HỌC TRONG TINH THẦN SIÊU NHIÊN

HỌC TRONG TINH THẦN SIÊU NHIÊN

 Đây là đề tài thứ nhất trong loạt 5 đề tài của khóa “Làm Việc Có Phương Pháp” tại Đại Chủng Viện Huế, đầu năm học 2012-2013.

 1. Dẫn nhập

 Trong những ngày này, chúng ta sẽ nói, bàn nhiều về (các) phương pháp. Nhưng trước hết, điều mà tất cả chúng ta cần bảo đảm, đó là ta sẽ học, sẽ làm việc trong tinh thần siêu nhiên. Lý do: Dù phương pháp, kỹ thuật có hoàn thiện đến mấy và được sử dụng triệt để đến mấy mà không có tinh thần siêu nhiên thì ta vẫn chưa thể hiện được căn tính của mình. Hơn nữa, như sẽ thấy, việc học trong tinh thần siêu nhiên cũng hỗ trợ rất lớn cho phương pháp, nó là một phần của phương pháp. Một ví dụ: ai cũng biết sự thanh thản, bình tĩnh, cái đầu lạnh, rất cần cho người đứng trước ngày thi và cả ngay trong khi làm bài thi – thế mà tinh thần siêu nhiên, thái độ cầu nguyện và phó thác đúng đắn sẽ rất hữu hiệu trong việc đem lại cho ta sự bình tâm ấy!

 “Tinh thần siêu nhiên” là gì vậy? Nói “tinh thần siêu nhiên” là nói đến tinh thần đức tin, tinh thần Kitô giáo. Đó là nói đến thái độ cầu nguyện, nói đến việc đặt mình trước mặt Chúa, với Chúa, vì Chúa…[1]

              Nói “tinh thần siêu nhiên” là để phân biệt với tinh thần thế tục hay lối đời. Ở đây, tinh thần thế tục hay lối đời không hẳn là cái gì xấu, nhưng nó bất cập, không thỏa đáng.

 2. Học tập trong tinh thần thế tục

          Để nhìn cho rõ hơn sự phân biệt giữa hai đàng, ta cần quan sát những động lực và những biểu hiện của một sinh viên học tập trong tinh thần thế tục.

            Động lực: – Học để có điểm cao, thành đạt, có sự nghiệp, kiếm tiền…

                             – Học để kiếm danh vọng, địa vị, thế giá…

                             – Học để biết, học để học (thái độ khoa học)

            Biểu hiện: – Những sinh viên này thường rất siêng năng, chăm chỉ.

                             – Nhưng nhiều người cũng dễ nản chí khi thất bại, một số người có khi đi đến loạn tâm thần hay tự tử!

                             – Vì sự nghiệp, địa vị không dành cho hết mọi người nên người ta cũng dễ cay cú ganh đua, thậm chí có thể ‘chơi xấu’ nếu không một cách thô thiển thì một cách tinh vi.

                             – Nếu thành công, đạt được các mục tiêu, người ta dễ tự mãn, hãnh thắng.

                             – Ở đất nước chúng ta lâu nay mọi thứ biểu hiện tiêu cực trong học tập, thi cử đã và đang được ghi nhận: học đối phó, gian lận trong làm bài, thi cử, hối lộ bằng tiền hay thậm chí bằng “tình”. Rồi, còn hiện tượng bằng cấp giả nữa.

          Nhận xét: – Những động lực nói trên, nói cho cùng, không xấu. Một số biểu hiện cũng không xấu. Nhưng những động lực ấy bất cập.

                             – Ở đây, ta có thể thấy một lý do của việc tuyển sinh vào ĐCV các bạn đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng: để người chủng sinh có tự do hơn trong việc theo ơn gọi, để anh ta dễ học tập và làm việc với tinh thần siêu nhiên hơn – (anh ta đã có điều kiện căn bản để kiếm sự nghiệp, kiếm tiền, nếu muốn).

 3. Học tập trong tinh thần siêu nhiên, tại sao?

             – Trước hết, vì đây là yêu cầu, là tiếng gọi đối với mọi Kitô hữu. Thánh Phaolô: “Dù anh em ăn, uống hay làm gì, hãy làm cho sáng danh Chúa” (1Cr 10,31). Giáo huấn ấy vọng lại trong khẩu hiệu: Ad majorem Dei gloriam (để vinh danh Chúa hơn).[2] Ta cần làm việc trong tinh thần siêu nhiên, vì “không có Thầy, anh em chẳng làm được việc gì” (Ga 15,5). Thánh Phaolô có một kinh nghiệm bản thân còn tích cực hơn thế: “Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi” (Pl 4,13).

Vì danh Chúa cũng có nghĩa là vì Giáo Hội, vì thế giới, vì người khác, chứ không phải trước hết vì những ích lợi riêng tư. Vị tha chứ không vị kỷ. Mọi Kitô hữu phải thế, các chủng sinh, tu sĩ, linh mục… càng phải thế! (do ơn gọi của mình: bỏ mọi sự mà theo Chúa; để phục vụ; vì vinh danh Chúa và vì ơn cứu độ của con người).

            – Cách riêng, càng phải học trong tinh thần siêu nhiên, khi đó là việc học cấp cao. Cha Eric Sylvestre, pss.: “Gli studi superiori, più che un progetto personale, sono prima di tutto un servizio alla nostra chiesa; ‘riceviamo per donare’” (Việc học cấp cao không chỉ là một kế hoạch cá nhân, nhưng trước hết đó là một việc phục vụ Giáo Hội, ‘ta nhận lãnh để mà cho đi’).[3] Thật vậy, để làm người trưởng thành, chín chắn, ngay cả để nên thánh, nói chung không cần phải học cấp cao. Bạn không cần có bằng tiến sĩ để thành người hay để kết hợp với Thiên Chúa đâu![4] Học cấp cao, vì thế, là để phục vụ.[5]

            – Sâu xa hơn nữa, ngay cả với ý thức rằng học là để phục vụ (tức là để làm việc vì một thiện ích lớn hơn ích lợi bản thân, một thiện ích cho người khác) thì chúng ta cũng không quên điều này: Thiên Chúa mới là ‘người làm việc’ chính. Ngài không quá cần, không quá phụ thuộc vào năng suất lao động của ta đâu! Bạn không phải là ‘mêsia’ đâu! Victor Hugo, cây viết lừng danh bậc nhất trong văn học Pháp, đã xác nhận: “Thiên Chúa là tác giả duy nhất của mọi điều được viết ra”.[6] Vâng, Thiên Chúa luôn luôn là ‘lao động chính’. Ngài cũng muốn được con người cộng tác, nhưng Ngài luôn cần con người hơn công việc. Ở đây ta nhớ Chân phước Gioan Phaolô II từng nói về nhiều linh mục “đắm chìm trong các công việc của Chúa mà quên mất Chúa của các công việc” (Đức Bênêđictô XVI gọi tên thái độ này của các linh mục là ‘activism’, những linh mục duy hoạt động!)

4. Học tập trong tinh thần siêu nhiên, thế nào?

 Ta thánh hóa việc học bằng thái độ cầu nguyện (trước, trong và sau khi học bài, làm bài). Hãy ý thức lời kinh xin ơn Chúa Thánh Thần rất quen thuộc và cũng rất cô đọng, rất hay:

 Cúi xin Chúa sáng soi cho chúng con được biết việc phải làm;

cùng khi làm xin Chúa giúp đỡ,

cho mỗi kinh mỗi việc chúng con, từ khởi sự cho đến hoàn thành

đều nhờ bởi ơn Chúa. Amen.

             Chương Bốn của sách Làm Việc Có Phương Pháp mang tựa đề “Cầu nguyện khi làm việc” có những gợi ý vừa rất đơn sơ vừa rất thực tiễn (x. trang 66 – 70). Có người sẽ thắc mắc: Làm sao vừa học bài (hay nghe giảng bài hay làm bài) mà vừa cầu nguyện được. Hãy đọc các trang ấy, bạn sẽ thấy điều mà tác giả nói đến là những lời nguyện tắt, nghĩa là, “cầu nguyện” ở đây hiểu là một thái độ hơn là một công việc. Ta không thể ngồi trong giờ lớp mà lần hạt hay nguyện gẫm được! Nhưng những lời nguyện tắt thì được; chúng như những cú ‘hích’ nhẹ, giúp kéo ta về với ý thức mình đang nghe giảng, đang làm bài, học bài trong Chúa, với Chúa.[7]

            Cách riêng, tác giả kể ra một số hiệu quả của thái độ cầu nguyện trong học tập, nghe đầy khích lệ (x. trang 67 – 68):

– nếu các bài thi đang làm bạn sợ thì cầu nguyện sẽ giúp lòng bạn dịu lại;

– cầu nguyện giúp bạn vui vẻ làm việc vì Đức Kitô;

– cầu nguyện giúp xua trừ các cơn cám dỗ chia trí;

– cầu nguyện làm trí óc bớt u mê!

Bạn nghi ngờ những khẳng định trên? Thì bạn cứ thử để kiểm tra xem.

 5. Những biểu hiện của tinh thần siêu nhiên trong học tập

             Ta có thể mô tả thế nào về một sinh viên, một chủng sinh có tinh thần siêu nhiên trong học tập? Sau đây là một số dấu hiệu:

– Đó là người quân bình, “thắng không kiêu, bại không nản”. Đó là người bản lĩnh và cao thượng, chân thành vui với thành công của người khác, ngay cả khi mình thất bại – vì anh ta luôn đặt mình ở trong công cuộc chung.

– Đó là người sẵn sàng nâng đỡ người yếu hơn mình, trong khả năng mình.

– Đó là người ngay thẳng trong làm bài, thi cử. Anh ta xác tín rằng “dù không thành công thì cũng phải thành nhân”, hay chính xác hơn: dù không thành công thì cũng phải là Kitô hữu!

– Đó là người ý thức rằng việc học của mình là một sứ vụ. Anh ta học cách cần mẫn, tận dụng mọi điều kiện Chúa ban cho.

– Đó là người đúng mực, không ‘cày’ thái quá kiểu “học chết thơm xương”, cũng không ươn lười, thụ động. Anh ta không theo chủ nghĩa trung bình, cũng không tham vọng hiểu biết ngay hết mọi sự.

 6. Chủng sinh Jean-Marie-Baptiste Vianney đã học tập như thế nào? [8]

 Đại chủng viện Saint-Irénée năm ấy (1812) không đủ chỗ chứa tất cả các chủng sinh. Vì thế, khoảng 200 ứng viên đã hoàn thành chương trình tiền chủng viện được gửi tới Verrières, một cơ sở trực thuộc Đại chủng viện Saint-Irénée, để học năm triết. Dù với vốn học rất ít ỏi, chàng Jean-Marie cũng được cho phép nhập vào lớp này. Các sinh viên triết chia thành hai lớp. Jean-Marie rơi vào lớp của M. Chazelles. Chàng là người lớn tuổi nhất lớp, lớn tuổi hơn cả vị giáo sư. Nhưng điều này không làm Jean-Marie lúng túng; vì mặc dù với vốn trí thức nhỏ nhoi, chàng đã tiến rất xa trong nhân đức khiêm nhường.

Lần đầu tiên được giáo sư gọi và hỏi trong lớp, Jean-Marie chẳng hiểu gì về điều giáo sư nói cả. Chàng đứng đó như trời trồng, chỉ biết im lặng. Cả lớp được một trận cười. Các chàng trai lứa tuổi ấy vốn thường bất nhẫn trong những trường hợp như thế. Theo thông lệ thời ấy, giáo sư đặt câu hỏi bằng tiếng La tinh. Và anh chàng Jean-Marie khốn khổ của chúng ta phải đẫm mồ hôi dịch mọi thứ sang tiếng Pháp. Gay go vô cùng! Nhưng nói cho ngay, một số sinh viên khác cũng gặp khó khăn tương tự. Cuối cùng, một nhóm bảy chàng phải được tách riêng ra để được giảng dạy bằng tiếng Pháp.

Rất chăm chú học tập, nhưng vị thánh tương lai của chúng ta chỉ hiểu lơ mơ về biện chứng pháp – chàng phải đánh vật với nào là những đại tiền đề, tiểu tiền đề…!  Song những thứ ấy, nói cho cùng, không phải là cái gì thiết yếu để đào tạo khả năng luận lý cho một tâm trí vốn đã được ban cho ơn khôn ngoan thực tiễn và ơn phán đoán lành mạnh, sắc bén.

Ngày 13 tháng 6 năm 1813, vào cuối học trình bảy hay tám tháng ở Verrières, Jean-Marie viết cho thân phụ mình: “Bố rất yêu quí, về việc học của con, mọi sự có vẻ cũng đỡ hơn một chút so với chính con kỳ vọng…” – bởi vì, từ ban đầu chàng vốn rất lo sợ rằng mình sẽ hoàn toàn không đủ sức để hiểu bất cứ gì trên lớp. Dẫu sao, Jean-Marie vẫn là “một sinh viên vô cùng yếu kém” (un élève d’une faiblesse extrême).

Thiên Chúa muốn Jean-Marie giống như Thánh Phaolô: “ngu ngơ chẳng biết gì về khoa hùng biện của con người” (x. 1 Cr 2,…) Nếu lòng khiêm nhường sâu thẳm của ngài không buộc ngài im lặng, thì rất có thể ngài cũng nói được với các bạn học giỏi hơn mình những lời sau đây của một vị thánh khác, Jacopone da Todi, thi sĩ người Ý: “Tôi nhường cho các bạn những tam đoạn luận ấy, những kỹ xảo chải chuốt ngôn từ ấy. Tôi nhường cho các bạn những bí quyết của Aristotle ấy. Một tâm trí đơn sơ và thuần khiết không cần sự giúp đỡ của triết học; không cần những phương tiện ấy để nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa.”[9]

Tại Verrières, không thiếu cơ hội để Jean-Marie thực hành các nhân đức anh hùng. Dù chỗ ở được cải thiện hơn tí chút nhưng đời sống vẫn còn nhiều khó khăn. Các bữa cơm rất đạm bạc. Kỷ luật thì hết sức nghiêm. Nhưng Jean-Marie không hề phàn nàn; trái lại, chàng đầy tràn hạnh phúc. Chàng luôn luôn chu toàn các việc được phân công. Điều đáng ghi nhận là không ai nhận thấy bất cứ gì đặc biệt nơi chàng. Chàng muốn mình mờ nhạt ở giữa mọi người. Chẳng có gì chứng tỏ rằng chàng đã từng nổi bật như một mẩu gương. Thành tích yếu trong học tập của Jean-Marie thậm chí làm cho chàng bị đánh giá thấp. Người ta tìm được kết quả sau đây từ bảng điểm của chàng vào cuối năm học ấy:

            -Chuyên cần:              tốt

            -Kiến thức tổng quát: rất yếu

            -Cư xử:                       tốt

            -Tính tình:                  tốt

 Jean-Marie thuở ấy như vậy đó. Và mọi người đều rõ, chàng chủng sinh này đã trở thành một cha sở mẫu mực bậc nhất trong lịch sử Giáo Hội cho đến nay!

  ———————————————-

Câu hỏi gợi ý chia sẻ:

 1. Nếu phải kể ra ba điều thường cản trở ta học tập trong tinh thần siêu nhiên, theo bạn đó là những điều nào?

2. Ích lợi nào đáng kể nhất mà việc học tập trong tinh thần siêu nhiên sẽ đem lại cho chúng ta?   Tại sao?  

   Lm. Giuse Lê Công Đức

   ĐCV Huế, 5.9.2012


[1] x. Q. QUESNELL, “Supernatural” trong  J. A. KOMONCHAK, The New Dictionary of Theology, Theological Publications in India, Bangalore 2006,  995.

[2] Châm ngôn của các tu sĩ Dòng Tên.

[3] Xin xem bài “Linh mục sinh viên” của L C Đức trong đặc san Như Một Kỷ Niệm 2011.

[4] Chữ “thành” trong sách Trung Dung: “thành chi giả, nhân chi đạo dã”.

[5] Bạn hãy tra chữ serve hay service trong từ điển, chẳng hạn Từ điển Oxford Advanced Learner’s Dictionary, sẽ thấy nó liên quan đến hàng chục nghĩa khác nhau, nhưng nghĩa nào cũng có bao hàm yếu tố “người khác” hay “những người khác”!

[6] Dẫn lại từ một trích dẫn trong P. IDE, Travailler avec méthode, c’est réussir, Le Sarment, FAYARD 1989.

[7] Đức Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận: “Thánh ý Chúa là bổn phận trong giây phút hiện tại”!

[8] Dịch từ F. TROCHU, The Curé d’Ars, St. Jean-Marie-Baptiste Vianney, TAN Books, Charlotte, North Carolina 1977,  77-78.

[9] Chú thích của người dịch: Nhiều người mới nghe qua có thể chất vấn hàm ý của những câu này; nhưng ít ra xin đừng quên văn loại của nó: đây là những câu thơ trong nguyên bản. Hơn nữa, điều mà nhà thơ muốn nói ở đây cũng không khác với lời Thánh Phaolô trong Thư 1 Cr vừa trích dẫn trước đó.

%d bloggers like this: