BỨC HOÀNH PHI VÀ CÂU ĐỐI CHỮ HÁN TẠI NHÀ XỨ PHÚC NHẠC

BỨC HOÀNH PHI VÀ CÂU ĐỐI CHỮ HÁN TẠI NHÀ XỨ PHÚC NHẠC

Tiếp tục hai bài viết về một số chữ Hán – Nôm tại nhà thờ họ Vinh Trung và Lai Thành, trong bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu bức hoành phi và câu đối tại giáo xứ Phúc Nhạc, giáo phận Phát Diệm[1].

Phiên âm

Bức hoành phi:

clip_image002

Đại tự: THẾ HỆ VINH XƯƠNG

Thượng khoản: Ất Dậu đông

Hạ khoản bên phải: Bản xã phó lí Tống Thiện Thuyên[2], phó lí Tô Tử Huyên[3]

Hạ khoản bên phải: phó lí Bùi Quang Dao[4], hộ lại Trần Quang Yên đồng trang hạ.

Câu đối:

clip_image004

clip_image006

Vế phải: Đức thụ tư bồi, nhuận ốc nhuận thân, nguyên thiện đạo;

Vế trái: Hào hoa diễm phát, ư hương ư quốc, biểu phương danh.

Thượng khoản: Long Phi Tân Tị đông

Hạ khoản: Bản phủ Văn Thịnh xã cữu quán Phạm Đức Nhâm, Thanh Hoá tỉnh Vạn Mậu xã thưởng thụ cửu phẩm văn giai lí trưởng Nguyễn Văn Giám đồng trang hạ.

Nhận xét

Về chất liệu, bộ hoành phi và câu đối này thuộc loại gỗ sơn son thiếp vàng[5], chữ Hán được phủ sơn đen hoặc thiếp vàng. Các chữ Hán được viết theo lối hành hoặc lối thảo, chữ viết tương đối đẹp. Theo cách ngắt câu mà chúng tôi đề nghị ở trên, câu đối này thuộc loại câu đối hạc tất.

Phần thượng khoản của bức hoành phi không đề niên hiệu, mà chỉ ghi Ất Dậu đông, tức là mùa đông năm Ất Dậu. Chúng tôi cho rằng bức hoành phi này được làm vào năm 1885 hoặc 1945. Việc bức hoành phi không ghi niên hiệu khiến chúng tôi nghiêng về giả thuyết bức đại tự này được tặng vào năm 1945. Phần hạ khoản khá dài gồm chữ bản xã, tức là xã sở tại, cùng với danh tính và chức vụ của bốn người biếu bức hoành phi.

Phần thượng khoản của câu đối ghi rằng Long Phi Tân Tị đông. Theo chúng tôi được biết, Long Phi vốn là niên hiệu các cựu thần nhà Minh lưu vong muốn khôi phục triều đại này, tức là sau năm 1644. Cách ghi niên hiệu này dường như xuất hiện lần đầu tiên ở Việt Nam vào năm 1678[6]. Tuy nhiên, theo ghi nhận của Phạm Thị Nghĩa Vân trên Thông báo Hán Nôm học 2005 của Viện Nghiên Cứu Hán Nôm, Long Phi là một thuật ngữ ghi niên đại câu đối xuất hiện từ thời nhà Nguyễn[7]. Nhà nghiên cứu Đào Thái Tôn lại cho biết thêm rằng cách ghi niên hiệu này vốn lấy từ Kinh Dịch và chỉ xuất hiện vào cuối thời Nguyễn, không sớm hơn thời Tự Đức[8]. Dựa vào những thông tin kể trên, chúng tôi tạm cho rằng tại Hội An, các cựu thần nhà Minh đã dùng niên hiệu Long Phi từ thế kỉ XVII, nhưng cách ghi này xuất hiện ở miền Bắc muộn hơn, có thể từ cuối thời nhà Nguyễn. Như vậy, Long Phi Tân Tị đông, nghĩa là mùa đông năm Tân Tị, niên hiệu Long Phi, có thể là năm 1881 hoặc năm 1941. Nếu bức hoành phi được tặng vào năm 1945 thì rất có thể bộ câu đối này là quà mừng vào năm 1941. Phần hạ khoản gồm chữ bản phủ, tức là phủ sở tại, cùng với danh tính và chức vụ của hai người biếu câu đối.

Phần lạc khoản không cho biết thông tin gì thêm. Chúng tôi cũng chưa xác định được các bức hoành phi và câu đối này được tặng cho ai, nhân dịp gì, do vậy, việc xác định chính xác niên đại còn rất khó khăn. Theo chúng tôi được biết, bức hoành phi và câu đối này vốn được treo tại một ngôi nhà cũ trong khuôn viên nhà xứ Phúc Nhạc. Thời gian gần đây, cha xứ đã cho sơn son thiếp vàng lại và treo bức hoành phi và câu đối tại phòng tiếp khách của giáo xứ.

Đôi điều về ý nghĩa

Chúng tôi tạm dịch ý nghĩa của bức hoành phi: thế hệ sáng tươi phồn thịnh.

Đôi câu đối chúng tôi xin được dịch như sau:

Vế phải: Cây đức đắp vun, làm rạng rỡ gia đình và bản thân, vốn là đường lành;

Vế trái: Hoa tươi nở đẹp, ở nơi quê hương và đất nước, toả ngát danh thơm.

Mỗi vế đối, theo chúng tôi, đều mượn và khai triển ý từ kinh điển Nho giáo. Nhuận ốc nhuận thân, có lẽ lấy ý từ câu trong phần đầu sách Đại Học: “Phú nhuận ốc, đức nhuận thân, tâm quảng thể bàn, cố quân tử tất thành kì ý”, nghĩa là: “Giàu thì hiển hiện ra ở nhà, có đức tốt thì hiển hiện ra ở người, trong bụng rộng rãi thì thân thể ung dung thư thái, bởi thế người quân tử phải giữ cái ý của mình cho thành thật”. Vế đầu của câu đối đã không giữ nguyên nội dung trong sách Đại Học, mà cho rằng nguyên việc vun đắp cây đức cũng đủ hiển hiện ra cả ở nhà và ở người, việc đó chính là nguồn của đạo lành. Khi lấy ý từ phần đầu sách Đại Học, dường như vế đầu của câu đối cũng nhấn mạnh tới sự thành ý trong việc vun trồng cây đức.

Phần giữa của vế đối thứ hai, ư hương ư quốc, dường như dùng chữ của chương Vương Tắc trong sách Lễ Kí: “Ngũ thập dưỡng ư hương, lục thập dưỡng ư quốc”. Theo chúng tôi, vế thứ hai của câu đối nói về vẻ đẹp hào hoa toả ra ở làng ở nước lưu lại tiếng thơm.

Như vậy, bộ hoành phi và câu đối này không đề cập đến những điểm liên quan trực tiếp tới giáo lí công giáo. Vì không biết hoàn cảnh ra đời của bức hoành phi và câu đối này, chúng tôi không dám lạm bàn thêm. Chúng tôi mạnh dạn giới thiệu ở đây để các bậc cao minh đưa ra những kiến giải đầy đủ và rõ ràng hơn.

KIM ÂN


[1] Những hình chụp trong bài viết này do linh mục chính xứ Phúc Nhạc, Giu-se Vũ Ánh Hồng, cung cấp.

[2] Chúng tôi cho rằng chữ ghi trong bức hoành phi là 遄.

[3] Chúng tôi cho rằng chữ ghi trong bức hoành phi là 諠.

[4] Chúng tôi cho rằng chữ ghi trong bức hoành phi là 遙.

[5] Cách nói sơn son thiếp vàng là cách nói thông dụng. Thực ra, theo cách phân loại của thợ thiếp vàng bạc, bộ hoành phi câu đối này thuộc loại sơn son thiếp bạc phủ hoàng kim.

[6] Chúng tôi tham khảo tại trang điện tử http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=2786%3Along-phi-khong-ngai&catid=65%3Ahan-nom&Itemid=153&lang=vi, truy cập ngày 31-8-2012.

[7] Chúng tôi tham khảo tại trang điện tử http://www.hannom.org.vn/detail_search.asp?param=607&Catid=1&text=hoa, truy cập ngày 31-8-2012.

[8] Chúng tôi tham khảo tại trang điện tử http://kienthuc.net.vn/channel/1984/201002/Nguyen-Du-viet-truyen-Kieu-vao-nam-muoi-bon-tuoi-1739579/, truy cập ngày 31-8-2012.

%d bloggers like this: