THỬ PHÂN TÍCH MỘT SỐ CHỮ HÁN–NÔM TẠI MẶT TIỀN NHÀ THỜ GIÁO HỌ VINH TRUNG

THỬ PHÂN TÍCH MỘT SỐ CHỮ HÁN – NÔM

TẠI MẶT TIỀN NHÀ THỜ GIÁO HỌ VINH TRUNG

Giống như hầu hết các ngôi nhà thờ thuộc giáo xứ Phát Diệm, nhà thờ giáo họ Vinh Trung được xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống Việt Nam. Ngôi nhà thờ này còn lưu giữ được tương đối nguyên vẹn những hoành phi và câu đối cổ. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ cố gắng phiên âm, dịch nghĩa và đưa ra vài ý kiến giải thích về những bức đại tự và câu đối tại mặt tiền của ngôi nhà thờ này.

clip_image002

Phiên âm

Chính giữa:

THÁNH ĐƯỜNG

clip_image004

GIO-AN TIỀN HÔ

Bức đại tự bên phải:

clip_image006

ĐĂNG ĐẠO NGẠN

Bức đại tự bên trái:

clip_image008

HƯỞNG XUÂN ĐÀI[1]

Câu đối ở giữa:

clip_image010 clip_image012

Vế phải: Vinh hiển muôn đời, sự nghiệp huân lao ghi sử sách;

Vế trái: Trung thành một dạ, khâm sùng kính ái chốn nghiêm cung.

Câu đối hai bên:

clip_image014 clip_image016

Vế phải: Áo nhặm[2] dây da, dẹp tính hãm mình trên núi đỏ;

Vế trái: Mật ong châu chấu, ăn kham ở khổ chốn rừng xanh.

Nhận xét

Về hình thức, có ba lối chữ được sử dụng ở mặt tiền ngôi nhà thờ này: lối chữ khải ở các bức đại tự chính giữa, lối chữ triện ở các bức đại tự hai bên (trong đó chữ thưởng – 享 – cũng có thể coi như được viết theo lối chữ lệ), và lối chữ hành ở các câu đối. Các chữ Hán – Nôm ở đây hẳn là được viết vào lúc hoàn tất việc xây dựng ngôi thánh đường, tức là khoảng năm 1890. Sau trên một trăm năm, các nét chữ đã bị sứt mẻ và mòn đi nhiều, dẫu vậy, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra rằng các chữ Nôm theo lối hành ở hai câu đối vẫn còn rất đẹp.

Theo cách ngắt các vế đối mà chúng tôi đề nghị ở phần trên đây, các câu đối này thuộc loại câu đối cách cú. Ngoài ra, theo tình trạng hiện thời, các bức đại tự và câu đối không có phần lạc khoản. Như vậy, người làm và người viết những bức đại tự và câu đối này đã cố ý không lưu lại danh tính.

Đôi điều về ý nghĩa

Chúng ta có thể thấy rằng hai bức đại tự THÁNH ĐƯỜNG và GIO-AN TIỀN HÔ là danh hiệu của ngôi nhà thờ. Do vậy, các bức đại tự khác và các câu đối ở mặt tiền nhằm diễn giải về Gio-an Tiền Hô. Chúng tôi xin giải thích như sau.

ĐĂNG ĐẠO NGẠN mang chút âm hưởng của Phật giáo, đăng giác ngạn -登覺岸[3]. Có thể tạm hiểu rằng bức đại tự này cho thấy đường tu đạo của Gio-an Tiền Hô đã đạt tới mức rất cao, đã tới được bến bờ của đạo.

HƯỞNG XUÂN ĐÀI dường như lấy chữ từ chương 20, nhan đề Dị Tục, trong sách Đạo Đức Kinh, nói về niềm vui của “chúng nhân”, “như hưởng thái lao, như đăng xuân đài”. Tuy nhiên, ý nghĩa của bức đại tự này có lẽ không chỉ dừng lại ở niềm vui thông thường của cuộc sống con người, mà muốn nói tới việc Gio-an Tiền Hô được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu. Khi lấy lại các chữ trong chương Dị Tục, phải chăng tác giả của bức đại tự muốn ám chỉ lối sống rất khác biệt của bậc thánh nhân Gio-an Tiền Hô?

Cả hai câu đối đều bằng chữ Nôm nên chúng tôi thiết nghĩ không cần phải “dịch” lại. Câu đối ở giữa có thể nói không có gì đặc biệt, vì chúng ta có thể tìm thấy các câu chữ tương tự trong các câu đối ca ngợi các bậc thánh nhân, thành hoàng trong các đền miếu.

Câu đối ở hai cột bên diễn tả những nét đặc trưng của Gio-an Tiền Hô, như Tân Ước miêu tả. Vế đầu của câu đối nói về cung cách ăn mặc của Gio-an Tiền Hô, trong khi vế thứ hai nhấn mạnh đến cách ăn uống kham khổ của Gio-an. Áo nhặm dây da, gợi lại hình ảnh của Gio-an trong Mc 1,6 “Ông Gio-an mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da”; trên núi đỏ có lẽ là cách diễn tả văn chương mang tính cách hội nhập văn hóa của nguyên ngữ Hi-lạp ἐν τῇ ἐρήμῳ[4]. Mật ong châu chấu, chính là phần thứ hai trong Mc 1,6 “ăn châu chấu và mật ong rừng”; chốn rừng xanh ở cuối vế thứ hai cũng có thể hiểu như một lối diễn tả khác, mang mầu sắc hội nhập văn hóa, của ἐν τῇ ἐρήμῳ đã được đề cập đến ở trên. Dẹp tính hãm mình ăn kham ở khổ nằm ở trung tâm của hai vế đối nhấn mạnh đến sự khổ chế của Gio-an Tiền Hô.

Theo thiển ý của chúng tôi, câu đối này đã phần nào miêu tả được những nét tiêu biểu nhất của Gio-an Tiền Hô. Tuy nhiên, do khuôn khổ gò bó của câu đối và có thể do hạn chế trong hiểu biết Thánh Kinh của tác giả nên ý nghĩa hai vế đối chưa được hoàn chỉnh. Dùng từ áo nhặm để diễn tả áo lông lạc đà có lẽ hơi gượng ép. Hơn nữa, khi đề cập đến y phục và cách ăn uống của Gio-an, Tin Mừng Mác-cô cũng như các Tin Mừng khác dường như muốn giới thiệu Gio-an như là vị ngôn sứ đi trước dọn đường cho Đấng Ki-tô. Theo văn mạch của các Tin Mừng rõ ràng yếu tố khổ chế trong y phục và cách ăn uống của Gio-an không phải là trọng tâm của bản văn. Dĩ nhiên chúng ta có thể hiểu rằng khi những câu đối ở đây được viết ra, Hội Thánh tại Việt Nam chưa có bản văn Thánh Kinh bằng tiếng Việt. Nếu tác giả những câu đối này là linh mục, vị đó hẳn có thể đọc bản văn Thánh Kinh bằng tiếng La-tinh và tiếng Pháp; nếu tác giả là giáo dân, vị đó hẳn biết đến những chi tiết về cuộc đời Gio-an thông qua những sách hạnh các thánh và lời giảng của các linh mục. Như vậy, những hạn chế chúng tôi vừa mạn phép nêu ra ở đây cũng là điều dễ hiểu.

Chúng tôi vừa thử đưa ra một số kiến giải về những chữ Hán – Nôm tại mặt tiền nhà thờ giáo họ Vinh Trung. Khi làm công việc này, chúng tôi không có tham vọng gì lớn lao. Chúng tôi trộm nghĩ rằng thần học Ki-tô giáo, hiểu theo nghĩa đơn giản nhất là cách các Ki-tô hữu dùng nhãn quan đức tin để trả lời cho những vấn đề mà cuộc sống đặt ra. Hiểu như thế, việc các Ki-tô hữu sống trước chúng ta trên một trăm năm dùng ngôn ngữ của Đạo Đức Kinh, cách diễn tả mang mầu sắc Phật giáo, và những cách sử dụng ngôn ngữ thông thường trong văn chương để trình bầy các vấn đề đức tin Ki-tô giáo chính là một cách làm thần học. Chúng tôi thiển nghĩ việc tìm hiểu và phân tích kho tàng Hán – Nôm Công giáo nói chung, các câu đối Hán – Nôm tại các nhà thờ nói riêng, chính là cách tái khám phá một kho tàng quí giá của Hội Thánh Việt Nam đang có nguy cơ bị mai một.

KIM ÂN


[1] Chữ ở đây mà chúng tôi đọc là đài (臺) theo lối chữ triện có tự dạng rất giống với chữ đường (堂) cũng viết theo lối chữ triện. Ngoài ra, thứ tự các chữ ở hai bức đại tự này đọc từ phải qua trái là ĐẠO ĐĂNG NGẠN (道登岸), và XUÂN HƯỞNG ĐÀI (春享臺). Chúng tôi dựa vào cách đọc bức đại tự ở nhà thờ họ Phát Ngoại, cũng được xây dựng cùng thời kì này (安聖移 đọc thành THÁNH AN-RÊ), để đọc các bức đại tự tại nhà thờ họ Vinh Trung.

[2] Chữ 冉 có thể đọc là nhiễm hoặc nhiệm. Chúng tôi cho rằng phải đọc là nhặm.

[3] Đăng giác ngạn, là một thành ngữ Phật giáo, nói về việc đạt tới cảnh giới giác ngộ.

[4] Bản Vulgata dịch là in deserto, bản Các Giờ Kinh Phụng Vụ dịch là trong hoang địa.

%d bloggers like this: