« LÝ THUYẾT PHÁI TÍNH VÀ NGUỒN GỐC CỦA ĐỒNG TÍNH » (2)

« LÝ THUYẾT PHÁI TÍNH VÀ NGUỒN GỐC CỦA ĐỒNG TÍNH » (2)

Đó là tựa đề của một cuốn sách của Đức Ông Tony Anatrella, nhà phân tâm học và là chuyên viên về tâm thần học xã hội. Cuốn sách này được giới thiêu ở Trung Tâm Văn Hóa Milan ngày 28/4/2012, trước cuộc Hội ngộ quốc tế Gia đình. Dưới đây là trích đoạn cuộc trao đổi giữa Đức Ông và hãng thông tấn ZENIT liên quan đến cuốn sách này (“La teoria del « gender » e l’origine dell’omosessualità” (« La théorie du genre et l’origine de l’homosexualité » ).

(xem phần 1 ở đây)

Zenit : Trong những điều kiện này, tại sao ý muốn « kết hôn » của những người đồng giới tính ?

Đức Ông Anatrella : Ở đây, chúng ta chuyển sang khía cạnh xã hội của vấn đề đồng tính với nhiều câu trả lời mà tôi đã có cơ hội khai triển trong các tác phẩm và bài viết của tôi.

+ Đằng sau đòi hỏi này, có một ý muốn được xã hội nhìn nhận và công nhận đồng tính như là một hình thức giới tính khác trong số các hình thức khác. Vấn đề là biết liệu nó có thể được xem xét về mặt xã hội như là một hình thức giới tính như một hình thức khác và cũng chất vấn về sự kiện sau : từ loại giới tính nào xã hội được tổ chức ? Đồng tính không cho thấy bất kỳ sự cần thiết xã hội nào, đó là lý do tại sao tất cả các xã hội đã luôn được tổ chức xung quanh hôn nhân giữa người nam và người nữ vì họ là những người duy nhất hình thành nên một đôi bạn và có ý nghĩa sự khác biệt giới tính mà mối liên kết xã hội cần đến.

+ Cũng cần phải xem xét việc ly dị đã dẫn đến sự hạ thấp giá trị ý nghĩa của hôn nhân như là giao ước giữa một người nam và một người nữ, do việc làm yếu đi các nghĩa vụ của nó và do việc buông lỏng luật lệ và của các thẩm phán không tôn trọng chúng nữa. Chắc chắn bởi vì bậc sống này đã không được chuẩn bị đủ, nên sự trưởng thành vẫn còn yếu ớt để có ý thức về một cam kết và vì kế hoạch sống vừa mới phác thảo. Từ đó nảy sinh một não trạng chủ nghĩa cá nhân mà từ đó nhiều người đã gặp khó khăn đạt tới chiều kích xã hội của đời sống tình cảm xuyên qua hôn nhân và của trách trách nhiệm khách quan của mình đối với người kia và con cái. Đôi tình nhân (bên ngoài mọi chiều kích xã hội) đã áp đặt gây thiệt cho đôi bạn xây dựng trên một giao ước (hôn nhân). Như thế, chỉ cần cảm nghiệm những tình cảm mãnh liệt để chia sẻ một đời sống chung là đủ mà không cần phải đặt nó vào trong hôn nhân và gia đình. Từ đó, những hình thức chung sống không hôn thú tạo nên những lẫn lộn và không bảo vệ mối liên kết xã hội. Sự sống chung không hôn thú, những gia đình chỉ có một cha hay mẹ và những cặp phân ly, và những cặp cùng giới tính không hơn gì, không thể trong bất cứ trường hợp nào đại diện cho những khuôn mẫu phù hợp của tương lai… Cũng đủ để ghi nhận rằng các nhà đình có một cha hay mẹ và các cặp ly dị trở nên nghèo nàn đi về nhiều phương diện và nhất là trên bình diện kinh tế để nhận thấy rằng họ không thể dùng làm quy chiếu. Rất thường đó là những gì các người trưởng thành xuất thân từ các hoàn cảnh này nói đến đang khi họ còn nhỏ, mà không phải lên án hay bác bỏ cha mẹ mình. Nhưng họ biết rằng họ muốn sống cách khác trong lợi ích đôi lứa của họ và của con cái của họ, và khám phá ra ý nghĩa của hôn nhân và lòng chung thủy.

+ Ngày nay, hôn nhân xuất hiện như là sự nhìn nhận của xã hội đối với các tình cảm hơn là sự diễn tả việc cam kết bất khả thay đổi giữa một người nam và một người nữ và và tách rời với việc sinh sản và đo đó với dòng dõi. Trong những điều kiện thuần túy tình cảm này, bất kỳ ai đều có thể kết hôn với bất kỳ ai, và bất kỳ ai đều có thể tự cho mình là cha hay mẹ của một đứa bé dù tách rời quan hệ họ hàng (người ta sai khi nói về tính chất quan hệ họ hàng) khỏi việc sinh sản và hành vi tính dục. Khi thao túng ngôn ngữ, thì có thể nói một điều và điều trái ngược với nó và tìm cách gọi tên điều không thể tưởng tượng được và những gì không tồn tại trong thực tế. Bản chất của hôn nhân do đó không bị giảm thiểu thành việc nhìn nhận xã hội đối với các tình cảm. Hôn nhân là một thể chế trong đó một người nam và một người nữ ghi khắc tình vợ chộng của mình và việc sinh sản trong sự liên tục gia đình và liên thế hệ. Hai người cùng giới tính không được thiết lập để có thể đảm nhận những đặc điểm khách quan này của hôn nhân. Dòng dõi và tính liên thế hệ dừng lại ở tính cách độc giới tính của họ.

+ Sự bình đẳng giữa các quyền lợi và sự đấu tranh chống lại những phân biệt kỳ thị là những lập luận khác được dùng để biện minh cho hôn nhân giữa những người cùng giới tính.

Nếu chúng ta hết thảy đều bình đẳng trước pháp luật, thì điều đó không muốn nói rằng tất cả các hoàn cảnh sống đều bình đẳng và có cùng giá trị. Ở đây, có sự thay đổi ý nghĩa của sự bình đẳng và của các quyền làm cho người ta hiểu rằng tất cả các kết hợp tình cảm sẽ có cùng bản chất và có thể nằm trong khuôn khổ của hôn nhân. Hôn nhân thuộc về một quyền chỉ được dành riêng cho người nam và người nữ vì nó tương ứng với giao ước của các giới tính, nhưng hiện tại nó bị dụng cụ hóa cho những mục đích chính trị như để bình thường hóa đồng tính.

Các nhà hữu trách chính trị mà xây dựng luật trên tất cả những điểm yếu và những điểm mù quáng của xã hội, sẽ đặc biệt đóng góp vào việc làm yếu đi cái khung mang và tham dự vào việc phá kết cấu của các công dân, bắt đầu bằng những người trẻ nhất. Chúng ta sẽ trả giá con người và xã hội về điều đó, trên các thế hệ tương lai trong 30 đến 40 tới.

Không có gì là phân biệt kỳ thị và đó là hành động hợp lý trí khi chủ trương rằng hôn nhân cũng như việc mang thai và nhận con nuôi chỉ được định nghĩa duy nhất từ một người nam và một người nữ. Theo nghĩa này, đứa con không phải là một quyền, đang khi quyền và lợi ích trỗi vượt của nó là được cưu mang và giáo dục giữa một người nam và một người nữ, một người cha và một người mẹ… Việc nhận con nuôi trong một thế giới độc giới tính thường được trình bày bằng những từ ngữ thuần túy tình cảm hơn là cấu trúc : một đứa bé cần gì ?

+ Việc thay đổi ý nghĩa hôn nhân này đã được khuếch đại với việc thành lập Pacs (« pacte civil de solidarité » là một khế ước. Nó được ký kết giữa hai người trưởng thành, khác hay cùng giới tính, để tổ chức đời sống chung của họ (ctnd)), như tôi đã từng nói vào thời đó, bằng việc tham dự vào việc phá cấu trúc của hôn nhân cho đến chỗ tạo điều kiện cho tính vô ích của nó, thậm chí là biến mất đi. Hôn nhân, một thể chế, càng ngày càng trở thành một khế ước (như một khế ước của cải) đi từ kết hợp thành phân rẽ đến độ tạo nên những điều kiện tâm lý về một xã hội của những cảm xúc không kiên vững,  của những người đa phu/thê xuyên qua cơ chế đa đối tác, của những mối quan hệ bấp bênh và những sự lẫn lộn giới tính.

Theo nghĩa này, khế ước Pacs – một khế ước dễ dàng được điều khiển về mặt pháp lý nhất – có nguy cơ thay thế cho hôn nhân đang giảm sút liên tục, đang trở thành dấu của cảm xúc thay đổi của thời hiện đại. Công quyền mang lấy một trách nhiệm nghiêm trọng khi phá bỏ một hệ thống biểu tượng mà đã tốn bao nhiêu thế kỷ để xây dựng và trở nên tinh tế vì lợi ích của giao ước giữa người nam và người nữ. Khế ước Pacs và hôn nhân giữa những người cùng giới tính sẽ làm cho hôn nhân vô hiệu bởi vì những khế ước liên kết đa dạng được đưa vào. Trong những điều kiện này, có một hình thức bất công và phân biệt kỳ thị đòi buộc hôn nhân dân sự trước khi kết hôn về mặt tôn giáo. Tôi đã khơi lên điều này trong cuốn « La différence interdite » của tôi, mà luôn có tính thời sự vào lúc mà một số người tự hỏi tại sao người ta đòi buộc họ kết hôn trước sự lẫn lộn pháp lý này.

+ Hôn nhân giữa những người cùng giới tính biểu lộ một sự hỗn độn thực sự làm tổn hại đến sự khác biệt giới tính mà xã hội cần đến. Tín hiệu được gởi đến xã hội làm cho hiểu rằng xã hội làm tăng giá trị cho việc tìm kiếm cái giống và cái tương tự và nó thừa nhận điều đó trong luật lệ đến độ làm tổn hại đến ý nghĩa của người khác. Phải chăng người ta đã đo lường được tất cả các hậu quả của một cái nhìn hạn hẹp như thế về các mối quan hệ cá nhân và mối liên hệ xã hội ? Thử suy nghĩ cũng đủ để biết làm thế nào đặt tên cho hệ thống này trong đó người ta muốn nhốt chúng ta ?

Sau cùng, thật khá ngạc nhiên phải công nhận rằng, vào lúc mà cuộc khủng hoảng tài chính đang đe dọa hành tinh, vào lúc mà gia đình được xây dựng giữa một người nam và một người nữ cần được nâng đỡ đồng thời vẫn đồng hành với các hoàn cảnh đặc biệt như các gia đình có một cha hay mẹ , đang khi trường học, các chương trình học đường và việc truyền thông đặt ra những vấn đề nghiêm trọng và chúng ta đang đi đến một sự tương đối suy sụt việc làm, thì trong thời gian đó, các nhà chức trách chính trị lại tạo ra luật lệ trên những vấn đề phong hóa, như thế biểu lộ sự bất lực của họ để giải quyết điều cốt lõi. Các chiến dịch pháp lý nơi nhiều nước cũng chứng tỏ điều đó : những vấn đề sâu xa không được đề cập và những dự phóng của các ứng viên không được cho biết với hy vọng dành lá phiếu. Thật đáng lo ngại khi nhận thấy rằng đa số các chính trị gia không tìm cách lượng giá các hậu quả khi, dưới áp lực của các nhóm thế lực, họ nghĩ cho kết hôn những người cùng giới tính. Không có một quyền hôn nhân bên ngoài một số bó buộc, để kết hôn còn phải có điều kiện.

Người ta sẽ hiểu, thật không đúng để nói về « các gia đình » khi để cho hiểu rằng có thể có nhiều mô hình, đang khi nó hệ tại những điều kiện đặc biệt từ đó gia đình không thể được định nghĩa. Cũng hoàn toàn không thích đáng nói về « gia đình truyền thống » khi đặt nó cạnh những mô hình được gọi là mới (sống chung không hôn thú, gia đình một cha hay mẹ, gia đình ‘cha mẹ’ đồng tính) đang khi chúng cho thấy một sự phân mảnh ý nghĩa của gia đình mà càng ngày càng sẽ trở nên khó khăn đồng nhất với. Cần nói về gia đình khởi đi từ căn tính mà nó mặc lấy. Căn tính của gia đình không ở trong những gì người ta làm nên, nhưng trong những gì nó là tự bản chất. Nếu không người ta lẫn lộn những điều bất ngờ của cuộc sống, những xúc động và những hoàn cảnh đặc biệt với những gì xác định gia đình.

Chính trong ý nghĩa này mà Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã nói ở Milan, dịp Hội ngộ quốc tế các gia đình lần VII: « Gia đình phải được tái khám phá xét như là gia sản chính yếu của nhân loại, dấu của một nền văn hóa đích thực và bền vững vì lợi ích của con người…Nhà Nước được kêu gọi nhìn nhận căn tính riêng của gia đình, được xây dựng trên hôn nhân và mở ra  cho sự sống, và quyền hàng đầu của các bậc cha mẹ tự do giáo dục con cái, theo kế hoạch  giáo dục mà họ xét là hợp thức và thích đáng ».

Tý Linh chuyển ngữ

%d bloggers like this: