LINH HƯỚNG

LINH HƯỚNG *

Những ghi chú này về linh hướng trong các chủng viện được biên soạn chung với các nhóm điều hành các chủng viện Pháp trao phó cho Xuân Bích. Không có cách gọi nào hơn nên chúng tôi bó buộc phải giữ những từ vựng thông dụng : “việc linh hướng” , “cha linh hướng” và “con linh hướng”.

1. Thể chế và Thần Linh

1.1. Những ứng sinh vào các tác vụ được hoàn toàn tự do nói chuyện với một cha linh hướng.[1] Việc thực hành này đã   phổ biến khắp nơi.[2] Trong các chủng viện sống theo truyền thống Trường phái Pháp, và đặc biệt trong các chủng viện do Xuân Bích đảm nhận, có một hình thức rất đặc biệt.

1.2 Hiến pháp hiện nay của Hội Xuân Bích kể việc linh hướng vào số những đặc điểm cốt yếu của sư phạm Xuân Bích.[3] Ngoài ra, các bản văn qui phạm rất ít nói đến. Thật vậy, linh hướng chỉ thuộc về lãnh vực qui chế một phần nào thôi, và việc ứng dụng đã ổn định và cần thiết đến nỗi không cần phải có thêm quy định.

Vả lại phải thấy rằng việc thực hành linh hướng đã luôn là một đối tượng rất được chú ý và suy tư đều đặn qua lịch sử của Hội. Cuốn Chỉ Nam Tu Đức (Directoire Spirituel) xuất bản năm 1959 có một chương đặc biệt đáng chú ý về vấn đề này. Vì thế nên ghi lại trong phần phụ lục của tập ghi chú này. [4]

1.3. Thật vậy, linh hướng là một thành tố đào tạo. Được ghi là thành phần trong toàn bộ cơ chế, ý nghĩa và tầm quan trọng của nó đã rất rõ ràng : chủng viện không chỉ là một trường học hoặc một nơi tập nghề, mà còn muốn giáo dục “con người nội tâm” trong mỗi ứng viên muốn nhận tác vụ, để họ có thể nhận ra những tiếng gọi của Chúa Thánh Thần trong Chúa Kitô và đáp ứng những lời mời gọi này, và như thế họ sẽ “đi vào chức linh mục qua cửa ơn gọi[5] .

2. Những mục tiêu

2.1. Mục đích của linh hướng trong thời gian ở chủng viện là giúp sống trong Thánh Thần và phát triển trong tự do mà Thánh Thần trao ban. Đối với các ứng sinh vào chức vụ linh mục, linh hướng phải cho phép họ [6]:

 * Kiểm chứng tính chân thực của tiếng gọi đã được nghe thấy, tiếng gọi này bao gồm cả ơn gọi sống bậc độc thân và sự đáp trả thực sự [7].

 * Đáp ứng lời mời gọi của Giám Mục để tiến chức trong tự do, trong sáng và sẵn sàng phục vụ.

 * Thực thi tác vụ trong sự ngoan ngoãn với Thánh Linh và tự do đảm nhận những chiều kích khác nhau của tác vụ này.

 * Bảo đảm có những điều kiện giữ được lòng trung thành và thi hành tác vụ kết quả phong phú.

2.2 Thực thi tác vụ trong Giáo Hội bao gồm sự dấn thân cá nhân của một người đã có cuộc sống nhân bản và Kitô vững vàng [8]. Sau đó, linh hướng ở chủng viện không quên mục đích đặc biệt của mình là phải giúp tín hữu sống trách nhiệm làm người và đặt mình vào trong cuộc sống và sứ vụ của Giáo Hội, như một tín hữu hoạt động.

Trở lại kinh nghiệm trong đối thoại về linh hướng phải nhằm như sau :

– Sự trưởng thành tâm lý và xã hội ;

– Có cuộc sống Kitô hữu kiên định cho đến cả trong chiều kích thần hướng.

– Sử dụng những phương thế giúp sống kiên định.

2.3. Linh hướng là môi trường giáo dục thiêng liêng thực chứng, gồm một phần giáo huấn, nhưng trên hết nhất thống được bản thân [9] theo Thánh Thần của Chúa Kitô, trong tương quan với Thiên Chúa, với anh em, với Giáo Hội, và với tác vụ trong Giáo Hội.

2.4. Xét theo là kinh nghiệm nền tảng, cần được tiếp tục dưới một hình thức thích hợp sau khi thụ phong [10], việc linh hướng cũng phải giúp chính linh mục tương lai, khi thời cơ đến, đảm trách được công tác mục vụ trong việc biết lắng nghe và đối thoại cá nhân.

3. Thực hành

3.1. Chọn cha linh hướng

Vị linh hướng được chọn giữa các thành viên của Hội đồng. [11] Đối với chọn lựa quan trọng này, chủng sinh cần một thời gian và một suy tư đúng đắn để khám phá các thành viên của Hội đồng, nhưng điều căn bản đối với anh là, trước mặt Thiên Chúa, anh nhận ra điều anh cần được giúp đỡ.

Sự chọn lựa này được thực thi bằng cách đối thoại với vị Giám đốc, chính ngài không nhận hướng dẫn một người nào. Vị giám đốc can thiệp để điều chỉnh nhân sự hầu phục vụ tốt hơn. Đồng thời ngài phải để tâm phân chia trách nhiệm giữa các thành viên của Hội đồng.

Dĩ nhiên lúc nào cũng có thể thay đổi linh hướng và đôi khi còn nên thay đổi nữa. [12]

3.2. Nhịp điệu (rythme) gặp linh hướng.

Tần suất và thời gian gặp linh hướng kéo dài bao lâu có thể thay đổi tùy theo cá nhân và giai đoạn đào tạo, với tầm nhìn về các điều kiện cụ thể của tác vụ tương lai. Tất cả phải được thỏa thuận giửa chủng sinh và vị linh hướng của mình. Điều quan trọng là phải đối thoại thường xuyên và không chỉ là một tham khảo ý kiến tình cờ. Điều đó đòi hỏi một nhịp điệu đều đặn và đủ mau.

Ngoài ra, điều căn bản là người con linh hướng được tự do xin gặp cha linh hướng của mình khi thấy điều đó quan trọng. Điều này đòi buộc các cha linh hướng thường xuyên hiện diện trong chủng viện và luôn sẵn sàng đón tiếp. Trong những kỳ nghỉ hè, việc trao đổi thư từ thường hữu ích và giúp soi sáng, cũng như việc trao đổi thư từ đều đặn trong thời thực tập.

3.3. Những nội dung trao đổi

Hoàn toàn tự do, đó là luật lệ ở đây, và con linh hướng, khi muốn, phải có thể đề cập tới những đề tài, những vấn nạn làm anh bận tâm. Nhưng sự tự do này không được dùng để che đậy sự trốn tránh trước những vấn đề khó khăn hoặc từ khước nhìn thẳng vào đời sống riêng của mình.

Trong phạm vi này, người ta không thể đề ra một chương trình, điều đó thật rõ ràng. Điều quan trọng nhất trong việc đồng hành là không được xa rời mục đích kiểm chứng và đào tạo. Có nghĩa là phải đặt tất cả đời sống dưới tầm nhìn của Thiên Chúa. Một vài vấn đề cần phải đề cập trong cuộc đối thoại :

 * Nhìn lại lịch sử bản thân, với căn rễ gia đình, và một vài giai đoạn chính yếu trong lịch sử này.

 * Những hoàn cảnh mà con linh hướng hiện đang đương đầu.

 * Nhìn đến những ước vọng và dự tính, những lựa chọn và quyết định (cập nhật hóa những động lực và thanh tẩy những ước muốn).

 * Tương quan với tha nhân và đời sống trong tương quan, kể cả những tương quan với quyền bính và đời sống cộng đoàn.

 * Khả năng phát biểu và hiệp thông.

 * Đời sống cầu nguyện : cử hành Giờ Kinh Phụng Vụ,  thực hành nguyện gẫm, đọc Sách Thánh (lectio divina), tương quan giữa cầu nguyện với đời sống và tác vụ.

 * Sử dụng những phương tiện giúp đời sống thiêng liêng và năng đọc các văn bản (sách) tu đức.

 * Thực hành cá nhân về các Bí tích (Thánh Thể và Giao hòa).

 * Đời sống tình cảm và khả năng sống bậc độc thân, với những điều kiện của đời sống thanh tịnh.

 * Học hỏi nghiên cứu thần học như thức ăn bản thân để nuôi dưỡng đức tin.

 * Kinh nghiệm tông đồ hiện thời và tập sống mối tương quan và các năng cách mục vụ.

 * Chỗ đứng của Giáo Hội trong đời sống đức tin, mối liên hệ với Giáo Phận và Giám Mục.

3.4. Bản chất tương quan

Không hề có chuyện con linh hướng phải giao phó  đời sống mình cho một người khác hướng dẫn và trút bỏ tất cả mọi trách nhiệm và quyết định của mình, nhưng phải đặt mình suốt đời dưới sự hướng dẫn của Thần Linh Thiên Chúa. [13] Việc thực hành linh hướng đặt nền tảng trên đức tin vào sự hiện diện tích cực của Thánh Linh. Người ta tìm cách nhận ra hoạt động và những tiếng gọi của Người. Đối thoại chân thành và tín thác với một cha linh hướng tránh cho họ khỏi lẫn lộn những quan điểm và ước vọng riêng của mình với ánh sáng và những khuyến dũ của Thần Linh Chúa Kitô.

Chính cha linh hướng phải cố gắng phó thác mình cho Chúa Thánh Thần, Đấng đã được trao ban cho ngài vì tác vụ ngài được giao, để, bằng việc lắng nghe và đối thoại, giúp con linh hướng biện phân và ngoan ngoãn theo Chúa Thánh Thần. Như thế, tương quan trong linh hướng là bất đối xứng, và, nói cho đúng, không phải là giữa bằng hữu : cảnh huống của đôi bên không tương đương và không chuyển trao cho nhau được. Cha linh hướng có là một người để con linh hướng tâm sự, tìm cách hiểu biết anh, gần gũi với anh, đồng hành với anh trong việc tìm tòi và suy nghĩ, thì chỉ để giúp anh tự biết mình và nhận ra tiếng gọi của Thánh Thần trong Giáo Hội và cho sứ vụ của anh. Nếu ngài giúp con linh hướng tìm ra con đường phải tiến lên, nếu ngài giúp anh khám phá những ngõ cụt mà anh định đi vào, bằng những câu hỏi, bằng những ý kiến của ngài, chính là để anh phó thác cho Đấng là người Hướng Đạo duy nhất.

3.5. Linh hướng và xưng tội.

Chính với cha linh hướng mà chủng sinh thường xuyên cử hành “Bí tích sám hối và hòa giải.” Tuy nhiên điều quan trọng là linh hướng phải rõ ràng tách biệt với Bí tích và sự tách biệt này phải được hiện tỏ trong cách thức cử hành Bí tích này. Đó là điều hay.

Một chủng sinh có thể mời một linh mục khác làm tác vụ Bí tích cho minh. Trong trường hợp này, tốt hơn anh nên đến với một cha không thuộc thành viên của Hội đồng để bảo đảm tự do của mỗi người. Nhưng hiển nhiên rằng, ý kiến của cha linh hướng, đặc biệt trong những gì liên hệ về hướng đi của anh tới tác vụ, chỉ có giá trị trong mức độ cha linh hướng được thông tin trung thực về những điều có thể gây khó khăn cho hướng đi này.

Cũng nên giữ những qui định ấy trong trường hợp tham dự các cử hành Bí Tích theo nghi thức cộng đồng

3.6. Kín đáo

Việc hướng dẫn là nơi người ta có thể nói tất cả, ký thác tất cả, không hề sợ sệt. Sự kín đáo là một bảo đảm cốt yếu giúp ứng sinh được tự do về lời nói, tự do lương tâm, và cuối cùng để phục vụ tự do thiêng liêng của mình trước Thiên Chúa.

Bắt đầu từ khi cha linh hướng được chủng sinh chọn và ngài đã chấp nhận, ngài phải giữ bí mật rất nghiêm nhặt đối với cha Giám đốc, Giám Mục hay mọi người khác về tất cả những gì liên quan tới linh hướng. Ngài không can thiệp trong lúc Hội đồng bàn luận về con linh hướng. Chỉ có thể hỏi ngài về công việc trí thức của con linh hướng, mà ngài phải trình bày như một giáo sư.

Còn về con linh hướng, anh vẫn được tự do nói với ai anh muốn, nhưng anh phải giữ bí mật thích đáng về những trao đổi của anh với cha linh hướng. Anh cũng không thể tránh né trách nhiệm riêng bằng cách biện minh ở tòa ngoài, dựa vào những ý kiến hoặc những lời khuyên của cha linh hướng. Những người đối tác tham dự thảo luận theo thể chế với ứng sinh rất có lý khi từ khước loại biện hộ này và chỉ nại đến chính trách nhiệm của anh. [14]

4. Vài vấn đề hiện đại hơn

Việc linh hướng thường được thực hiện trong các chủng viện, không bị chống đối theo nguyên tắc. Nhưng đó đây, một số chủng sinh khó chấp nhận những điều được đề nghị và đòi hỏi họ, nên đã có những vấn đề được đặt ra. Vả lại, tầm quan trọng của những vấn đề này rất khác nhau tùy theo tình trạng và cảnh huống. Một vài vấn đề được đặt ra một cách rất khác nhau trong khuôn khổ của một chủng viện quan trọng và trong một cộng đồng rất giảm thiểu về nhân số.

4.1. Tự do của ứng sinh

Trong truyền thống của Trường phái Pháp, cha linh hướng được chọn trong số các linh mục của Hội đồng chủng viện. Nhân danh điều gì và làm sao người ta có thể mang một đòi hỏi như vậy vào một nơi mà tự do cá nhân trước Thiên Chúa có tính quyết định hơn đâu hết ? Vấn đề này được đặt ra, đó là điều rât dễ hiểu. Tuy nhiên, kinh nghiệm và suy tư trên kinh nghiệm cho thấy những lợi điểm và tính chất vững chắc của thực hành này. Thẩm quyền của cha linh hướng trước hết đến từ sứ mạng đã được Giám Mục ký thác cho các linh mục được coi như có khả năng xứng hợp với tác vụ này. Hơn nữa, tham gia vào Hội đồng, vào tòa ngoài, các linh mục này sẽ có tư cách hơn đối với nhiệm vụ biện phân và đồng hành riêng tư với các ứng sinh : chia sẻ trách nhiệm của Hội đồng, họ sẽ hiểu biết hơn bằng sự kiện những khả năng cần thiết và những đòi hỏi cần được coi trọng. Ngược lại, những kinh nghiệm của họ như những vị linh hướng, thường tạo cho họ phương thế để đảm nhận một cách tốt hơn trách nhiệm của họ trong việc biện phân và giới thiệu lãnh chức thánh các ứng sinh mà họ không linh hướng. Sau cùng, họ sống thường xuyên với chủng sinh, nên họ biết được, từ tòa trong, đời sống cộng đoàn, những điều kiện và những giai đoạn đào tạo.

Vậy chọn linh hướng trong số các thành viên của Hội Đồng chủng viện nhằm bảo đảm sự biện phân tốt hơn và tự do chân thực trong việc hướng tới tác vụ. Dĩ nhiên điều này đòi buộc các linh mục được mời gọi đảm nhận tác vụ này phải có những khả năng cần thiết và phát triển chúng, họ phải đảm nhận thực sự trách nhiệm của Hội đồng và chấp nhận thường xuyên chia sẻ đời sống với các chủng sinh.

Vả lại, một Hội đồng quá hạn hẹp chắc chắn sẽ hạn chế rất nhiều việc chọn lựa cha linh hướng.

4.2. Một cha linh hướng duy nhất cho mỗi người.

Ứng viên vào chức vụ ngày nay liên lạc với nhiều “cố vấn.” Ngay tại chủng viện, anh đã gia nhập một nhóm sống và tìm được ở đây một “người cha của nhóm” ; anh đối thoại đều đặn với cha bề trên. Anh lui tới nhiều môi trường thuộc Giáo Hội, anh gặp gỡ các linh mục mà anh sẵn lòng tâm sự (các linh mục anh gặp trong thời gian mục vụ, cha đặc trách đào tạo của giáo phận). Trong toàn bộ tạp biến ấy, làm thế nào việc linh hướng xác định được chỗ đứng và khẳng định được chuyên ngành của mình?

Sự khác biệt của các môi trường và sự đa dạng của các mối tương giao tạo thành nguồn phú túc đối với chủng viện. Điều đó không phải là không quan trọng đối với việc khám phá tác vụ và biện phân ơn gọi. Nhưng nhận được nhiều lời khuyên có thể làm tổn hại trách nhiệm và quyết định cá nhân của chủng sinh. Cũng có thể một chủng sinh được khuyến khích một cách bất cẩn do một vài cá nhân hoặc một vài nhóm quá ít hiểu biết về những điểm quan yếu cho cá nhân và Giáo Hội.

Phải liệu cảnh báo rõ cho các chủng sinh rằng mỗi người chỉ nhận một cha linh hướng. Đặc tính đơn nhất của tương quan trong linh hướng không phải là vô nghĩa. Đây là nơi mà mỗi chủng sinh, khi nghe được bất kỳ ý kiến nào ở nơi khác, đều phải đưa về để xem xét trách nhiệm riêng và thống nhất tất cả đời sống của mình cho tương hợp với Thánh Thần của Thiên Chúa : không để mình bị mặc người khác lôi kéo đi đâu thì đi, cũng không được lẫn lộn những ước muốn riêng tư với tiếng gọi của Thiên Chúa. Việc linh hướng giúp nhận ra và mời gọi đảm nhận tính đặc thù của mỗi người trước mặt Thiên Chúa. Về phần cha linh hướng, khi bị đặt trước một tình huống khó khăn, ngài có thể tham khảo ý kiến của một đồng nghiệp ngoài hội đồng. Thông thường ngài phải xin phép con linh hướng. Ngài phải cẩn thận để giữ bí mật cần thiết. Ngài luôn phải mang trách nhiệm riêng của ngài.

4.3 Vai trò quan yếu của tâm lý trong việc hướng dẫn [15]

Trong tương quan linh hướng, tâm lý luôn cần phải nhập cuộc đối với cả đôi bên. Hơn nữa trong bối cảnh hiện thời, những vấn đề thuộc lãnh vực tâm lý thường rất được chú ý và nhạy cảm. Như thế làm sao có thể bảo đảm được chức năng đặc biệt của linh hướng ?

Cha linh hướng không thể không biết chiều kích tâm lý. Điều đó đòi hỏi ngài không phải là có chuyên môn, nhưng là hiểu biết và được đào tạo đầy đủ trong lãnh vực này, bao gồm một nhận thức rõ rệt biết phân biệt giữa đồng hành tâm lý và linh hướng. Ngài phải chăm chú vào sự phát triển nhân cách, sự trưởng thành về cảm tính, giúp kiểm chứng khả năng giao tiếp và sống bậc độc thân [16]  Cha linh hướng có thể phải đảm nhận giúp đỡ cách nào đó trên bình diện tâm lý, nhưng nên nhớ rằng chính sự chân thực và phẩm tính của mối liên hệ này mới giúp mỗi người khám phá ra chân lý riêng của mình và do đó tạo nên sự giúp đỡ tâm lý sâu xa nhất. Trong những trường hợp thấy nên, hơn nữa là cần thiết, cha linh hướng sẽ khuyên nên nhờ tới một sự giúp đỡ tâm lý chuyên biệt. Ngài không nên để việc linh hướng giảm thiểu vào một cuộc trao đổi tâm lý và quên mục đích thực sự tu đức và thần hướng.

4.4 Việc linh hướng trong cơ chế.

Do thuộc về cơ cấu thể chế đào tạo, việc linh hướng có thể bị tổn thương vì cả cơ chế bị mất tin tưởng. Do được thiết lập vào thể chế, việc linh hướng có thể bị người ta  sống không đúng và xuyên tạc ; nên cần phải chú ý đến nguy cơ này.

Một số chủng sinh coi linh hướng, môi trường tự do, như là một nơi được bảo hộ (bao che) đối với Hội đồng và những thể chế đào tạo khác. Vậy, cha linh hướng luôn phải để tâm đặt linh hướng trong đối thoại theo thể chế, là nơi giúp biện phân. Ngài phải chủ ý khai tâm vào đời sống theo thể chế của Giáo Hội và giúp khám phá ra rằng nơi đây, cũng như trong rất nhiều trường hợp khác, thể chế là điều kiện và phương tiện của tự do. Hội đồng cũng có nguy cơ như thế. Đặc biệt khi giới thiệu gọi chịu chức, Hội đồng không được nghĩ rằng linh hướng và sở trường của các đồng nghiệp chuẩn chước cho Hội đồng những trách nhiệm riêng của mình ở tòa ngoài.

Trong thực hành, cha giám đốc phải lo liệu để linh hướng có thể đóng đúng vai trò của mình. Ngài phải chú ý tới từng người khi họ chọn linh hướng. Ngài phải nói rõ ràng ý nghĩa và lí do của điều được đề nghị và điều được yêu cầu, ngay từ lúc đầu, nhưng cũng lặp lại nhiều lần trong thời gian đào tạo. Ngài mời mỗi người, tùy dịp, tới nói chuyện với cha linh hướng của mình. Ngài mời gọi sống cách hành động này một cách đơn sơ và trung thành trong đức tin. Chính ngài không để liên hệ tín nhiệm mà ngài thường có đối với mỗi người biến thành việc linh hướng.

5. Vai trò và thái độ của cha linh hướng

Ghi chú đây không phải là một chuyên luận về linh hướng. Đoạn cuối cùng này không nhằm cung cấp tất cả những lời khuyên hữu ích. Dựa trên kinh nghiệm hiện thời của các hội đồng đào tạo, được nuôi dưỡng bởi một truyền thống sinh động, đoạn cuối này chỉ đề bạt một vài hướng dẫn. Những hướng dẫn này có thể giúp đỡ các đồng nghiệp trẻ hơn hoặc mới trong chức vụ này. Chúng cũng có thể mời gọi những người thâm niên hơn phải canh tân – điều luôn cần thiết – , trong việc thực thi chức vụ này.

5.1 Thiết lập một tương quan chân thực

Cũng như ở nội dung của cuộc đàm thoại, cha linh hướng phải chú ý tới phẩm tính và biến chuyển của mối tương quan được thiết lập giữa con linh hướng và cha linh hướng, để thiết lập tương quan này ngay lập tức trên bình diện hướng thần. Sự cởi mở đơn sơ và tín thác phải cho phép con linh hướng đạt tới sự thật riêng của mình và để được như vậy, phải đưa ra ánh sáng, và bằng cả lời nói, kinh nghiệm, những lo sợ và những ước vọng của mình. Điều này bao gồm nơi cha linh hướng một sư phạm có thể liên hợp việc tiếp đón với việc đặt câu hỏi theo nhu cầu và tùy thời điểm. Khi không thể tạo lập hoặc thiếu vắng sự tín thác cần thiết này, thì cần phải thay đổi cha linh hướng. Chính chủng sinh có thể có sáng kiến về điều này. Đôi khi chính cha linh hướng yêu cầu chủng sinh tới gặp cha khác, vì, theo lương tâm, ngài thấy không thể đảm nhận trách nhiệm linh hướng được nữa. Cũng có thể thay đổi linh hướng, mặc dầu không có những khó khăn đặc biệt, nhưng thay đổi, sau một thời gian dài, xem ra bổ ích.

Cha giám đốc có thể được tham khảo ý kiến xem việc thay đổi có thuận lợi không, mà không cần phải xen vào mối liên hệ của chính việc linh hướng. Luôn phải nói chuyện với chính cha giám đốc khi muốn chọn cha linh hướng mới.

5.2 Những cám dỗ của cha linh hướng

Trong chủng viện nơi các linh mục cũng là giáo sư, hai vai trò này có thể khó phân biệt. Thường cha linh hướng phải chú ý về điều này về phía ngài.

Chính cha linh hướng được mời gọi phải luôn chân thực trong tương quan của ngài. Thường khó tìm ra mức đúng đắn để vừa tránh một sự thân thiện chối bỏ tha tính vừa tránh tạo ra khoảng cách phương hại sự tín nhiệm.

Cha linh hướng không phải là người bênh đỡ hoặc trạng sư của con linh hướng. Ngài không thể như vậy trước các bậc hữu trách, trước Giám Mục, giám đốc hay Hội đồng. Trước mặt chính con linh hướng, ngài không được chữa tội hay buộc tội anh ; ngài ở đó để nghe anh, để giúp anh khám phá ơn gọi chân thực của anh và để khích lệ anh đảm nhận những trách nhiệm của mình.

Thể chế vận hành chủng viện dành một chỗ quan trọng cho việc linh hướng. Cha linh hướng phải tránh tất cả những gì phương hại cho việc vận hành thể chế này nhằm phục vụ các ứng sinh vào tác vụ. Đặc biệt ngài tránh thay thế cha giám đốc chuyển trao ý kiến của Hội đồng. Khi ngài có cảm tưởng rằng những ý kiến này bị nghe sai hoặc bị hiểu lầm, ngài có thể mời chủng sinh tới gặp cha giám đốc, nhưng không bao giờ, ngài tự mình lãnh việc cải chính.

5.3 Đối với những lựa chọn của con linh hướng.

Chính con linh hướng phải dấn thân theo Chúa Kitô, trong lòng trung tín với Thánh Thần, nhận ra ơn gọi riêng của mình và cố gắng đáp lại. Cha linh hướng không áp đặt những chọn lựa để con linh hướng phải theo.

Đặc biệt khi liên hệ đến việc hướng đến tác vụ và nộp đơn xin chịu chức, cha linh hướng phải chú ý để đặt mình vào đúng chỗ. Ngài có thể và ngài phải giúp biện phân giá trị của những ước vọng và những động lực, giúp đào sâu ý nghĩa. Ngài có thể hỏi han, mời gọi để nhận định rõ hơn những nguy hiểm và những điều quan yếu có tính sống còn. Vai trò của ngài trước hết là giúp suy luận và cảnh giác về những điều kiện để chọn lựa.

 Ngài không được chiếm chỗ con linh hướng. Ngài luôn phải nhắc cho anh rằng sự quyết định xuất phát từ trách nhiệm cá nhân của anh. Nhưng khi cha linh hướng có xác tín rằng người mình hướng dẫn đã phạm một điều thiếu khôn ngoan nghiêm trọng, hoặc đã quyết định quá vội vàng, thì, theo lương tâm, ngài phải nói cho anh biết.

Ngược lại, ngài có thể bảo đảm cho con linh hướng rằng ngài thấy chọn lựa đó là đúng đắn và chân thật – và, không bao giờ lấn át tự do cá nhân, việc ngài chấp thuận là như một bảo chứng bằng an dưới cái nhìn của Thiên Chúa.

5.4 Thái độ nội tâm

Trước hết cha linh hướng phải sẵn sàng giúp đỡ và quan tâm đến con linh hướng. Những điều này biểu lộ tình cảm mạnh mẽ, chân thực, sâu xa ngài dành cho anh. Là người lắng nghe, cha linh hướng luôn sẵn sàng đón nghe tất cả mọi chuyện mà vẫn có thể giữ được bình tĩnh, không để lộ một chút khó chịu hoặc âu lo nào. Một thái độ như thế đòi hỏi cha linh hướng phải thật sự khó nghèo, chân thực siêu thoát đối với những quan điểm và dự phóng của mình. Trên hết, thái độ này già thiết biết tôn trọng tự do cá nhân và công việc của Thánh Thần trong mỗi người.

Được kêu gọi để giúp anh em mình sống trung tín với Thánh Linh của Chúa Kitô, chính cha linh hướng phải quan tâm thuần phục Thánh Thần. Điều này thường có nghĩa rằng chính ngài, trong cuộc sống, phải cần tới sự trợ giúp thiêng liêng của một người anh em linh mục mà ngài tín nhiệm. Lời cầu nguyện mục vụ của cha linh hướng cho những người đến với ngài, sẽ diễn ra trong chiêm niệm và ngợi khen để xin Thần Linh Chúa Kitô tác động trong họ.

PHỤ LỤC

DIRECTOIRE 1959

Phần III : Những phương tiện hành động của chủng viện

                    1. LINH  HƯỚNG

126. Trong Chủng viện Xuân Bích linh hướng được coi như một yếu tố cốt yếu của việc đào tạo linh mục. Hợp với việc xưng tội, linh hướng là một trong những phương tiện duy trì bước tiến về Thiên Chúa trong sự lệ thuộc vào Giáo Hội.

126. Vậy nên linh hướng không chỉ chấp nhận một sự tín thác, với tư cách khôn ngoan nhân loại, vào một người có kinh nghiệm hơn. Đó là một hợp tác giữa cha linh hướng và con linh hướng để biện phân những thúc đẩy của Thánh Thần, Đấng hướng dẫn đích thực các tâm hồn. Việc linh hướng chỉ có thể mang lại kết quả khi hàm chứa một sự cởi mở tâm hồn hoàn toàn.

128. Bổn phận đầu tiên của cha linh hướng là giúp chủng sinh tiến bộ trong đời sống đức tin. Ngài không bao giờ lấy phán đoán riêng tư của mình để áp đặt cho anh, nhưng ngài đưa ra ánh sáng những yếu tố có thể soi sáng một quyết định cá nhân, do sự trung thành với ý muốn của Thiên Chúa gợi lên.

129. Linh hướng cũng là một trong những phương tiện chính cho chủng sinh sử dụng để phán đoán về ơn gọi riêng của mình. Tất nhiên chính anh phải là người cuối cùng mang trách nhiệm về việc nộp đơn xin được gọi chịu chức, nhưng nếu anh tiến lên chịu chức, mặc dầu có ý kiến rõ ràng trái nghịch của cha linh hướng anh, là anh phạm một khinh suất nặng nề. Ngoài ra anh hoàn toàn được tự do bàn hỏi với một cha linh hướng khác, nếu anh không tin tưởng vào những chỉ dẫn của cha đang hướng dẫn anh.

130. Một thay đổi như thế không được xảy ra do tính khí thất thường, nhưng sẽ được biện minh nếu anh thiếu tự do cần thiết đối với cha linh hướng của anh, hoặc nếu anh cảm thấy các ý kiến của ngài không khích lệ và nâng đỡ anh đủ.

131. Thường thường chủng sinh xưng tội với cha linh hướng của mình, nhưng anh luôn có quyền tự do tới với một vị linh mục khác, nếu anh muốn. Anh chỉ phải nhớ rằng nếu cha linh hướng của anh không biết một vài lỗi lầm đã được xưng thú với một linh mục khác, ý kiến của ngài về việc anh lãnh chức sẽ không có giá trị.

132. Ngoài việc giáo dục đức tin được hoàn tất do những biến cố lớn nhỏ của đời sống hằng ngày, cha linh hướng tích cực chỉ dậy cho con thiêng liêng của mình về khổ chế và thần nhiệm, thích ứng và bổ túc những gì đã được cha giám đốc đề ra trong khi huấn đức. Để được như vậy, ngài phải lo hướng dẫn việc đọc sách thiêng liêng riêng của chủng sinh về những tác giả tu đức, lưu ý sao cho về cuối thời đào tạo, anh đã tiếp xúc được với những bản văn chính yếu.

133. Trong điều liên hệ tới việc linh hướng, cha linh hướng tuân thủ, theo mức độ tương ứng, tất cả những gì được đòi hỏi trong việc xưng tội, về việc phải tế nhị, kín đáo. Nhất là tại Hội đồng, không bao giờ cha linh hướng được ngỏ lời về một trong những hối nhân của ngài, dù để buộc tội hay để bào chữa.

134. Việc linh hướng được bổ túc bằng sinh hoạt nhóm, đó là điều rất hữu ích : các chủng sinh có nhiều điều cần nhận được nhờ trao đổi trung thực với nhau. Nhưng việc linh hướng vẫn là chủ yếu, vì chủng viện là thời kỳ đào tạo để đi vào một truyền thống. Trong tác vụ linh mục, đoàn nhóm là một phương tiện mạnh mẽ nâng đỡ tinh thần : nhưng không loại bỏ nhu cầu linh hướng. Linh mụcluôn phải để một chứng nhân của Giáo Hội kiểm tra lòng chân thành và ngay thẳng của mình trong việc tìm kiếm Thiên Chúa riêng tư nhất.

(Directoire Spirituel des séminaires pour les Prêtres de Saint-Sulpice – Chỉ Nam Tu đức trong chủng viện dành cho các linh mục Xuân Bích 1959).


[1] Ratio Institutionis, 41, 60-61

[2] Giáo luật 1983, k. 239, §2 ; 246, §4

[3] Hiến Pháp 14, 3-4 ; 17, 1 ORA d, e, f, g, h ; 62 ORAa,; 135

[4] Xem sau p. 61 ; cf aussi COMPAGNIE DES PRÊTRES DE SAINT-SULPICE, Directoire spirituel pour la formation au ministère presbytéral, 1985, troisième partie, 68-81.

[5] Hồi Ký 3, 324

[6] Ratio Institutionis, 60-61

[7] Hiến Pháp 11, 1

[8] PDV, 42 :”(Giáo Hội) liệu cho (các ứng sinh) lời đáp trả ý thức và tự do cam kết dâng hei61n tất cả con người của mình cho Chúa Giêsu-Kitô, đấng kêu gọi họ sống thân mật với ngài và chia sẻ với ngài sứ mạng cứu độ.

[9] PDV 72 :”“Đường đi tới trưởng thành không những đòi hỏi linh mục không ngừng đào sâu mọi chiều kích đào tạo, nhưng cũng và nhất là phải hòa hợp chúng để dần dần tiến tới sự thống nhất nội tâm được đức ái mục vụ. bảo đảm ”

[10] X. PDV 81

[11] Ratio Institutionis 41& 65

[12] Xem sau, 5.1

[13] PDV 69

[14] PDV 66, 4 ; BERNARD PITAUD  “Rapport for interne-for externe. Pratique de l’Ecole Francaise” BSS, 30, 2004, tr. 263-275.

[15] x. HỘI LINH MỤC XUÂN BÍCH, La formation psycho-affective des séminaristes 1994, trang 9. Bản dịch Việc đào tạo tâm lý-tình cảm cho các chủng sinh, 1994

2 PVD 44 :“Ttrưởng thành nhân bản và đặc biệt trưởng thành cảm tính đòi hỏi một đào tạo trong sáng và mạnh mẽ đưa tới tự do, tự do này xuất hiện dưới hình thức một đức vâng phục xác tín và thân hữu đối với “chân lý” về hữu thể của riêng mình, với ”ý nghĩa” sự hiện hữu của mình, nghĩa là với ân ban chính mình như đường lối và nội dung nền tảng nhằm thực hiện đích thực chính bản thân.

  PDV 50: “chủng sinh phải đủ trưởng thành về tâm lý và phái tính cũng như phải có một đời sống cầu nguyện trung kiên và phải được một Cha thiêng liêng hướng dẫn. Vị linh hướng này phải giúp chủng sinh đi tới quyết định chín chắn và tự do dựa trên lòng kính chuộng tình bằng hữu linh mục và tự kiềm chế, cũng như trên việc chấp nhận sống cô đơn và trên một tình trạng cá nhân lành mạnh về cả thể lý lẫn tâm lý.”

HỘI LINH MỤC XUÂN BÍCH, En vue du Royaume : Elements de réflexion sur la formation au célibat sacerdotale. Une contribution de la Compagnie de Saint-Sulpice, 2006. Bản dịch Antôn TRẦN MINH HIỂN, pss: Vì NướcTrời .. 2006

 

* Phần “Linh hướng” này được  trích trong tập “Une pédagogie de la liberté“, do Hội Xuân Bích, tỉnh Pháp, biên soạn. Bản dịch tiếng Việt của cha Antôn Trần Minh Hiển.

%d bloggers like this: