« LÝ THUYẾT PHÁI TÍNH VÀ NGUỒN GỐC CỦA ĐỒNG TÍNH » (1)

« LÝ THUYẾT PHÁI TÍNH VÀ NGUỒN GỐC CỦA ĐỒNG TÍNH » (1)

Đó là tựa đề của một cuốn sách của Đức Ông Tony Anatrella, nhà phân tâm học và là chuyên viên về tâm thần học xã hội. Cuốn sách này được giới thiêu ở Trung Tâm Văn Hóa Milan ngày 28/4/2012, trước cuộc Hội ngộ quốc tế Gia đình lần thứ VII. Dưới đây là trích đoạn cuộc trao đổi giữa Đức Ông và hãng thông tấn ZENIT liên quan đến cuốn sách này (“La teoria del « gender » e l’origine dell’omosessualità” (« La théorie du genre et l’origine de l’homosexualité » ).

Zenit : Đức Ông đã xuất bản nhiều tác phẩm về vấn đề phái tính (gender) và đồng tính…Đâu là tính mới mẻ của cuốn sách này ?

Đức Ông Anatrella : Cuốn sách này là mới lạ và hiện thời nó chỉ được xuất bản bằng tiếng Ý. Tôi phân tích lý thuyết phái tính khởi đi từ những khái niệm của thông điệp Caritas in Veritate của đức Bênêđictô XVI, những khái niệm này cho phép nhấn mạnh đặc tính phi thực tế và phi hiện thực của ý thức hệ này. Lý thuyết này cho rằng nhân vị là một hữu thể chỉ được xây dựng về mặt văn hóa và cách riêng những gì liên quan đến thân xác hữu tính (corps sexué), căn tính giới tính (identité sexuelle) và những quan hệ xã hội. Chính vai trò mà xã hội phân cho mỗi người, gọi là nam hay nữ, sẽ làm nên căn tính giới tính của mỗi người và đồng thời mỗi người có bổn phận tự đảm nhận tùy vào một định/xu hướng giới tính (orientation sexuelle) mà từ đó người ấy muốn sống. Thân xác hữu tính không được nhìn nhận vì chính nó như là một « sự kiện » (fait) khởi từ đó chủ thể được phát triển nhưng như là một « mẹo » được xã hội xác định. Sau cùng, giới tính con người không thể được định nghĩa từ căn tính của người nam hay của người nữ, nhưng từ những định/xu hướng giới tính chẳng hạn như sự đồng tính.

Nói cách khác, trong khuôn khổ của môn giáo dục giới tính được dạy khởi từ lý thuyết này, người ta để cho các thiếu nhi và thiếu niên hiểu rằng chúng nghĩ là con gái hay con trai đang khi mà điều đó là không chắc chắn. Tất cả đều tùy thuộc vào định/xu hướng giới tính sẽ xuất hiện trong chúng và khởi từ đó chúng sẽ phải tự xác định mình. Cái nhìn này hoàn toàn tách rời khỏi thực tại và dẫn đến một sự phân chia giữa thân xác hiện thực, là hữu tính nam hay nữ (chúng ta chỉ là nam hay nữ chứ không phải điều gì khác), và đồng thời bị chối bỏ, vì lợi ích của một thân xác tưởng tưởng bên ngoài thân phận hữu tính của mình với tất cả những gì phát xuất từ đó. Đối với lý thuyết phái tính, thân xác dừng lại ở ngang tầm cái đầu đang khi phần còn lại không tồn tại hay ít ra nó chỉ tồn tại tùy vào những bất ngờ của các hình ảnh thân xác mà chủ thể có thể có theo sự chuyển động của những xúc động và những biểu hiện nội tại của nó, những biểu hiện mà ít hay nhiều xung đột với thực tại.

Bởi thế, chính từ những do dự, đã được biết rõ, đối với thân xác mà đứa bé hay người thiếu niên có thể cảm nhận, mà các lý thuyết gia về phái tính biến thành một ý thức hệ toàn diện đi đến chỗ đặt lại vấn đề thực tại của thân xác hữu tính. Mỗi người được mời gọi, cũng như toàn thể xã hội, tự tái xác định mình khởi từ một thân xác tưởng tượng, gần với một cái nhìn loạn tâm thần, với tất cả những hậu quả nhân chủng học và xã hội là hệ thống này có thể sinh ra khi người ta muốn vi phạm thực tại khi chỉ tên những sự vật mà không hề tồn tại.

Caritas in Veritate đề nghị những câu trả lời thích đáng khi nhấn mạnh rằng mỗi thời đại tiết ra những ý thức hệ xa rời với các lợi ích của con người và của công ích. Chủ nghĩa mar-xít xuyên qua chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội, đã hứa hẹn cho chúng ta một con người mới với ý tưởng suy sút « thay đổi cuộc đời » thay vì đảm nhận nó. Chủ nghĩa quốc xã kêu gọi phó mình cho một chủng tộc cao siêu. Chúng ta biết là những ý tưởng sai lệch này đã gây chết chóc biết bao về nhiều mặt. Và bây giờ lý thuyết phái tính muốn giải phóng chúng ta khỏi thân phận thân xác hữu tính của chúng ta và khỏi sự khác biệt giới tính. Nó gợi hứng cho các tổ chức Liên Hiệp Quốc, Nghị viện Châu Âu, Ủy ban Bruxelles và các luật lệ của các nước thành viên khác nhau xuyên qua ý niệm ngang bằng, duy bình đẳng và định/xu hướng giới tính được áp dụng cách duy văn bản mà thôi mà không có bất kỳ sự phân định khách quan nào. Nó được dạy trong các trường học và gợi hứng cho các chương trình giáo dục giới tính. Các cơ quan chuyên môn của Liên Hiệp Quốc ở Genève đã muốn, vào tháng Ba vừa qua, áp đặt cho các nước thành viên việc kết án mọi phân biệt kỳ thị đối với hôn nhân của những người cùng giới tính. Chiến dịch đã được lặp lại trong khuôn khổ của Ủy ban Châu Âu bên cạnh các nước thuộc Châu Phi, Caribê và Thái Bình Dương, nó đã bị bác bỏ. Những luật lệ được chuẩn bị gần như khắp nơi trên thế giới để trấn áp những gì người ta gọi là « thù nghịch con người» (homophobie) mà không biết những gì người ta đặt dưới thuật ngữ này bên kia sự tôn trọng cần thiết của mỗi người. Đó là một bộ máy chiến tranh được lồng vào để phạt tất cả những lời nói không bênh vực đồng tình : như thế người ta đang tạo nên một tội phạm suy nghĩ.

Trong thông điệp của mình, đức Bênêđictô XVI cho thấy rõ vai trò tai hại của nhà/cơ quan lập pháp khi nó sửa đổi các luật dân sự với ý tưởng thay đổi con người đang khi mà mục đích của nó là tổ chức đời sống trong xã hội. Ngài cho thấy rõ rằng khái niệm « tiến bộ » dẫn đến một ngõ cụt khi người ta nhấn mạnh đến ý tưởng một người được xây dựng do văn hóa và được nhào nắn bởi các luật dân sự như trong các nước chuyên chế. Ngài muốn giữ lại ý niệm « phát triển » hơn, ý niệm này thích đáng hơn để hiểu rằng thực tại là một sự kiện, một dữ kiện và một điều kiện khởi từ đó mỗi người được phát triển.

Zenit : Trong cuốn sách của Đức Ông, Đức Ông cũng dành một chương dài cho nguồn gốc của sự đồng tính. Xin Đức Ông nói rõ những chủ đề của nó ?

Đức Ông Anatrella : Đồng tính là một trong những hệ quả của lý thuyết phái tính muốn định nghĩa giới tính không phải từ hai căn tính giới tính duy nhất đang tồn tại (người nam và người nữ), nhưng tùy vào những định/xu hướng giới tính, những định/xu hướng giới tính này thì nhiều và khác nhau và phụ thuộc vào sự xung đột, ít nhiều được sửa đổi, với nhưng xung năng từng phần và những nhận dạng sơ khởi.

Khi nói về đồng tính, nên phân biệt khía cạnh cá nhân với khía cạnh xã hội, nhất là liên quan đến hôn nhân giữa những người cùng giới tính và việc nhận con nuôi.

Trên bình diện cá nhân, đồng tính đã luôn luôn tồn tại và chắc chắn ít nhiều sẽ luôn tồn tại. Đa số các nghiên cứu nghiêm chỉnh chỉ ra rằng không nguồn gốc di truyền hay sinh lý học thần kinh ở khuynh hướng đặc biệt này. Thật khá ngạc nhiên phải công nhận rằng người ta chối bỏ bản tính con người với những đặc điểm riêng của người nam và người nữ và đồng thời người ta muốn khẳng định rằng có một bản tính đồng tính được đặt cơ sở nên di truyền hay sinh học như để cho thấy đặc tính bình thường của khuynh hướng này. Nếu giới tính con người tương đối được điều kiện hóa bởi những định thể sinh học, thì nó cũng và nhất là tùy thuộc vào sự biểu lộ mà mỗi người thực hiện từ các ước vọng của mình. Đời sống xung năng được xây dựng trong một hệ thống các biểu lộ gắn liền với các kinh nghiệm khác nhau mà đứa bé hay người thiếu niên có được từ thân xác của mình. Những nhận dạng ban đầu là nhiều và thường hướng đến những người cùng giới tính để củng cố thêm căn tính của bé trai hay bé gái. Và chính khi các xung đột bên trong xảy ra và không được giải quyết mà những định/xu hướng đặc biệt có thể xuất hiện mâu thuẫn với căn tính của chủ thể. Điều này muốn nói rằng đồng tính không phải là một thế đôi ngả của sự khác biệt giới tính, một sự khác biệt chỉ được nối kết giữa một người nam và một người nữ. Đúng hơn, đồng tính là việc diễn tả một sự định hình nguyên thủy với cái/người giống và tương tự như mình, và thuộc về một khó khăn phải nội hiện giới tính khác.

Có những hình thức đồng tính khác nhau : một số có thể tiến triển và tự nhiên hướng tới sự lôi cuốn của giới tính khác đang khi một số khác ít linh hoạt hơn. Bi kịch là rằng khung cảnh hiện nay không tạo điều kiện dễ dàng cho một sự tự vấn trên chính mình đối với chủ thể để biết khuynh hướng này tương ứng với điều gì. Thế nhưng, thường có nhiều người đến tham vấn với hy vọng sửa đổi xu hướng này và một số khác đến sửa lại nó. Nhưng có một thứ cấm kỵ và cấm đoán suy nghĩ rằng người ta có thể thay đổi xu hướng đồng tính đang khi có những người đạt tới đó. Người ta dễ dàng thừa nhận việc một người dị tính có thể trở thành đồng tính đang khi điều ngược lại thì không thể.

Dĩ nhiên, vấn đề không phải là sử dụng các phương pháp tiến hành và những thực hành tự ám thị nhưng là để tự do ngôn luận cho chủ thể mà tìm cách ý thức về những gì đã dẫn đưa mình đến chỗ tự tổ chức về mặt tâm lý theo cách này và đến chỗ quyết định những gì mình có thể sống và đảm nhận.

Quả thực, ảnh hưởng xã hội của một xã hội quá tự mê say bản thân có khuynh hướng tự suy nghĩ cách lờ mờ về vấn đề tính dục. Các thanh thiếu niên thắc mắc vì sau một vài thất bại tình ái, họ nghĩ rằng có lẽ họ là người đồng tính và thậm chí sống những kinh nghiệm để biết những gì họ là. Điều đó cho thấy các chủ thể hiện nay gặp khó khăn sống với nội tâm của mình và khó khăn xác định những ước vọng của mình ; tất cả sẽ phải được thể hiện trong hành động.

Vấn đề đồng tính không được nghiên cứu đủ để hiểu nó thuộc vận hành tâm lý nào. Cũng có một thứ lười biếng trí thức, hệ tại gán cho mối quan hệ giữa hai người cùng giới tính chính những đặc điểm mà, cách đặc thù, riêng biệt cho cặp đôi được hình thành bởi một người nam và một người nữ.

(còn tiếp)

Tý Linh chuyển ngữ

Một phản hồi

Bình luận đã được đóng.

%d bloggers like this: