HỌC HỎI THÁNH PHAOLÔ (11): PHAOLÔ VÀ GIÁO HỘI

Lm Dubreuil

Lourdes 2010

Bài số 10

Phao-lô và Giáo Hội

 Khởi từ đời sống của Phao-lô trong Giáo Hội, tôi suy nghĩ để dẫn dắt bạn đến chỗ tự thẩm vấn mình về cách sống của bạn trong Giáo Hội, sống Giáo Hội.

 Có lẽ người ta chờ đợi câu chuyện ngoạn mục của Phao-lô mang lại cho ông trước hết thiện cảm của cộng đoàn Đa-mát: không phải là chuyện nhỏ một người tầm cỡ như Phao-lô trở lại Ki-tô giáo!  Chuyện xảy ra hoàn toàn ngược lại: thay vì cổ vũ sự phấn khởi và thiện cảm, các nổ lực của Phao-lô để hòa nhập mình vào cộng đoàn các môn đệ tại Đa-mát chạm trán phải sự nghi kỵ, thù địch và nghi ngờ của cộng đoàn Đa-mát và, sau nầy, của cộng đoàn Giê-ru-sa-lem nữa.  Sách Công Vụ Tông Đồ ghi lại: “19 Rồi ông ăn và khoẻ lại.  20 Rồi lập tức ông bắt đầu rao giảng Đức Giê-su trong các hội đường, rằng Người là Con Thiên Chúa. 21 Mọi người nghe ông giảng đều kinh ngạc và nói:  ‘Ông này chẳng phải là người ở Giê-ru-sa-lem vẫn tiêu diệt những ai kêu cầu danh Giê-su sao? Chẳng phải ông đã đến đây với mục đích bắt trói họ giải về cho các thượng tế sao?’ 22 Nhưng ông Sao-lô càng thêm vững mạnh, và ông làm cho người Do-thái ở Đa-mát phải bẽ mặt, khi minh chứng rằng Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a.

 23 Sau một thời gian khá lâu, người Do-thái cùng nhau bàn kế giết ông Sao-lô; 24 nhưng ông biết được âm mưu của họ. Thậm chí người ta canh giữ các cửa thành ngày đêm, để giết ông. 25 Nhưng ban đêm, các môn đệ ông đã đưa ông qua tường thành bằng cách đặt ông ngồi trong một cái thúng rồi dòng dây thả xuống.

 26 Khi tới Giê-ru-sa-lem, ông Sao-lô tìm cách nhập đoàn với các môn đệ. Nhưng mọi người vẫn còn sợ ông, vì họ không tin ông là một môn đệ. 27 Ông Ba-na-ba liền đứng ra bảo lãnh đưa ông Sao-lô đến gặp các Tông Đồ, và tường thuật cho các ông nghe chuyện ông ấy được thấy Chúa hiện ra trên đường và phán dạy làm sao, cũng như việc ông ấy đã mạnh dạn rao giảng nhân danh Đức Giê-su tại Đa-mát thế nào. 28 Từ đó ông Sao-lô cùng với các Tông Đồ đi lại hoạt động tại Giê-ru-sa-lem. Ông mạnh dạn rao giảng nhân danh Chúa. 29 Ông thường đàm đạo và tranh luận với những người Do-thái theo văn hoá Hy-lạp. Nhưng họ tìm cách giết ông. 30 Các anh em biết thế, liền dẫn ông xuống Xê-da-rê và tiễn ông lên đường về Tác-xô (Tác-xô là sinh quán của Phao-lô)” (Cv 9,19-30).

 Bản văn nầy nói cho chúng ta nổ lực của Phao-lô “tìm cách nhập đoàn với các môn đệ” (Cv 9,26) theo cách hiểu là cộng đoàn tại Giê-ru-sa-lem, để hoà mình với họ; trích đoạn cũng nói đến khó khăn mà Phao-lô gặp phải trên bước đường của ông bởi vì nghị kỵ bao trùm, bởi vì các Ki-tô hữu, các môn đệ của Chúa Giêsu khó tin ông thật sự trở lại và cho rằng, ông hiện diện giữa họ, như cách thế thấm nhập len lỏi, kiểm soát những gì họ sinh hoạt.

 Điều đã giúp Phao-lô, bất chấp tất cả và đặc biệt tại Giê-ru-sa-lem, đứng vững được trong Giáo Hội, đi lại cách tự do, được các môn đệ nhìn nhận, chính là nhờ sự đỡ đầu của ông Ba-na-ba. Ông Ba-na-ba được sách Công Vụ nói đến ngay từ đầu, chắc chắn là một nhân vật được biết đến nhiều nơi cộng đoàn Giê-ru-sa-lem bởi vì ông đã tặng quà cho cộng đoàn, món tiền mà ông đã có được do bán thửa đất, khác với Kha-na-nia-a và Xa-phi-ra, họ đã làm bộ dâng cúng tất cả, nhưng thật ra đã giữ lại một nửa, và họ đã bị trừng phạt.  Ba-na-ba đã thật sự cho đi tất cả, đã đặt tất cả dưới chân các tông đồ, việc làm đó đáng cho ông được kính nể.  Ba-na-ba có thể được tác động bởi Thánh Thần, đã dùng uy tín bảo vệ cho Phao-lô và đã giới thiệu Phao-lô cho các tông đồ (x. Cv 9,27), ông tường thuật lại những gì đã xảy ra cho Phao-lô trên đường tới Đa-mát, những gì Phao-lô đã làm tại Đa-mát, làm thế nào ông khẳng định mạnh mẽ rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa.  Ba-na-ba đã tạo điều kiện thuận lợi cho Phao-lô gia nhập cộng đoàn, họ bộc phát không đón nhận Phao-lô.

 Sự khởi đầu nầy có khá nhiều dấu chỉ cho thấy những mối tương quan của Phao-lô với các cộng đoàn Ki-tô hữu và với các tông đồ khác: phía Phao-lô có sự ao ước rất mạnh mẽ được cộng đoàn đón nhận, ông muốn nhập đoàn với họ, và đồng thời phía các tông đồ và các cộng đoàn lại có những điều dè dặt không nói ra.  Trong các Thư Phao-lô người ta đọc thấy những dấu vết căng thẳng mà ông đã kinh qua với những người rao giảng tin mừng nổi tiếng, họ rao giảng một tin mừng khác (muốn áp đặt luật Do thái cho dân ngoại trở lại), và cũng có căng thẳng với các tông đồ khác.

 Sâu sát hơn về một điểm gây cấn: các tương quan được thiết lập giữa Sao-lô, trở thành Phao-lô, và các tông đồ khác.  Trong Thư Galata (x. Gl 1,11-2,2), Phao-lô tường thuật câu chuyện của mình, sự trở lại của ông, mà không nhắc đến Kha-na-ni-a trong việc tìm lại sự sáng mắt, bằng cách nhấn mạnh rằng Chính Đức Chúa đã trực tiếp mặc khải cho ông sứ mệnh, chính Đức Chúa chỉ cho ông sứ mệnh.  Ông cũng nói rằng ông không vội vàng tiếp xúc với các tông đồ khác: ông đã chờ đợi ba năm sau mới đặt chân lên Giê-ru-sa-lem và gặp ông Phê-rô và ông Gia-cô-bê ở đó với niềm xác quyết, dù sao chăng nữa, ông cần có cuộc gặp gỡ nầy để chuẩn xác Tin Mừng mà ông rao giảng.  Phao-lô biết rằng mình không phải là “chủ nhân ông”; ông càng nhanh nhạy tố giác các tin mừng giả dối mà một số người rao giảng, ông càng được các tông đồ khác tin cậy để khẳng định sự đúng đắn của Tin Mừng mà chính ông rao giảng; ông cần gặp gỡ các vị đó, đối diện với họ mặt giáp mặt, “vì sợ rằng (theo cách dùng của Gl 2, 2) việc ông làm ra luống công vô ích”.  Như thế tương quan, sự cần thiết được chuẩn xác, cần thiết sự hiệp thông và đồng thời, yêu sách được tự do.

 Nối kết với chương nói về tương quan, cần phải thêm sự kiên trì quyên góp mà Phao-lô làm cho Giáo Hội tại Giê-ru-sa-lem.  Bề ngoài Giáo Hội Giê-ru-sa-lem thực hiện việc đặt tài sản làm của chung, tuy nhiên việc đó làm cho Giáo Hội nầy phá sản và phải tuyệt đối cần sự trợ giúp của các Giáo Hội khác.  Phao-lô đã đổ công sức vào việc quyên tiền nầy bởi vì đối với Phao-lô đó là chuyện bình thường, là các cộng đoàn biểu lộ sự tương trợ lẫn nhau, kể cả bình diện kinh tế khi đặt tài sản làm của chung, cũng như về “chính trị”, điều quan trọng đối với Phao-lô là gây tương quan tốt đẹp với hàng lãnh đạo tại Giáo Hội Giê-ru-sa-lem và các tông đồ thân cận.

 Cũng trong chương nói về tương quan với các tông đồ, cần phải nói đến sự xung đột được đề cập đến trong Thư Ga-lát, cuộc xung độ nổ ra giữa Phao-lô và Phê-rô.  Phao-lô viết: “11 Nhưng khi ông Kê-pha (tên gọi Do-thái của Phê-rô) đến An-ti-ô-khi-a, tôi đã cự lại ông ngay trước mặt, vì ông đã làm điều đáng trách. 12 Thật vậy, ông thường dùng bữa với những người gốc dân ngoại trước khi có những người của ông Gia-cô-bê đến ; nhưng khi những người này đến, ông lại tránh né và tự tách ra, vì sợ những người được cắt bì. 13 Những người Do-thái khác cũng theo ông mà giả hình giả bộ, khiến cả ông Ba-na-ba cũng bị lôi cuốn mà giả hình như họ” (Gl 2,11-13).  Phê-rô, sau kinh nghiệm gặp gỡ với Cô-nê-li-ô, đã vượt qua sự phản kháng rất Do-thái nầy là không dùng bữa với dân ngoại, phải chăng bởi vì người ta dọn thịt cúng; sự phản kháng nầy được các môn đệ đầu tiên tại Giê-ru-sa-lem duy trì cách rõ nét.

 Việc đồng bàn là vấn đề rất quan trọng trong giáo hội tiên khởi vì, chính xác, những thực hành giết thịt cho thần linh mà người ta đem bán sau khi mổ và người ta mua dùng; không phải là thịt cúng.  Những người theo đạo Do thái cực đoan, ngay cả khi trở lại Ki-tô giáo không muốn tham dự những bàn tiệc nầy.  Phê-rô đã tham dự những bữa ăn như thế với mọi người, mà không tìm thực phẩm cúng, không loại ra ngoài các Ki-tô hữu gốc dân ngoại khi ăn uống.  Nhưng khi nhóm thân cận của Gia-cô-bê đến, có sự thay đổi phông màn: Phê-rô ngừng ăn uống với dân ngoại, lại bắt đầu ăn uống với người Do thái để phù hợp với lề luật và điều nầy đã làm cho Phao-lô đùng đùng nổi giận.  Ông thấy có chuyện giả hình.  Chính Phao-lô nói; “14 Nhưng khi tôi thấy các ông ấy không đi đúng theo chân lý của Tin Mừng, thì tôi đã nói với ông Kê-pha trước mặt mọi người: ‘Nếu ông là người Do-thái mà còn sống như người dân ngoại, chứ không như người Do-thái, thì làm sao ông lại ép người dân ngoại phải xử sự như người Do-thái?’.15 Chúng ta bẩm sinh là người Do-thái chứ không phải hạng người tội lỗi xuất thân từ dân ngoại. 16 Tuy nhiên, vì biết rằng con người được nên công chính không phải nhờ làm những gì Luật dạy, nhưng nhờ tin vào Đức Giê-su Ki-tô, nên chúng ta cũng tin vào Đức Ki-tô Giê-su, để được nên công chính, nhờ tin vào Đức Ki-tô, chứ không phải nhờ làm những gì Luật dạy. Quả thế, không phàm nhân nào sẽ được nên công chính vì làm những gì Luật dạy. 17 Nhưng nếu khi tìm cách nên công chính trong Đức Ki-tô mà chúng ta vẫn bị liệt vào hàng tội lỗi, thì chẳng hoá ra Đức Ki-tô là người phục vụ tội lỗi sao? Không phải thế! 18 Thật vậy, nếu tôi xây lại những gì tôi đã phá, thì tôi tỏ ra mình là kẻ phạm pháp. 19 Quả thế, tại vì Lề Luật mà tôi đã chết đối với Lề Luật, để sống cho Thiên Chúa. Tôi cùng chịu đóng đinh với Đức Ki-tô vào thập giá. 20 Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi. 21 Tôi không làm cho ân huệ của Thiên Chúa ra vô hiệu, vì nếu người ta được nên công chính do Lề Luật, thì hoá ra Đức Ki-tô đã chết vô ích” (Gl 2, 14-21).  Phao-lô có thái độ rất cứng rắn và đặt chân lý Tin Mừng trước khi nhìn nhận quyền bính của Phê-rô trong Giáo Hội, đàng khác Phao-lô nhìn nhận quyền bính đó, bởi vì ông đã nói với chúng ta ông đã tham vấn Phê-rô và tùng phục Phê-rô trong rao giảng Tin Mừng “vì sợ rằng tôi ngược xuôi, và đã ngược xuôi vô ích” (Gl 2, 2).  Điều nầy nói lên cung cách hành xử lành mạnh mang tính giáo hội, cung cách mà thỉnh thoảng có những khoảng cách, ngay cả chỉ trích, không lý tưởng hóa Giáo Hội, nhưng lại làm Giáo Hội kiên vững.

 Một khi chân lý bị đặt thành vấn đề, Phao-lô không ngần ngại tạo nên sự căng thẳng và thẳng thắn giải thích ngay cả với những người mà ông nhìn nhận họ có quyền bính.  Tuy nhiên Phao-lô nầy bướng bỉnh trong khuôn khổ, và đồng thời người ta thấy nỗi lo âu của ông đối với các cộng đoàn mà ông có trách nhiệm.  Thật thú vị khi thấy cuối các Thư của ông, Phao-lô gửi lời chào một số đông nhân vật mà ông quen biết thật sự.  Thật đúng đối với các tín hữu Rô-ma, mặc dầu chưa bao giờ Phao-lô đặt chân tới Rô-ma: ở chương 16, Phao-lô gửi lời chào thăm một số thân hữu và nói vài lời với từng người trong họ; cũng như vậy trong Thư 1 Cô-rin-tô (x. 1Cr 16) và Thư  Phi-líp-phê; Phao-lô có nhiều quan hệ, ông củng cố các mối liện hệ đó, ông ngỏ lời với họ, ông quan tâm đến họ, quan tâm đến mạng lưới bằng hữu thân thuộc, điều nầy không có gì cấm kỵ trong Giáo Hội.  Đó là sự hiệp thông giữa các cộng đoàn.  Phao-lô rất quan tâm kiến tạo một cộng đoàn giữa những nhóm Ki-tô hữu khác nhau mà ông đã thiết lập chỗ nầy chỗ kia.  Việc lạc quyên gửi về Giê-ru-sa-lem là một bằng chứng.  Trong nhiều Thư cho thấy Phao-lô giới thiệu tới các cộng đoàn những việc xảy ra nơi các cộng đoàn khác để khơi dậy sự thi đua, để gieo tư tưởng, để làm cho người Ki-tô hữu đi vào trong tâm tình tạ ơn, không những tạ ơn về những gì đang xảy ra nơi họ mà thôi mà còn nơi những chỗ khác nữa, để từ các cộng đoàn địa phương, một Giáo Hội lớn được hình thành.

 Phao-lô là một yếu tố ngoại lai, một kẻ quấy rối gây phiền phức và khó chịu, một kẻ  không nhân nhượng với chân lý.  Ông đã hoán cải một trăm tám mươi độ, cho nên ông không hiểu tại sao những người khác không trở lại !  Phao-lô quấy rầy họ, điều nầy không ngăn trở ông nhìn nhận rằng ông có liên hệ với họ, rằng ông cần đến họ, cần sự xác nhận của họ và cần sự biện phân của họ.  Phao-lô ưu tư về các cộng đoàn, về nhân sự cấu tạo nên những cộng đoàn đó, ông duy trì những mối tương quan đặc biệt với người nầy người kia, điều đó không ngăn cản ông thỉnh thoảng phán quyết nghiêm khắc, tấn công và quở trách họ: “Về điều đó tôi không khen ngợi anh chị em đâu !” (x. 1Cr 11,22).  Những điều như vậy thường được lặp lại trong các Thư của Phao-lô, đặc biệt ông nói về cách hành xử của cộng đoàn khi mỗi người phát biểu lộn xộn; Phao-lô muốn lập lại trật tự.  Ông không khen ngợi họ về chuyện đó và càng không khen họ về cách mỗi người tự lo cho mình phần ăn, trước khi cùng nhau cử hành lễ Tạ Ơn:  ông yêu thích sự chia sẻ phần ăn.  Đối với Phao-lô, sẽ là cử hành thánh lễ Tạ Ơn cách bất xứng, nếu cộng đoàn cử hành mà không thực hiện việc chia sẻ trong đời sống hằng ngày.

 Phao-lô nói về Giáo Hội nầy theo ông biết, với nhiều khó khăn nhưng với một sự gắn bó thật sự.  Ông dùng nhiều hình ảnh về thân thể.  Người ta có thể nghĩ đến câu nói mà Phao-lô đã nghe được trên đường Đa-mát: “Ta là Giê-su mà ngươi bắt bớ”, qua câu nói đó Chúa Giêsu đồng nhất mình với Giáo Hội, câu nầy đã rất ghi khắc nơi ông.  Đối với ông, Giáo Hội với tất cả bất toại, yếu đuối, và tội lỗi chính là  thân thể Chúa Ki-tô.  Được lặp lại hai lần trong các Thư, Phao-lô quảng diễn dài dòng sự so sánh nầy của thân thể, với hai điểm nhắm khác nhau nhưng bổ túc cho nhau.  Phao-lô vay mượn sự so sánh về thân thể nơi các triết thuyết đang thịnh hành thời đó, sự so sánh được dùng để nói về xã hội, về những gì phải có trong xã hội; Phao-lô áp dụng suy tư đó vào Giáo Hội.  Ông nói đến điều nầy trong Thư thứ nhất Cô-rin-tô khi đề cập đến các đặc sủng, những hồng ân của Thánh Thần mà ông đang thể hiện.  Ông biết chắc rằng Thần Khí đang hoạt động, đặc biệt nơi các tín hữu, trong các cộng đoàn Ki-tô, và biểu lộ ra trong các cộng đoàn nầy điều lạ lùng của Thiên Chúa bằng đa dạng khác biệt đặc sủng, chúng va chạm nhau.  Ưu tư của Phao-lô là bào chữa để người ta tôn trọng sự đa dạng các đặc sủng và sống các đặc sủng đó đúng cách là bổ túc nhau:

 “4 Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. 5 Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. 6 Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. 7 Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung. 8 Người thì được Thần Khí ban cho ơn khôn ngoan để giảng dạy, người thì được Thần Khí ban cho ơn hiểu biết để trình bày. 9 Kẻ thì được Thần Khí ban cho lòng tin; kẻ thì cũng được chính Thần Khí duy nhất ấy ban cho những đặc sủng để chữa bệnh. 10 Người thì được ơn làm phép lạ, người thì được ơn nói tiên tri; kẻ thì được ơn phân định thần khí; kẻ khác thì được ơn nói các thứ tiếng lạ; kẻ khác nữa lại được ơn giải thích các tiếng lạ. 11 Nhưng chính Thần Khí duy nhất ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tuỳ theo ý của Người.

12 Thật vậy, ví như thân thể người ta chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, mà các bộ phận của thân thể tuy nhiều, nhưng vẫn là một thân thể, thì Đức Ki-tô cũng vậy. 13 Thật thế, tất cả chúng ta, dầu là Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất.

14 Thật vậy, thân thể gồm nhiều bộ phận, chứ không phải chỉ có một mà thôi. 15 Giả như chân có nói: ”Tôi không phải là tay, nên tôi không thuộc về thân thể”, thì cũng chẳng vì thế mà nó không thuộc về thân thể. 16 Giả như tai có nói: ”Tôi không phải là mắt, vậy tôi không thuộc về thân thể”, thì cũng chẳng vì thế mà nó không thuộc về thân thể. 17 Giả như toàn thân chỉ là mắt, thì lấy gì mà nghe? Giả như toàn thân chỉ là tai, thì lấy gì mà ngửi?

18 Nhưng Thiên Chúa đã đặt mỗi bộ phận vào một chỗ trong thân thể như ý Người muốn. 19 Giả như tất cả chỉ là một thứ bộ phận, thì làm sao mà thành thân thể được? 20 Như thế, bộ phận tuy nhiều mà thân thể chỉ có một. 21 Vậy mắt không có thể bảo tay: ”Tao không cần đến mày”; đầu cũng không thể bảo hai chân: ”Tao không cần chúng mày.”

22 Hơn nữa, những bộ phận xem ra yếu đuối nhất thì lại là cần thiết nhất; 23 và những bộ phận ta coi là tầm thường nhất, thì ta lại tôn trọng hơn cả. Những bộ phận kém trang nhã, thì ta lại mặc cho chúng trang nhã hơn hết. 24 Còn những bộ phận trang nhã thì không cần gì cả. Nhưng Thiên Chúa đã khéo xếp đặt các bộ phận trong thân thể, để bộ phận nào kém thì được tôn trọng nhiều hơn. 25 Như thế, không có chia rẽ trong thân thể, trái lại các bộ phận đều lo lắng cho nhau. 26 Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau. Nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung.

27 Vậy anh em, anh em là thân thể Đức Ki-tô, và mỗi người là một bộ phận. 28 Trong Hội Thánh, Thiên Chúa đã đặt một số người, thứ nhất là các Tông Đồ, thứ hai là các ngôn sứ, thứ ba là các thầy dạy, rồi đến những người được ơn làm phép lạ, được những đặc sủng để chữa bệnh, để giúp đỡ người khác, để quản trị, để nói các thứ tiếng lạ. 29 Chẳng lẽ ai cũng là tông đồ? Chẳng lẽ ai cũng là ngôn sứ, ai cũng là thầy dạy sao? Chẳng lẽ ai cũng được ơn làm phép lạ, 30 ai cũng được ơn chữa bệnh sao? Chẳng lẽ ai cũng nói được các tiếng lạ, ai cũng giải thích được các tiếng lạ sao?

31 Trong các ân huệ của Thiên Chúa, anh em cứ tha thiết tìm những ơn cao trọng nhất. Nhưng đây tôi xin chỉ cho anh em con đường trổi vượt hơn cả” (1Cr 12, 4-31).  Những suy tư nầy mở ra “bài ca đức ái”.

 Trong bản văn thứ nhất nầy Phao-lô nói về Giáo Hội như một thân thể.  Chính thân mình giáo hội là Chúa Ki-tô.  Thân thể nầy được cấu tạo bằng nhiều chi thể khác nhau, một sự đa dạng theo ý muốn của Thánh Thần, đồng thời Thánh Thần bảo vệ tính duy nhất của thân thể, trong điều kiện mỗi thành viên giữi vai trò của mình nhưng chấp nhận hòa nhập với các thành viên khác, cần anh chi em khác và bổ túc cho họ.  Thật là hình ảnh đẹp về Giáo Hội.  Dù sao chăng nữa chúng ta sống tại Pháp, trong hoàn cảnh mà Giáo Hội có nhiều quan điểm, có thể xuất hiện nhiều phân hóa hơn bao giờ hết, với những nhóm khác nhau, ít đối thoại nhau, ít đụng độ nhau, đúng hơn là tránh gặp gỡ nhau hoặc là gặp gỡ nhau để hát thánh ca mà không bao giờ gặp gỡ để tranh luận.

 Lại đề cập đến vấn đề thân thể trong Thư Ê-phê-xô.  Điểm nhắm hơi khác một chút.  “1 Vậy, tôi là người đang bị tù vì Chúa, tôi khuyên nhủ anh em hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh em. 2 Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau. 3 Anh em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hoà gắn bó với nhau. 4 Chỉ có một thân thể, một Thần Khí, cũng như anh em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng. 5 Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. 6 Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người.

7 Nhưng mỗi người chúng ta đã nhận được ân sủng tuỳ theo mức độ Đức Ki-tô ban cho. 8 Vì thế, có lời Kinh Thánh nói: Người đã lên cao, dẫn theo một đám tù; Người đã ban ân huệ cho loài người.

9 Người đã lên nghĩa là gì, nếu không phải là Người đã xuống tận các vùng sâu thẳm dưới mặt đất? 10 Đấng đã xuống cũng chính là Đấng đã lên cao hơn mọi tầng trời để làm cho vũ trụ được viên mãn. 11 Và chính Người đã ban ơn cho kẻ này làm Tông Đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ khác nữa làm người coi sóc và dạy dỗ. 12 Nhờ đó, dân thánh được chuẩn bị để làm công việc phục vụ, là xây dựng thân thể Đức Ki-tô, 13 cho đến khi tất cả chúng ta đạt tới sự hiệp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, tới tình trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc viên mãn của Đức Ki-tô.

14 Như vậy, chúng ta sẽ không còn là những trẻ nhỏ, bị sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý, giữa trò bịp bợm của những kẻ giảo quyệt khéo dùng mưu ma chước quỷ để làm cho kẻ khác lầm đường. 15 Nhưng, sống theo sự thật và trong tình bác ái, chúng ta sẽ lớn lên về mọi phương diện, vươn tới Đức Ki-tô vì Người là Đầu. 16 Chính Người làm cho các bộ phận ăn khớp với nhau và toàn thân được kết cấu chặt chẽ, nhờ mọi thứ gân mạch nuôi dưỡng và mỗi chi thể hoạt động theo chức năng của mình. Như thế Người làm cho toàn thân lớn lên và được xây dựng trong tình bác ái” (Ep 4, 1-16).

  Có nhiều đề tài chung với Thư Cô-rin-tô: ý tưởng về một Thần Khí, bảo đảm sự hiệp nhất trong đa dạng.  Sự nhấn mạnh đến các ân huệ mà đấng hạ xuống nơi thấp nhất đến những vùng sâu thẳm, xuống tận âm phủ, lại trổi vượt lên cao (biểu tượng sự Thăng Thiên) và, từ trên cao, phân phát các ân huệ để Giáo Hội của Người thành hình và trở nên thân thể.  Sự nhấn mạnh đến các ân huệ, chúng cấu tạo nên những người có trách nhiệm của đoàn chiên, đó là các mục tử; điều nầy hạn hẹp hơn sự hòa điệu của những đặc sủng được khai mở trong thư 1 Cô-rin-tô.  Nhất là nét đặc biệt của Thư Ê-phê-xô, không nói thân thể là Chúa Ki-tô, nhưng nói Chúa Ki-tô là đầu của thân thể; điều làm nên sự hiệp nhất của thân thể là sự nối kết mỗi chi thể với đầu là Chúa Ki-tô.  Sự hiệp nhất được Thư Cô-rin-tô gán trước hết cho Thần Khí; Chúa Ki-tô là đầu của thân thể đảm bảo sự hiệp nhất nầy, một sự hiệp nhất hiện thực trong mức độ tất cả các cấu tố của thân thể quy hướng về một mối và đón nhận sự sống mà Người ban phát. Không những là không mâu thuẫn, nhưng lại bổ túc thêm: thân mình hội thánh, chính là Chúa Ki-tô, nhưng Chúa Ki-tô không bị pha loãng ra trong thân mình giáo hội; Chúa Ki-tô là đầu của thân mình giáo hội, Người là thủ lãnh; từ vương quyền của Chúa Ki-tô chảy ra sự hiện diện của các thừa tác vụ phẩm trật, chúng đóng góp làm nên cơ cấu Giáo Hội nhân danh Đức Chúa, điều nầy không đặt các thừa tác vụ tách riêng ra khỏi những việc phục vụ khác và những đặc sủng khác nhưng chúng ở trong một vị thế đặc biệt.

 Đó là những gì Phao-lô viết về Giáo Hội theo kinh nghiệm của mình.  Ông học được  nơi con đường Đa-mát là Giáo Hội và Chúa Ki-tô là một khối.  Trong Thư 1 Cô-rin-tô, Phao-lô đồng nhất thực sự Chúa Ki-tô và thân mình giáo hội: Giáo Hội trở nên cách nào đó thân mình phục sinh của Chúa Giêsu; trong Thư Ê-phê-xô Phao-lô nhấn mạnh hơn về khoảng cách giữa Giáo Hội và Chúa Ki-tô, Chúa Ki-tô là đầu, sự liên kết với đầu bảo đảm sự hiệp nhất của thân thể và phải mang ý nghĩa nơi một số thừa tác vụ.  Phao-lô trầm mình trong mầu nhiệm Giáo Hội mà ông thật đau khổ và cũng thật hạnh phúc có trải nghiệm đó, tôi không bỏ qua điều tôi đã nói về tình cảm mà những Thư của Phao-lô biểu lộ ra đối với những cộng đoàn nầy, nhưng mối liên hệ vang vọng, làm cho ông sống.  Người ta cũng có thể nhận ra làm thế nào, bằng tương quan với các tông đồ, Phao-lô vừa được tự do cho phép ông chất vấn, phê phán, và mối liên kết nầy cho phép ông tự chuẩn nhận mình, tự đặt mình tùng phục và nhập đoàn với các tông đồ, ngay cả khi điều đó không phải là chuyện dễ dàng.  Phao-lô đã khám phá ra, với chút ít đau khổ nhưng căn bản là vui mừng, rằng gia đình của ông là Giáo Hội và nhờ Giáo Hội ông thuộc về Chúa Ki-tô, sự hiện diện của ông Kha-na-ni-a trên đường Đa-mát đã giúp ông ý thức như vậy.

 Có lẽ cũng thú vị đối với chúng ta khi tự vấn về quan niệm đối với Giáo Hội.  Xét theo tính khí người ta ít nhiều sẵn sàng nhìn Giáo Hội bằng con mắt phê phán và đồng ca với những người tố giác một số loạn năng; hoặc là người ta lý tưởng hóa Giáo Hội và cho rằng không có quyền đụng vào: chỉ khoan khoái ca tụng mà thôi.  Giữa hai cực đó là sự thật.  Mỗi người cố gắng sống mối liên kết với Giáo Hội như họ có thể, bất cứ nơi nào họ sống.  Điều quan trọng là phải biết, đối với chúng ta, Giáo Hội là trung gian bất khả thay thế để nối kết với Chúa Ki-tô, để được Thánh Thần chúc phúc.  Và cũng là điều quan trọng nhắc lại cho chúng ta, chúng ta làm nên thành phần của Giáo Hội nầy bởi vì Giáo Hội là thân mình của Chúa Ki-tô; tuy nhiên như Công Đồng Va-ti-ca-nô II nhấn mạnh trong Hiến Chế Giáo Hội, Giáo Hội còn là dân Thiên Chúa và dân nầy có quyền phát biểu, nói lên điều mình cảm nhận, và phản ứng.  Những điều nầy cũng làm nên thành phần sinh hoạt của Giáo Hội.

 Lm Nguyễn Quang Vinh chuyển ngữ

%d bloggers like this: