CÔNG BẰNG XàHỘI

CÔNG BẰNG XÃ HỘI

Dominique Greiner

Trong giáo huấn xã hội về công bằng, Giáo Hội Công Giáo đã dần dần xác định làm thế nào công bằng liên kết với các giá trị khác : chân lý, bác ái, hòa bình, tự do. Quả thế, công bằng mà thôi thì chưa đủ và nó luôn cần được định hướng và kích thích.

Công bằng là một đề tài trọng tâm trong giáo huấn xã hội của Giáo Hội. Những nhấn mạnh về công bằng đã tiến triển theo thời gian, tùy vào khung cảnh chính trị, kinh tế và xã hội. Vì trước khi là một vấn đề lý thuyết, công bằng là một vấn đề thực tiễn nổi lên từ mối căm phẫn về sự nghèo đói đang xé rách tế bào xã hội. Nó đã được đặt ra bằng một độ mãnh liệt mới mẻ với cuộc cách mạng công nghiệp. Nó đã biết đến những khai triển mới mẻ với sự mở rộng các cuộc trao đổi kinh tế trên bình diện thế giới.

Các văn kiện của giáo huấn xã hội của Giáo Hội Công Giáo là rộng lớn. Tôi sẽ giới hạn việc nghiên cứu của tôi vào một số bản văn của Huấn quyền trong số các bản văn có ý nghĩa nhất. Tôi sẽ tìm cách làm rõ những liên kết dần dần của ý niệm công bằng với các giá trị bác ái, hòa bình, chân lý và tự do.

Sự hình thành vấn đề xã hội vào thế kỷ XIX

Chủ nghĩa tư bản của thế kỷ XIX có thể được phân tích như là một « tiến trình lịch sử của sự phát triển, bao hàm vừa một phương thức trao đổi và sản xuất mới, một tổng thể các thể chế vừa một kiểu thức quan hệ » (1) :

+ một phương thức trao đổi : từ nay một chiều kích quốc tế và liên châu lục của các mối quan hệ thương mại đòi buộc một hệ thống mới thanh toán, trao đổi, tiền tệ và tín dụng đáp ứng lại việc mở rộng thương mại này ;

+ một phương thức sản xuất : một chiều kích mới các mối quan hệ lao động, được xây dựng trên sự kết tụ các công nhân chung quanh những cơ sở sản xuất và máy móc và một sự chuyên biệt hóa các nhiệm vụ ;

+ một tổng thể các thể chế cho phép những trao đổi : các sở giao dịch hàng hóa, các giá trị, các sở lao động, các cơ sở tín dụng, tiền tệ quốc gia được gắn liền với nhiều tiền tệ thống trị và với vàng qua những mối liên hệ ít nhiều uyển chuyển ;

+ một kiểu thức các quan hệ liên vị : chủ nghĩa tư bản tỏ ra như là sự ngự trị của hàng hóa và của các mối tương quan kinh tế khiếm ngôi : sự vô danh của các cổ đông, các mối quan hệ giữa ban lãnh đạo và nhân sự, giữa hàng hóa và khách hàng.

Cuộc Cách mạng công nghiệp sửa đổi những thế quân bình chính trị (ảnh hưởng đang gia tăng của chủ tư bản) và xã hội (cuộc xuất hành nông thôn đến các trung tâm sản xuất, sự sống chung trong các chung cư, tình trạng nghèo đói bần cùng, nạn đỉ điếm, nạn nghiện rượu…). Bởi đó, các Giáo Hội tìm ra những hình thức phục vụ mới, nhưng vẫn không đủ để trả lời cho những thách độ của thời đại. Trên thực tế, như Ernst Troelsch cho thấy sau một cuộc nghiên cứu lịch sử rộng lớn, các Giáo Hội lúc đó không có một tư tưởng xã hội đích thực. Thực tế, chúng đã bị các khoa học xã hội mới và các thuyết không tưởng chủ nghĩa xã hội mới xuất hiện bỏ xa rất nhiều trong sự hiểu biết khoa học của chúng về các sự dữ xã hội. Điều này giải thích cuộc khủng hoảng lan rộng mà Kitô giáo lúc đó đang trải qua trong các tương quan của nó với  xã hội hiện đại.

Từ giữa thế kỷ XIX, đã nổi lên các học thuyết và các trường phái « xã hội-kitô giáo » muốn tìm thấy trong các giáo huấn tôn giáo giải pháp cho các vấn đề kinh tế và xã hội của thời đại. Những học thuyết và những trường phái này là rất đa dạng, từ chủ nghĩa bảo thủ độc đoán nhất cho đến chủ nghĩa vô chính phủ cách mạng nhất. Thế nhưng, chúng có những điểm chung. Trước tiên là một đặc tính phủ định. Tất cả các học thuyết này đều bác bỏ chủ nghĩa tự do của trường phái cổ điển. Vả lại, chúng tách rời khỏi chủ nghĩa xã hội. Đôi khi chúng vượt quá chủ nghĩa xã hội trong sự mãnh liệt phê phán chủ nghĩa tư bản, nhưng không tin rằng, để tạo nên xã hội mới, việc thay đổi các điều kiện kinh tế và môi trường là đủ : còn đồng thời phải thay đổi các cá nhân nữa. Tiếp đến là đặc tính xây dựng. Về điểm này, các trường phái khác nhau thoát khỏi mọi hệ thống phân loại. Thế nhưng, chúng đồng ý với nhau khi mong muốn một xã hội trong đó tất cả mọi người đều là anh em và đòi hỏi việc áp dụng giá cả đúng đắn và lương bổng công bằng…Nhưng điều đó dừng lại ở đó.

Nhờ những học thuyết và những trường phái xã hội-kitô giáo, truyền thống Kitô giáo đã thực hiện một bước hướng đến mặt xã hội. Theo sau các phong trào xã hội chủ nghĩa, các kitô hữu đã dần dần ý thức rằng, đối mặt với « các thực tại mới mẻ » của nền sản xuất công nghiệp đang tác động sâu xa đến các cách sống, những câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra cho họ không chỉ thuộc phạm vi đức ái mà thôi nhưng còn thuộc trật tự công bằng nữa. Một khi bước chuyển dịch này được thực hiện mà học thuyết xã hội Công giáo đã có thể được xây dựng. Theo quan điểm này, thông điệp Rerum novarum (1891) đã đánh dấu kết quả giáo thuyết của một chuyển động lâu dài các ý tưởng, các bản văn và tác phẩm, mà một số trong đó lên tới thời Trung Cổ.

Công bằng như là tôn trọng nhân phẩm trong các tương quan xã hội

Vào năm 1891, Đức Giáo Hoàng Lê-ô XIII đã công bố thông điệp Rerum novarum. Thông điệp này khởi đầu một truyền thống những can thiệp của Huấn quyền Rôma.

Chủ đề « công bằng » nằm ở trung tâm của thông điệp. Đức Lê-ô XIII, bằng những từ ngữ rất mạnh, đã tố giác sự chênh lệch của cải đang gia tăng giữa chủ và thợ. « Của cải đã đổ dồn vào tay của một thiểu số, còn đa số đang sống trong sự túng thiếu » (RN 1, 1). Ngài cũng tố giác những điều kiện lao động : « Mọi nguyên tắc và mọi tình cảm tôn giáo đều đã biến mất khỏi các luật lệ và các thể chế công cộng, và do đó, dần dần, các công nhân bị cô lập và vô phương tự vệ, sau một thời gian, đã bị phó mặc cho những ông chủ phi nhân và cho sự tham lam của một cuộc cạnh tranh bừa bãi. Thêm vào sự dữ này còn có việc cho vay nặng lãi vô độ  (…) Bên cạnh đó, cần phải thêm vào việc tập trung vào tay một số người nền công nghiệp và thương mại mà đã trở thành phần chia của một thiểu số giàu có, áp đặt một ách hầu như nô lệ cho đa số vô sản » (RN 2, 2).

Hoàn cảnh bi thảm của giai cấp công nhân được giải thích như là kết quả của sự thiếu công bằng trong các tương quan xã hội. Trái lại, công bằng hệ tại việc tôn trọng « phẩm giá con người » (RN 16, 4) bằng cách tôn trọng các quyền căn bản của nhân vị, bắt đầu bằng quyền sở hữu những hoa trái của lao công của mình, sống trong một gia đình ổn định, có thể hưởng được một ngày nghỉ ngơi hàng tuần – để có thể làm tròn bổn phận tôn giáo của mình. Quan niệm này về công bằng đi đôi với những nghĩa vụ đối với những người nắm giữ tư bản (do đó thật công bằng việc những người giàu có và các ông chủ tôn trọng nơi người công nhân phẩm giá của con người) nhưng còn đối với những người nắm giữ Nhà Nước xét theo pháp lý xã hội. Nó phải thăng tiến công ích, bảo vệ các công nhân, đảm bảo cho họ quyền sở hữu, cứu giúp những ai đang sống trong hoàn cảnh tuyệt vọng bất chấp những nỗ lực của họ để thoát khỏi một hoàn cảnh vật chất nguy kịch. Nó cũng phải đóng góp vào việc làm cho các giai cấp xích lại gần nhau bằng việc tạo điều kiện cho sự phát triển các hiệp hội trung gian (các nghiệp đoàn, công đoàn).

Việc tôn trọng phẩm giá con người là một tiêu chí cho phép đánh giá không chỉ hoàn cảnh hiện tại, nhưng còn lời đề nghị của chủ nghĩa xã hội. Lời đề nghị này bị cho là « phương dược sai lạc », bởi vì nó biểu hiện một đe dọa đối với quyền tư hữu. Lập luận là đơn giản. Đặt vấn đề quyền tư hữu, đó là đi ngược với các công nhân « bằng việc lấy đi khỏi họ sự tự do hưởng dụng lương bổng của họ và, qua đó, tước đi của họ mọi hy vọng tăng thêm gia nghiệp và cải thiện đời sống của họ » (RN 4, 3). Giải pháp này « là hết sức bất công, ở chỗ nó vi phạm các quyền chính đáng của các chủ sở hữu, nó làm biến chất chức năng của Nhà Nước và có khuynh hướng làm rung lay toàn bộ cơ cấu xã hội » (RN 3, 2). Đang khi đó, quyền tư hữu là cần thiết cho sự phát triển của con người, cho sự biểu lộ các tài năng của con người, cho đời sống gia đình của con người và cho trật tự xã hội.

Rerum novarum cũng cảnh giác đề phòng các vị lãnh đạo xí nghiệp cho là có thể bằng lòng với những ngôn từ trong bản hợp đồng lao động được thông qua với các công nhân từ lúc mà họ đã sửa chữa sự khắc khe của nó bằng  sự nâng đỡ các công trình từ thiện. Công bằng pháp lý – những gì được bản hợp đồng dự kiến – vì có thể tỏ ra bất công sâu xa, nên công nhân không phải đạt được bằng bác ái những gì thuộc về mình do công bằng ! Nói cách khác, bác ái không là đích thực nếu nó không tôn trọng các quyền của công bằng. Sự hỗ tương cũng thật đúng : không có công bằng đích thực nếu vắng bóng bác ái. Quả thế, bác ái là chuẩn mực tự bản chất của mọi đời sống xã hội : nó dẫn mọi người vào trong một tương quan hỗ tương. Không có bác ái, công bằng vẫn lạnh lùng. Nó cần được năng động hóa để không làm hỏng mục đích của nó là xích lại gần nhau các thành viên của cộng đồng (2).

Công bằng và bác ái phải củng cố và chất vấn lẫn nhau để đạt tới tính đích thực hơn và để phục vụ việc xây dựng một cộng đồng đích thực nhân bản. Giáo huấn xã hội của Giáo Hội sẽ không ngừng nhắc lại điều đó. Đức Pi-ô XI đã viết vào năm 1937 : « Để được sống cách đích thực, bác ái phải luôn quan tâm đến công bằng. Thánh Tông đồ dạy chúng ta : ‘ai yêu tha nhân thì đã chu toàn lề luật ; và ngài đưa ra lý lẽ của điều đó : các giới răn này : ngươi không được ngoại tình ; ngươi không được giết người ; ngươi không được trộm cắp và những giới răn mà ta có thể trích dẫn thêm, được tóm tắt trong lời này : ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi (Rm 13, 8-9). Vì, theo thánh Tông đồ, tất cả các bổn phận được tóm lại trong giới lệnh duy nhất của đức ái, nhân đức này cũng đòi buộc những nghĩa vụ công bằng chặt chẽ, như bổn phận không giết người và không trộm cắp ; một đức ái mạo xưng mà tước đi lương bổng của công nhân mà người công nhân có quyền được, thì đó chỉ là một điều dối trá, một đức ái giả vờ. Bác ái và công bằng bó buộc những bổn phận, thông thường đối với cùng đối tượng, nhưng dưới một khía cạnh khác nhau : Khi vấn đề là những nghĩa vụ của người khác đối với họ, thì các công nhân có quyền tỏ ra đặc biệt nhạy cảm bởi ý thức về phẩm giá riêng của mình » (Thông điệp Divini Redemptoris 49).

Gần chúng ta hơn, Đức Gioan-Phaolô II, trong Thông điệp Dives in misericordia (1980), đã viết : “Lòng thương xót đích thực, có thể nói, là nguồn mạch sâu xa nhất của công bằng. Nếu công bằng tự nó là thích hợp để « làm trọng tài » giữa con người để phân phối giữa họ các của cải vật chất cách công bằng, thì, trái lại, tình yêu, và chỉ tình yêu (và do đó tình yêu nhân từ này mà chúng ta gọi là ‘lòng thương xót’) mới có khả năng trả lại con người cho chính nó » (DM 14, 4).

Công bằng trong các mối tương quan quốc tế

Trong suốt thập niên tiếp theo sau sự chấm dứt cuộc Chiến Tranh Thế Giới lần II, có những sự cân bằng mới được thiết lập trên bình diện quốc tế: các tương quan Nam-Bắc mới mẻ với việc phi thực dân hóa, những căng thẳng quyết liệt giữa các khối Đông và Tây trong khuôn khổ Chiến Tranh lạnh. Vấn đề công bằng được đặt ra cách mới mẻ… Vấn đề xã hội từ nay ở tầm mức thế giới và là đối tượng của một sự quan tâm đặc biệt trong nhiều thông điệp : Mater et magistra (1961), Pacem in terris (1963), Populorum progressio (1967). Hai thông điệp sau cùng này đáng được quan tâm đặc biệt.

Công bằng, điều kiện của hòa bình

Đức Gioan XXIII công bố Thông điệp Pacem in terris (PT) ngày 11/04/1963, giữa hai khóa họp của Công đồng Vatican II, trong một khung cảnh với những căng thẳng quốc tế dữ dội. Thông điệp là một lời kêu gọi rung cảm đối với hết thảy những người thiện chí cộng tác vào công trình hòa bình. Rộng lớn hơn nữa, nó bàn về các quyền của con người mà cung cấp một nền tảng khách quan cho công bằng. Những quyền này được cấu trúc xung quanh một bộ tứ giá trị được loan báo trong phụ đề của Thông điệp : « Về hòa bình giữa tất cả các dân tộc được xây dựng trên Chân Lý, Công Bằng, Bác Ái và Tự Do ». Những giá trị này tạo nên « bốn trụ cột của tòa nhà hòa bình » (3). Như thế, công bằng được đề cập cách rõ ràng, không chỉ trong tương quan duy nhất với với bác ái, nhưng còn trong tương quan với chân lý và tự do. Đức Gioan XXIII làm rõ việc liên kết các giá trị này bằng những từ ngữ sau : « Trật tự riêng cho các cộng đồng nhân loại là thuộc yếu tính luân lý. Quả thế, đó là một trật tự có nền tảng là chân lý, được thực hiện trong công bằng, đòi hỏi được tình yêu làm sinh động và tìm thấy trong sự tự do một sự cân bằng không ngừng được tái lập và luôn luôn nhân bản hơn » (PT 37). Chân lý là nền tảng của trật tự này, công bằng là quy luật, tình yêu là động lực và tự do là không khí. Xã hội công bằng là xã hội vươn tới hòa bình bằng cách tôn trọng bốn giá trị này. Đó là một xã hội tôn trọng và thăng tiến các quyền căn bản của nhân vị, các quyền-tự do (droits-libertés) của truyền thống tự do (tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do làm việc, tự do tôn giáo và tín ngưỡng) cũng như các quyền được có (droits-créances) của truyền thống xã hội chủ nghĩa (quyền lao động, quyền sinh kế, quyền tham gia…). Các quyền này mang lại một nền tảng khách quan cho nhân phẩm.

Công bằng và sự phát triển

Đức Phaolô VI công bố Thông điệp Populorum propressio (PP) vào năm 1967, nhằm ngày lễ Phục Sinh, mười lăm tháng sau khi bế mạc Công đồng Vatican II. Từ những dòng đầu tiên, ngài nhấn mạnh rằng « vấn đề xã hội đã trở thành toàn cầu ». Ngài phác họa một bức tranh khá đen tối về hoàn cảnh của thế giới : những chênh lệch giữa các nước giàu và nghèo vẫn còn to lớn. Việc phi thực dân hóa, những hình thái hợp tác quốc tế mới (sự phát triển của FAO, việc tạo ra CNUCED, các chương trình trợ giúp song phương và đa phương…), đã không cho phép tiêu trừ những bất cân bằng giữa các quốc gia. Ở một số nơi trên thế giới, hoàn cảnh thậm chí còn căng thẳng và « cám dỗ là thật lớn muốn dùng vũ lực để chấm dứt cảnh nhục mạ nhân phẩm con người như thế.» (PP 30), thậm chí là bằng « nổi loạn cách mạng » (PP 31). Trong khung cảnh chung này nổi lên « những chủ thuyết cứu tinh hứa hẹn, nhưng là những kẻ xây dựng ảo tưởng », với nguy cơ « nghiêng về những ý thức hệ chuyên chế » (PP 11). Một câu chủ chốt của Thông điệp làm công luận thế giới chú ý : « Phát triển là tên gọi mới của hòa bình » (PP 76).

Để dẫn đến hòa bình, sự phát triển không thể bị giảm thiểu thành chiều kích kinh tế của nó. Trước tiên, đó là một vấn đề luân lý. Mục đích của nó phải là thăng tiến mọi người và toàn thể con người : không ai và không có chiều kích nào của cuộc sống con người phải bị loại trừ. Do đó, sự phát triển cần đến, không chỉ các kỹ thuật viên, nhưng còn cả những nhà hiền triết để thực hiện nó.

Cái nhìn này về phát triển có những hệ quả cụ thể trên các hành động phải được thực hiện. Nó làm cho chú ý đến những nhu cầu và những cấp bách của thế giới và định hướng hành động trong một cuộc đấu tranh chống lại những cản trở cho việc hình thành một thế giới công bằng hơn. Như thế, sẽ không đủ việc đấu tranh chống cái đói, ít ra không chỉ cái đói thức ăn, nhưng còn cái đói dạy dỗ nơi các nước mà con người không có được một nền giáo dục cơ bản. PP khẳng định : « Một người mù chữ là một trí óc không được nuôi dưỡng đủ » (PP 35). Cũng thế, việc đẩy lùi sự nghèo khổ mà thôi thì không đủ. « Cuộc đấu tranh chống lại sự khốn khổ, cấp bách và  cần thiết, là không đủ. Vấn đề là xây dựng một thế giới trong đó mọi người, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, quốc gia, đều có thể sống một cuộc sống nhân bản… » (PP 47).

PP chỉ ra ba bổn phận cho việc phát triển liên đới của nhân loại : một « bổn phận liên đới, tức là sự trợ giúp mà các nước giàu phải mang đến cho các nước đang phát triển ; một bổn phận công bằng, tức là điều chỉnh lại các tương quan thương mại tồi tệ giữa các dân mạnh và các dân yếu ; một bổn phận bác ái phổ quát, tức là việc thăng tiến một thế giới nhân bản hơn cho hết mọi người, trong đó hết thảy mọi người đều sẽ phải trao ban và đón nhận, mà sự tiến bộ của nước này không cản trở cho sự phát triển của nước kia » (PP 44).

a/ Bổn phận liên đới. Điều cấp bách đầu tiên là đấu tranh chống lại cái đói (PP 45). Nhưng thách đố nền tảng thì rộng lớn hơn. Nó hệ tại đóng góp vào việc xây dựng một thế giới công bằng : « một thế giới trong đó sự tự do không phải là một hão từ và người nghèo Ladarô có thể ngồi cùng bàn với người giàu (x. Lc 16, 19-31) ». Bổn phận liên đới này không chỉ dựa trên các tổ chức công hay tư. Nhưng mỗi người phải tự nhủ trong lương tâm : «Mỗi người có sẵn sàng bỏ tiền của để nâng đỡ các cơ cấu và tổ chức nhằm giúp đỡ người nghèo không? Mỗi người có sẵn sàng đóng thêm thuế để chính phủ có thể gia tăng nỗ lực phát triển không? Mỗi người có sẵn sàng mua đắt thêm những hàng hóa nhập cảng để người làm ra hàng hóa ấy được hưởng lương công bằng hơn không? Mỗi người có sẵn sàng rời bỏ quê hương, khi cần, để giúp phát triển các nước kém mở mang không? » (PP 47). Sự liên đới có một giá trị mà đòi hỏi một sự đầu tư tài chính và nhân bản. Nó cần đến sự thể hiện lòng quảng đại.

Đồng thời, các nước giàu phải từ bỏ phần dư thừa của mình để giúp cho các nước nghèo (PP 49). Thậm chí PP đưa ra một đề nghị cụ thể : thiết lập « một ngân quỹ quốc tế được đóng góp bởi một phần chi phí quân sự, để đem giúp đỡ những nước đói kém nhất » (PP 51). Quả thế, cuộc chạy đua vũ trang là một « sự lãng phí » ô nhục, « hoa trái của sự sợ hãi hay kiêu căng »  khi « bao dân tộc còn đói khát, bao gia đình còn đau khổ vì túng quẫn, bao người còn chìm đắm trong dốt nát, bao trường học, bệnh xá, nhà ở hẳn hoi còn chưa xây cất…» (PP 53).

b/ Bổn phận công bằng. Sự công bình của các tương quan quốc tế được nhấn mạnh ở đây. Thông điệp bác bỏ một thế giới chỉ còn được điều tiết bởi các quy luật tự do trao đổi, nhất thiết bất lợi cho các nước nghèo nhất (PP 59). Những quy luật này chỉ có thể có giá trị giữa các đối tác ngang nhau, nhưng rõ ràng, điều kiện này không được tìm thấy : « Trong việc thương mại giữa những nền kinh tế phồn thịnh với những nền kinh tế kém mở mang, các hoàn cảnh quá khác nhau và các quyền tự do thực sự quá không đồng đều. Công bằng xã hội đòi hỏi rằng sự giao dịch thương mại quốc tế, muốn cho nhân bản và luân lý, phải tái lập giữa các đối tác ít nhất một sự bình đẳng nào đó giữa các cơ hội » (PP 61). Thông điệp phê bình thoáng qua tính ích kỷ của các quốc gia thịnh vượng mà, ý thức về những giới hạn của sự cạnh tranh tự do, đã tìm cách cân bằng các hệ quả của nó bằng những biện pháp thích hợp nhưng chỉ có giá trị giữa chúng : « Chính như thế mà họ thường nâng đỡ nông nghiệp bằng cách buộc các ngành kinh tế thịnh vượng hơn phải hy sinh đóng góp. Cũng vì thế, để nâng đỡ những giao dịch thương mại giữa các nước, nhất là trong một thị trường chung, chính sách tài chánh, thuế khóa và xã hội của họ phải cố trả lại cho các ngành kỹ nghệ cạnh tranh kém thịnh vượng những cơ hội có thể sánh được » (PP 60). Như thế, « người ta không thể dùng hai quả cân và hai sự đo lường. Những gì có giá trị trong nền kinh tế quốc gia, những gì người ta thừa nhận giữa các nước phát triển, thì cũng có giá trị đối với các mối quan hệ thương mại giữa các nước giàu và các nước nghèo » (PP 61).

c/  Bổn phận bác ái phổ quát. Bổn phận thứ ba này nhắm lấp đầy « sự thiếu tình huynh đệ giữa những con người và các dân tộc » (PP 66). Trước tiên, PP nhấn mạnh đến bổn phận đón tiếp nhất là các bạn trẻ đến từ những nước nghèo để học hành một thời gian và các công nhân di cư đang đương đầu với một lối sống khác với lối sống của hoàn cảnh nguyên quán của họ. PP cũng mời gọi các nhà hữu trách kinh tế « trở nên những người khởi xướng cho sự tiến bộ xã hội và cho sự thăng tiến con người, nơi nào công việc của họ kêu gọi họ », chuẩn bị tương lai cho các nước kém phát triển, nơi họ có thể đến ở, bằng việc giáo dục và việc chuẩn bị cho sự chia sẻ trách nhiệm, chứ không lợi dụng hoàn cảnh xã hội (PP 70).

Các sứ mạng phát triển phải được theo đuổi, nhưng thông điệp cảnh giác : « Dân chúng nhận biết nhanh chóng liệu những người nào đến giúp đỡ họ với tình yêu thương hay không, để áp dụng các kỹ thuật hay để mang lại cho con người tất cả giá trị của nó. Sứ điệp của họ có nguy cơ không được đón nhận, nếu nó không được gói ghém bằng tính yêu thương huynh đệ » (PP 71). PP nói tiếp : « Thêm vào khả năng chuyên môn cần thiết, cần phải có những dấu ấn đích thực của một tình yêu thương vô vị lợi » (PP 72).

Công bằng vào thời toàn cầu hóa

Trong Thông điệp Caritas in veritate (2009), đức Bênêđictô XVI cho rằng PP “xứng đáng được coi như là ‘thông điệp Rerum novarum của thời hiện đại’ giúp soi sáng con đường của nhân loại đang trên đường thống nhất » (CV 8). Chính vì thế, ngài đề nghị hiện tại hóa những trực giác thần học của nó. Trong một thế giới đang toàn cầu hóa, về căn bản, vấn đề đặt ra vẫn như thế : làm thế nào thăng tiến một sự phát triển con người toàn diện, tức là mọi người và mọi chiều kích của con người ? Bên cạnh những bổn phận bác ái, công bằng, liên đới mà đức Phaolô VI bảo vệ, đức Bênêđictô XVI còn thêm vào bổn phận chân lý.

Thông điệp lại bàn đến mối liên kết giữa các giá trị khác nhau đã được gặp thấy trong Pacem in terris. Nó lặp lại rằng công bằng « không thể tách rời khỏi bác ái », « cái tối thiểu » của nó, như đức Phaolô VI đã từng cho thấy. « Thành đô của con người không chỉ được tạo nên bởi những mối tương quan quyền lợi và nghĩa vụ, nhưng còn hơn nữa, và trước tiên, bởi những tương quan nhưng không, thương xót và hiệp thông. Bác ái luôn biểu lộ tình yêu Thiên Chúa, bao gồm cả trong những tương quan nhân loại. Nó mang lại một giá trị đối thần và cứu độ cho mọi dấn thân cho công bằng trên thế giới » (CV 6).

Trong Thông điệp Deus caritas est (2005), đức Bênêđictô XVI đã từng nhấn mạnh mối tương quan giữa sự cần thiết dấn thân cho công bằng và việc phục vụ bác ái. « Trật tự công bằng của xã hội và của Nhà Nước là bổn phận chính yếu của chính trị (…). Công bằng là mục đích và do đó cũng là thước đo nội tại của mọi nền chính trị. Chính trị còn hơn cả một kỹ thuật để xác định các trật tự công cộng : nguồn gốc và cứu cánh của nó được tìm thấy nơi công bằng, và điều đó thuộc bản chất đạo đức. Như vậy, Nhà Nước luôn phải đối mặt với câu hỏi : làm thế nào thực hiện công bằng ở đây và bây giờ ? Nhưng câu hỏi này giả thiết một câu hỏi khác tận căn hơn : công bằng là già ? Đó là một vấn đề liên quan đến lý trí thực hành ; nhưng để có thể hành động cách ngay thẳng, lý trí phải luôn được thanh tẩy, vì sự mù quáng đạo đức của nó, phát xuất từ hoa mắt trước cám dỗ vụ lợi và quyền lực, là một mối nguy hiểm mà người ta không bao giờ có thể hoàn toàn loại bỏ » (DCE 28). Chính vì mối nguy hiểm này mà công bằng cần đến bác ái, cần đến một tình yêu mà nhắc cho nó cái định hướng tối hậu của nó. Tình yêu nói đây không phải là một thứ cảm xúc, một nhiệt huyết của con tim ít nhiều bộc phát mà sẽ dẫn đến việc chú ý đến người nghèo khổ nhất. Đó là một đòi hỏi của lý trí con người mà phải huy động trí tuệ của nó.

Trong Caritas in veritate, đức Bênêđictô XVI đã đưa ra một minh họa cụ thể về vai trò của bác ái yêu thương trong sự vận hành của kinh tế thị trường khi nêu lên sự nhưng không. Chính sự nhấn mạnh này là mới mẻ trong giáo huấn xã hội. Đức Thánh Cha viết : « Nếu trong quá khứ người ta đã có thể nghĩ rằng cần phải tìm kiếm công bằng và tiếp đến sự nhưng không sẽ xảy đến như một sự bổ sung, thì ngày nay, cần phải nói rằng không có sự nhưng không thì người ta sẽ không đạt tới chỗ thực hiện được công bằng » (CV 38). Nói cách khác, sự nhưng không đến nhắc nhở cho hệ thống kinh tế cái chức năng phục vụ con người của nó. Để phục vụ công bằng, kinh tế không thể có chân trời là chỉ tìm kiếm lợi nhuận và dừng lại ở lô-gíc tương đương đang thông trị sự vận hành trao đổi thương mại. Công bằng đòi hỏi rằng bên cạnh thị trường và Nhà Nước cần tồn tại những tổ chức và những hình thức trao đổi vượt « quá lô-gíc trao đổi tương đương và lợi nhuận như là mục đích tự tại » (CV 38). Quả thế, trong phạm vi kinh tế, cũng như trong mọi phạm vi của cuộc sống con người, « con người, ở bên kia công bằng, cần và sẽ luôn cần đến tình yêu » (CV 29). Một tình yêu mà cũng mang danh xưng là nhưng không và nhất là có thể cảm nghiệm được điều đó trong niềm tin vào Chúa Kitô.

Kết luận

Vào mỗi giai đoạn phát triển của mình, giáo huấn xã hội của Giáo Hội đã tìm kiếm những phương thuốc cho những bất công đang thịnh hành. Trước tiên, những bất công này đã được giải thích như là hệ quả của một sự xa rời của con người đối với học thuyết Kitô giáo và những thể chế của nó. Dần dần, các thông điệp đã nhận thức tốt hơn chiều kích đích thực xã hội  của các hoàn cảnh bất công. Chúng luôn là hậu quả của tội lỗi của con người, nhưng của một tội lỗi đã được kết tinh trong các thể chế – những gì mà đức Gioan-Phaolô II gọi là « các cơ cấu tội lỗi » – đóng góp vào sự sản sinh những bất công. Từ đó, cuộc đấu tranh cho công bằng đòi hỏi còn hơn cả một sự hoán cải cá nhân : sự hoán cải này phải dẫn đến hành động để cải cách các cơ cấu và các thể chế. Và sự công bằng cần phải cổ vũ này luôn được liên kết với những giá trị khác, đặc biệt là bác ái. Như thế, Huấn quyền nhấn mạnh rằng công bằng đích thực luôn vươn tới một sự vượt quá chính nó. Nó đòi hỏi phải luôn là « trong sự dư thừa », một sự dư thừa sự thiện mà duy nhất có thể cho phép chinh phục được sự dư thừa sự dữ (4).

Lm. Võ Xuân Tiến chuyển ngữ

Nguồn: CERAS

————–

 (1) Cf. Pierre Bigo, La doctrine sociale de l’Église, PUF, Paris, 1965, p. 128 sq.

(2) Thông điệp đối lập với « Chủ nghĩa liên đới ». Đây là trào lưu cảm hứng từ chủ nghĩa xã hội tự cho mình như có khả năng thay thế bác ái (kiểu gia trưởng và bấp bênh) bằng một sự quản lý hợp lý về vấn đề xã hội dưới sự bảo vệ của công quyền.

(4) Gérard Mathon, « Les quatre piliers de la maison de la paix », in René Coste et al., Paix sur la terre. Actualité d’une encyclique, Paris, Centurion, 1992, pp. 39-71.

(4) Cf. Paul Beauchamp, « Un éclairage biblique sur l’éthique », Études, octobre 1997, p. 359-369.

 ——-

* Cha Dominique Greiner, thuộc dòng Assomptioniste, là giáo sư thần học luân lý tại Học viện Công giáo Paris và đồng thời là nhà nghiên cứu ở Trung tâm nghiên cứu đạo đức kinh tế của Đại học Công giáo Lille. Hiện ngài cũng là một trong các Tổng biên tập của nhật báo La Croix.

%d bloggers like this: