng Người ban tặng cho ta

trong Thánh Tử yêu dấu.

7 Trong Thánh Tử, nhờ máu Thánh Tử đổ ra

chúng ta được cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi

theo lượng ân sủng rất phong phú của Người.

8 Ân sủng này, Thiên Chúa đã rộng ban cho ta

cùng với tất cả sự khôn ngoan thông hiểu.

9 Người cho ta được biết thiên ý nhiệm mầu:

thiên ý này là kế hoạch yêu thương

Người đã định từ trước trong Đức Ki-tô.

10 Đó là đưa thời gian tới hồi viên mãn

là quy tụ muôn loài trong trời đất

dưới quyền một thủ lãnh là Đức Ki-tô.

Cũng trong Đức Ki-tô,

11 Thiên Chúa là Đấng làm nên mọi sự

theo quyết định và ý muốn của Người,

đã tiền định cho chúng tôi đây làm cơ nghiệp riêng

theo kế hoạch của Người,

12 để chúng tôi là những người đầu tiên

đặt hy vọng vào Đức Ki-tô,

chúng tôi ngợi khen vinh quang Người.

13 Trong Đức Ki-tô, cả anh em nữa

anh em đã được nghe lời chân lý

là Tin Mừng cứu độ anh em;

vẫn trong Đức Ki-tô,

một khi đã tin, anh em được đóng ấn Thánh Thần,

Đấng Thiên Chúa đã hứa.

14 Thánh Thần

là bảo chứng phần gia nghiệp của chúng ta,

chờ ngày dân riêng của Thiên Chúa được cứu chuộc,

để ngợi khen vinh quang Thiên Chúa.

Đức Ki-tô được siêu tôn

15 Bởi vậy, cả tôi nữa, từ khi được nghe nói về lòng tin của anh em vào Chúa Giê-su, và về lòng mến của anh em đối với toàn thể dân thánh, 16 tôi không ngừng tạ ơn Thiên Chúa vì anh em, khi nhắc tới anh em trong những lời cầu nguyện của tôi. 17 Tôi cầu xin Chúa Cha vinh hiển là Thiên Chúa của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, ban cho anh em thần khí khôn ngoan để mặc khải cho anh em nhận biết Người. 18 Xin Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ, đâu là niềm hy vọng anh em đã nhận được, nhờ ơn Người kêu gọi, đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú anh em được chia sẻ cùng dân thánh, 19 đâu là quyền lực vô cùng lớn lao Người đã thi thố cho chúng ta là những tín hữu. Đó chính là sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực, 20 mà Người đã biểu dương nơi Đức Ki-tô, khi làm cho Đức Ki-tô trỗi dậy từ cõi chết, và đặt ngự bên hữu Người trên trời. 21 Như vậy, Người đã tôn Đức Ki-tô lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được, không những trong thế giới hiện tại, mà cả trong thế giới tương lai. 22 Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Ki-tô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh; 23 mà Hội Thánh là thân thể Đức Ki-tô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn” ( Êp 1, 3-23).

Người ta cũng tìm thấy trong các Thư, những lời cầu nguyện trồi lên giữa những bài diễn văn của Phao-lô.  Ông nói với những người nhận thư rằng ông phải nói với họ và, đột nhiên, bài suy niệm, bài diễn văn, những suy tư của ông bùng phát lên lời cầu nguyện, chúng bị gián đoạn bởi những lời cầu nguyện, làm như thế cho các người nhận Thư hiểu rằng không phải với tư cách cá nhân của ông mà ông lên tiếng, nhưng là nhơn danh một Đấng Khác, và hướng về Đấng Khác đó mà ông mời gọi họ quay về.

 Thử tìm hiểu xem lời cầu nguyện của Phao-lô, lời cầu nguyện mà ông khuyên bảo.  Đối với Phao-lô lời cầu nguyện mà các tín hữu, các môn đệ của Chúa Giê-su phải diễn tả, là sự tham dự vào kinh nguyện của chính Chúa Giê-su.  Tin Mừng Luca thường cho thấy Chúa Giê-su đi riêng ra một nơi để cầu nguyện và nói đến Kinh Lạy Cha (Lc 11,2-4), một lời cầu nguyện tạ ơn khác mà Chúa Giê-su thưa với Cha “Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn” (x. Lc 10, 21).  Đối với thánh Phao-lô, cầu nguyện là đi vào trong kinh nguyện của Chúa Ki-tô.  Chính vì vậy cái nôi của cầu nguyện tuyệt hảo đối với chúng ta là Phép Thánh Thể, là Thánh Lễ Tạ ơn của Chúa Ki-tô dâng chính mình cho Thiên Chúa, dâng trọn vẹn cuộc sống của Người trong hành vi yêu thương cho chính mình và cho toàn thể nhân loại.  Chính là đi vào trong chuyển động của Lễ Tạ Ơn mà chúng ta cầu nguyện tốt hơn bởi vì chúng ta tham dự vào sự dâng hiến của Chúa Ki-tô được Người đồng thuận và trong đó một mình Người có thể đưa chúng ta đi vào.  Cầu nguyện luôn luôn là tham dự vào kinh nguyện của Chúa Ki-tô.

 Có thể thêm rằng kinh nguyện là những lời chúng ta thốt ra, những thái độ mà chúng ta hành xử, những lời cầu xin mà chúng ta dâng lên.  Tuy nhiên cầu nguyện thật sự của người Ki-tô hữu được thực hiện dưới tác động của Chúa Thánh Thần.  Trong Thánh Thần  và nhờ Thánh Thần mà chúng ta cầu nguyện.  Chính Thánh Thần làm cho chúng ta liên hệ với Đức Chúa, và điều nầy, có thể nói, đặt chúng ta vào tần số của Người, cho phép chúng ta thông hiệp với Người.  Phao-lô khẳng định mạnh mẽ, trong Thư Rô-ma, chương 8, ông gợi lên vinh quang sắp tới, sự kiện mà chúng ta chưa có, chúng ta đang tiến về và rằng vinh quang sắp đến, Triều đại Thiên Chúa là sự sinh nở dài hơi, điều nầy giả thiết có nhiều thử thách, đau khổ, khó khăn, ngay cả khi điều nầy có mục đích mở vào niềm vui của một đời sống mới.  Chính vì thế Phao-lô mời gọi đi vào niềm cậy trông: “26 Hơn nữa, lại có Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải; nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả. 27 Và Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm can, biết Thần Khí muốn nói gì, vì Thần Khí cầu thay nguyện giúp cho dân thánh theo đúng ý Thiên Chúa” ( Rm 8, 26-27).  3 Vì thế, tôi nói cho anh em biết: chẳng có ai ở trong Thần Khí Thiên Chúa mà lại nói: ‘Giê-su là đồ khốn kiếp!’; cũng không ai có thể nói rằng: ‘Đức Giê-su là Chúa’, nếu người ấy không ở trong Thần Khí” (1Cr 12, 3).  Chỉ Thần Khí mà thôi mới cho phép chúng ta thưa chuyện với Thiên Chúa cách phù hợp, theo cách thức của Chúa Giê-su.  Chúng ta có hiểu rằng trong kinh nguyện chúng ta đón nhận Thần Khí không?  Có phải chúng ta không quá hấp tấp tìm ra từ ngữ để lấp đầy thinh lặng không?  Thay vì chờ đợi một cách nào đó được gợi hứng cầu nguyện không?

 Cầu nguyện theo Phao-lô, trước hết và tiên vàn là hành động tạ ơn, đó là một trong các đặc tính.  Khi người ta quay về với Đức Chúa chính là để trước tiên tạ ơn  Chúa, điều nầy giả thiết người ta có ý thức về ân huệ mà Người đã ban cho chúng ta và cho thế giới.  Ước gì tất cả kinh nguyện của chúng ta bắt đầu bằng việc tạ ơn, cũng như lời thú tội của chúng ta bắt đầu bằng lời ca tụng Thiên Chúa bởi vì Người cho phép chúng ta làm điều tốt, điều lành.  Vả lại khởi đi từ đó chúng ta có thể đo chiều kích giới hạn của mình.  Các Thánh vịnh phần lớn là lời kinh ngợi khen, điều nầy không ngăn cản diễn tả cảm xúc khác nhau và đa dạng làm rung động người đọc; có những tiếng kêu nổi loạn, tiếng kêu lo âu, những trách mắng, những điều khôn tả, có tất cả, vì chỉ để tự diễn tả mình trong sự thật trước mặt Đức Chúa nhưng vẫn ở trong văn mạch tạ ơn và trong niềm xác tín rằng, ngay cả có nhiều điều không được như chúng đáng phải là, như chúng ta cầu chúc, Đức Chúa đã không bỏ rơi cho chúng ta đến thế: Người đã biểu lộ ra cho chúng ta  qua những dấu chỉ mà chúng ta phải biết nhận ra.

 Chúng ta biết rằng trong kinh Thánh và trong Tin Mừng, ngay cả khi Thiên Chúa thỉnh thoảng xuất hiện trong những hành động ngoạn mục, Người rất thường thực hiện trong thầm kín.  Dấu chỉ không thể vượt qua là sự sinh hạ Con vào đêm Giáng Sinh.  Người ta không thể hình dung ra rằng Thiên Chúa đi vào thế giới bằng khung cửa hẹp, đến nỗi mà không còn chỗ cho Người trong nơi nhân loại cư trú và Người đã tìm được chỗ trú ngụ trong chuồng súc vật và ở đó chỉ có những mục đồng…!  Một sự đi vào làm nên biến cố mà tuyệt đối không ai trông thấy.  Khi đọc lại trình thuật giáng sinh trong Tin Mừng Luca, người ta tự nhủ có hai biến cố.  Một biến cố mà báo chí thời đó (không biết báo gì) chắc chắn đã nói đến: đó là sự kiểm tra dân số được hoàng đế Xê-da-rê ban hành; mọi người bó buộc về lại nơi sinh quán của mình để khai sổ.  Đó là một biến cố chính trị lớn!  Sinh nhật của một đứa trẻ, một việc rất nhỏ, tuy nhiên trong biến cố nầy chứa đựng tương lai.  Điều nầy vẫn còn là luật vàng.  (Chính Giáo Hội chúng ta, sau khi quá gieo trồng sự chôn vùi nầy, tự xuất hiện, lên tiếng, tỏ mình ra, tuy nhiên tôi không cầu chúc sự quá phô trương, bởi vì khi tỏ mình ra cách quá phô trương, điều đó không được trung thực với cách làm của Thiên Chúa đã tự giới thiệu mình cho nhân loại).  Cần phải quan sát kỹ hơn để đọc được được những dấu chỉ tiên đoán tương lai, biết rằng chúng tuy nhỏ, hầu như vô nghĩa; chúng lại nói về tương lai, chính những dấu chỉ đó cho phép chúng ta tạ ơn và cầu xin Thiên Chúa tiếp tục ban ơn ngày càng phong phú, cho đến thời chỉ còn là ân sủng.

 Tham dự vào kinh nguyện của Chúa Ki-tô, kinh nguyện trong Thánh Thần, kinh nguyện của hành động tạ ơn.  Kinh nguyện phải phản ánh kinh nghiệm của chúng ta, của hiện sinh cuộc sống: nếu chúng ta nói với Thiên Chúa, chúng ta cần phải nói với Người điều chúng ta tâm niệm, bằng con tim cởi mở.  Khi chúng ta quen thân ai, chúng ta thuật lại cho họ mọi điều xảy đến, sự lành hoặc sự dữ, những điều gây phiền nhiễu cho chúng ta.  Tại sao lại không làm như thế đối với Thiên Chúa?  Các bạn sẽ nói: “Thiên Chúa biết cả rồi !”  Tuy nhiên Thiên Chúa muốn con người nói với Người những điều đó và người ta đi cùng với Thiên Chúa vào trong thái độ tâm sự nối kết tâm sự; không có gì xấu khi tường thuật cho Thiên Chúa tất cả những gì làm chúng ta băn khoăn, điều thỉnh thoảng được gọi là chia trí lo ra.  Có thể là những chia trí lo ra nếu, bổng chốc người ta đi vào viễn vông hoặc là tiên liệu một thời khóa biểu…   Đó có thể chỉ là những sự việc trở lại trong tâm trí chúng ta bởi vì chúng làm nên thành phần cuộc sống chúng ta, chúng làm chúng ta lo lắng, chúng có phần quan trọng đối với chúng ta; tại sao không nói sự đó cho Thiên Chúa để Người giúp chúng ta thấy rõ hơn điều gì quan trọng trong đó và để Người giúp chúng ta thực hiện điều phải làm, điều phải nói, để làm chúng ta tiến bộ cùng với tha nhân trong sự hiểu biết tốt hơn về Chúa Giê-su và về Tin Mừng.

 Có một thời người ta nói xấu về việc cầu xin: cho rằng đó là kinh nguyện ngây ngô, vô nghĩa; không cần phải đốt nến trên bàn thờ khi cầu nguyện với Thiên Chúa để cầu nguyện cho đứa con thi đậu tú tài…  Đó là cầu nguyện hoài nghi.  Có lẽ đó là lời cầu nguyện đơn sơ?  Chúng ta đánh mất sự đơn sơ của việc cầu nguyện: thưa với Thiên Chúa điều gì xảy ra trên đầu chúng ta và điều gì đang làm chúng ta nặng lòng; nếu chúng ta không xin gì hết với Thiên Chúa điều gì sẽ dẫn chúng ta nói lời cám ơn với Người ?  Đi đôi với nhau: nếu không xin gì với Thiên Chúa, nếu không xin Thiên Chúa gia ân giáng phúc, thì việc gì chúng ta tạ ơn Người?  Như vậy cần phải có sự đơn sơ trong cầu nguyện.

 Còn hai điều nữa liên quan đến kinh nguyện theo thánh Phao-lô.  Kinh nguyện theo thánh Phao-lô mang tính cá nhân, Phao-lô xưng “Tôi”.  Trong các Thư Phao-lô nói đến kinh nghiệm cá nhân.  Phao-lô muốn, như ông nói, người ta bắt chước ông (x. Pl 3, 17) bởi vì Phao-lô sống, sống điều đó như một ân huệ, và ông muốn chia sẻ ân huệ nầy để giúp người khác nhận ra ân huệ của Thiên Chúa cũng đã ban cho họ.  Lời cầu nguyện là điều cá nhân, tuy nhiên lời cầu nguyện luôn luôn có chiều kích giáo hội.  Người ta cầu nguyện với những người khác, chứ không phải chỉ bên cạnh người khác: người ta cầu nguyện trong cộng đoàn, cho cộng đoàn, cho Giáo Hội, trong Giáo Hội.  Lộ Đức là điểm nhắm, là một lời chứng hùng hồn: dân chúng đến đó với nhiều thao thức khác nhau, họ cầu xin theo theo kiểu của họ, cho việc nầy, cho việc kia; đồng thời họ cùng nhau và họ cầu nguyện chung với nhau theo ý của Giáo Hội hoàn vũ.  Kinh nguyện của Chúa Giê-su để lại thật có ý nghĩa, kinh nguyện đó bắt đầu bằng “Lạy Cha chúng con”.  Nói lên khía cạnh cá nhân mà tôi vừa nhắc tới, kinh nguyện đó có thể bắt đầu bằng: “Lạy Cha của con”, nhưng không! mà là “Lạy Cha chúng con”; tôi chỉ có thể thưa với Thiên Chúa trong chân lý khi làm nên một thân thể với những ai khác như anh em của tôi.  Tôi chỉ có thể thưa với Thiên Chúa ở số nhiều, với những ai khác, và nhơn danh những người khác, bằng hiệp nhất với những ai cầu nguyện, và cùng hiệp nhất với những ai không biết cầu nguyện, hiệp nhất với những ai chỉ ca thán nổi loạn, phải có trách nhiệm làm cho tiếng kêu của họ trở nên đúng đắn những lời cầu xin và kinh nguyện.  Đó là kinh nguyện hoàn vũ nhắm tới, lúc mà một trang thông tin, có thể kéo sự chú ý của người khác đến những biến cố vừa mới xảy ra.

 Đó là một vài khía cạnh của kinh nguyện có thể thúc đẩy chúng ta chuẩn xác lại kinh nguyện của chúng ta.  Kinh nguyện của chúng ta có đáp ứng được những tiêu chí nầy không?  Kinh nguyện đó có vang vọng kinh nguyện của Phao-lô không?  Kinh nguyện mà nhờ đó chúng ta đã đi vào trong kinh nghiện của đời sống vĩnh hằng, của đời sống với Thiên Chúa quy tụ về Thiên Chúa, chính đời sống nầy không làm cho chúng ta quên đi tất cả những gì còn lại, nhưng tất cả những gì còn lại được nhìn nhận trong Thiên Chúa cùng với chúng ta.

 Điều quan trọng phải tự nhủ rằng: lời cầu nguyện không phải chỉ là những từ ngữ mà thôi, nhưng là thái độ của một con người trọn vẹn.  Dân Pháp không biết phải làm gì với thân xác khi cầu nguyện, ngay cả những đặc sủng đã đánh thức chúng ta về khía cạnh đó.  Với tất cả những gì chúng ta là, với thân xác, với ngũ quan, chúng ta cầu nguyện…  Ai sẽ giúp tôi cầu nguyện?  Nơi chốn nào gợi hứng, ai sẽ giúp tôi hiện diện với Thiên Chúa?   Không nhất thiết là nơi ở của tôi hay bàn viết của tôi, nơi mà tôi có khuynh hướng chỉ định cho Thiên Chúa cư trú.  Hãy xem coi, đó là sự tiến hành, điều nầy làm thành tố của kinh nguyện: di chuyển để gặp gỡ.  Đó là sự tiến hành mà tôi thực hiện khi tôi thay đổi chỗ ở để đi tìm Người trong nơi là cung thánh của Người.

 Cũng còn có vấn đề cử chỉ thái độ nữa: người ta có thể cầu nguyện trong tư thế quỳ, đứng, ngồi, có thái độ tương hợp với tình trạng tâm trí; không có chuyện tâm trí một bên và bên kia là thân xác; thân xác diễn tả tình trạng tinh hồn.  Có những sự trợ giúp:  một thánh tượng, một hình ảnh, một thánh ca, một bản văn, một đoạn sách thiêng liêng, không kể đến phải luôn luôn trở về lời bởi vì cầu nguyện bó buộc có câu trả lời. Khi người ta nói: “Người ta nói gì với ai?”, người ta phải nói: “Có ai đó nói với tôi đang chờ tôi trả lời?”  Người ta phải làm gì để lắng nghe Đức Chúa và để có hứng thú trả lời cho Người.  Tôi cho rằng kinh nguyện sẽ ít nặng nề nếu chúng ta biết thay đổi hình thức, không phải chỉ để giải trí khi thay đổi tư thế, nhưng bởi vì thói quen, tập quán là một cám dỗ và sự lặp đi lặp lại không nhất thiết được khuyến khích.  Điều nầy đáng được suy nghĩ về những may mắn khi người ta cầu nguyện nghiêm túc dưới tác động của Thánh Thần và cố gắng đứng trước sự hiện diện của Đức Chúa.

 Từng nhóm, tạiNantesvới một Giê-su hữu tôi linh hoạt một cuộc huấn luyện đồng hành thiêng liêng; họ đề nghị chúng tôi tái nghiền (re-mouture) điều mà người ta gọi theo truyền thống I-Nhã, kinh nguyện giao ước.  Việc nầy tóm lại trong ba từ: “Cám ơn”, cám ơn là hành động tạ ơn; “Xin lỗi”, xin lỗi vì đã không dùng hết ân huệ đã ban cho chúng ta; “Xin vui lòng” giúp một tay để tiến tới. “Cám ơn” “Xin lỗi” “Xin vui lòng”, đó là lược đồ dành cho kinh nguyện ban chiều, phải biết rằng điều nầy có thể giúp ích cho bạn được đấy.

 Lm Nguyễn Quang Vinh  chuyển ngữ

%d bloggers like this: