HỌC HỎI THÁNH PHAOLÔ (3): LÊN ĐƯỜNG

Lm Dubreuil

Lourdes 2010

Bài 2.                                                   

 LÊN ĐƯỜNG

  Khám phá nhân cách, nhân tính của Phao-lô đã mời gọi chúng ta  đảm trách nhân tính của mình, tiếp nhận, đón chào nó như một ân huệ được ban cho chúng ta, mà chúng ta phải cảm tạ Thiên Chúa và làm sinh ích cho tha nhân.  Chúng ta sẽ thấy điều gì xảy đến cho Phao-lô trên đường đi.  Ghi chú « lên đường » sẽ cho chúng ta khám phá thêm một cấu tố của nhân cách của Phao-lô ; ông là con người hành trình, luôn chuyển động, tóm lại : một tông đồ đăng trình.

 Cuộc gặp gỡ của Phao-lô với Đức Chúa xảy ra trên đường đi từ Giê-ru-sa-lem về Đa-mát.  Có thể chỉ là đơn giản là chi tiết địa lý.  Đối với tôi dường như phải nhấn mạnh về tính biểu tượng, đưa chúng ta về biểu tượng của việc đi và đường đi mà Tin Mừng mang lại.  Thật vậy trong Kinh Thánh, Thiên Chúa luôn kêu gọi đổi chỗ ở : Thiên Chúa hiện ra với Áp-ra-ham tại đất Ur ở Can-đê để xin ông rời khỏi xứ sở của ông, gia đình, người thân của ông và đi đến một xứ mà Người sẽ chỉ cho ông.  Tất cả khởi đầu bằng lệnh lên đường.  Trong Thư Do-thái (có lẽ không phải là Phao-lô viết, nhưng là một môn đệ của Phao-lô), giai thoại kêu gọi Áp-ra-ham thay đổi chỗ ở, xa quê hương, xa gia đình thân sinh, được lấy lại và nhấn mạnh như là hành vi đức tin : « bằng đức tin, đáp trả lại lời kêu gọi, Áp-ra-ham vâng lời và lên đường tới một xứ mà ông nhận làm gia sản, và ông ra đi mà không biết mình đi về đâu » (Dt 11, 8).  Như thế đó, bắt đầu lịch sử cứu độ.

 Lịch sử nầy được tiếp tục qua hành trình dài của dân Chúa băng qua sa mạc.  Thiên Chúa đã đưa dân ra khỏi đất nô lệ Ai-cập.  Lúc bấy giờ dân nầy trở nên du mục, đi lòng vòng trong sa mạc 40 măm.  Chính lang thang như thế giữa những khó khăn đủ loại, đói, khát, bị kẻ thù đe dọa, mà dân lớn lên trong ý thức mình là Dân của Thiên Chúa. Chúa hiện ra với họ trên núi Xi-nai như mặc khải chỉ huy định mệnh của họ. Cũng chính dân đó, một khi vào Đất Hứa Ca-na-an, đã sa ngã muốn định cư ở đó, coi đất đó đã được ban cho họ, đã phải thuộc về họ và chỉ thuộc về họ mà thôi : đó chính là cám dỗ sở hữu đất đai, mà trong suốt chuỗi dài lịch sử, Thiên Chúa đã cố gắng chống trả lại bằng cách bắt Dân đi lưu đày, điều này nhắc cho họ không được lưu lại đó mà phải luôn tiến xa hơn mãi.  Truyền thống di chuyển, lên đường, đăng trình, được gặp thấy khắp nơi trong Kinh Thánh.

 Mở Tân Ước ra, chúng ta nhận thấy Chúa Giê-su cũng đi trong truyền thống nầy. Trong Tin Mừng, đặc biệt nơi thánh Lu-ca, Chúa Giê-su xuất hiện như một ngôn sứ lên đường, luôn luôn chuyển động.  Điển hình, tại Ca-phác-na-um, vào một ngày nọ, sau khi đã thực hiện nhiều phép lạ, Chúa Giê-su rút lui vào nơi thanh vắng để nghỉ ngơi, để sống mạnh hơn sự thân mật với Cha ; bị dân chúng dồn ép, các môn đệ đi tìm Người để bắt lấy Người, để đưa Người về, bởi vì họ đang cần đến Người.  Câu trả lời của Chúa Giê-su : « Tôi cần phải đi nơi khác » (x. Lc 4, 43).  Chúa Giê-su không muốn để mình bị ràng buộc.  Người đến để rao giảng Tin Mừng khắp mọi nơi, làng này qua làng khác, và Người không muốn bị ngăn cản trên đường Người đi.  Hành trình lên Giê-ru-sa-lem được thánh Luca mô tả ở giai đoạn cuối cùng của cuộc đời Chúa Giê-su, là con đường dài lên đền thánh.

 Đường đi được đề cập đến trong nhiều dụ ngôn, nhất là trong dụ ngôn lớn, chính Chúa Giê-su nhập vai người Sa-ma-ri nhân hậu.  Có ai đó ở bên vệ đường, đã bị trấn lột, bị đánh bầm dập ; nằm ở đó, vất vưởng, không đủ làm cho tư tế và thầy Lê-vi dừng bước, lúc bấy giờ Người Sa-ma-ri, một nhân vật ngoại bang trước mắt Dân Thiên Chúa, đã dừng lại để săn sóc ngưới bị thương và dẫn đưa ông tới nơi chữa trị.

 Lại một lần nữa sau khi sống lại Chúa Giê-su hiện ra cho các môn đệ, trên đường đi tới làng Em-mau (vẫn theo thánh Lu-ca) : Người hiện ra, như một người vô danh, làm bạn đồng hành với hai môn đệ, họ coi như thua cuộc và quay lưng lại với Giê-ru-sa-lem để về quê quán mình.  Chính lúc đó Chúa Giê-su bắt gặp họ.  Người đàm đạo với họ. Người tự làm khách để họ mời Người cho đến khi tỏ mình ra cho họ, chính là Người, trước khi biến đi khỏi họ.  Trong sách Công Vụ, chúng ta thấy một hoạt cảnh giống y như vậy ; ở đây nhân vật không phải là Chúa Giê-su, nhưng là Phi-líp-phê, ông đuổi theo người Ê-ti-ô-pi, ông nầy đang nghiên cứu về Thiên Chúa và ông đang đọc sách I-sa-i-a, ông đang cần người giải thích để hiểu lời Sách thánh.  Và cũng như thế trên đường Đa-mát Chúa Giê-su chờ đón Phao-lô.

 Qua trích đoạn vừa đọc chúng ta thấy rằng chuyển động, thay đổi chỗ ở, đường đi, là những đề tài có tính biểu tượng rất mạnh mẽ.  Không phải ngẫu nhiên mà bên vệ đường Đức Chúa đã hiện ra cho Phao-lô.  Con đường là biểu tượng ngược lại của sự thụ động.  Con đường gợi lên sự chuyển động, di dời chỗ ở, sự tìm kiếm.  Con đường gợi nhớ sự truy tìm, tìm một nơi khác, ao ước đi xa hơn nữa.  Con đường cũng là nơi gặp gỡ và, một phần nào đó, là hạnh ngộ không chờ mong.  Người ta có thể đi tránh qua mà không ngừng lại như thầy tư tế và thầy Lê-vi đã làm trong câu chuyện người Sa-mari nhân hậu.  Con đường cũng có thể là điểm gặp gỡ thật sự với người mà mình có trách nhiệm, nơi đó người ta đi vào chuyện vãn với ai khác như trường hợp trên đường Em-mau.  Như vậy, con đường biểu tượng cho sự chuyển động, cho tìm kiếm, cho truy tìm, con đường như là nơi gặp gỡ, nơi nối kết tương quan không ngờ và bất chợt.

 Đời sống mới của Phao-lô, đời sống mới trong Thần Khí của Chúa Giê-su, đã khởi đầu trên đường cái, ngay cả sự nghiệp tông đồ của ông cũng bắt đầu trên đường đi.  Người ta có thể nhận thấy rằng, suốt cuộc đời của ông, Phao-lô đã theo chân Chúa Giê-su, như là môn đệ luôn lên đường.  Dĩ nhiên ông tạo nên những mối liên hệ với các cộng đoàn, nhưng không bao giờ ông ở lì tại những nơi đó.  Sứ vụ của ông là sứ vụ của một tông đồ thăm viếng, đi hết cộng đoàn nầy đến cộng đoàn khác để xúc tiến một việc gì đó (như lạc quyên cho Giáo Hội Giê-ru-sa-lem), hoặc để hiểu biết tình hình những cộng đoàn mà ông đã thành lập, hoặc để tường thuật cho họ những điều huyền diệu của Thiên Chúa  mà ông đã đón nhận nơi khác và để tạo nên sự hiệp thông.  Phao-lô đã sống thừa tác vụ của mình như một sự chuyển động không ngừng.  Mời các bạn bỏ chút thời gian nhìn bản đồ kinh thánh mô tả những chuyến hành trình của Phao-lô.  Thật ấn tượng, nhất là khi xét đến những phương tiện đi lại thời đó.  Ông đã ngang dọc hành trình các vùng Tiểu Á, Hy-lạp, và ông đã kết thúc cuộc hành trình của mình trong tư cách tù nhân tại Rô-ma, đối với ông, Rô-ma là biểu tượng trung tâm Đế quốc, trung tâm thế giới văn minh, một thế giới tiếng tăm; đó là dấu chỉ nói rằng đức tin đã thắng mọi dân tộc.  Hãy nhìn vào bản đồ để thấy những di chuyển không ngơi nghỉ mà vị Tông Đồ đã thực hiện.  Để nhận ra cách hiện thực những di chuyển nầy và để bộc lộ ra tinh thần đó, tôi sẽ đọc một vài trích đoạn nói lên ao ước của Phao-lô luôn muốn đi về nơi khác, về chốn khác , xa hơn.

 Bản văn thứ nhất trích từ Thư 1 Thê-xa-lô-ni-ca, có lẽ xa xưa nhất trong các Thư của Phao-lô : “ Phần chúng tôi, thưa anh em, phải xa cách anh em một thời gian ngắn, xa mặt chứ không cách lòng, chúng tôi càng cố gắng hơn để lại thấy mặt anh em, vì chúng tôi rất ước ao điều đó.  Bởi vậy chúng tôi đã muốn đến thăm anh em – chính tôi, Phao-lô, đã nhiều lần định đi – nhưng Xa-tan đã cản trở chúng tôi.  Quả thế, ai là niềm hy vọng, là niềm vui của chúng tôi, ai là triều thiên làm cho chúng tôi hãnh diện trước nhan Đức Giê-su Chúa chúng ta, khi Người quang lâm, nếu không phải là anh em?  Phải, chính anh em là vinh quang và là niềm vui của chúng tôi” (1 Tx 2, 17-20).  Trước đây, với những công thức lịch lãm. Phao-lô làm chứng mối bận tâm của mình đối với cộng đoàn Thê-xa-lô-ni-ca: “Chúng tôi đã quý mến anh em, đến nỗi sẵn sàng hiến cho anh em, không những Tin Mừng của Thiên Chúa, mà cả mạng sống của chúng tôi nữa, vì anh em đã trở nên những người thân yêu của chúng tôi.  Thưa anh em, hẳn anh em còn nhớ nỗi khó nhọc vất vả của chúng tôi: đêm ngày chúng tôi đã làm việc để khỏi thành gánh nặng cho một người nào trong anh em, suốt thời gian chúng tôi loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa cho anh em.  Anh em làm chứng và Thiên Chúa cũng chứng giám rằng với anh em là những tín hữu, chúng tôi đã cư xử một cách thánh thiện, công minh, không thể chê trách được.  Anh em biết: chúng tôi đã cư xử với mỗi người trong anh em như cha với con” (1Tx 2, 8-11).  Ao ước gặp gỡ người khác.

 Một trích đoạn khác: “Thưa anh em, tôi đã áp dụng các điều đó cho tôi và cho anh A-pô-lô, vì lợi ích của anh em, để anh em theo gương chúng tôi mà học cho biết “đừng có đi ra ngoài những gì đã viết”, kẻo sinh ra kiêu ngạo, theo người nầy mà chống người khác.  Thật vậy, nào có ai coi bạn hơn kẻ khác đâu?  Bạn có gì mà bạn đã không lãnh nhận?  Nếu đã lãnh nhận, tại sao lại vênh vang như thể đã không lãnh nhận?  Anh em đã no nê rồi, đã giàu có rồi !  Không có chúng tôi, anh em đã làm vua rồi!  Phải chi anh em làm vua, để chúng tôi cùng được làm vua với anh em!  “Thật vậy, tôi thiết nghĩ: Thiên Chúa đã đặt chúng tôi làm tông đồ hạng chót như những kẻ bị án tử hình, bởi vì chúng tôi đã nên trò cười cho thế gian, cho thiên thần và cho loài người !  Chúng tôi điên dại vì Đức Ki-tô, còn anh em thì khôn ngoan trong Đức Ki-tô ; chúng tôi yếu đuối, còn anh em thì mạnh mẽ; anh em được kính trọng, còn chúng tôi thì bị khinh khi” (1Cr 4, 6-10).

 “Tôi viết những lời đó không phải để làm anh em xấu hổ, nhưng là để sửa dạy anh em như những người con yêu quý của tôi.  Thật thế, cho dầu anh em có ngàn vạn giám thị trong Đức Ki-tô, anh em cũng không có nhiều cha đâu, bởi vì trong Đức Ki-tô Giê-su, nhờ Tin Mừng, chính tôi đã sinh ra anh em.  Vậy tôi khuyên anh em: hãy bắt chước tôi.  Vì lẽ đó, tôi đã phái người con yêu quý và trung tín của tôi trong Chúa, là anh Ti-mô-thê, đến với anh em.  Anh ấy sẽ nhắc cho anh em những quy tắc hướng dẫn đời sống trong Đức Ki-tô mà tôi đã đề ra, những quy tắc mà tôi vẫn giảng dạy khắp nơi, trong mọi Hội Thánh.  Vì nghĩ rằng tôi sẽ không đến với anh em, có vài người đã sinh ra kiêu ngạo.  Nhưng nếu Chúa muốn, chẳng bao lâu nữa tôi sẽ đến với anh em, và tôi sẽ được biết, không phải tài ăn nói của những kẻ kiêu ngạo đó mà là quyền năng của Thần Khí.  Thật vậy Nước Thiên Chúa không cốt ở tài ăn nói, nhưng ở quyền năng(1Cr 4, 14-20).  Phao-lô sẽ đi thăm và di chuyển chỗ ở để xác nhận sự thật về sự trở lại của các cộng đoàn nầy.

 “Phải, tôi là một người tự do, không lệ thuộc vào ai, nhưng tôi đã trở thành nô lệ của mọi người, hầu chinh phục thêm được nhiều người.  Với người Do-thái, tôi đã trở nên Do-thái, để chinh phục người Do-thái.  Với những ai sống theo Lề Luật, tôi đã trở nên người sống theo Lề Luật, dù không còn phải sống theo lề Luật nữa, để chinh phục những người sống theo Lề Luật.  Đối với những kẻ sống ngoài Lề Luật, dù tôi không sống ngoài luật của Thiên Chúa, nhưng sống trong luật Đức Ki-tô, để chinh phục những người sống ngoài Lề Luật!  Tôi đã trở nên yếu với những người yếu, để chinh phục những người yếu.  Tôi đã trở nên tất cả cho mọi người, để bằng mọi cách cứu được một số người.  Vì Tin Mừng, tôi làm tất cả những điều đó, để cùng được thông chia phần phúc của Tin Mừng.  Anh em chẳng biết sao: trong cuộc chạy đua trên thao trường, tất cả mọi người đều chạy, nhưng chỉ có một người đoạt giải.  Anh em hãy chạy thế nào để chiếm cho được phần thưởng.  Phàm là tay đua, thì phải kiêng kỵ đủ điều, song họ làm như vậy là để đoạt phần thưởng chóng hư; trái lại chúng ta nhắm phần thưởng không bao giờ hư nát.  Vậy tôi đây cũng chạy như thế, chứ không chạy mà không xác tín; tôi đấm như thế, chứ không phải đấm vào không khí.  Tôi bắt thân thể phải chịu cựu và phục tùng, kẻo sau khi rao giảng cho người khác, chính tôi lại bị loại(1Cr 9,19-27).  Phao-lô diễn tả cho chúng ta biết làm thế nào ông bắt kịp những người khác đang khi tự làm cho mình nên giống tha nhân; tuy nhiên ông không bằng lòng với những kết quả tông đồ của ông.  Ông chuyên chăm áp dụng cho chính mình điều ông loan báo sợ rằng chính ông bị loại ra ngoài.

 Có những bản văn hay nói về nhu cầu di chuyển của Phao-lô, trong Thu Rô-ma, Thư mà ông viết cho cộng đoàn mà ông chưa biết đến, mà ông chưa thăm viếng, mà ông sẽ ghé thăm vào cuối đời, trong điều kiện tù đày.  Ông diễn tả lòng ao ước được đi vào trong tương quan với họ, đi thăm viếng họ:

 “Trước hết, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, tôi tạ ơn Thiên Chúa của tôi về tất cả anh em, vì trong khắp hoàn cầu, ai ai cũng đều nói đến lòng tin của anh em.  Thiên Chúa là Đấng tôi hết lòng thờ phượng khi loan báo Tin Mừng về con của Người, chính Người làm chứng cho tôi là tôi hằng nhắc nhở  đến anh em: mỗi khi cầu nguyện, tôi hằng xin Người cho tôi có ngày nào được dịp tốt đến thăm anh em, nếu Người muốn. Thật vậy, tôi rất ước ao được gặp anh em, để chia sẻ với anh em phần nào ân huệ của Thánh Thần, nhờ đó anh em vững mạnh, nghĩa là chúng ta cùng khích lệ nhau, bởi vì cả anh em lẫn tôi, chúng ta cùng chung một niềm tin.  Thưa anh em, tôi không muốn để anh em chẳng hay biết là đã nhiều lần tôi có ý định đến thăm anh em, mong cũng thâu lượm được kết quả nào đó nơi anh em, như đã thâu lượm được nơi các dân ngoại khác, nhưng cho đến nay tôi cứ bị ngăn trở hoài.  Tôi mắc nợ người Hy-lạp cũng như người man di, người thông thái cũng như người dốt nát.  Bởi vậy, tôi nóng lòng loan báo Tin Mừng cho cả anh em nữa, những người đang sống ở Rô-ma” (Rm1, 8-15).

 Thánh Phao-lô tông đồ đã ao ước mãnh liệt đi tới Rô-ma.  Tôi thấy thật thú vị cách ông nói chữa lại để sửa lỗi một câu nói.  Ông nói: “Thật vậy, tôi rất ước ao được gặp anh em, để chia sẻ với anh em phần nào ân huệ của Thánh Thần, nhờ đó anh em vững mạnh”.  Chuyển động thứ nhất: tôi ao ước thăm anh em bởi vì tôi có gì đó để chia sẻ với anh em.  Và sau đó được chữa lại  “nghĩa là chúng ta cùng khích lệ nhau, bởi vì cả anh em lẫn tôi, chúng ta cùng chung một niềm tin”.  Tức là không phải chỉ một ý hướng là thăm viếng và mang đến điều gì đó, tôi sẽ đến thăm anh em để thâu lượm được kết quả từ đức tin của anh em, để đón nhận kết quả của Thần Khí hoạt động trong cộng đoàn Rô-ma.

 Tuyệt vời sự hỗ tương mà Vị tông đồ đã thiết lập, đang lúc hiển nhiên ông mang lại phần lợi nhiều hơn.  Nhưng ông ý thức rằng, khi mang đến, ông cũng nhận lãnh.  Một sự trao đổi sẽ được thiết lập; chính vì thế ông ao ước gặp họ.  Điều này ông ôm mãi trong lòng mãi cho đến khi kết thúc Thư Rô-ma cũng một giọng điệu như thế:

 “Trái lại, như có lời chép: những kẻ đã không được loan báo về Người, sẽ thấy, những kẻ đã không được nghe nói về Người, sẽ hiểu.  Chính vì lẽ đó mà đã bao lần tôi bị ngăn trở không thể đến với anh em.  Nhưng bây giờ tôi không còn môi trường hoạt động trong những vùng nầy nữa; đàng khác, từ nhiều năm nay, tôi vẫn ước ao đến thăm anh em, khi nào tôi sang Tây-Ban-Nha.  Tôi hy vọng trên đường đi sẽ ghé thăm anh em, và được anh em tiễn đưa qua đó, sau khi được thỏa mãn phần nào vì đã gặp anh em.  Nhưng bây giờ tôi còn phải đi Giê-ru-sa-lem để phục vụ dân thánh ở đó, vì miền Ma-kê-đo-ni-a và miền A-khai-a đã có nhã ý đóng góp để giúp những người nghèo trong số dân thánh ở Giê-ru-sa-lem.  Họ đã có nhã ý làm như vậy, nhưng thật ra họ cũng có bổn phận đối với dân thánh ở đó.  Bởi vì các dân ngoại đã được chia sẻ các phúc lộc thiêng liêng của dân thánh ở Giê-ru-sa-lem, thì họ cũng có bổn phận dùng của cải vật chất mà giúp đỡ lại.  Vậy khi đã hoàn thành công việc ấy và đã chính thức chuyển giao kết quả cuộc lạc quyên, tôi sẽ ghé thăm anh em trên đường đi Tây-Ban-Nha.  Tôi biết rằng, khi đến thăm anh em, tôi sẽ đến với đầy đủ phúc lành của Đức Ki-tô” (Rm 15, 21-29).  Đó là cuộc thăm viếng có lợi, hơi một chút chính trị: chính để thiết lập sự liên đới giữa các Giáo Hội mà ông ao ước xúc tiến cuộc lạc quyên dành cho Giáo Hội Giê-ru-sa-lem; các tông đồ khác ở tại Giê-ru-sa-lem và để cho người ta để cho ông được hoạt động, ông cần đối xử tốt với Giáo Hội Giê-ru-sa-lem.

 Những bản văn nầy rất nhân loại: bày tỏ một ao ước, một nhu cầu gặp gỡ gây ngạc nhiên, một sự gắn bó gây ấn tượng, và đồng thời là một ao ước đem Tin Mừng đi xa hơn, và thâu lượm chứng tá của những cộng đoàn đã sống đức tin, mà ông cần học hỏi nơi họ.

 Tất cả làm cho chúng ta hiểu được trong tinh thần nào Phao-lô luôn luôn di động, hành trình, tìm kiếm: tìm kiếm tha nhân, tìm kiếm chốn khác, và nơi thâm sâu tìm kiếm Thiên Chúa.  Như đã viết trong Thư Do-thái: “Chúng ta không có thành đô vĩnh hằng ở chốn nầy, nhưng chúng ta đang tìm kiếm thành đô tương lai” (Dt 13, 14); chúng ta đang tiến bước về thành thánh trên trời và thành thánh đó thúc đẩy Phao-lô ra khỏi chính mình để lao mình về phía trước đi tìm tha nhân, để chia sẻ với họ, để loan báo Tin Mừng nơi xa xăm nhất.  Cách hành động của ông nói lên sự tìm kiếm vốn có nơi ông, một sự chờ đợi thành đô thiên quốc, vương quốc Thiên Chúa.

 Phao-lô đã gặp Chúa Giê-su trên đường, ông đã không rời bỏ lộ trình bao giờ nữa.  Ông liên tục hành trình, di chuyển, đi về phía trước, đi tới, vạch kế hoạch, tiếp tục loan báo Tin Mừng đến mút cùng trái đất.

 Sau khi đã chiêm ngưỡng hoạt động của Phao-lô, ông thật sự là người tìm kiếm, truy lùng, thuật ngữ nói lên sự ao ước, chúng ta thử tự hỏi về chính mình, chúng ta cũng thế, những con người hành trình, luôn luôn lên đường và đi tới.  Người ta có thể di chuyển, tiến tới; người ta có thể di chuyển đang khi đón nhận, đón nhận thật sự, nếu người ta lắng nghe, nhìn ngắm…   Tôi ao ước dưới ánh sáng di chuyển không ngừng của Phao-lô và cách ông quét sạch thế giới thời đó, bạn có thể thưởng thức sự may mắn mà các bạn hít thở chiều kích của thế giới, ngay cả khi các bạn đã được giám mục sai đi làm một sứ vụ mà không phải di chuyển nhiều.

 Theo chân Phao-lô, rất có thể bạn thấy thú vị khi sống sâu sắc “một linh đạo hành trình”, một linh đạo nung nấu rõ rệt Phao-lô.  Sống “linh đạo hành trình” có thể bao hàm ba điều nầy : “luôn ao ước đi xa hơn, một não trạng vượt qua, một sự sẵn sàng đối mặt với những điều bất ngờ”. 

 Ao ước đi xa hơn, đi về tha nhân, luôn luôn đó là sự vượt qua chính mình, không đóng kín chính mình, nhiều hay ít trong một vòng lẩn quẩn, nhưng mở rộng chân trời, vươn ra xa hơn: đi xa hơn trong đức tin, trong tương quan với Chúa Ki-tô, trong cận kề với tha nhân nam nữ trong thời đại của chúng ta, với những kẻ thân cận và những kẻ xa lạ.

 “ Đi xa hơn” không phải là vấn đề nơi chốn.  Có thể xảy ra những người ở gần cửa nhà chúng ta lại rất xa chúng ta, nhưng ít ra chúng ta cũng xa lạ với họ. Chúng ta sống trên hành tinh mà tin tức thế giới đều được biết đến, trong thời hiện tại, và người ta không bó buộc phải chú ý đến những gì xảy ra chung quanh mình.  Làm thế nào sống chuyển động về phía tha nhân, chuyển động nầy chống lại sự đóng kín?  Một cách vật lý, xảy ra vào một thời đại cuộc sống, lúc mà con người ít di chuyển trong nơi chốn và ngay cả trong tâm trí, bởi vì bệnh tật, não trạng, giam hãm chúng ta trong chính mình.  Tuy nhiên, ngay trong lúc đó, có thể thoát ra khỏi chính mình để đón nhận tha nhân, để đón nhận tin tức từ nơi khác, để đón nhận những gì xảy ra trong thế giới, trong Giáo Hội, và để đưa chúng vào kinh nguyện.  Có biết bao thực tế và con người mà chúng ta không biết đến, họ không biết Chúa Ki-tô và họ cần có người làm phát ngôn viên trước Đức Chúa ngay cả trước khi ngỏ Lời với họ.

 Não trạng của người đi qua : kẻ nào di chuyển thì không định vị; điều đó muốn nói họ không cư ngụ.  Não trạng của người đi qua không phải là não trạng của khách du lịch: người du lịch lướt qua trên thực tế, họ không chia sẻ, không trao đổi với thực tế đó.  Người đi qua, lắng nghe, nhìn xem rồi ra đi nơi khác, có thể họ cũng làm như vậy.  Đó là người đi qua, như Chúa Ki-tô đã làm, từ làng nầy sang làng khác, như Phao-lô đi qua, đi từ cộng đoàn nầy đến cộng đoàn khác. Chúa Ki-tô là một người đi qua đồng thời người hành trình.  Trong mục vụ của tôi, tôi chưa bao giờ làm cha sở, tôi luôn có những sứ vụ trong giáo phận, hoặc những sứ vụ quản trị địa phận như là đại diện giám mục và tổng đại điện, và tôi cảm thấy luôn luôn như là người có mục vụ thăm viếng, nghĩa là có trách nhiệm thăm viếng các cộng đoàn, xem họ thế nào, nâng đỡ những cộng đoàn yếu kém, cổ vũ sự thi đua giữa các cộng đoàn, thông tin cho cộng đoàn khác điều xảy ra nơi cộng đoàn kia và từ đó gợi ra những ý tưởng. Khi mừng năm mươi năm công tác mục vụ, tôi đã nói và cuối bài giảng: “Cuối cùng tôi đã là người đi ngang qua, tôi đã đi từ cộng đoàn nầy đến cộng đoàn kia; tôi hy vọng mình cũng đã là người đi qua và, theo hình ảnh Chúa Kt-tô, là một mục tử”.  Một não trạng của người đi qua đối kháng lại với não trạng của người cư trú, đối kháng lại não trạng sở hữu chủ, người  ta bỏ qua…

 Khía cạnh cuối cùng của linh đạo hành trình: một sự sẵn sàng cho những gặp gỡ bất ưng. Con đường, được định nghĩa là nơi gặp gỡ; người ta gặp ở đó hàng ngàn con người, cũng nơi đó gặp được những  “người đường phố”, và như thế con đường trở nên, than ôi ! mái nhà.  Tuy nhiên có thể xảy ra trên đường những gì xảy ra nơi tàu điện ngầm của Paris: người ta giao diện với nhiều người mà người ta không gặp một ai cả.  Phải chăng người ta sẵn sàng dùng những phương tiện của một cuộc gặp gỡ, ngay cả ngắn ngủi, một chút trao đổi chứng minh cho người khác rằng họ được biết đến, điều nầy cho phép chúng ta lắng nghe điều họ muốn nói… ?

 Có thế ích lợi khi tự hỏi làm thế nào người ta giữ lại được những quan hệ, không phải để chiếm đoạt, nhưng để duy trì, và làm thế nào tạo nên những tương quan mới.  Vì mắt kém, tôi ít có khả năng di chuyển như trước đây và điều nầy hạn chế sự tự lập của tôi, hạn chế khả năng thăm viếng của tôi.  Tôi nhận ra sự cám dỗ trước tiên là bỏ rơi những tương quan chúng có phần nặng nề, nặng vì người ta có việc phải giải quyết cho những người đau khổ; luôn luôn là những lời chia buồn khi đi thăm viếng họ.  Thật thuận lợi hơn khi gặp gỡ những con người trung thực, họ làm chúng ta tham dự nhiều chuyện, làm vui chúng ta !  Thật thú vị khi tự hỏi mối tương quan nào người ta đã bỏ rơi hoặc mối tương quan nào người ta để cho tàn lụi.  Tất cả có ý nghĩa của nó.  Người ta cũng tự hỏi tương quan nào mình đeo bám.  Câu hỏi nầy đặt cho bạn cũng đặt ra
cho chính tôi vậy!

 Các Thánh vịnh đi theo suy tư chúng ta, đưa đẩy, biến đổi suy tư chúng ta thành kinh nguyện; đó là những Thánh vịnh lên đường, hành trình, hành hương.  Thánh vịnh 24: “Xin làm cho con biết đường lối của Người”, đó là điều con người xin với Đức Chúa; Thánh vịnh 26 lời cầu xin tương tự như vậy: “Xin hãy dẫn con đi trên đường an toàn”; Thánh vịnh 41 đi vào ao ước sâu thẳm: “Linh hồn con khao khát Chúa Trời, Thiên Chúa  hằng sống…”.  Bạn thử xem các Thánh vịnh nầy có thể giúp bạn cầu nguyện và biến đổi bài suy niệm thành chiêm niệm và kinh nguyện hay không.

 Lm Nguyễn Quang Vinh chuyển ngữ

Phương Hòa Mùa Phục Sinh 2011

 

%d bloggers like this: