HỌC HỎI THÁNH PHAOLÔ (6): ĐƯỢC SAI ĐI

Lm Dubreuil

Lourdes 2010

Bài số 5. 

ĐƯỢC SAI ĐI

 Chúng ta đã suy niệm cuộc đối thoại được kết nối trên đường Đa-mát giữa tiếng nói phát ra từ ánh sáng, và Sao-lô.  Tiếng nói đó, ngỏ với Phao-lô, là một lời mời gọi nối kết đối thoại với Đấng chất vấn ông, mời ông đi vào ngày càng thâm sâu hơn nữa trong giao ước với Người.  Trong một ít lời trao đổi, yếu tính của mầu nhiệm được mặc khải, khai mở về một lời kêu gọi và một sự sai đi.  Trình thuật kể lại cho chúng ta rằng những bạn đồng hành của Sao-lô trên đường tiến về Đa-mát, những người hộ tống ông, đã chứng kiến những sự kiện xảy ra: họ nghe tiếng nói mà không hiểu ý nghĩa, tuy nhiên họ không thấy gì cả. Thẳng thắn mà nói người ta không thể khẳng định Phao-lô đã thấy Đức Chúa, trừ việc ông thật sự gặp Người.  Trình thuật kể tiếp: Phao-lô ở dưới đất, bị quật ngã, mắt bị chói lòa vì ánh sáng, “8 Ông Sao-lô từ dưới đất đứng dậy, mắt thì mở nhưng không thấy gì. Người ta phải cầm tay dắt ông vào Đa-mát. 9 Suốt ba ngày, ông không nhìn thấy, cũng chẳng ăn, chẳng uống” (Cv 9, 8-9).  Kinh nghiệm nhất thời không nhìn thấy chắc hẳn đã giúp Phao-lô đào sâu thêm cái nhìn nội tâm nơi ông; một kẻ chắc ăn về chính mình, một kẻ tự cảm thấy được đào tạo để lãnh đạo hơn là để tùng phục, kinh nghiệm nầy giúp ông học biết để mình được hướng dẫn.

 Những từ đầu tiên của biến cố chúng ta vừa đọc là một thể loại sai đi mà tiếng nói ngỏ với Sao-lô trước khi báo cho ông biết người  ta sẽ nói cho ông trong thành về điều ông phải làm: “Hãy chỗi dậy…”.  Thuật ngữ: “Đứng dậy”, “Chỗi dậy” rất hay gặp trong Tân Ước khi Chúa Giê-su thường hiện ra như kẻ vực con người dậy, cho phép họ đứng thẳng trên đôi chân của mình, vươn lên, tự khẳng định mình, tìm lại phẩm giá của mình.  Đó là một trong những thuật ngữ, mà Tân Ước thường dùng để chỉ sự Phục sinh: “Người chỗi dậy từ trong kẻ chết”.  Công thức nầy chỉ cho chúng ta thấy rằng Phao-lô sẽ tiếp tục sống tương tự như Sống lại vậy.  Ông được sống lại, được cổ vũ, được tái tạo và được tạo dựng mới: “Hãy chỗi dậy”.  Tuy nhiên khi ông đứng dậy, chính là để nhận ra rằng ông không thấy gì nữa cả.  Người ta có thể hình dung sự bấn loạn của ông trong ghi nhận nầy. Có một sự tương phản đáng ngạc nhiên, một quãng cách rất xa, giữa Sao-lô mà chúng ta đã gặp trong phần đầu của bài trình thuật (hoạt bát, đảm đang, sáng kiến, tự cho mình có sứ vụ, chắc ăn về kế hoạch, chắc ăn về mình và về xác tín của mình, lên đường đi Đa-mát với mục đích chuẩn xác) và kẻ đi vào thành Đa-mát, có bạn đồng hành đi theo áp tải bởi vì ông không thể tự đi vào đó một mình được.  Đó là kinh nghiệm đau thương phải vượt qua, một thách đố có tầm vóc lớn.

 Chắc hẳn các bạn còn nhớ vị trí dành cho những người mù và những chữa lành người mù trong các sách Tin Mừng.  Tiêu biểu nhất là phép lạ chữa lành người mù từ thuở mới sinh, sự khai triển và đường đi nước bước đã dẫn dắt anh mù, như Tin Mừng Gioan tường thuật ở chương 9: Chúa Giê-su chữa lành người mù, điều đó xảy ra cách đây không lâu; nhưng, sau đó Chúa Giê-su đã biến đi khỏi mắt họ, người mù nầy trăn trở, buộc mình suy nghĩ điều đã xảy đến cho mình, tự bảo vệ mình, bảo vệ Chúa Giê-su, và tự hỏi: “Đức Giê-su là ai vậy?”.  Chắc chắn là một ngôn sứ bởi vì Người đã chữa cho anh lành mắt.  Anh mù đã đi đến chỗ nhìn nhận Người là Con Người và đã phục lạy Người.  Chúa Giê-su lợi dụng việc chữa lành người mù từ thuở mới sinh để lay động lương tâm của nhóm pha-ri-sêu về sự mù quáng đã giam hãm họ không nhìn nhận Ánh Sáng mà Người giới thiệu vì những ý tưởng sai lầm của họ về Thiên Chúa, về chính họ nữa.

 Qua kinh nghiệm đó, qua nhiều phép lạ chữa lành người mù mà Tin Mừng trình thuật lại, người ta nhận ra tầm vóc biểu tượng của việc mù lòa và của việc tìm lại sự sáng.  Mù lòa là nhốt mình trong bóng tối.  Tìm lại sự sáng nghĩa là trở về lại cuộc sống.  Người ta nhận ra điều nầy trong trình thuật gặp gỡ trên đường Đa-mát: một sự mù lòa tức khắc xảy ra cho Phao-lô dẫn đưa ông, đem ông đến chỗ để mình được hướng dẫn, để cho người khác dẫn dắt mìnhĐó là những bạn đồng hành cầm tay ông và giúp ông đi đến Đa-mát và đi vào trong thành, đang lúc đó, dĩ nhiên ông đã mường tượng ra cảnh đi vào thành nầy một cách khác.  “Nắm lấy tay ông, những bạn đồng hành đưa ông vào Đa-mát”.  Đối với một tính khí mạnh mẽ như Sao-lô, rất thiên về áp đặt, thích hướng dẫn, thích chỉ huy, nay lại để cho mình bị cầm tay dắt đi, diễn tả một sự trở lại rất cả thể.  Một sự trở lại có tính quyết định sẽ đưa ông, một kẻ tự tin vào chính mình và vào những công đức của mình, đi đến chỗ đặt lại vấn đề toàn bộ cuộc sống, tương lai của mình, sứ vụ tông đồ của mình, đem tất cả đặt trong bàn tay của Đức Chúa.  Giai đoạn mù lòa sẽ giúp Phao-lô đi vào trong điều mà Tân Ước và Truyền Thống Ki-tô giáo gọi là tự nguyện vâng lời đức tinSự vâng phục nầy, sẽ ngay bây giờ chỉ huy đời sống của ông.  Theo gương Thầy chí thánh, Đấng đã “vâng lời cho đến chết trên thập giá”, Phao-lô sẽ tự nguyện vâng lời, vâng lời theo tiếng gọi của Thần Khí, vâng lời theo tiếng gọi của những con người và, như thế, Phao-lô khởi đầu tái tạo lại hình ảnh của Chúa Ki-tô Đầy Tớ.

 Hành động của Kha-na-ni-a và cuộc gặp gỡ giữa Phao-lô và Kha-na-ni-a đi trong chiều hướng đó.  Tiếng nói đã có thể (điều được tường thuật lại trong hai trình thuật khác trong sách Công Vụ Tông Đồ), một cách trực tiếp, chỉ cho Phao-lô biết sứ vụ của ông.  Đó không phải là điều Đức Chúa đã làm.  Người nói: “Chỗi dậy, đi vào thành và người ta sẽ nói cho anh biết anh phải làm gì”.  Phao-lô biết rất rõ điều gì ông phải làm, đây là điều nói với ông: “Người ta sẽ nói cho anh, anh phải làm gì”.  Đi vào trong sự vâng phục đức tin, đi vào trong sự vâng phục nầy đã đánh dấu đời sống Chúa Ki-tô mà lương thực của Người là làm theo ý của Cha.  Từ đó Phao-lô sẽ dấn thân trong con đường hoán cải.  Ngay lập tức ông sẽ đón nhận sứ vụ của mình từ môi miệng của Kha-na-ni-a. Phao-lô chấp nhận rằng Kha-na-ni-a sẽ nói với ông là ông được kêu gọi để trở nên tông đồ, rằng Kha-na-nia đặt tay trên ông, rằng nhờ Kha-na-nia-a mà ông được phục hồi thị lực.  Chính Kha-na-ni-a sẽ cho phép ông đặt chân vào Đa-mát, không phải để chiến đấu chống lại các Ki-tô hữu, nhưng để sáp nhập chính mình vào cộng đoàn các môn đệ của Chúa Giê-su; xa hơn một chút, chúng ta gặp một người bảo trợ khác mà Phao-lô cần đến để ông được đón nhận tại Giê-ru-sa-lem, đó là Ba-na-ba được nhắc đến: “27 Ông Ba-na-ba liền đứng ra bảo lãnh đưa ông Sao-lô đến gặp các Tông Đồ, và tường thuật cho các ông nghe chuyện ông ấy được thấy Chúa hiện ra trên đường và phán dạy làm sao, cũng như việc ông ấy đã mạnh dạn rao giảng nhân danh Đức Giê-su tại Đa-mát thế nào” (Cv 9, 27).

 Phao-lô cần được giới thiệu.  Phao-lô cần được bảo lãnh. Phao-lô cần được giúp đỡ, được nâng đỡ.  Đối với con người nầy chắc ăn về chính mình, đó thật là sự hoán cải sâu thẳm, một sự trở lại sẽ không bao giờ hoàn toàn bởi vì Phao-lô vẫn còn là một con người, một huynh đệ trong nhân tính: nhất là đối với các tông đồ khác, người ta hiểu ngay ông không thích ở dưới sự che chở của họ, ngay cả khi ông nhìn nhận họ là những người giữ kho tàng Tin Mừng và là chứng nhân về đời sống và sự chết của Chúa Giê-su.  Ngay từ đầu Thư Ga-la-ta, Phao-lô không nói đến sự trung gian của Kha-na-ni-a; khi ông tường thuật làm thế nào ông đã gặp Chúa Giê-su và nhận sứ vụ từ nơi Người, đây ông nói:

 13 Anh em hẳn đã nghe nói tôi đã ăn ở thế nào trước kia trong đạo Do-thái: tôi đã quá hăng say bắt bớ, và những muốn tiêu diệt Hội Thánh của Thiên Chúa. 14 Trong việc giữ đạo Do-thái, tôi đã vượt xa nhiều đồng bào cùng lứa tuổi với tôi: hơn ai hết, tôi đã tỏ ra nhiệt thành với các truyền thống của cha ông.15 Nhưng Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi nhờ ân sủng của Người. 16 Người đã đoái thương mặc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại. Tôi đã chẳng thuận theo các lý do tự nhiên, 17 cũng chẳng lên Giê-ru-sa-lem để gặp các vị đã là Tông Đồ trước tôi, nhưng tức khắc tôi đã sang xứ Ả-rập, rồi lại trở về Đa-mát. 18 Ba năm sau tôi mới lên Giê-ru-sa-lem diện kiến ông Kê-pha, và ở lại với ông mười lăm ngày. 19 Tôi đã không gặp một vị Tông Đồ nào khác ngoài ông Gia-cô-bê, người anh em của Chúa. 20 Viết cho anh em những điều này, tôi cam đoan trước mặt Thiên Chúa là tôi không nói dối. 21 Sau đó tôi đến miền Xy-ri và miền Ki-li-ki-a. 22 Nhưng lúc ấy các Hội Thánh Đức Ki-tô tại miền Giu-đê không biết mặt tôi. 23 Họ chỉ nghe nói rằng: “Người trước đây bắt bớ chúng ta, bây giờ lại loan báo đức tin mà xưa kia ông những muốn tiêu diệt”, 24 và vì tôi họ tôn vinh Thiên Chúa. (Chương 2) 1 Rồi sau mười bốn năm, tôi lại lên Giê-ru-sa-lem ( một lần ba năm sau biến cố Đa-mát, lần thứ hai sau mười bốn năm; Phao-lô không lạm dụng hành hương Ad Limina) một lần nữa cùng với ông Ba-na-ba; tôi cũng đem theo anh Ti-tô đi với tôi. 2 Tôi lên đó vì được Thiên Chúa mặc khải (Phao-lô xem ra bị thúc bách), và đã trình bày cho người ta Tin Mừng tôi rao giảng cho dân ngoại,-cách riêng cho các vị có thế giá– (Phao-lô thêm, điều đó rất quan trọng) vì sợ rằng tôi ngược xuôi, và đã ngược xuôi vô ích (Gl, 1, 13 – 2, 2).

 Mặc dầu sự chắc chắn về mình, mặc dầu sự xác quyết mà Phao-lô có được là đang ở trong đường ngay chính của sự thật Tin Mừng, ông cần tự kiểm tra mình.  Ông cần tham khảo các vị tông đồ khác, ông cần chia sẻ cho họ những gì ông làm “vì sợ rằng tôi ngược xuôi, và đã ngược xuôi vô ích”.  Trích đoạn có ý nghĩa chứng minh rằng sự hoán cải của Phao-lô theo vâng lời đức tin, việc ông chấp nhận thánh ý Đức Chúa có ý nghĩa đối với ông qua trung gian nhân loại, việc ông chấp nhận để cho mình được dẫn dắt, tất cả không phải là việc làm của một ngày.

 Ngạc nhiên hơn nữa khi đọc Thư Phi-líp-phê vào thời bị cầm tù, phó mặc cho chính mình, không còn khả năng hoạt động, không còn làm được gì nữa cả.  Người ta hiểu ngay con đường đã đi qua và sự thanh thản và phó thác mà Phao-lô đã đạt đến: “12 Thưa anh em, tôi muốn anh em biết là những gì xảy đến cho tôi thật ra đã giúp cho Tin Mừng được tiến triển, 13 đến nỗi tại dinh vua quan cũng như ở mọi nơi khác, người ta đều hiểu rõ là chính vì Đức Ki-tô mà tôi mang xiềng xích. 14 Vì thấy tôi bị xiềng xích, phần đông các anh em có lòng tin cậy vào Chúa đã tỏ ra bạo dạn hơn để rao giảng lời Thiên Chúa mà không chút sợ hãi. 15 Đã hẳn, có những kẻ rao giảng về Đức Ki-tô vì lòng ganh tị và tranh chấp, song những người khác lại làm công việc đó vì ý ngay lành. 16 Những người này làm vì bác ái, bởi họ biết rằng tôi được chỉ định để lo bênh vực Tin Mừng. 17 Còn những người kia thì loan báo Đức Ki-tô vì tính ưa tranh giành, họ không có lòng ngay, tưởng làm như thế là gây thêm khổ cho tôi, trong lúc tôi bị xiềng xích. 18 Nhưng không sao đâu! Dù thế nào đi nữa với ý lành hay ý xấu, cuối cùng Đức Ki-tô được rao giảng là tôi mừng. Và tôi sẽ còn mừng nữa, 19 bởi vì tôi biết rằng điều ấy sẽ giúp cho tôi đạt được ơn cứu độ, nhờ lời cầu nguyện của anh em, và nhờ Thần Khí của Đức Giê-su Ki-tô phù trợ. 20 Đó là điều tôi đợi chờ và hy vọng. Sẽ không có gì làm cho tôi phải hổ thẹn, trái lại tôi hoàn toàn vững tin. Bây giờ cũng như mọi lúc, Đức Ki-tô sẽ tỏ bày quyền uy cao cả của Người nơi thân xác tôi, dù tôi sống hay tôi chết: 21 vì đối với tôi, sống là Đức Ki-tô, và chết là một mối lợi. 22 Nếu sống ở đời này mà công việc của tôi được sinh hoa kết quả, thì tôi không biết phải chọn đàng nào. 23 Vì tôi bị giằng co giữa hai đàng: ao ước của tôi là ra đi để được ở với Đức Ki-tô, điều này tốt hơn bội phần: 24 nhưng ở lại đời này thì cần thiết hơn, vì anh em. 25 Và tôi biết chắc rằng tôi sẽ ở lại và ở bên cạnh tất cả anh em để giúp anh em tấn tới và được hưởng niềm vui đức tin mang lại cho anh em. 26 Như thế, trong Đức Ki-tô Giê-su, anh em càng có lý do để hãnh diện về tôi, khi tôi lại đến gặp anh em” (Pl 1, 12-126)

 Những điều nầy cho chúng ta đo lường được con đường đã đi qua.  Phao-lô luôn luôn xác tín rằng mình có quyền bính và sức mạnh để loan báo Tin Mừng, và theo đó Phao-lô thủ một vai trò không thay thế được. Tuy nhiên, trong tù đày, điều đó đối với ông là dịp rao giảng Tin Mừng để chứng tỏ rằng ông không ở một mình; điều quan trọng đối với Phao-lô đó là Tin Mừng phải được rao giảng.  Phao-lô chấp thuận trong sự thanh thản, trong tin tưởng và cậy trông, không còn ở vị trí lãnh đạo nữa, ngay cả, trong sự lựa chọn được đặt ra cho ông: “Tôi bị giằng co giữa hai đàng: ao ước của tôi là ra đi để được ở với Đức Ki-tô, điều này tốt hơn bội phần: 24 nhưng ở lại đời này thì cần thiết hơn, vì anh em”, dù sao phải lựa chọn ở lại, nhưng ở lại trong tư cách một đầy tớ của Tin Mừng.

 Có thể phải nói nhiều về kinh nghiệm mù lòa để từ đó suy ra tất cả những gì tôi suy luận về sự cần thiết khi Phao-lô chịu để mình bị dẫn dắt, về khó khăn khi phải chấp nhận được người khác hướng dẫn và cầm tay dắt đi, về sự khó khăn khi thỉnh cầu lời cố vấn, khi chấp nhận những trung gian nhân loại. Tất cả không ngăn cấm ông vượt qua, không ngăn cản ông đồng ý, không ngăn cản ông đón nhận.  Và không phải là chuyện nhỏ mà trong Thư Phi-líp-phê, Phao-lô cảm nhận sự cần thiết xác định cho người nhận thư và cho chính mình: “1 Nếu quả thật sự liên kết với Đức Ki-tô đem lại cho chúng ta một niềm an ủi, nếu tình bác ái khích lệ chúng ta, nếu chúng ta được hiệp thông trong Thần Khí, nếu chúng ta sống thân tình và biết cảm thương nhau, 2 thì xin anh em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn vẹn, là hãy có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng như nhau. 3 Đừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. 4 Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác. 5 Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Ki-tô Giê-su.

6 Đức Giê-su Ki-tô

vốn dĩ là Thiên Chúa

mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì

địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,

7 nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang

mặc lấy thân nô lệ,

trở nên giống phàm nhân

sống như người trần thế.

8 Người lại còn hạ mình,

vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,

chết trên cây thập tự.

9 Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người

và tặng ban danh hiệu

trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu (Pl 2, 1-9).

Đấy chính là vấn đề vâng lời trong đức tin.

 Bạn có thể đọc qua chương 1 Thư Ga-la-ta và phần đầu Thư Phi-líp-phê, tất cả minh chứng về một hành trình tìm kiếm, về một cuộc hoán cải tiệm tiến nhưng hiện thực và quyết định: chính khi sống điều đó Phao-lô để cho mình được tái tạo nhiều hơn theo hình ảnh của Đấng mà ông muốn phục vụ, Đức Giê-su Ki-tô.

 Dưới ánh sáng kinh nghiệm sống của Phao-lô chúng ta có thể tự hỏi làm thế nào chúng ta cố gắng đi vào trong sự vâng phục đức tin và trong tinh thần của người tôi tớ.  Các bạn được gọi, không phải các bạn trở nên trợ tá cho “sếp” riêng của các bạn; nhưng một khi được gọi, người ta có thể luôn luôn lo cho chính mình và ra khỏi tinh thần nầy của người đầy tớ và khỏi sự vâng lời đức tin. Công thức nầy dành riêng cho bạn và quen thuộc với bạn, là công thức hiến dâng bản thân mình; công thức hoàn toàn bắt gặp điều tôi đã diễn tả bằng hạn từ tinh thần của người tôi tớ và vâng phục đức tin.  Làm thế nào, ngày qua ngày bạn sống sự hiến thân đó của chính mình như một thái độ nền tảng, điều đó hoàn toàn không phải là sự chạy trốn, nhưng đặt mình trong bàn tay của Đức Chúa, qua sự đón nhận những trung gian nhờ đó chúng ta được hướng dẫn?  Các bạn có thể tự hỏi làm thế nào bạn biết trình thuật lại điều bạn làm cho người khác, cho những người có bổn phận đào tạo bạn, cho giám mục, các vị kêu gọi bạn?  Trình thuật lại cũng là một cách tự hiến, không giữ lại cho mình điều người ta đã làm.  Chính trong cùng một chuyển động mà người ta tạ ơn Thiên Chúa về những gì Người đã làm cho chúng ta và vì chúng ta, và người ta tường thuật lại cho người khác về những gì người ta làm.  Làm thế nào bạn tường thuật lại?  Làm thế nào bạn chấp nhận kiểm tra lại mình?  Làm thế nào bạn chấp nhận một ai đó đồng hành với bạn?  Điều nầy, có thể, tuy không nhất thiết, là một linh mục.  Để cho mình được hướng dẫn chính là chấp nhận để cho Chúa Giê-su đồng hành, qua nhiều gương mặt, qua nhiều con người cụ thể gặp được trên đường đi.  Có phải chúng ta chấp nhận, có phải các bạn chấp nhận để thật sự có người đồng hành? Có phải, khi có dịp, bạn cũng chấp nhận đồng hành với những người khác, giữ vai trò của Kha-na-ni-a hay của Ba-na-ba vào một lúc nào đó bên cạnh những người cần sự giúp đỡ bởi vì họ không thấy gì nữa cả, bởi vì họ tìm đường đi, bởi vì họ cần định hướng?  Tất cả mọi người đều cần được hướng dẫn.

 Như thường lệ, xin đề nghị với các bạn hai Thánh vịnh có thể giúp các bạn đạt đến suy niệm trong cầu nguyện.  Thánh vịnh 4 mời gọi chúng ta “Hãy ở lại trong niềm cậy trông”.  Khi dùng từ ngữ vâng phục, tôi ngụ ý dùng từ ngữ tin cậy.  Thánh vịnh 16 (15): “Số phận con ở trong tay Ngài”, tựa đề của Thánh vịnh.  Thánh vịnh 143 (142): “Ước gì hơi thở Ngài hướng dẫn con”.  Chớ gì suy tư về sự mù lòa nhất thời của Phao-lô giúp bạn để cho mình được đồng hành và chấp nhận đồng hành với người khác.

 Lm Nguyễn QuangVinh, chuyển ngữ

 

%d bloggers like this: