HUẤN THỊ VỀ MỘT VÀI KHÍA CẠNH CỦA “THẦN HỌC GIẢI PHÓNG”

LTS: Do nhu cầu học hỏi, các chủng sinh của Đại Chủng Viện Huế đã chuyển ngữ văn kiện dưới đây của Bộ Giáo Lý Đức Tin. Bản Việt ngữ dựa trên bản tiếng Anh và tham khảo thêm bản tiếng Pháp. Chắc chắn bản dịch sẽ còn nhiều thiếu sót, do đó, xin quý độc giả tham khảo thêm bản tiếng Anh hay tiếng Pháp khi cần. BBT XBVN.

BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN

HUẤN THỊ

VỀ MỘT VÀI KHÍA CẠNH

CỦA

“THẦN HỌC GIẢI PHÓNG”


LỜI TỰA

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô là sứ điệp tự do và là sức mạnh giải phóng. Trong những năm gần đây, chân lý nền tảng đó đã trở thành đối tượng suy tư cho các thần học gia với một sự chú tâm mang đầy hứa hẹn.

Giải phóng trước hết là giải phóng triệt để khỏi nô lệ tội lỗi. Mục đích và cùng đích của công cuộc giải phóng này là tự do của con cái Thiên Chúa, vốn dĩ là quà tặng của ân sủng. Một hệ quả lô-gíc, công cuộc giải phóng này đòi buộc phải có sự giải phóng khỏi những dạng nô lệ trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: văn hoá, kinh tế, xã hội và chính trị. Xét cho cùng, chúng đều xuất phát từ tội lỗi và thường ngăn cản con người sống xứng hợp với nhân phẩm mình. Việc phân định rõ ràng đâu là điểm chính yếu và đâu là hệ quả tuỳ phụ là điều kiện tất yếu cho bất cứ suy tư thần học nào về giải phóng.

Thật vậy, đứng trước tính khẩn cấp của vấn đề, một số người có khuynh hướng nhấn mạnh một cách phiến diện đến việc giải phóng khỏi nô lệ theo kiểu trần gian và thế tục, đến nỗi họ coi giải phóng khỏi tội lỗi chỉ đứng ở vị trí thứ hai và không dành cho nó tầm quan trọng ưu tiên mà nó phải có. Do vậy, cách trình bày vấn đề của họ bị lầm lẫn và hàm hồ. Một số khác, trong nỗ lực muốn tìm biết chính xác hơn nguyên nhân của nô lệ mà họ muốn kết liễu, lại sử dụng những ý niệm mà không cẩn trọng phê bình cho đủ. Thật khó và có lẽ không thể nào thanh luyện những ý niệm vay mượn từ ý thức hệ vốn bất khả dung hợp với niềm tin Kitô giáo và những giá trị đạo đức mà niềm tin này đòi buộc.

Huấn thị này có mục đích cụ thể và giới hạn hơn: hướng sự chú ý của các mục tử, các thần học gia và tất cả mọi tín hữu đến những lệch lạc, những nguy cơ lệch lạc gây nguy hại cho niềm tin và đời sống kitô hữu, những lệch lạc do bởi những dạng thần học giải phóng sử dụng những ý niệm vay mượn một cách thiếu phê bình từ những dòng tư tưởng Mác-xít.

Dù vậy, lời cảnh giác này không nên bị giải thích như là sự bác bỏ tất cả những người muốn đáp trả cách quảng đại và với một tinh thần Phúc Âm đích thực cho “ sự chọn lựa ưu tiên cho người nghèo”. Nó cũng không thể nào dùng làm cớ cho những người giữ thái độ trung lập và hờ hửng trước những vấn đề cấp bách và bi kịch, đó là tình trạng bần cùng và bất công của con người. Ngược lại, lời cảnh giác này được phát biểu dựa trên sự xác tín rằng những lệch lạc ý thức hệ mà nó chỉ ra sẽ dẫn đến chỗ phản bội lý tưởng vì người nghèo. Hơn bao giờ hết, điều quan trọng là số đông người tín hữu, với niềm tin trong sáng, với cam kết sống đời sống Kitô giáo trong sự toàn vẹn, họ dấn thân vào cuộc chiến vì công bằng, tự do và nhân phẩm, vì tình yêu của họ dành cho những anh chị em bị tước đoạt, áp bức và bách hại. Hơn lúc nào hết, Giáo Hội muốn lên án những lạm dụng, những bất công và những tấn công chống lại tự do, dù chúng xảy ra ở đâu và dù ai là tác giả đi nữa. Giáo Hội muốn chiến đấu, bằng những phương tiện riêng của mình, để bảo vệ và thăng tiến các quyền con người, đặc biệt là người nghèo.

I. KHÁT VỌNG

1. Khát vọng mãnh liệt và hầu như không thể cưỡng lại của các dân tộc về sự giải phóng là một trong những “dấu chỉ chính yếu của thời đại” mà Giáo Hội cần phải xem xét và giải thích dưới ánh sáng của Phúc Âm[1]. Hiện tượng lớn lao này của thời đại chúng ta đã có một tầm rộng lớn toàn cầu, nhưng được biểu lộ dưới những dạng và cấp độ khác nhau tuỳ theo các dân tộc. Nhất là chính nơi những dân tộc đang gánh chịu sự khốn cùng và nơi những tầng lớp vô sản mà khát vọng này thể hiện cách mãnh liệt.

2. Khát vọng này chắc chắn thể hiện, dù còn mù mờ, sự nhận thức đích thực về phẩm giá của con người, được tạo dựng “theo hình ảnh Thiên Chúa” (St 1,26-27), bị nhạo bang và coi khinh bởi nhiều hình thức áp bức, văn hoá, chính trị, chủng tộc, xã hội và kinh tế, thường đan kết với nhau.

3. Khi mặc khải cho con người ơn gọi làm con Thiên Chúa, Tin Mừng đã gợi lên nơi tâm hồn họ một đòi buộc và ý muốn tích cực về một đời sống huynh đệ, công lý và hoà bình, trong đó mỗi người sẽ tìm được sự tôn trọng và những điều kiện cho sự triển nở tâm linh và vật chất. Đòi hỏi này chắc chắn trở thành nguồn mạch của khát vọng mà chúng ta đang bàn đến.

4. Cho nên nhân loại không còn thụ động chịu đựng nạn nghèo đói với những hệ quả đi kèm là chết chóc, bệnh tật và tàn tạ. Nhân loại căm thù sự khốn cùng này như một sự xâm phạm không thể dung thứ đối với nhân phẩm thiên phú. Nhiều yếu tố, trong đó chắc chắn có men Tin Mừng, đã góp phần đánh thức lương tri của người bị áp bức.

5. Ai cũng biết, thậm chí ở những vùng thất học trên thế giới, nhân loại, dù số dân tăng, vẫn có khả năng bảo đảm cho mỗi người có được ở mức tối thiểu tài sản mà phẩm giá nhân vị đòi hỏi nhờ vào những tiến bộ kỳ diệu của khoa học và kỹ thuật.

6. Điều ô nhục (scandal) của sự bất công khinh khủng giữa người giàu và người nghèo – ngay cả giữa nước giàu và nước nghèo hoặc giữa những tầng lớp xã hội trong cùng một quốc gia – không thể nào dung thứ được. Một đàng, người thì đạt được một sự dư thừa khủng khiếp và sử dụng phung phí, trong khi đó quá nhiều người sống trong sự bần cùng, thiếu thốn những nhu cầu thiết yếu, đến mức không thể đếm được số nạn nhân suy dinh dưỡng.

7. Thiếu công bằng và thiếu ý thức liên đới trong giao dịch quốc tế đem lại chiều hướng có lợi cho những quốc gia công nghiệp hoá, điều đó làm cho hố ngăn cách giữa giàu và nghèo càng ngày càng nới rộng. Từ đó, những quốc gia thuộc thế giới thứ ba cảm thấy bị thất đoạt, và họ cáo buộc những quốc gia công nghiệp hoá bóc lột và thực dân kinh tế.

8. Ký ức về những tội ác của chủ nghĩa thức dân và những hậu quả của nó thường làm trầm trọng thêm những tổn thương và những nổi kinh hoàng.

9. Toà Thánh, chiếu theo Công Đồng Vatican II, cùng với các Hội Nghị Giám Mục, đã không ngừng tố cáo sự ô nhục liên quan đến cuộc chạy đua vũ trang khổng lồ; trong đó ngoài việc đe doạ hoà bình, nó còn phung phí một khoản tiền lớn đến mức chỉ cần một phần nhỏ của nó cũng đủ để thoả mãn những nhu cầu của những con người chỉ cầu mong có những gì thiết yếu cho cuộc sống.

II. CÁC CÁCH THỂ HIỆN KHÁT VỌNG NÀY

1. Cũng như mọi khát vọng khác, khát vọng công bình và nhìn nhận tích cực đối với phẩm giá của mọi người cần phải được làm rõ và hướng dẫn.

2. Quả vậy, tiến trình phân định có tính đến “những cách biểu lộ” trên thực tế và trên lý thuyết của khát vọng này là một điều cần thiết, bởi vì nhiều phong trào xã hội và chính trị, mang danh nghĩa là đại diện cho khát vọng của người nghèo, khẳng định có thể mang lại những thay đổi triệt để và đặt dấu chấm hết cho tình trạng áp bức, khốn cùng của con người bằng cách nại đến cả các phương tiện bạo động.

3. Cho nên khát vọng công bình thường rơi vào tay của những ý thức hệ che đậy hoặc giải thích sai lầm ý nghĩa của khát vọng này, đồng thời đề xuất cuộc chiến đấu vì những mục tiêu giải phóng của họ mà chúng đi ngược lại với mục tiêu thực sự của đời sống con người. Những ý thức hệ này đề xuất những phương thức hành động bao gồmcả việc nại đến bạo lực cách hệ thống, đối nghịch với đạo đức tôn trọng con người.

4. Thật vậy, việc giải thích “dấu chỉ thời đại dưới ánh sáng Tin Mừng” đòi hỏi chúng ta không chỉ xét xem ý nghĩa khát vọng sâu xa của con người về công bình, mà còn phải nghiên cứu với sự phân định phê bình những cách biểu lộ thực tiễn và lý thuyết của khát vọng này.

III. GIẢI PHÓNG, MỘT CHỦ ĐỀ CỦA KITÔ GIÁO

1. Ngay chính nó, khát vọng giải phóng có một âm vang mạnh mẽ và huynh đệ nơi tâm hồn và nơi tinh thần của người Kitô hữu.

2. Cho nên, hoà hợp khát vọng này, phong trào mục vụ và thần học với danh xưng “Thần học Giải phóng” đã ra đời, trước hết tại các nước Châu Mỹ Latinh vốn mang đậm dấu ấn di sản tôn giáo và văn hoá Kitô, sau đó tại các nước thuộc thế giới thứ ba, cũng như trong một vài lĩnh vực tại các nước công nghiệp.

3. Thuật ngữ “thần học giải phóng” trước hết qui chiếu đến mối quan tâm đặc biệt cho sự dấn thân vì công bình dành cho người nghèo và cho những nạn nhân bị áp bức. Thời gian gần đây, người ta có thể phân biệt ra nhiều dạng, thường là đối nghịch nhau, để hiểu ý nghĩa nghèo khó của Kitô giáo và kiểu dấn thân cho công bình mà nó đòi hỏi. Cũng như mọi trào lưu tư tưởng, “các nền thần học giải phóng” đưa ra những quan điểm thần học khác nhau. Các ranh giới học thuyết của chúng không được phân định rõ ràng.

4. Khát vọng “giải phóng”, như chính thuật ngữ gợi ý, lặp lại một chủ đề nền tảng của Cựu Ước và Tân Ước. Trong chính Thánh Kinh, thuật ngữ “Thần học Giải phóng” là một thuật ngữ hoàn toàn có giá trị: nó ám chỉ tư tưởng thần học tập trung vào chủ đề giải phóng và tự do của Kinh Thánh, vào tính cấp thiết của công cuộc hiện thực hoá nó trên thực tiễn. Vì thế, cuộc hội ngộ giữa khát vọng giải phóng và thần học giải phóng không chỉ là sự tình cờ. Ý nghĩa của cuộc hội ngộ này chỉ có thể được hiểu một cách xác đáng dưới ánh sáng của sứ điệp Mạc Khải, được giải thích cách chính thức bởi Huấn Quyền Giáo Hội[2].

IV. NỀN TẢNG THÁNH KINH

1. Cho nên, một nền thần học giải phóng đúng nghĩa là lời mời gọi dành cho các thần học gia đào sâu một số chủ đề Thánh Kinh quan trọng trong mối bận tâm đối với những vấn đề cấp bách và trầm trọng được đặt ra cho Giáo Hội bởi khát vọng giải phóng cũng như những phong trào này ít nhiều trung thành âm vọng lại. Đừng bao giờ lãng quên những hoàn cảnh đáng buồn đã là nguyên nhân cho lời mời gọi thảm thiết đối với các thần học gia.

2. Kinh nghiệm cơ bản của “tự do Kitô giáo”[3] là điểm qui chiếu trước nhất của chúng ta. Chúa Kitô, Đấng Giải Phóng, đã mang lấy thân phận nhân loại tội lỗi, đã giải thoát chúng ta khỏi tội, khỏi nô lệ Luật và xác thịt. Cho nên, chính đời sống mới trong ân sủng, hoa trái của ơn công chính hoá, giải thoát chúng ta, có nghĩa là hình thức nô lệ cơ bản nhất là nô lệ tội lỗi. Những hình thức nô lệ khác đều có gốc rễ sâu xa nơi nô lệ tội lỗi. Cho nên, tự do tròn đầy nhất theo nghĩa Kitô giáo là một đời sống trong Thần Khí, không thể lẫn lộn với việc cho phép buông theo dục vọng của xác thịt. Tự do là một đời sống mới trong tình yêu.

3. Các nền “thần học giải phóng” sử dụng nhiều các bài đọc trong sách Xuất Hành. Quả vậy, sách Xuất Hành là một sự kiện nền tảng trong việc hình thành dân Chúa chọn. Nó tượng trưng cho sự giải phóng khỏi ách thống trị ngoại bang và khỏi cảnh nô lệ. Người ta lưu ý rằng ý nghĩa của sự kiện xuất phát từ cứu cánh của nó, bởi vì cuộc giải phóng được thực hiện để hình thành dân Chúa và để Giao ước thờ phượng được cử hành trên núi Sinai[4]. Vì thế, cuộc giải phóng nơi biến cố Xuất Hành không thể bị giản lược thành một cuộc giải phóng chủ yếu là hay duy chỉ là theo bản chất chính trị. Ngoài ra, trong Thánh Kinh, hạn từ “giải phóng” thường được thay thế bằng một hạn từ liên hệ rất mật thiết: cứu chuộc.

4. Giai đoạn nền móng của biến cố “Xuất Hành” sẽ không bao giờ xoá khỏi tâm trí dân Israel. Dấu hiệu chỉ cho thấy là sau biến cố Giêrusalem sụp đổ và sau cuộc lưu đày ở Babylon, dân Do Thái sống trong niềm hy vọng một cuộc giải phóng mới và trên hết tất cả là đợi chờ một cuộc giải phóng hoàn toàn. Với kinh nghiệm này, Thiên Chúa được nhìn nhận là Đấng Giải Phóng. Ngài sẽ ký kết một Giao Ước mới với dân Ngài, được đánh dấu bằng việc trao ban Thần Khí và sự hoán cải tâm hồn[5].

5. Những lo âu và cảnh khốn cùng mà những người trung thành với Thiên Chúa của Giao Ước đã chịu đựng cung cấp chủ đề cho nhiều thánh vịnh: những ai ca, những lời kêu cầu trợ giúp và những lời tạ ơn, tất cả đều nói đến giải phóng và ơn giải thoát về mặt tôn giáo. Trong bối cảnh này, nỗi khốn cùng không thuần túy và đơn giản bị đồng hóa với một điều kiện xã hội khốn khổ hoặc với điều kiện của người đang chịu áp bức về chính trị. Nó còn bao hàm cả sự thù nghịch của các kẻ thù, sự bất công, sự chết và tội lỗi. Các thánh vịnh gợi lại cho chúng ta về những kinh nghiệm tôn giáo chính yếu: người ta chỉ có thể hy vọng ơn cứu rỗi và chữa lành nơi một mình Thiên Chúa. Thiên Chúa, chứ không phải con người, mới có quyền năng thay đổi những tình trạng khốn khổ. Cho nên “những người nghèo của Chúa” sống trong sự tin tưởng tuyệt đối và phó thác nơi sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa[6]. Hơn nữa, trong suốt hành trình vượt qua sa mạc, Thiên Chúa không ngừng mang lại một cuộc giải phóng và thanh luyện tinh thần dân của Ngài.

6. Trong Cựu Ước, sau A-mốt, các ngôn sứ vẫn không ngừng mạnh mẽ nhắc lại những đòi hỏi về công bình và tình liên đới, và đưa ra một phán xét nghiêm minh đối với những người giàu áp bức người nghèo. Họ lên tiếng bảo vệ góa phụ và cô nhi. Họ răn đe những người quyền thế: việc chất chồng những bất công chỉ có thể dẫn đến sự trừng phạt khủng khiếp. Trung thành với Giao Ước phải đi đôi với việc thực thi công bình. Công bình với Thiên Chúa và công bình với người nghèo không thể tách rời nhau. Thiên Chúa là người bảo vệ và giải phóng dân nghèo.

7. Những đòi hỏi này một lần nữa lại tìm thấy trong Tân Ước. chúng thậm chí còn triệt để hơn như đã được chứng tỏ nơi bài giảng về các Mối Phúc. Hoán cải và canh tân cần phải diễn ra nơi chiều sâu tâm hồn.

8. Đã được công bố trong Cựu Ước, giới răn yêu thương huynh đệ, được mở rộng cho mọi người, cung ứng một nguyên tắc tối thượng cho đời sống xã hội[7]. Ở đây không có sự phân biệt hay giới hạn chống lại việc nhìn nhận mọi người như là “người thân cận[8].

9. Khó nghèo vì Nước Trời được đề cao. Chúng ta được hướng dẫn đến chỗ nhìn nhận sự hiện diện mầu nhiệm của Con Thiên Chúa, Đấng trở nên nghèo vì tình yêu chúng ta, trong khuôn mặt của người nghèo[9].

Đây là nền tảng cho những lời không thể hiểu nổi mà Chúa Giêsu đã nói về cuộc phán xét trong Phúc Âm Mátthêu 25,31-46. Chúa chúng ta là một với tất cả những người khổ đau, mọi đau khổ được đánh dấu bằng sự hiện diện của Ngài.

10. Đồng thời, những đòi hỏi về công bình và xót thương, được loan báo trong Cựu Ước, được đào sâu để mang một ý nghĩa mới trong Tân Ước. Những ai chịu đau khổ hay chịu bách hại đều được đồng hóa với Đức Kitô[10]. Sự hoàn thiện mà Đức Kitô đòi hỏi nơi các môn đệ của mình (Mt 5,18) là bổn phận thực thi lòng thương xót “như Cha anh em là Đáng thương xót” (Lc 6,36)

11. Chính dưới ánh sáng của ơn gọi kitô hữu về tình yêu huynh đệ và xót thương mà người giàu có được nhắc nhở cách nghiêm khắc về bổn phận của họ[11]. Thánh Phaolô, khi đối mặt vói những xáo trộn của Hội thánh Côrintô, đã mạnh mẽ nhấn mạnh đến mối liên hệ giữa việc tham dự bí tích tình yêu và việc chia sẻ với anh chị em đang túng thiếu[12].

12. Mạc Khải Tân Ước dạy chúng ta rằng tội lỗi là sự dữ lớn nhất, làm tổn hại con người ngay tại trung tâm nhân cách của mình. Cuộc giải phóng trước nhất, mà mọi cuộc giải phóng khác phải quy chiếu, là cuộc giải phóng khỏi tội lỗi.

13. Chắc chắn, chính để nhấn mạnh đến tính chất triệt để của việc giải phóng được Đức Kitô mang đến cho tất cả mọi người, dù, về mặt chính trị, họ là nô lệ hay tự do, mà Tân Ước không đòi hỏi một thay đổi nào trong đời sống chính trị hay xã hội như một điều kiện tiên quyết thì mới bước vào đời sống tự do này. Tuy nhiên, Thư gởi Philêmôn cho thấy rằng sự tự do mới do ân sủng của Chúa Kitô ban nhất thiết phải có những hậu quả của nó trên bình diện xã hội.

14. Do đó, không thể hạn chế phạm vi tội lỗi, mà hệ quả đầu tiên của nó là tạo nên sự hỗn độn trong tương quan giữa con người và Thiên Chúa, vào những gì mà người ta gọi là “tội xã hội”. Cần phải có một học thuyết đúng đắn về tội mới cho phép chúng ta đánh giá đúng tính trầm trọng về những hệ quả của nó trong xã hội.

15. Người ta không thể định vị sự dữ chủ yếu dựa vào những cấu trúc xã hội, chính trị hay kinh tế như thể là tất cả những sự dữ khác đều bắt nguồn từ đó, đến nổi mà việc sáng tạo “con người mới” cũng lệ thuộc vào việc thiết lập những cấu trúc xã hội, chính trị hay kinh tế mới. Dĩ nhiên, có những cấu trúc mà chính nó là sự dữ và gây nên sự dữ mà chúng ta phải có can đảm để thay đổi chúng. Những cấu trúc, dù tốt hay xấu, đều là kết quả của hành động con người, và do đó chúng là những hậu quả hơn là nguyên nhân. Căn cội của sự dữ nằm ở nơi những con người có trách nhiệm và tự do, họ phải được hoán cải nhờ ân sủng của Chúa Giêsu Kitô để sống và hành động như những tạo vật mới trong tình yêu đối với người lân cận và trong nổ lực tìm kiếm công lý, sự tự chủ và thực hành nhân đức[13].

Khi đề cao cuộc cách mạng triệt để trong các mối quan hệ xã hội như là mệnh lệnh đầu tiên và, từ đó, khi phê phán việc tìm kiếm sự hoàn thiện cá nhân, người ta đã dấn bước trên con đường chối bỏ ý nghĩa của nhân vị và siêu việt tính của nó, đồng thời phá hủy đạo đức và nền tảng của nó vốn là tiểu chuẩn để phân biệt sự thiện và sự ác. Ngoài ra, bởi vì Đức ái là nguyên tắc của sự hoàn thiện đích thực, nên sự hoàn thiện này không thể được quan niệm mà không có sự mở lòng ra cho tha nhân và tinh thần phục vụ.

V. TIẾNG NÓI CỦA HUẤN QUYỀN

1. Để trả lời cho thách đố cam go trong thời đại chúng ta bởi áp bức và đói kém, với ưu tư đánh thức lương tri người kitô hữu về cảm thức công bình, trách nhiệm xã hội và tình liên đới với người nghèo và người bị áp bức, nhiều lần, Huấn Quyền Giáo Hội đã nêu bật tính thời sự và tính khẩn thiết của học thuyết cũng như mệnh lệnh chứa đụng trong Mạc Khải.

2. Ở đây, chúng ta kể ra một số trong những can thiệp này: những tài liệu gần đây của các Giáo Hoàng Mater et Magistra, Pacem in Terris, Populorum Progressio, Evangelii Nuntiandi. Chúng ta cũng đề cập đến bức thư gởi cho đức Hồng y Roy là Tông thư Octogesima Adveniens.

3. Công đồng chung Vatican II cũng đã đề cập đến những vấn nạn về công bình và tự do trong Hiến Chế Mục Vụ Gaudium et Spes.

4. Đức Thánh Cha đã nhiều lần nhấn mạnh đến các chủ đề này, nhất là trong các thông diệp Redemptor Hominis, Dives in Misericordia Laborem Exercens. Nhiều cuộc can thiệp, nhắc lại học thuyết về nhân quyền, đụng chạm trực tiếp đến những vấn nạn giải phóng con người trước những hình thức áp bức khác nhau mà con người là nạn nhân. Cách đặc biệt, phải kể đến bài diễn văn đọc trước kỳ họp lần thứ 26 của Hội Đồng Liên Hiệp Quốc tại New York vào ngày 2 thang 10 năm 1979[14]. Cũng trong năm đó, ngày 28 tháng giêng, tại lễ khai mạc hội nghị lần thứ 3 của CELAM ở Puebla, Đức Gioan Phaolô II đã nhắc lại rằng chân lý toàn vẹn về con người là nền tảng cho mọi cuộc giải phóng thực sự[15]. Bản văn này là văn kiện quy chiếu trực tiếp đối với thần học giải phóng.

5. Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 1971 và năm 1974 cũng đã thảo luận những chủ đề liên quan trực tiếp đến quan niệm kitô giáo về giải phóng: quan niệm về công bình trên thế giới, quan niệm về mối liên hệ giữa giải phóng khỏi áp bức và giải phóng toàn diện, tức là ơn cứu độ con người. Công trình của Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 1971 và năm 1974 đã dẫn đưa Đức Phaolô VI làm rõ mối liên hệ giữa việc loan báo Tin Mừng với công cuộc giải phóng hay thăng tiến nhân loại trong Tông Huấn Evangelii Nuntiandi[16].

6. Ưu tư của Giáo Hội về giải phóng và thăng tiến nhân loại cũng được thể hiện qua việc thiết lập Ủy Ban Giáo Hoàng về Công Lý và Hòa Bình.

7. Nhiều Hội Đồng Giám Mục đã phối kết với Tòa Thánh để nhắc lại tính khẩn thiết của công cuộc giải phóng con người cách toàn diện và những con đường đưa đến cuộc giải phóng đó. Trong bối cảnh này, cần phải đặc biệt nhắc đến tài liệu của Tổng Hội Nghị của các Giám Mục Châu Mỹ La Tinh ở Medellin vào năm 1968 và ở Puebla vào năm 1979. Đức Phaolô VI đã hiện diện tại Hội Nghị Medellin và Đức Gioan Phaolô II đã hiện diện tại Puebla. Cả hai đều bàn đến các chủ đề về hoán cải và giải phóng.

8. Theo chân Đức Phaolô VI, người đã nhấn mạnh đến tính đặc thù của Phúc Âm[17], tính đặc thù có nguồn gốc từ Thiên Chúa, Đức Gioan Phaolô II, trong bài diễn văn ở Puebla, đã nhắc lại ba trụ cột mà thần học giải phóng đích thực phải dựa vào : chân lý về Chúa Giêsu Kitô, chân lý về Giáo Hội chân lý về con người[18].

VI. MỘT LỐI GIẢI THÍCH MỚI VỀ KITÔ GIÁO

1. Không thể lãng quên vô số những công việc vô vị lợi của các kitô hữu, các chủ chăn, linh mục, tu sĩ hay giáo dân. Những người này, được thúc đẩy bởi tình yêu dành cho anh chị em đang sống trong những điều kiện phi nhân, đã nỗ lực đem lại sự trợ giúp và an ủi cho vô số những người đang đau khổ do nghèo đói vì họ. Một số người đã cố gắng tìm ra những phương thế hữu hiệu nhất để chấm dứt nhanh chóng tình trạng không thể chấp nhận này.

2. Tuy nhiên, lòng nhiệt thành và lòng trắc ẩn, điều mà lẽ ra phải có nơi trái tim của tất cả các mục tử, gặp phải nguy cơ lạc lối và chuyển hướng đến những việc làm gây hại cho con người và phẩm giá của họ nếu không chú ý đủ đến một số cám dỗ trong khi đánh bại sự nghèo đói.

3. Cảm giác lo lắng về tính khẩn cấp của các vấn đề không thể làm cho chúng ta mất tầm nhìn về những gì là thiết yếu, cũng không làm chúng ta quên đi câu trả lời của Đức Giêsu cho tên cám dỗ: “Người ta không chỉ sống nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời Thiên Chúa phán ra” (Mt 4,4). Đối mặt với tình trạng khẩn cấp phải chia sẻ cơm bánh, một số người bị cám dỗ đặt công cuộc loan báo Tin Mừng vào trong ngoặc kép và trì hoãn nó đến ngày mai: trước tiên phải có cái gì ăn đã rồi mới nói đến Lời Chúa. Chia cắt hai điều này hay thậm chí còn đặt chúng đối nghịch với nhau là một sai lầm trầm trọng. Trên thực tế, viễn tượng Kitô giáo thường cho thấy chúng có liên hệ với nhau rất nhiều[19].

4. Đối với một số người, một cuộc đấu tranh cấp thiết cho công bằng và tự do của con người dường như chỉ trên bình diện chính trị và kinh tế, và đó là điểm chính yếu và là tất cả cho ơn cứu độ. Đối với họ, Tin Mừng bị giảm thiểu thành tin mừng hoàn toàn trần tục.

5. Chính đối diện với “chọn lựa ưu tiên cho người nghèo” một mặt được tái khẳng định cách mạnh mẽ và rõ ràng, sau Medellin, ở Hội nghị Puebla[20], và, mặt khác, cám dỗ giảm thiểu Tin Mừng cứu độ thành một tin mừng trần thế, mà định vị các nền thần học giải phóng khác nhau .

6. Chúng ta nên nhớ lại rằng chọn lựa ưu tiên ở Puebla có hai mặt: dành cho người nghèo và “dành cho người trẻ[21]. Điều đáng nói là, nói chung, ưu tiên cho người trẻ đã hoàn toàn bị im lặng.

7. Như đã lưu ý ở trên (x. IV, 3) rằng có một “nền thần học giải phóng” đích thực, là nền thần học cắm rễ sâu nơi Lời Chúa được giải thích đúng đắn.

8. Tuy nhiên, từ một quan điểm có tính cách mô tả, nên nói về những nền thần học giải phóng, bởi vì thuật ngữ này bao hàm nhiều quan điểm thần học, hoặc thậm chí đôi lúc là những quan điểm ý thức hệ, không chỉ khác nhau, nhưng thường còn mâu thuẫn nhau nữa.

9. Trong tài liệu này, vấn đề sẽ chỉ là những sản sinh của trào lưu tư tưởng này, mà dưới danh xưng “thần học giải phóng”, đề nghị một lối giải thích mới cả về nội dung đức tin lẫn cuộc sống kitô hữu, một lối giải thích thật sự xa rời cách nghiêm trọng với đức tin của Giáo Hội, mà thực ra lại là sự phủ nhận thực tiễn đức tin này.

10. Các khái niệm vay mượn từ ý thức hệ Mác-xít mà không qua phê bình và việc nại đến các luận đề của một khoa chú giải Thánh Kinh mang đậm tính duy lý, là cội rễ của lối giải thích mới. Lối giải thích này đến làm hư hỏng tất cả những gì là đích thực trong cam kết quảng đại ban đầu vì người nghèo.

VII. LỐI PHÂN TÍCH MÁC-XÍT

1. Sự mất kiên nhẫn và lòng mong muốn tính hiệu quả đã đưa dẫn một số kitô hữu, đang thất vọng đối với mọi phương pháp khác, hướng đến điều mà họ gọi là “lối phân tích Mác-xít”.

2. Lý do của họ là: một tình huống không thể chịu đựng được và dễ dàng bùng nổ đòi hỏi một “hành động hiệu quả” mà không thể chờ đợi thêm được nữa. Một hành động hiệu quả giả định một “phân tích khoa học” về những nguyên nhân cơ cấu của sự nghèo đói. Vậy mà chủ nghĩa Mác-xít cung cấp các dụng cụ để thực hiện lối phân tích như thế. Vì thế, người ta chỉ việc áp dụng chúng vào hoàn cảnh các nước thuộc thế giới thứ ba, đặc biệt tại Mỹ Châu La Tinh.

3. Điều rõ ràng là sự hiểu biết khoa học về hoàn cảnh và những con đường khả thi biến đổi xã hội là sự giả định trước một hành động có khả năng đạt được những mục đích đã đề ra. Ở đây có một dấu chứng nghiêm túc của sự dấn thân.

4. Nhưng thuật ngữ “khoa học” có sức cuốn hút hầu như huyền bí, và tất cả những gì mang nhãn hiệu “khoa học” chẳng vì thế mà thực sự là khoa học. Đó là lý do tại sao cần phải phê bình cẩn thận về mặt tri thức luận trước khi vay mượn một phương pháp tiếp cận thực tại. Việc xem xét phê bình trước tiên này đang thiếu trong “thần học giải phóng”

5. Trong các khoa học xã hội và nhân văn, trước hết nên chú ý đến tính đa nguyên của các phương pháp và các quan điểm, bởi vì mỗi quan điểm chỉ làm nổi bật một khía cạnh của thực tại mà, do tính phức tạp của nó, thoát khỏi lối giải thích đơn giản và đơn nghĩa.

6. Với trường hợp chủ nghĩa Mác-xít, theo ý nghĩa riêng biệt dành cho nó trong khung cảnh này, việc phê bình sơ bộ càng cần thiết hơn nữa bởi vì tư tưởng Mác-xít có tầm nhìn mang tính toàn cầu về thực tại đến nổi mọi dữ kiện được tiếp nhận từ việc quan sát và phân tích đều được sáp nhập trong một cơ cấu triết học và ý thức hệ, mà xác định trước ý nghĩa và tầm quan trọng được gắn liền với chúng. Các nguyên tắc ý thức hệ được ưu tiên hơn việc nghiên cứu thực tại xã hội và được giả định trong thực tại xã hội ấy. Vì thế, chẳng có sự tách biệt nào giữa các thành phần trong khối phức hợp duy nhất về tri thức luận này là khả thể. Nếu ai chỉ cố gắng chấp nhận chỉ một phần, như sụ phân tích chẳng hạn, thì cuối cùng người đó phải chấp nhận toàn bộ ý thức hệ. Đó là lý do tại sao thường thấy những khía cạnh ý thức hệ nổi cộm trong số những điều vay mượn từ chủ nghĩa Mác-xít của các “thần học gia giải phóng”.

7. Ngày nay, lời cảnh báo của Đức Phaolô VI vẫn còn nguyên giá trị: chủ nghĩa Mác-xít, như nó đã thực sự cho thấy, đã đặt ra những khía cạnh và những vấn đề khác nhau cho các kitô hữu suy tư và hành động. Tuy nhiên, “phớt lờ mối dây liên kết mật thiết nối kết chúng, hay chấp nhận những yếu tố của lối phân tích Mác-xít mà không công nhận mối kết giao của nó với ý thức hệ, hoặc đi vào thực tiễn của công cuộc đấu tranh giai cấp và của lối phân tích Mác-xít của nó trong khi không nhận ra loại chuyên chế xã hội mà tiến trình này đang dần dần dẫn tới thì thật là hão huyền và nguy hiểm”[22].

8. Qủa thật, ngay từ thuở ban đầu và thậm chí gần đây, tư tưởng Mác-xít bị phân hoá và sinh ra nhiều dòng tư tưởng tách biệt nhau đáng kể. Trong mức độ những dòng tư tưởng này còn giữ lại nguyên vẹn tư tưởng Mác-xít, chúng tiếp tục được đặt trên nền tảng một số nguyên lý chính yếu không phù hợp với quan điểm kitô giáo về con người và xã hôi. Trong bối cảnh này, một số công thức không phải là trung lập, nhưng vẫn giữ ý nghĩa mà chúng tiếp nhận từ học thuyết Mác-xít nguyên thuỷ. Đó là trường hợp “đấu tranh giai cấp”. Lối diễn đạt nầy vẫn có tầm quan trọng đối với lối giải thích mà Mác đã đưa ra, và vì thế theo thực nghiệm, nó không được cho là tương đương với kiểu nói “xung đột xã hội gay gắt”. Những ai sử dụng công thức tương tự, trong khi tuyên bố chỉ giữ một số yếu tố của lối phân tích Mác-xít nhưng lại loại bỏ những phân tích được đặt trong tổng thể, ít nhất là những người đó vẫn đang duy trì một sự nhầm lẫn nghiêm trọng trong trí óc của độc giả.

9. Nên nhớ rằng chủ nghĩa vô thần và việc chối bỏ nhân vị, sự tự do và các quyền con người nằm ở cốt lõi của lý thuyết Mác-xít. Học thuyết này cũng chứa đựng những sai lầm trực tiếp đe doạ đến chân lý đức tin về vận mệnh đời đời của con người. Hơn nữa, nỗ lưc hội nhập vào trong thần học “một lối phân tích” mà tiêu chí giải thích của nó gắn với quan điểm vô thần là dấn bước vào trong những mâu thuẫn gay gắt. Ngoài ra, sự hiểu sai về bản chất thiêng liêng của con người dẫn đến sự lệ thuộc hoàn toàn của nhân vị vào tập thể, và vì vậy cũng đưa đến việc phủ nhận những nguyên tắc của một đời sống xã hội và chính trị phù hợp với phẩm giá con người.

10. Các thần học gia cần phải cẩn trọng thực hiện một cuộc duyệt xét theo phương pháp phê bình về những lối phân tích vay mượn từ các ngành khác. Ánh sáng đức tin sẽ cung cấp cho các thần học gia những nguyên tắc của nó. Chính vì vậy, việc các thần học gia sử dụng những cống hiến của triết học hay các khoa học nhân văn có một giá trị như là “công cụ”, và việc sử dụng đó phải được nghiên cứu phê bình từ một viễn tượng thần học. Nói cách khác, tiêu chuẩn tối hậu và quyết định chỉ có thể là tiêu chuẩn của chính thần học. Dưới ánh sáng đức tin và những điều mà đức tin dạy cho chúng ta biết về chân lý và ý nghĩa tối hậu của vận mệnh con người, chúng ta mới có thể đánh giá đúng về giá trị hay mức độ giá trị của những gì mà các ngành khác đề nghị, đó thường là giả đoán như là chân lý về con người, lịch sử và vận mệnh của nó.

11. Ngày nay, việc áp dụng những hệ thống vay mượn từ tư tưởng Mác-xít vào thực tại kinh tế, xã hội và chính trị có thể tạo ra ấn tượng ban đầu về sự đáng tin cậy nào đó, trong mức độ mà hoàn cảnh ở một vài quốc gia giống với những gì mà Mác đã mô tả và giải thích trong những thế kỷ trước. Dựa trên những nét tương đồng này, người ta đơn giản hoá nó đi, đồng thời rút ra những yếu tố cơ bản chuyên biệt, điều đó cản trở một cuộc duyệt xét nghiêm túc về nguyên nhân của đói nghèo và kéo dài sự lầm lẫn.

12. Tại một số vùng thuộc Mỹ Châu La Tinh, việc sở hữu phần lớn của cải trong tay một tập đoàn đầu sỏ chính trị gồm những ông chủ mất hết ý thức xã hội, sự hoàn toàn thiếu vắng hay những thiếu sót của hẹ thống luật pháp, việc những kẻ độc tài quân sự chế nhạo những quyền cơ bản của con người, sự đồi bại của một số quan chức quyền lực, những việc làm dã man vì lợi nhuận của tư bản nước ngoài, tất cả đang tạo thành những nhân tố nuôi dưỡng khát vọng nổi loạn nơi những người tự xem mình là những nạn nhân của một chủ nghĩa thực dân mới về kỹ thuật, tài chính, tiền tệ hay kinh tế. Việc nhận ra sự bất công và một lối văn thống thiết mượn từ ngôn ngữ của chủ nghĩa Mác-xít, được trình bày sai lệch cứ như thể nó là ngôn ngữ khoa học luôn đi kèm với nhau.

13. Điều kiện trước tiên để có bất cứ phân tích nào là một sự cởi mở hoàn toàn đối với thực tại được mô tả. Đó là lý do tại sao ý thức phê phán phải đi cùng với việc sử dụng bất cứ giả thuyết đã được tiếp nhận nào. Phải nhận ra rằng những giả thuyết này phù hợp với một quan điểm đặc thù vốn làm nổi bật một số khía cạnh nào đó của thực tại đồng thời loại bỏ những khía cạnh khác vào trong bóng tối. Sự giới hạn này xuất phát từ bản chất của khoa học nhân văn bị người ta phớt lờ, và dưới sự dẫn dụ của những giả thuyết tự nhận là khoa học, họ chỉ cậy dựa vào một quan niệm tổng thể về thực tại như tư tưởng của Các Mác.

VIII. BẠO LỰC VÀ VIỆC PHÁ VỠ Ý NGHĨA SỰ THẬT

1. Như thế, khái niệm tổng thể này áp đặt lô-gíc của nó và dẫn ‘các nền thần học giải phóng” đến chỗ chấp nhận một loạt những lập trường vốn không phù hợp với nhãn quan Kitô giáo về con người. Thực ra, cốt lõi của ý thức hệ vay mượn mượn từ tư tưởng Mác-xít mà chúng ta đang đề cập, đang thực hiện chức năng của một “nguyên lý quyết định”. Nó đóng vai trò này nhờ vào việc nó được mô tả như “ khoa học”, tức là thực sự cần thiết. Trong cái cốt lõi này, chúng ta có thể phân biệt nhiều thành tố.

2. Theo lô-gíc của tư tưởng Mác-xít, “ lối phân tích” không được tách rời khỏi “hành động” (praxis), và khỏi khái niệm lịch sử mà “hành động” này nối kết. Thật thế, lối phân tích là một công cụ phê bình, và phê bình chỉ là một giai đoạn trong công cuộc đấu tranh cách mạng. Cuộc đấu tranh này là cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản, vốn mang trong mình sứ mạng lịch sử

3. Do đó, chỉ ai “tham gia” vào cuộc đấu tranh này mới có thể thực hiện việc phân tích cách đúng đắn.

4. Vậy, nhận thức đúng là sự nhận thức “đảng phái”. Rõ ràng chúng ta thấy khái niệm “chân lý” ở đây có vấn đề, và nó hoàn toàn bị đánh đổ: chỉ có chân lý trong và ngang qua “hành động” đảng phái mà thôi.

5. “Hành động”, và chân lý xuất phát từ nó, là “hành động” và chân lý đảng phái, bởi vì cấu trúc cơ bản của lịch sử có đặc tính là “đấu tranh giai cấp”. Tiếp đến là tính cần thiết khách quan của việc tham gia đấu tranh giai cấp, vốn là đối lập biện chứng của quan hệ bóc lột đang bị lên án. Chân lý là chân lý giai cấp: chỉ có chân lý trong cuộc đấu tranh giai cấp cách mạng mà thôi.

6. Luật cơ bản của lịch sử, vốn là luật của cuộc đấu tranh giai cấp, ngụ ý rằng xã hội được thiết lập trên bạo lực. Mối quan hệ thống trị của người giàu trên người nghèo vốn hình thành nhờ vào bạo lực phải được đáp ứng lại bằng đáp lại bạo lực và nhờ đó mối quan hệ thống trị này sẽ bị đảo ngược.

7. Cuộc đấu tranh giai cấp được trình bày như là một quy luật cần thiết, khách quan. Khi tham gia vào quá trình đấu tranh này nhân danh người bị áp bức, người ta nghĩ là mình đang thực hiện “chân lý”, đang hành động có “khoa học”. Do đó, khái niệm chân lý đi song hành với việc khẳng định bạo lực cần thiết, và như thế, khẳng định sự phi luân lý chính trị. Trong nhãn quan này, bất kỳ sự quy chiếu nào về những đòi hỏi luân lý vốn kêu mời cải cách cơ cấu, thể chế triệt để và can đảm đều vô nghĩa.

8. Luật cơ bản của cuộc đấu tranh giai cấp có tính chất phổ quát và toàn cầu. Nó được phản ánh trong toàn bộ lãnh vực đời sống: tôn giáo, đạo đức, văn hóa và thể chế. Đối với luật này, không lãnh vực nào trong những lãnh vực này là tự trị. Trong mỗi lãnh vực, luật này là yếu tố quyết định.

9. Đặc biệt, chính bản chất của luân lý bị đặt thành vấn đề cách triệt để bởi việc vay mượn những luận điểm này từ học thuyết Mác-xít. Thực ra, chính tính chất siêu nghiệm trong việc phân định giữa thiện và ác, vốn là nguyên tắc luân lý, đã mặc nhiên bị từ chối trong nhãn quan của cuộc đấu tranh giai cấp.

IX. ÁP DỤNG ĐIỂM CỐT LÕI NÀY VÀO THẦN HỌC

1. Các lập trường đang nói đây thỉnh thoảng được nêu ra rõ ràng trong một số tác phẩm của các “thần học gia giải phóng”. Trong một số tác phẩm khác, các lập trường theo sau các tiền đề của chúng một cách logíc. Ngoài ra, người ta giả định chúng có mặt trong một số cử hành phụng vụ, chẳng hạn như một cuộc cử hành “ Thánh Thể” bị chuyển thành cuộc cử hành của dân chúng đang đấu tranh, dù những người tham gia vào các cử hành ấy có thể không hoàn toàn ý thức về điều đó. Vì thế, chúng ta đang đối mặt với một hệ thống thực thụ, cho dù một số người không hoàn toàn muốn theo lối lý luận logíc từ đầu đến cuối của nó. Như thế, hệ thống này là một sự thoái hóa sứ điệp Kitô giáo mà Thiên Chúa đã tín thác cho Hội Thánh của Người. Vì vậy, toàn thể thông điệp này bị “ các thần học gia giải phóng” đặt vấn đề.

2. Không phải “ sự kiện” phân tầng xã hội với sự bất công và thiếu cân bằng chứa đựng trong đó, mà “lý thuyết” đấu tranh giai cấp như một luật căn bản của lịch sử được các thần học gia giải phóng chấp nhận như là một nguyên tắc. Người ta kết luận rằng: đấu tranh giai cấp được hiểu như thế sẽ chia rẽ chính Giáo Hội, và chính khi đeo đuổi cuộc đấu tranh này, những thực tại của Giáo Hội cũng bị phán xét. Thậm chí người ta khẳng định rằng sẽ là duy trì ảo tưởng với niềm tin tai hại khi cho rằng tình yêu trong tính phổ quát của nó có thể chinh phục những gì làm nên luật cơ cấu đầu tiên của chủ nghĩa tư bản.

3. Theo quan niệm này, đấu tranh giai cấp là động lực của lịch sử. Vì thế, lịch sử trở thành một khái niệm trung tâm. Người ta sẽ khẳng định rằng chính Thiên Chúa tạo nên lịch sử. Ngoài ra, chỉ có một lịch sử và sự phân biệt giữa lịch sử cứu độ và lịch sử thế tục không còn cần thiết nữa. Nếu chủ trương phân biệt thì có lẽ sẽ rơi vào “thuyết nhị nguyên”. Những lời khẳng định như thế này phản ánh thuyết duy lịch sử. Vì thế, có một khuynh hướng đồng hoá Nước Thiên Chúa và sự lớn lên của nó với phong trào giải phóng con người, và biến lịch sử trở thành chủ thể của sự phát triển riêng của nó, như một tiến trình tự cứu chuộc của con người ngang qua đấu tranh giai cấp. Sự đồng hóa này đối lập với niềm tin của Giáo Hội như nó được công đồng Vaticanô II khẳng định[23].

4. Theo những lý luận này, một số người đi đến chỗ đồng hóa chính Thiên Chúa với lịch sử và định nghĩa đức tin như một sự “ trung thành với lịch sử”, nghĩa là tham gia vào hoạt động chính trị phù hợp với quan niệm phát triển của nhân loại, và được hiểu như là thuyết Mê-si-a thuần túy trần tục.

5. Vì vậy, đức tin, niềm hy vọng và đức ái được gán cho một nội dung mới: chúng trở thành “sự trung thành với lịch sử”, “niềm tin vào tương lai” và “chọn lựa người nghèo”. Điều này chẳng khác gì với việc cho rằng chúng bị vét sạch hết chiều kích thần học của chúng.

6. Việc chính trị hóa hoàn toàn những khẳng định đức tin và những phán đoán thần học hiển nhiên xuất phát từ quan niệm mới này. Vấn đề không đơn thuần là chú ý đến những hậu quả và những tác động chính trị của chân lý đức tin, vốn được quý trọng trước hết vì giá trị siêu việt của chúng. Trong hệ thống mới này, mọi khẳng định đức tin hay thần học đều tùy thuộc vào một tiêu chuẩn chính trị, mà tiêu chuẩn này lại tuỳ thuộc vào cuộc đấu tranh giai cấp, động lực của lịch sử.

7. Vì thế, việc tham gia vào công cuộc đấu tranh giai cấp được xem như một đòi hỏi của chính đức ái. Niềm khát khao yêu thương mọi người không phân biệt giai cấp và đến với họ bằng phương tiện đấu tranh bất bạo động là đối thoại và thuyết phục thì bị coi như là phản tác dụng và đối nghịch với tình thương. Vừa khẳng định con người không nên là mục tiêu của hằn thù, nhưng cũng vừa khẳng định rằng nếu người đó thuộc về số những người giàu, thì trước hết người đó là kẻ thù của giai cấp phải đánh bại. Vì thế, phổ quát tính của tình thương tha nhân và tình huynh đệ trở nên một nguyên tắc cánh chung, vốn sẽ chỉ có ý nghĩa cho “con người mới” nảy sinh từ cuộc cách mạng chiến thắng.

8. Đối với Giáo Hội, hệ thống này chỉ xem Giáo Hội như là một thực tại ở bên trong lịch sử, cũng bị tác động bởi những luật lệ vốn được cho là chi phối sự phát triển của lịch sử trong nội tại tính của nó. Giáo Hội, món quà của Thiên Chúa và mầu nhiệm của đức tin, bị thuyết giảm trừ này vét hết tất cả mọi thực tại đặc thù. Đồng thời, người ta phản bác rằng việc tham gia vào cùng một Bàn Tiệc Thánh Thể của các Kitô hữu vốn thuộc về những giai cấp đối nghịch nhau có lẽ vẫn còn có ý nghĩa nào đó.

9. Theo nghĩa tích cực, “Giáo Hội của người nghèo” biểu thị sự ưu tiên không loại trừ dành cho người nghèo dưới mọi hình thức nghèo khổ của nhân loại, bởi vì họ được Thiên Chúa ưu tiên. Thành ngữ cũng quy chiếu đến những đòi hỏi của tinh thần khó nghèo vì Tin Mừng trong thời đại chúng ta đối với Giáo Hội với tư cách là một cộng đoàn thể và một thể chế, cũng như đối với những thành viên của Giáo Hội.

10. Nhưng “các nền thần học giải phóng”, vốn có công trạng trong việc dành chỗ danh dự cho những bản văn lớn của các ngôn sứ và của Tin Mừng trong việc bảo vệ người nghèo, đã dẫn đến một sự lầm lẫn tai hại giữa người nghèo của Kinh Thánh và giai cấp vô sản của Mác. Theo cách này, họ làm hỏng mất ý nghĩa Kitô giáo của người nghèo, và biến cuộc đấu tranh vì quyền của người nghèo thành cuộc đấu tranh theo viễn tượng ý thức hệ của cuộc đấu tranh giai cấp. Như thế, “Giáo Hội của người nghèo” là Giáo Hội của giai cấp đã ý thức được những đòi hỏi của cuộc đấu tranh cách mạng như một bước tiến đến giải phóng và biểu dương cuộc giải phóng đó trong phụng vụ của mình.

11. Cũng cần phải lưu ý tương tự liên quan đến thành ngữ “Giáo Hội của dân chúng”. Từ quan điểm mục vụ, thành ngữ này có thể có nghĩa là những người được ưu tiên đón nhận Tin Mừng nhưng vì hoàn cảnh của mình nên đức ái mục vụ của Giáo Hội hướng về họ trước hết. Người ta cũng có thể xét đến thuật ngữ Giáo Hội như là “dân của Thiên Chúa”, nghĩa là dân của Giáo Ước Mới được ký kết trong Chúa Kitô[24].

12. Nhưng “ các nền thần học giải phóng” mà chúng ta đang nói đến lại muốn nói “Giáo Hội của dân chúng” là Giáo Hội của giai cấp, Giáo Hội của những người bị áp bức vốn cần phải “nhận thức” dưới quan điểm của cuộc đấu tranh giải phóng có tổ chức. Đối với một số người, dân tộc được hiểu như thế thậm chí trở thành đối tượng của đức tin.

13. Xuất phát từ quan niệm như thế về Giáo Hội của dân, một sự phê bình về chính cơ cấu của Giáo Hội được triển khai. Nó không đơn thuần chỉ là một sự sửa sai mang tính huynh đệ của các mục tử trong Giáo Hội mà cách cư xử của họ không phản ánh tinh thần phục vụ của Tin Mừng và cách cư xử đó nối kết với những dấu chỉ lỗi thời về quyền bính vốn làm chướng tai gai mắt người nghèo. Vấn đề là nó phải đương đầu với thách đố cho “cơ cấu phẩm trật và bí tích” của Giáo hội, vốn đã được chính Chúa muốn. Người ta lên án những người đại diện khách quan của tầng lớp thống trị trong phẩm trật và trong huấn quyền và điều cần thiết là phải bãi bỏ nó. Lập trường này cho rằng các thừa tác viên phát xuất từ dân cho nên dân chỉ định các thừa tác viên theo sự chọn lựa của riêng mình hợp với nhu cầu của sứ vụ cách mạng lịch sử của họ.

X. MỘT LỐI GIẢI THÍCH MỚI

1. Quan niệm đảng phái về chân lý, vốn được thể hiện trong “hành động” cách mạng của giai cấp, xác minh cho lập trường này. Vì thế, các nhà thần học không chia sẻ những luận đề này của “ thần học giải phóng”, hàng giáo phẩm, và nhất là Huấn quyền Rôma, đều tiên thiên bị mất uy tín vì thuộc về giai cấp áp bức. Thần học của họ là nền thần học giai cấp. Vì thế, những luận cứ và giáo huấn không được xem xét trong chính chúng bởi vì chúng chỉ phản ánh những quyền lợi giai cấp. Do đó, trên nguyên tắc, giáo huấn của họ bị cho là sai lầm.

2. Tính chất bao trùm và tổng thể của thần học giải phóng lộ diện tại chính nơi đây. Vì thế, nó phải bị phê bình không chỉ trên nền tảng lời khẳng định này hay khẳng định kia, nhưng còn trên mức độ quan điểm giai cấp mà nó đang nuôi dưỡng và trên mức độ quan điểm giai cấp vốn đã được vận hành như một nguyên lý quyết định.

3. Do tiền giả định duy giai cấp này, cho nên quả là rất khó khăn, nếu không muốn nói là không thể, để bước vào một cuộc đối thoại nghiêm túc với một số “thần học gia giải phóng” theo một cách thức mà những người tham gia lắng nghe nhau, và những luận cứ của họ được thảo luận cách khách quan và chăm chú. Bởi vì các thần gia học này, ít nhiều có ý thức, khởi đi từ giả định rằng chỉ có quan điểm của người bị áp bức và giai cấp cách mạng, vốn là quan điểm của chính họ, mới là quan điểm đúng đắn. Và như thế, các tiêu chí thần học về chân lý bị tương đối hóa và phải tùng phục những mệnh lệnh của cuộc đấu tranh giai cấp. Theo nhãn quan này, “tính chính thống” (orthodoxie) hay quy luật đúng đắn của đức tin được thay thế bởi ý niệm “hành động chính thống” (orthopraxie) như là tiêu chuẩn của chân lý. Về phương diện này, điều quan trọng là đừng lẫn lộn khuynh hướng thực tiễn, vốn thuộc về nền thần học truyền thống giống như khuynh hướng suy lý, với tính ưu tiên được thừa nhận và dành riêng cho một dạng “hành động” nào đó. Đối với họ, hoạt động này là “hành động” cách mạng và nó trở nên tiêu chuẩn tối ưu cho chân lý thần học. Một phương pháp thần học lành mạnh chắc chắn sẽ luôn coi trọng “hành động” của Giáo Hội và sẽ tìm thấy ở đó một trong những nền tảng của mình, nhưng đó là vì hành động này phát xuất từ đức tin và cách diễn tả sống động đức tin.

4. Tuy nhiên, đối với “các nền thần học giải phóng”, học thuyết xã hội của Giáo Hội bị khinh rẻ bác bỏ. Họ cho rằng học thuyết này phát xuất từ ảo tưởng về một sự thỏa hiệp khả thi, tiêu biểu của giai cấp trung lưu vốn không có vận mệnh lịch sử.

5. Lối “giải thích” mới này nơi “các nền thần học giải phóng” dẫn đến việc đọc lại Thánh Kinh chủ yếu mang màu sắc chính trị. Vì thế, một tầm quan trọng to lớn dành cho biến cố Xuất Hành với tư cách biến cố này là một cuộc giải phóng khỏi ách nô lệ chính trị. Tương tự như vậy, người ta đề nghị đọc thánh ca “Magnificat” cũng theo màu sắc chính trị. Sai lầm ở đây không hệ tại ở việc chú ý đến chiều kích chính trị của các bài đọc Thánh Kinh, nhưng ở chỗ biến chiều kích này thành chiều kích chính yếu và duy nhất. Điều này dẫn đến chỗ đọc Thánh Kinh cách giản lược.

6. Cũng vậy, người ta đặt mình vào trong nhãn quan của thuyết Mêsia trần tục, vốn là một trong những lối thể hiện căn bản nhất của sự tục hóa Nước Thiên Chúa và của sự mất hút vào nội tại tính của lịch sử nhân loại.

7. Khi dành ưu tiên cho chiều kích chính trị như thế, người ta bị dẫn đến chỗ khước từ “ tính mới mẻ triệt để” của Tân Ước, và trên hết, hiểu nhầm sai về con người của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, là Thiên Chúa thật và là người thật, và vì thế, hiểu sai đặc tính ơn cứu độ mà Người ban cho chúng ta, đó là trước tiên sự giải thoát khỏi tội lỗi, vốn là nguồn gốc của mọi sự dữ.

8. Ngoài ra, khi loại bỏ việc giải thích trong thẩm quyền của Giáo Hội, vốn bị tố cáo là theo thuyết giai cấp, thì đồng thời người ta cũng rời xa Truyền Thống. Theo cách đó, người ta loại bỏ tiêu chuẩn thần học thiết yếu của việc chú giải, và từ sự trống rỗng được tạo ra như thế, người ta đón nhận những luận đề căn bản nhất của việc giải thích mang tính duy lý. Thật vậy, nếu không có óc phê bình, người ta lại quay về với sự đối nghịch giữa “Đức Giêsu lịch sử” và “Đức Giêsu của niềm tin”.

9. Ngoài ra, những định tín, đặc biệt là của công đồng Chalcedonia, được giải thích theo nghĩa đen, nhưng lại gán cho chúng một ý nghĩa mới, và ý nghĩa này phủ nhận đức tin của Giáo Hội. Một mặt, giáo thuyết Kitô học của Truyền Thống bị bác bỏ nhân danh giai cấp; mặt khác, người ta tuyên bố gặp lại “ Đức Giêsu lịch sử” từ kinh nghiệm cách mạng của cuộc đấu tranh của người nghèo để giải phóng mình.

10. Người ta khẳng định rằng họ sống lại kinh nghiệm tương tự với kinh nghiệm của Đức Giêsu. Kinh nghiệm của người nghèo đấu tranh để tự giải phóng, vốn đã là kinh nghiệm của Đức Giêsu, và chỉ mình nó mà thôi, mới thể hiện sự hiểu biết về Thiên Chúa thật và Vương Quốc.

11. Rõ ràng rằng niềm tin vào Ngôi Lời Nhập Thể, Đấng đã chết và sống lại cho mọi người, và người mà “Thiên Chúa cho làm Chúa và làm Đức Kitô”[25] bị khước từ. Thay vào đó là hình ảnh của một Đức Giêsu như một loại biểu tượng tổng hợp trong chính mình những nhu cầu của cuộc đấu tranh của những người bị áp bức.

12. Vì thế, người ta giải thích cái chết của Đức Kitô hoàn toàn theo chiều kích chính trị. Theo cách này, người ta phủ nhận giá trị cứu chuộc và toàn bộ chương trình cứu độ của Người.

13. Và như vậy, lối giải thích mới này đụng chạm đến toàn thể mầu nhiệm Kitô giáo.

14. Nói chung, lối giải thích mới này đang làm điều mà người ta có thể gọi là một sự đảo ngược các tín điều. Vì thế, thay vì nhìn biến cố Xuất Hành, như thánh Phaolô đã làm, là một hình ảnh của phép rửa[26], người ta lại biến nó thành một biểu tượng của cuộc giải phóng chính trị cho dân tộc.

15. Khi tiêu chuẩn giải thích này được áp dụng cho đời sống và thể chế phẩm trật của Giáo Hội, thì mối tương quan giữa hàng giáo phẩm và “phần dưới” trở nên mối tương quan thống trị tuân theo luật của cuộc đấu tranh giai cấp. Chiều kích bí tích, vốn là cội rễ của các thừa tác trong Giáo hội và biến Giáo hội thành một thực tại thiêng liêng không thể bị giảm trừ thành một phân tích thuần túy xã hội học, tính cách ấy hoàn toàn bị phớt lờ.

16. Sự đảo ngược các tín điều cũng được nhận thấy trong lĩnh vực “ các bí tích”. Thánh Thể không còn được hiểu như sự hiện diện cách bí tích của hiến lễ giao hòa, và như là quà tặng của Mình và Máu Đức Kitô nữa. Nó trở thành việc cử hành của dân chúng trong cuộc đấu tranh. Do đó, sự hiệp thông của Giáo Hội bị phủ nhận hoàn toàn. Sự hiệp thông, sự giao hòa và sự hiệp nhất trong tình yêu không còn được xem như là món quà mà chúng ta nhận được từ Đức Kitô[27]. Chính giai cấp nghèo mang sứ mạng lịch sử, nhờ cuộc đấu tranh của mình, sẽ xây dựng sự hiệp nhất. Đấu tranh giai cấp là con đường dẫn đến sự hiệp nhất. Vì thế, Thánh Thể trở thành Thánh Thể của Giai cấp. Đồng thời, sức mạnh chiến thắng của tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta bị phủ nhận.

XI . NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG

1. Lời cảnh báo chống lại những sự lệch lạc nghiêm trọng của một số “nền thần học giải phóng” không được xem như một sự chấp thuận, ngay cả gián tiếp, cho những người giam giữ người nghèo trong sự khốn khổ, cho những người trục lợi từ sự khốn khổ đó, cho những người nhận thấy nó mà không động chạm gì đến nó hay cho những người dửng dưng trước nó. Giáo Hội, được dẫn dắt bởi Tin Mừng về lòng nhân từ và bởi tình thương nhận loại, lắng nghe tiếng kêu xin công lý[28] và đáp lại tiếng kêu đó với hết khả năng của mình.

2. Vì thế, một tiếng kêu lớn vang đến toàn thể Giáo Hội. Với sự gan dạ và lòng can đảm, với tầm nhìn xa trông rộng và sự cẩn trọng, với lòng nhiệt thành và sức mạnh tinh thần, với tình thương người nghèo vốn đòi hỏi hy sinh, các vị mục tử sẽ xem xét việc đáp lại lời kêu xin này như một nhiệm vụ ưu tiên, và nhiều người đã làm như thế.

3. Tất cả các linh mục, tu sĩ, giáo dân đáp lại kêu xin này và muốn dấn thân cho công cuộc phúc âm hóa và thăng tiến con người, sẽ làm như thế trong sự hiệp thông với giám mục của họ và với Giáo Hội, mỗi người tùy theo ơn gọi riêng của mình.

4. Ý thức được đặc tính ơn gọi của mình, các nhà thần học sẽ cộng tác một cách trung thành và trong tinh thần đối thoại với Huấn quyền của Giáo Hội. Họ sẽ tái khám phá ra nơi Huấn quyền của Giáo Hội một món quà mà Đức Kitô dành cho Giáo Hội[29] và sẽ đón nhận tiếng nói và những chỉ thị của Huấn quyền với tinh thần con thảo.

5. Chỉ khi khởi đi từ nhiệm vụ Phúc Âm hóa trong tính toàn vẹn của nó thì những đòi hỏi của giải phóng và thăng tiến con người mới được hiểu cách xác đáng. Sự giải phóng này dựa trên những trụ cột thiết yếu: “chân lý về Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ”, “chân lý về Giáo Hội” và “chân lý về con người và phẩm giá của nó”[30]. Trong ánh sáng của các Mối Phúc, đặc biệt là mối phúc cho những ai nghèo khó trong lòng, Giáo Hội, vốn là Giáo Hội của những người nghèo trên khắp thế giới, nhắm tới một cuộc đấu tranh cao cả vì chân lý và công bằng. Vì lý do này mà Giáo Hội nói với mỗi người và với mọi người. Giáo Hội là “ Giáo Hội phổ quát, Giáo Hội của mầu nhiệm nhập thể, không phải Giáo Hội của giai cấp này hay giai cấp nọ, và Giáo Hội đề cập đến chính chân lý ngay trên danh xưng của nó, chân lý này là thực”. Giáo Hôi giúp nhận ra “mọi thực tại nhân loại, mọi công lý, mọi căng thẳng và mọi cuộc đấu tranh”[31].

6. Một sự bảo vệ công lý hữu hiệu cần phải dựa trên chân lý về con người, được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và được kêu mời lãnh nhận ân sủng làm con Thiên Chúa. Việc nhận biết mối tương quan thực thụ giữa con người và Thiên Chúa tạo nên nền tảng cho công lý trong mức độ nó tạo nên mối tương quan giữa con người với nhau. Đó là lý do tại sao cuộc đấu tranh vì nhân quyền mà Giáo Hội không ngừng kêu gọi lại là cuộc đấu tranh đích thực vì công lý.

7. Chân lý về con người đòi hỏi cuộc chiến đấu này phải được dẫn dắt bởi những cách thức phù hợp với phẩm giá con người. Vì thế, việc cậy dựa vào bạo lực mù quáng một cách có hệ thống và cố ý, dù nó phát xuất từ phía nào, phải bị lên án[32]. Đặt niềm tin vào những phương tiện bạo lực với hy vọng đạt được nhiều công lý hơn là nạn nhân của ảo tưởng chết người: bạo lực sinh ra bạo lực và hạ nhục con người. Nó nhục mạ nhân phẩm trong nhân vị của những nạn nhân và hạ thấp phẩm giá của những ai sử dụng nó.

8. Tính khẩn cấp của việc thay đổi tận căn các cơ cấu vốn che giấu sự nghèo đói và vốn tạo nên những hình thức của bạo lực, tính khẩn cấp đó không làm cho chúng ta quên rằng nguồn bất công ở trong tâm hồn con người. Vì thế, chỉ bằng cách kêu gọi “ tiềm năng luân lý” của một con người và kêu gọi nhu cầu hoán cải nội tâm không ngừng thì người ta mới tạo ra sự thay đổi xã hội thực sự phục vụ cho con người[33]. Người ta càng tự do cộng tác với nhau bao nhiêu cho những thay đổi cần thiết nhờ sáng kiến của họ và trong tinh thần đoàn kết thì người ta, được đánh thức vì ý thức trách nhiệm, sẽ càng lớn lên trong nhân tính. Sự đảo ngược giữa luân lý và cơ cấu bị nhấn chìm trong nhân loại học duy vật vốn không phù hợp chân lý về con người.

9. Do đó, thật là một ảo tưởng chết người khi nghĩ rằng chính những cơ cấu này tự mình sẽ tạo ra “con người mới” đúng theo nghĩa chân lý về con người. Người Kitô hữu không được quên rằng: Thánh Thần, Đấng được trao ban cho chúng ta, chính là nguồn mạch của mọi sự canh tân và chỉ có Thiên Chúa mới là chủ của lịch sử.

10. Vì vậy, việc lật đổ những cơ cấu tạo nên bất bình đẳng dựa vào bạo lực cách mạng thì không đương nhiên là sự khởi đầu của một chế độ công bình. Sự kiện lớn của thời đại chúng ta khơi gợi suy tư của những ai chân thành mong muốn một cuộc giải phóng thật sự cho anh chị em mình. Hàng triệu người đương thời mong muốn tìm lại được những tự do căn bản đã bị tước đoạt bởi những chế độ vô thần độc tài, lấy danh hiệu là giải phóng con người, lên nắm chính quyền bằng con đường cách mạng và bạo lực. Nổi ô nhục này của thời đại chúng ta không thể bị phớt lờ: trong khi tuyên bố mang lại cho sự tự do, các chế độ này lại giữ toàn bộ các quốc gia của họ trong tình trạng nô lệ vốn không xứng hợp với con người. Những người, có lẽ do không biết, tiếp tay cho những việc nô lệ hóa tương tự như thế, và như thế là họ đang phản bội chính người nghèo mà muốn giúp đỡ.

11. Cuộc đấu tranh giai cấp như con đường dẫn đến một xã hội phi giai cấp là chuyện thần thoại vốn ngăn chặn những canh tân, đồng thời gia tăng nghèo khổ và bất công. Những ai để mình bị thần thoại này quyến rũ nên suy nghĩ về những kinh nghiệm lịch sử đắng cay mà mà thần thoại này đưa đến. Rồi họ sẽ hiểu rằng: vấn đề không phải là việc từ bỏ một con đường đấu tranh hữu hiệu cho người nghèo vì lý tưởng vốn không có hiệu quả thực tế. Trái lại, vấn đề là việc giải phóng khỏi ảo tưởng để cậy dựa vào trên Tin mừng và sức mạnh thực hiện của Tin Mừng.

12. Một trong những điều kiện cho việc sửa đổi thần học cần thiết là mang lại giá trị cho “giáo huấn xã hội của Giáo Hội”. Giáo huấn này không hề khép kín. Trái lại, nó mở ra cho tất cả các vấn đề mới đang tràn ngập hiện nay. Theo viễn tượng này, sự đóng góp của các nhà thần học và các nhà tư tưởng khắp nơi trên thế giới cho suy tư của Giáo Hội là điều cần thiết.

13. Tương tự, kinh nghiệm của những ai dấn thân trực tiếp cho công cuộc Phúc Âm hóa và cho sự thăng tiến của người nghèo và người bị áp bức đều cần thiết cho việc suy tư mục vụ và học thuyết của Giáo Hội. Theo nghĩa này, cần khẳng định rằng người ta ý thức hơn về những khía cạnh nào đó của chân lý khởi đi từ “hành động” nếu, trong “hành động” này, người ta thấy được việc thực hành mục vụ một sự thực thực hành xã hội giữ được nguồn cảm hứng Tin Mừng.

14. Giáo huấn của Giáo Hội về những vấn đề xã hội mang đến những định hướng luân lý to lớn. Nhưng để nó có thể hướng dẫn hành động, Giáo Hội cần những người có khả năng theo quan điểm công nghệ và khoa học, cũng như trong các ngành khoa học chính trị và nhân văn. Các vị mục tử nên chú ý đến việc đào tạo những người có khả năng như thế và sống Tin Mừng cách sâu sắc. Ở đây, giáo dân, những người có sứ mệnh riêng là xây dựng xã hội, cần phải dấn thân trước tiên.

15. Những luận đề của “các nền thần học giải phóng” được phổ biến rộng rãi dưới hình thức được đơn giản hóa trong các buổi đào tạo hay trong “những nhóm căn bản” vốn thiếu sự chuẩn bị giáo lý và thần học. Vì thế, các luận đề này được những người quảng đại chấp nhận mà không có bất cứ một phán đoán phê bình nào.

16. Đó là lý do tại sao các mục tử nên quan tâm đến phẩm chất và nội dung của giáo lý và của việc đào tạo vốn luôn trình bày “toàn bộ thông điệp cứu độ” và những đòi hỏi của cuộc giải phóng thực sự trong khuôn khổ của toàn bộ thông điệp này.

17. Trong việc trình bày đầy đủ về mầu nhiệm Kitô giáo này, cũng cần thiết phải nhấn mạnh đến những khía cạnh cơ bản mà “các nền thần học gải phóng” đặc biệt có khuynh hướng hiểu nhầm hay loại bỏ, đó là: Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa và con người thật, quyền tối thượng của ân sủng, bản chất thực sự của các phương tiện cứu rỗi, đặc biệt của Giáo Hội và của các bí tích. Người ta cũng nên ghi nhớ ý nghĩa thực sự của luân lý trong đó sự phân biệt giữa thiện và ác không bị tương đối hóa, ý nghĩa thực sự của tội, sự cần thiết của hoán cải và tính phổ quát của tình huynh đệ. Người ta cần cảnh giác trước việc chính trị hóa đời sống vốn sai lầm về ý nghĩa toàn vẹn của Nước Trời và siêu việt tính của con người, điều đó đưa đến việc bí tích hóa chính trị và tìm cách tranh thủ tình cảm tôn giáo của con người vì lợi ích của công cuộc cách mạng.

18. Đối với người bảo vệ tính chính thống, người ta chỉ trích vì sự thụ động, nuông chiều hay đồng lõa với tình trạng bất công quá quắt và những chế độ chính trị nuôi dưõng sự bất công đó. Sự hoán cải nội tâm, tình yêu mạnh mẽ dành cho Thiên Chúa và tha nhân, lòng nhiệt thành cho công lý và hòa bình, ý nghĩa Tin Mừng của người nghèo và sự nghèo khó, tất cả cần phải có nơi mọi người, đặc biệt nơi các mục tử và những người có trách nhiệm. Mối quan tâm đến sự vẹn tuyền của niềm tin đòi hỏi đáp trả bằng đời sống chứng tá hữu hiệu trong việc phục vụ tha nhân, đặc biệt là người nghèo và người bị áp bức, bằng một đời sống đối thần toàn vẹn. Bằng đời sống chứng tá yêu thương mang tính xây dựng và năng động của mình, người kitô hữu sẽ đặt nền tảng cho “nền văn minh tình thương” mà hội nghị Puebla[34] đã nói đến, theo sau Đức Phaolô VI. Ngoài ra, đã có nhiều linh mục, tu sĩ và giáo dân được dâng hiến vì con đường Phúc Âm thực sự để tạo nên một xã hội công bằng.

KẾT LUẬN

Những lời của Đức Phaolô VI trong bản “Tuyên Xưng Đức Tin của Dân Thiên Chúa” diễn tả một cách rõ ràng niềm tin của Giáo Hội. Người ta không thể đi trệch hướng mà không gây nên những sự khốn cùng và những thứ nô lệ cùng với thảm họa tinh thần.

“Chúng ta tuyên xưng rằng: Nước Thiên Chúa, được bắt đầu ở dưới thế này, ngay trong Giáo Hội của Đức Kitô, không thuộc về thế gian này, mà hình ảnh của nó đang qua đi; và chúng ta tuyên xưng rằng sự tăng trưởng của Nước Thiên Chúa không thể bị nhầm lẫn với sự tiến bộ văn minh, khoa học và công nghệ của nhân loại; sự tăng trưởng này là ở chổ luôn luôn nhận ra một cách sâu xa hơn sự phong phú khôn dò khôn thấu của Đức Kitô, luôn luôn hy vọng một cách mạnh mẽ hơn vào những giá trị vĩnh cửu, luôn luôn đáp trả một cách nồng nhiệt hơn trước tình yêu Thiên Chúa và luôn luôn loan truyền một cách rộng rãi hơn ân sủng và sự thánh thiện giữa con người với nhau. Nhưng cũng chính tình yêu này làm cho Giáo Hội luôn quan tâm đến lợi ích trần thế thực sự của con người. Đừng bao giờ ngừng nhắc nhở con cái mình rằng họ không có một nơi ẩn náu bền lâu trên trần thế này. Giáo Hội cũng thôi thúc họ góp phần vào trong ích lợi của thành trì trần thế của họ, mỗi người tùy theo ơn gọi và phương tiện riêng của mình, để thăng tiến công lý, hòa bình và tình huynh đệ giữa con người với nhau; để quảng đại trợ giúp anh chị em mình, nhất là những người nghèo và những người bất hạnh. Mối bận tâm mãnh liệt của Giáo Hội, hiền thê của Đức Kitô, đến những nhu cầu của con người, niềm vui và hy vọng của họ, và những cố gắng của họ không gì khác hơn là ước muốn được hiện diện với họ để chiếu sáng họ bằng ánh sáng của Đức Kitô và tháp nhập họ vào trong Ngài, Đấng Cứu Độ duy nhất của họ. Điều đó không bao giờ có nghĩa là Giáo Hội đang chiều theo những thực tại trần thế, và cũng không có nghĩa rằng Giáo Hội đang làm suy giảm niềm tha thiết mong chờ Chúa của mình và Vương Quốc vĩnh cửu”[35].

Trong buổi tiếp kiến chung dành cho ĐHY Tổng trưởng ký tên dưới đây, Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đã phê chuẩn Huấn thị này, được thông qua trong cuộc họp thường niên của Bộ Giáo Lý Đức Tin, và truyền lệnh công bố nó.

Ban hành tại Rôma bởi Thánh bộ Giáo Lý Đức Tin, ngày 6 tháng 8 năm 1984, dịp lễ Chúa Biến Hình.

Hồng y JOSEPH RATZINGER

Tổng trưởng

ALBERTO BOVONE

Tổng Giám mục hiệu tòa Xêsarê ở Numidia

Thư ký


[1] x. Gaudium et Spes, số 4

[2] x. Dei Verbum, số 10

[3] x. Ga 5, 1tt

[4] x. Xh 24

[5] x. Gr 31,31-34; Ed 36,26tt

[6] Xp 3, 12 tt.

[7] x. Dt 10,18-19

[8] x. Lc 10,25-37

[9] x. 2Cr 8-9

[10] x. Mt 25,31-46; Cv 9,4-5; Cl1,24

[11] x. Gc 5,1tt

[12] x. 1Cr 11,17-34

[13] x. Gc 2,14-26

[14] x. Công Báo Toà Thánh (AAS), số 71, 1979, tr. 1144-1160

[15] x. Công Báo Toà Thánh (AAS), số 71, 1979, tr. 196

[16] x. Evangelii Nuntiandi, số 25-33; Công Báo Toà Thánh (AAS), số 68, 1976, tr. 23-28

[17] x. Evangelii Nuntiandi, số 32; Công Báo Toà Thánh (AAS), số 68, 1976, tr. 27

[18] x. Công Báo Toà Thánh (AAS), số 71, 1979, tr. 188-196

[19] x. Gaudium et Spes, số 39; PIÔ XI, Quadragesimo anno: Công Báo Toà Thánh (AAS), số 23, 1931, tr. 207

[20] x. số 1134-1165 và 1166-1205.

[21] x. Doc. de Puebla, IV, 2.

[22] PHAOLÔ VI, Octogesima Adveniens, số 34, Công báo Toà Thánh (AAS), số 63, 1971, tr. 424-425

[23] x. Lumen Gentium, số 9-17

[24] x. Gaudium et Spes, số 39

[25] x. Cv 2,36

[26] x. 1Cr 10,1-2

[27] x. Ep 2,11-12

[28] x. Doc. De Puebla, I, 2, số 3.3

[29] x. Lc 10,16

[30] x. GIOAN PHAOLÔ II, Discours sur l’ouverture de la conférence de Puebla, Công Báo Toà Thánh (AAS), số 71, 1979, tr. 188-196

[31] x. GIOAN PHAOLÔ II, Discours à la Favela «Vidigal» à Rio de Janeiro, 02/07/1980, Công Báo Toà Thánh (AAS), số 72, 1980, tr. 852-858

[32] x. Doc. de Puebla, II, 2, số 5.4.

[33] x. Doc. de Puebla, IV, 3, số 3.3.

[34] x. Doc. de Puebla, IV, 2, số 2.4.

[35] PHAOLÔ VI, Profession de foi du peuple de Dieu, 30/06/1968, Công Báo Toà Thánh (AAS), số 60, 1968, tr. 443-444

2 phản hồi

  1. […] Xem thêm bài “Nền thần học giải phóng đích thực” ở đây , bài “Cha Gutierrez, cha đẻ của nền thần học giải phóng” ở đây  và Huấn thị về “một vài khía cạnh của thần học giải phóng” ở đây […]

  2. […] Xem thêm bài “Nền thần học giải phóng đích thực” ở đây , bài “Cha Gutierrez, cha đẻ của nền thần học giải phóng” ở đây  và Huấn thị về “một vài khía cạnh của thần học giải phóng” ở đây […]

Bình luận đã được đóng.

%d bloggers like this: