HỌC HỎI THÁNH PHAOLÔ (9): CON NGƯỜI MỚI

Lm Dubreuil

Lourdes 2010

Bài số 8

 CON NGƯỜI MỚI

 Chúng ta thấy Phao-lô sống ba ngày này trong trạng thái như chết, trong tăm tối, trong sự lạc lõng, tự đặt mình dưới chế độ kiêng khem và, dầu vậy mặc lòng, ông kiên trì cầu nguyện để bén nhạy trong chờ đợi, như trong thị kiến mà ông đã được báo trước cũng như điều đã được báo cho ông trên đường, sắp được thực hiện.  Chúng ta sẽ ngắm nhìn cuộc gặp gỡ nầy mà tôi đặt tên: “Gặp gỡ Kha-na-ni-a, cuộc gặp gỡ đem lại sự sống”.

 Trong ba ngày tại Đa-mát, Phao-lô đã tham dự một cách nào đó vào cái chết và sự mai táng của Chúa Ki-tô; bây giờ ông được kéo đi vào sự sống lại, nhờ vào con người nầy, ông Kha-na-ni-a, mà Đức Chúa gửi đến cho ông.

 10 Bấy giờ ở Đa-mát có một môn đệ tên là Kha-na-ni-a. Trong một thị kiến, Chúa phán với ông: ”Kha-na-ni-a!” Ông thưa: ”Dạ, lạy Chúa, con đây.” 11 Chúa bảo ông: ”Đứng lên, đi tới phố gọi là Phố Thẳng, đến nhà Giu-đa tìm một người tên là Sao-lô quê ở Tác-xô: người ấy đang cầu nguyện 12 và thấy một người tên là Kha-na-ni-a đi vào, đặt tay trên mình để làm cho mình lại thấy được.” 13 Ông Kha-na-ni-a thưa: ”Lạy Chúa, con đã nghe lắm kẻ nói về người ấy, về tất cả những điều ác người ấy đã làm cho dân thánh Chúa tại Giê-ru-sa-lem. 14 Còn ở đây, người ấy được các thượng tế cho quyền bắt trói tất cả những ai kêu cầu danh Chúa.” 15 Nhưng Chúa phán với ông: ”Cứ đi, vì người ấy là lợi khí Ta chọn để mang danh Ta đến trước mặt các dân ngoại, các vua chúa và con cái Ít-ra-en. 16 Thật vậy, chính Ta sẽ chỉ cho người ấy thấy tất cả những đau khổ người ấy phải chịu vì danh Ta.” 17 Ông Kha-na-ni-a liền đi; ông vào nhà, đặt tay trên ông Sao-lô và nói: ”Anh Sa-un, Chúa đã sai tôi đến đây, Người là Đức Giê-su, Đấng đã hiện ra với anh trên đường anh tới đây. Người sai tôi đến để anh lại thấy được và để anh được đầy Thánh Thần.” 18 Lập tức có những cái gì như vảy bong ra khỏi mắt ông Sao-lô, và ông lại thấy được. Ông đứng dậy và chịu phép rửa. 19 Rồi ông ăn và khoẻ lại”.

 Trước khi trở lại câu chuyện về Phao-lô và những gì Phao-lô sống trong tình tiết của lịch sử, hãy dừng lại nơi Kha-na-ni-a.  Duy nhất chỉ một lần tên của Kha-na-ni-a xuất hiện  trong sách Công Vụ Tông Đồ và trong Tân Ước; điều đó nói rằng ông không phải là một nhân vật tiếng tăm trong thế giới Ki-tô giáo.  Ông thuộc cộng đoàn Đa-mát, mà không biết ai đã thành lập; rất có thể là những người Do-thái bị đuổi khỏi Giê-ru-sa-lem trú ngụ ở đó, và lẫn lộn giữ họ có người Ki-tô giáo.  Nếu Sao-lô, trên đường đi và  sau đó, đã được gọi làm cuộc hành trình, thì Kha-na-ni-a cũng đã làm một cuộc hành trình, theo cách của ông trong thời gian kỷ lục!   Như thế ông là Kit-tô hữu nồng cốt.  Bổng chốc Đức Chúa hiện ra với ông trong thị kiến và kêu gọi ông.  Kha-na-ni-a tỏ ra sẵn sàng khi thưa: “Này con đây”; ông lắng nghe Đức Chúa lệnh cho ông đi đến một phố ở Đa-mát, gọi là “đường Thẳng”, nơi nhà một người tên là Giu-đa (ông nầy không liên hệ gì tới Giu-đa mà các Tin Mừng nói tới) để tìm gặp Sao-lô người Tạc-xô đang ở đó; thị kiến có ý nói rằng Sao-lô khi đang ở trong tăm tối, từ nơi thẳm sâu xuyên qua một lỗ nhỏ ông đã nhìn thấy một người nào đó đến thăm ông như điều đã báo cho ông trên đường qua tiếng nói mà ông đã nghe.

 Chúng ta có thể hình dung cú sốc đối với Kha-na-ni-a khi ông chắc hẳn đã nghe nói về Sao-lô, về cung cách hành xử của Sao-lô đối với các Ki-tô hữu ở Giê-ru-sa-lem, và ông biết rõ lý do tại sao Sao-lô đến Đa-mát: ông đến để săn đuổi các Ki-tô hữu và xiềng họ lại đưa về Giê-ru-sa-lem.  Tất cả những chuyện đó Đức Chúa xin Kha-na-ni-a quên đi, và đi tìm con người nầy và đến gặp ông ta; không dễ dàng chút nào khi được mời gọi đặt mình trước miệng chó sói; Phao-lô đến truy lùng các Ki-tô hữu, xiềng xích họ lại và đem đi.  Đức Chúa trong một thị kiến nói với Kha-na-ni-a: “Hãy đi tìm con người nầy!”  Kha-na-ni-a cảm thấy cần được giải thích: “Lạy Chúa, con đã nghe lắm kẻ nói về người ấy, về tất cả những gì người ấy đã làm tại Giê-ru-sa-lem, con biết ý định của ông ta làm tại Đa-mát”.  Và một cách minh thị, Đức Chúa mặc khải cho ông kế hoạch liên quan đến Sao-lô: “Cứ đi, vì người ấy là lợi khí Ta chọn để mang danh Ta đến trước mặt các dân ngoại, các vua chúa và con cái Ít-ra-en”.  Đức Chúa nói với Kha-na-ni-a: “Ta biết ngươi sợ hãi tuy nhiên hãy biết rằng con người nầy, chính ta đã chọn lựa để làm khí cụ đặc chủng loan báo tin Mừng của Ta cho dân Ít-ra-en, cho các vua chúa và cho các dân ngoại giáo”.  Đức Chúa dành để cho Phao-lô tự mình khám phá, những đau khổ mà ông phải chịu đựng trong sứ mệnh ông đã lãnh nhận.

 Kha-na-ni-a được đề nghị thay đổi cái nhìn cách toàn triệt về Sao-lô và coi ông như một người anh em, một kẻ đã hành xử đối lập kịch liệt cho đến lúc bấy giờ.  Cuộc trở lại nầy chất vấn chúng ta  và chất vấn Giáo Hội.  Chúng ta có thể ca ngợi sự sẵn sàng của Kha-na-ni-a, người đã cho biết về Sao-lô cách tường tận và việc đó không làm cho ông hứng thú đi gặp Sao-lô, ông vâng lệnh và lên đường tìm gặp Sao-lô nổi tiếng, ông xưng hô ngay từ đầu: “Anh Sao-lô ơi, Đức Chúa sai tôi tới với anh”.  Xưng danh “anh em” !  Ông đã biết đây là đối thủ kịch liệt, người mà ông coi như mối nguy hiểm nhất đối với các Ki-tô hữu, đang trở thành người anh em của ông và ông đã chào hỏi như thế ngay từ đầu khi nối kết sứ mệnh của ông với những gì xảy ra trên đường và rõ ràng ông biết như vậy.

 Điều quan trọng là biết dừng lại chiêm ngắm nhân vật Kha-na-ni-a ngay cả không có nhiều vấn đề về ông.  Ông nhắc chúng ta là môn đệ, là Ki-tô hữu, là Giáo Hội, chúng ta có khuynh hướng bảo vệ mình khỏi tha nhân, nhất là khỏi những ai mà chúng ta biết họ không yêu thích chúng ta, tốt hơn là không nên tiếp xúc.  Đó là một đặc tính của Giáo Hội chúng ta hôm nay, hơn thế nữa thu mình lại hơn là tiếp xúc.  Cơn cám dỗ của Kha-na-ni-a và sự ngập ngừng của ông, như đã biết và điều lý thú là mặc dù ý thức như vậy, ông không để cho chủ nghĩa nhiệt tình lôi kéo làm cho xong chuyện, nhưng là lắng nghe lời kêu gọi của Đức Chúa và không trù trừ đáp lại Danh Người khi cơ hội đến.

 Kha-na-ni-a đặt tay trên Sao-lô, cử chỉ mang ý nghĩa lời kêu gọi của Thần Khí: người ta đặt tay để ban Thần Khí, và ông nói: “Anh Sao-lô ơi, chính Đức Chúa sai tôi đến để anh lại thấy được và để anh được đầy Thánh Thần”.  Thật vậy Phao-lô lại nhìn thấy và Thánh Thần ở với ông, sự hiện diện của Thánh Thần trong đời sống của ông được biểu thị qua phép rửa mà ông lãnh nhận tức thời, như những kẻ được rửa tội đã hỏi các tông đồ, vào buổi chiều ngày lễ Ngũ Tuần: “Chúng tôi phải làm gì ?” (Cv 2, 37).

 Phao-lô ở trong tình trạng suy sụp hoàn toàn, trong sự hủy hoại, cô đơn hoàn toàn, trong tình trạng như chết đi vậy.  Bổng chốc thấy ông sáng mắt, nghĩa là đứng vững trên đôi chân, sức khỏe được phục hồi, và đầy tràn Thánh Thần.  Thật thú vị  khi nhìn thấy hai việc nầy đi chung với nhau.  Đó là con người hoàn toàn được phục sức: trong thân xác tìm lại được đôi mắt sáng, dùng thức ăn phục hồi sức khỏe, trong tâm hồn Thần Khí được ban xuống.  Ơn cứu độ không phải là cái gì đó

như khí ê-te bốc hơi, nhưng là điều gì đó xâm chiếm toàn thể con người.  Phao-lô bị Thần khí bắt lấy, người ta nhận ra Phao-lô đã thật sự sống kinh nghiệm nầy như một sự tái-sáng-tạo.  Ông tự cảm thụ mình là một con người mới, tự cảm nhận mình được tái-tạo, được tái-sinh trong một thân xác, một tinh thần, một tâm hồn.

 Trong Thư 2 Cô-rin-tô Phao-lô viết những lời nầy: “Nếu ai ở trong Chúa Ki-tô, người đó là tạo vật mới” (2 Cr 5, 17).  Nếu đã nói như vậy bởi vì chính Phao-lô đã trải nghiệm điều đó trên đường Đa-mát, kinh nghiệm được tái-tạo dựng, được làm mới lại nhờ Thần Khí của Đức Chúa, và ông thật sự trở nên một tạo vật mới, được đi vào trong một thế giới mới, trong một sáng tạo mới nơi đó Đức Giê-su sống lại đã đi trước chúng ta.

 Người ta hiểu ra rằng Phao-lô đã đánh giá thấp tất cả những gì có trước đây, tất cả những gì ông làm trước lúc gặp gỡ Chúa Ki-tô, khi nói rằng tất cả là hư vô, là cặn bã là rác rưởi khi đem so sánh với với sự thiện tuyệt đối là nhận biết Đức Giê-su Chúa chúng ta: “Vì Người tôi chấp nhận mất tất cả” (x. Pl 3,8).  Tiếng kêu nầy chỉ cho biết đến mức độ nào Phao-lô ý thức mình được hoàn toàn đổi mới, được thật sự trở nên tạo vật mới.  Điều đặc biệt nhất đối với Phao-lô, con người mới mà ông trở nên, chính là ông cảm nghiệm tức khắc được giải phóng khỏi lề luật và được tràn đầy Thần khí.  Phao-lô không khinh dễ lề luật, ông vâng phục.  Ông biết luật được Thiên Chúa ban ra.  Tuy nhiên ông ý thức, và lịch sử Ít-ra-en làm chứng điều đó rằng luật làm cho người ta nhận biết khi người ta làm điều xấu, rằng chính luật mặc khải tội mà luật không biết đến.  Người ta biết mình có tội nhưng người ta không có phương tiện để thoát khỏi tội, cho nên Thần khí, dù không áp dụng hình thức mặc cảm tội lỗi, đã được ban cho chúng ta trước hết để chúng ta bắt lấy hơi thở của chính Thiên Chúa.

 Luật là quy tắc, quy tắc ngoại tại.  Thần khí là hơi thở, một hơi thở thứ hai nối kết chúng ta lại từ thâm sâu nội tại nơi chính chúng ta, làm cho chúng ta thay đổi từ bên trong và từ nội tâm chúng ta cổ vũ và thanh luyện tự do chúng ta.  Luật đóng khung tự do, Thần khí cổ vũ tự do và hướng tự do về đối tượng Tình Yêu.  Đối với Phao-lô, điều cốt yếu của đời sống mới: tránh lệ thuộc luật, tránh làm nô lệ cho luật, vì có nguy cơ cho rằng cố gắng đi theo luật, vâng lời luật cách tốt nhất, người ta sẽ tự cứu độ lấy chính mình.  Phao-lô chấp nhận được Người Khác cứu độ và ông chấp nhận rằng đó không phải chỉ là quy luật sống được đề nghị cho ông, nhưng một sức sống được ban cho ông và sức sống đó là hơi thở của chính Thiên Chúa.

 Từ đó chúng ta hiểu rằng tại sao Phao-lô chiến đấu, như Thư Rô-ma và Thư Ga-lát làm chứng, chống đối lại những kẻ muốn áp đặt luật Do-thái cho những người ngoại trở lại Ki-tô giáo: đối với Phao-lô như thế là coi ơn cứu độ được Chúa Ki-tô ban là vô hiệu quả, bởi vì người ta còn phải cầu cứu đến luật; người ta rơi vào chủ thuyết duy ý chí pháp định, thay vì đạt đến tự do mà Thần khí ban cho.  Thần khí được ban cho Tông Đồ Phao-lô (x. trình thuật của sách Công Vụ), Thần khí cổ vũ sự tự do.  Phao-lô nói đến bức màn phủ lên mặt ông Mô-sê để con cái Ít-ra-en khỏi bị lóa mắt khi ông từ núi xuống và nói rằng Dân Ít-ra-en vẫn luôn có bức màn đó trước mắt và điều đó ngăn chặn nhận ra Thiên Chúa Ít-ra-en, Thiên Chúa của các Tổ Phụ, nơi gương mặt của Đức Giê-su: “16 Nhưng khi người ta quay lại với Chúa, thì tấm màn mới được cất đi. 17 Chúa là Thần Khí, và ở đâu có Thần Khí của Chúa, thì ở đó có tự do” (2 Cr 3, 16-17).  Như vậy Thần khí đi chung đường với tự do.

 Thần khí cũng đi chung đường với tình yêu và tình bác ái:5 Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5, 5).  Thần khí nầy mang theo mình sự tự do, cũng là Thần khí đổ chan hòa tình yêu trong tâm hồn chúng ta.  Và cũng chính Thần khí cho phép chúng ta cầu nguyện đúng đắn bởi vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào: “26 Hơn nữa, lại có Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải; nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả” (Rm 8, 26). Có phải người ta để cho Thần khí diễn tả đủ nơi đáy lòng chúng ta, có phải người ta không ngăn chặn Thần khí bộc lộ vì người ta nói thay cho Thần khí, lịch sử của đóng kín thinh lặng?  Sống theo Thần khí là sống trong tự do, sống trong tình yêu, trong kinh nguyện.

 Một số bản văn của tông đồ Phao-lô ca tụng sự tuyệt vời của đời sống mới mà ông đã trải nghiệm, qua trung gian của Kha-na-ni-a, nhờ Thần khí được ban cho ông.  Trong Thư Rô-ma sự sống mới được trình bày như sự sống được dâng tặng: “1 Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người (Đó là tất cả đời sống, nó trở nên sự thờ phượng bằng cách dâng hiến cho Thiên Chúa và cho tha nhân).2 Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo.

 3 Dựa vào ân sủng Thiên Chúa đã ban cho tôi, tôi xin nói với từng người trong anh em: đừng đi quá mức khi đánh giá mình, nhưng hãy đánh giá mình cho đúng mức, mỗi người tuỳ theo lượng đức tin Thiên Chúa đã phân phát cho. 4 Cũng như trong một thân thể, chúng ta có nhiều bộ phận, mà các bộ phận không có cùng một chức năng, 5 thì chúng ta cũng vậy: tuy nhiều nhưng chỉ là một thân thể trong Đức Ki-tô, mỗi người liên đới với những người khác như những bộ phận của một thân thể. 6 Chúng ta có những đặc sủng khác nhau, tuỳ theo ân sủng Thiên Chúa ban cho mỗi người. Được ơn làm ngôn sứ, thì phải nói sao cho phù hợp với đức tin….15  Hãy vui với người vui, khóc với người khóc. 16 Hãy đồng tâm nhất trí với nhau, đừng tự cao tự đại, nhưng ham thích những gì hèn mọn. Anh em đừng cho mình là khôn ngoan, 17 đừng lấy ác báo ác, hãy chú tâm vào những điều mọi người cho là tốt. 18 Hãy làm tất cả những gì anh em có thể làm được, để sống hoà thuận với mọi người. 19 Anh em thân mến, đừng tự mình báo oán, nhưng hãy để cho cơn thịnh nộ của Thiên Chúa làm việc đó, vì có lời chép: Đức Chúa phán: Chính Ta sẽ báo oán, chính Ta sẽ đáp trả. 20 Trái lại, kẻ thù ngươi có đói, hãy cho nó ăn; có khát, hãy cho nó uống; làm như vậy, ngươi sẽ chất than hồng lên đầu nó. 21 Đừng để cho sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác” (Rm 12, 1-6.15-21).  Đó là sự diễn tả đầu tiên về đời sống mới được ban cho chúng ta.

 Một bản văn khác trong Thư Ga-lát, trong đó thánh tông đồ chiến đấu chống lại những kẻ chủ trương theo đạo Do-thái, muốn áp đặt luật cũ: “13 Quả thế, thưa anh em, anh em đã được gọi để hưởng tự do. Có điều là đừng lợi dụng tự do để sống theo tính xác thịt, nhưng hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau. 14 Vì tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. 15 Nhưng nếu anh em cắn xé nhau, anh em hãy coi chừng, anh em tiêu diệt lẫn nhau đấy!

16 Tôi xin nói với anh em là hãy sống theo Thần Khí, và như vậy, anh em sẽ không còn thoả mãn đam mê của tính xác thịt nữa. 17 Vì tính xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí, còn Thần Khí lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt, đôi bên kình địch nhau, khiến anh em không làm được điều anh em muốn. 18 Nếu anh em để cho Thần Khí hướng dẫn, thì anh em không còn lệ thuộc Lề Luật nữa” (Gl 5, 13-18).  Phao-lô đối chọi những việc làm theo xác thịt với việc làm theo Thần khí.

 

Có sự quảng diễn quan trọng trong Thư Ê-phê-xô, cần phải đọc những đoạn nầy như một loại lưới lọc giúp chúng ta phận định, trong cuộc sống chúng ta, điều gì tốt, điều gì xấu, điều gì là dấu chỉ của đời sống mới, điều gì là dấu chỉ mà con người cũ vẫn còn chưa chết:

1 Vậy, anh em hãy bắt chước Thiên Chúa, vì anh em là con cái được Người yêu thương, 2 và hãy sống trong tình bác ái, như Đức Ki-tô đã yêu thương chúng ta, và vì chúng ta, đã tự nộp mình làm hiến lễ, làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa tựa hương thơm ngào ngạt. 3 Chuyện gian dâm, mọi thứ ô uế hay tham lam, thì dù nói đến, anh em cũng phải tránh, như thế mới xứng đáng là những người trong dân thánh. 4 Đừng nói lời thô tục, nhảm nhí, cợt nhả: đó là những điều không nên; trái lại, phải tạ ơn Thiên Chúa thì hơn. 5 Anh em phải biết rõ điều này: không một kẻ gian dâm, ô uế hay tham lam nào-mà tham lam cũng là thờ ngẫu tượng- được thừa hưởng cơ nghiệp trong Nước của Đức Ki-tô và của Thiên Chúa. 6 Đừng để ai lấy lời hão huyền mà lừa dối anh em, chính vì những điều đó mà cơn thịnh nộ của Thiên Chúa giáng xuống những kẻ không vâng phục. 7 Vậy anh em đừng thông đồng với họ. 8 Xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em lại là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng; 9 mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật. 10 Anh em hãy xem điều gì đẹp lòng Chúa. 11 Đừng cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối, phải vạch trần những việc ấy ra mới đúng. 12 Vì những việc chúng làm lén lút, thì nói đến đã là nhục rồi. 13 Nhưng tất cả những gì bị vạch trần, đều do ánh sáng làm lộ ra; 14 mà bất cứ điều gì lộ ra, thì trở nên ánh sáng. Bởi vậy, có lời chép rằng:Tỉnh giấc đi, hỡi người còn đang ngủ!Từ chốn tử vong, trỗi dậy đi nào!Đức Ki-tô sẽ chiếu sáng ngươi!” (Ep 5, 1-14).

 

Lời thứ hai Chúa Giêsu ngỏ với Sao-lô trên đường Đa-mát là: “Đứng dậy”.  Lời nầy đơn thuần mời gọi ông đứng vững trên đôi chân của mình; từ nay lời nầy mời gọi ông đứng lên, như một con người mới, được tái tạo dựng, theo hình ảnh của Thiên Chúa, hình ảnh của Chúa Ki-tô.  Thật rõ ràng, đối với Phao-lô, sự sống mới nầy được chính phép rửa mang lại; chính vì thế ông Kha-na-ni-a làm phép rửa cho Phao-lô.  Có thể nói được rằng, giống như trường hợp của ông Cô-nê-li-ô: “Hãy đợi đấy, Thánh Thần Chúa ngự xuống trên ông, người ta ban ơn huệ phép rửa cho ông.  Điều chính yếu đã được thực hiện”.  Vị tông đồ muốn nhấn mạnh (và thánh Luca cũng thế) đến ân huệ của Thần khí được thực thi qua các bí tích.  Ông nói đến Bí Tích Thánh Thể, để tố giác những ai tham dự Thánh Thể mà không đủ khả năng chia sẻ với tha nhân lương thực của mình.  Ông cũng nói đến phép rửa; tuy nhiên trong Thư 1 Cô-rin-tô ông bào chữa là đã không rửa tội nhiều người Cô-rin-tô; chắc hẳn ông ý thức rằng vì họ đã được đào tạo trong các tôn giáo bí nhiệm và những lễ nghi khai tâm, có nguy cơ theo đuổi họ, khi họ bám víu vào người thủ lãnh của họ, vào kẻ đã rửa tội cho họ.  Nhưng không phải vì thế mà họ quên đi tính cách quan trọng của các bí tích.  Khi người ta đọc kỹ hơn những tài liệu nầy của Phao-lô, ông trước hết là người của ngôn từ, người ta thấy rằng các bí tích là những thời điểm mà lời đạt đến hiệu năng tối đa, lúc mà Lời của Thiên Chúa hành động và thực hành điều lời phát biểu.

 Chính trong tư tưởng đó mà chúng ta đọc thư Rô-ma, có vấn đề liên quan đến phép rửa: . 3 Anh em không biết rằng: khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Ki-tô Giê-su, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người sao? 4 Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới.

5 Thật vậy, vì chúng ta đã nên một với Đức Ki-tô nhờ được chết như Người đã chết, thì chúng ta cũng sẽ nên một với Người, nhờ được sống lại như Người đã sống lại. 6 Chúng ta biết rằng: con người cũ nơi chúng ta đã bị đóng đinh vào thập giá với Đức Ki-tô, như vậy, con người do tội lỗi thống trị đã bị huỷ diệt, để chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa. 7 Quả thế, ai đã chết, thì thoát khỏi quyền của tội lỗi.

8 Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Ki-tô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người: đó là niềm tin của chúng ta. 9 Thật vậy, chúng ta biết rằng: một khi Đức Ki-tô đã sống lại từ cõi chết, thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người. 10 Người đã chết, là chết đối với tội lỗi, và một lần là đủ. Nay Người sống, là sống cho Thiên Chúa. 11 Anh em cũng vậy, hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi, nhưng nay lại sống cho Thiên Chúa, trong Đức Ki-tô Giê-su. Phục vụ tội lỗi và phục vụ sự công chính12 Vậy tội lỗi đừng có thống trị thân xác phải chết của anh em nữa, khiến anh em phải nghe theo những dục vọng của thân xác.

 Phao-lô chắc hẳn đã lấy hứng từ hình thức phép rửa cổ xưa nhất, phép rửa bằng cách dìm vào trong nước; hình ảnh vượt qua Biển Đỏ, chúng ta được cứu khỏi nước, đe dọa nuốt sống chúng ta để đưa chúng ta vượt lên, băng qua, đạt đến một vùng đất mới, đạt đến một sự sống mới.  Điều nầy xảy ra nơi phép rửa, làm chúng ta đổi bờ, đổi sự sống, làm chúng ta trở nên con người mới.  Có thể chúng ta đã không nghĩ đến phép rửa của mình như là một cuộc sinh hạ mới, một cuộc tái-sáng tạo, phải được triển nở trong suốt hành trình của cuộc sống chúng ta cho đến ngày đạt được sự viên mãn trong Vương Quốc.  Phao-lô đã trải nghiệm điều nầy, rút ra được những hoa trái.  Chúng ta cần phải nghiền ngẫm kinh nghiệm sự sống mới nầy trong Chúa Ki-tô, chúng ta cần phải thấy sự hoán cải vào đời sống mới kêu gọi chúng ta, khởi đi từ những gợi ý mà Tông đồ Phao-lô dâng hiến cho chúng ta.

 Bí tích Hòa Giải lập lại cách nào đó bí tích rửa tội; ơn tha thứ mà chúng ta lãnh nhận thật sự là ơn tha thứ tạo dựng; ơn huệ đó không những chỉ làm cho chúng ta hợp luật, nhưng còn làm chúng ta mới lại.  Phép rửa tội làm mới lại chúng ta, trở nên con người mới, trở nên tạo vật mới theo hình ảnh của Đức Ki-tô.  Điều nầy đã xảy ra cho Sao-lô nhờ ông Kha-na-ni-a, người đã lướt thắng sự sợ hãi, ra đi giáp mặt đối phương và đón tiếp kẻ thù như một huynh đệ.

 Chúng ta cũng đã được thanh tẩy, chúng ta làm gì với phép rửa của chúng ta?  Đó là câu hỏi, mà trong cuộc hành trình đầu tiên tới đất Pháp, Đức Gioan Phao-lô II đã đặt cho nước Pháp, và cho chúng ta nữa: “Bạn đã làm gì với phép rửa của bạn?”  Hãy đón nhận câu hỏi ấy và cố gắng trả lời.  Dĩ nhiên chúng ta không hoàn hảo tuyệt đối, tuy nhiên chúng ta không hẳn hoàn toàn sai lầm; hoặc là điều đó muốn nói rằng Thần khí không hoạt động đúng chức năng của mình, có thể chúng ta đã cản trở hoạt động của Thần khí.  Để làm việc đó, điều rất quan trọng là biết định hướng lại trong đời sống, bằng nổ lực nhận định và nổ lực phân định, điều gì tốt, điều gì tốt hơn, hơn là bị ám ảnh về điều xấu, về sự dữ; chính trong điều tốt hơn, trong điều tốt mà Thần khí bộc lộ ra cho chúng ta sức mạnh, và điều đó có thể giúp chúng ta kinh nghiệm để trở nên người mới.

 Phương Hòa Kontum ngày 21. 9. 2011

Lm Nguyễn Quang Vinh chuyển ngữ


%d bloggers like this: