PHAOLÔ THÁNH NHÂN, CÂY VIẾT RẤT TÀI TÌNH

PHAOLÔ THÁNH NHÂN, CÂY VIẾT RẤT TÀI TÌNH

 Trên hết mọi sự, thánh Phaolô là người viết thư rất tuyệt diệu ít khi thấy. Ở đây nữa, lại cho phép tôi được mở một dấu ngoặc để nói thêm về việc: thế nào là “viết thư”, vào thời đó. Thời, mà nhiều người Do thái thường hay viết thư để diễn tả về nhiều thứ. Thời ấy, đã có đến 8 cuốn sách chứa đựng toàn những lá thư do Cicero viết. Và một người khác là Pliny sống vào thời sau thánh Phaolô, cũng viết ít nhất 121 thư gửi chính quyền La Mã. Thời này, ai cũng nghĩ là: thánh Phaolô được nhiều người biết như tay viết có giá trị mục vụ từ xưa đến giờ.

 Phaolô thánh nhân không ngồi bàn để viết. Bởi, là doanh thương chuyên bán buôn lều/bạt trẩy đi xa nên ông có thói quen đi thẳng vào vấn đề để nói về mọi chuyện. Ông luôn cần thư ký phác thảo những điều ông muốn nói, sau đó ông coi lại và lập hai bản có hiệu đính rất rành rọt, một để gửi đi và bản kia giữ lại cho “văn khố” của riêng ông. Làm việc này, thánh nhân không thể Ngồi tại bàn viết, mà ở đâu đó bất cứ chỗ nào có thể ngồi, hết xó này xó nọ, rất lưu động. Bản thảo và bản hiệu đính, vị thư ký không cần giấy bút để ghi/để chép mà chỉ dùng bút trâm kim loại viết lên phiến sáp, mà tôi. Bản trên giấy, là để hiệu đính, tựa như thư thứ nhất gửi giáo đoàn Côrinthô chẳng hạn, cũng tốn đến 10 drachmas. Thư ký ghi thư có thể chép được 85 hàng chữ suốt một giờ. Thường, thì họ được trả tiền công cũng khá hậu. Thư chép xong, cần có người cầm thư chạy đến nơi nhận. Titô đồ đệ, là người từng mang thư thứ hai gửi giáo đoàn Côrinthô từ phần 1 đến 9, trong khi chị Phoebê là người mang thư Rôma đến với cộng đoàn sống ở La Mã. Còn, Ônêsimô là nô lệ được thánh nhân giải thoát thành người dẫn đường đến thung lũng Lycus; và, Tychicô là người chạy thư trao cho Philêmôn. Đến nơi, người chạy thư phải đọc lớn tiếng xem thư đó thánh nhân viết những gì, vì cộng đoàn nhiều nơi gồm toàn những vị không biết đọc và cũng chẳng biết viết, nữa.

 Thật khó mà đưa ra một qui luật chung về khung thời gian thánh nhân bỏ ra để viết xong một lá thư. Tựa như thư thứ hai gửi cộng đoàn Côrinthô, phần 1-9 và thư Rôma gửi hội thánh ở La Mã, thánh Phaolô cũng phải bỏ ra đến 6 tháng trời, phần lớn là vì mùa đông, việc di chuyển không mấy dễ dàng.

 Chi phí tốn kém chỉ một bức thư cũng không nhẹ. Nói chung, theo tính toán của các nhà chú giải thì thư thứ nhất gửi giáo đoàn Côrinthô tốn khoảng $1,520 Mỹ kim. Thư Rôma tốn mất $1,680 đô Mỹ, thư cho Philêmôn tốn có $74. Trong thời gian 2 năm cộng mấy tháng lưu lại Êphêsô, thánh Phaolô viết tổng cộng ít nhất là 4 bức, cụ thể như: thư Galát, Phillíphê, Philêmôn, và thứ thứ nhất gửi cộng đoàn Côrinthô. Gộp chung lại, 4 thư này tốn khoảng $3,354 đô. Với nghề kinh doanh lều/bạt, thánh nhân chỉ kiếm được chừng $80 một ngày, nhưng ông lại không làm việc toàn thời, do nhu cầu mục vụ. Bởi thế nên, các đồ đệ như Timôthê, Priscilla, Aquila và Titô được coi như những người hợp tác lao động hoặc làm nghề gì đó để sống tạm như thánh Phaolô, ngõ hầu hỗ trợ thánh nhân trong việc mục vụ. Dù sao, cũng nên cộng thêm vào đó chi phí ở thuê/mướn chỗ và thức ăn. Tựu trung, xem ra tất cả các vị liệt kê ở trên không đủ tài nguyên để trang trải chi phí ghi thư như thế. Cũng nên biết, thánh Phaolô không bao giờ chịu nhận tiền của bất cứ ai trong cộng đoàn ông chung sống hoặc lao động, để mình không bị ràng buộc vào bất cứ người nào. Ông chỉ nhận tiền thù lao hay sao đó khi đã rời bỏ đi nơi khác, để giúp đỡ nơi mới tới. Cộng đoàn Philíphê đã tài trợ cho thánh Phaolô ở tại Côrinthô và cũng gửi tiền cho thánh nhân lúc ông còn ở Êphêsô. Ở đây, lại cũng xin mở thêm một dấu ngoặc ghi nhớ, đó là: thánh Phaolô từng thu thập được một số tiền cũng đáng giá, nhưng tiền đó là để giúp người Do thái nghèo sống ở Giêrusalem.

 Ở đây cần nói thêm là trong số 14 bức thư được bảo là do thánh Phaolô viết, cả vào lúc đầu, nay vẫn còn ghi trong Tân Ước. Có điều lạ, là: thứ tự sắp xếp các thư trong sách Tấn Ước lại bắt đầu từ thư dài xuống dần đến thư ngăn ngắn, chẳng cần biết thư ấy viết vào thời nào, về chủ đề gì. Nhưng, hầu như tất cả các nhà chú giải nay quyết rằng: thánh Phaolô chỉ viết có 7 bức thư, thôi. Đó là điều chắc như đinh đóng cột. Các thư đó rõ ràng là do thánh Phaolô đọc cho thư ký viết, như: thư thứ nhất Thessalônikê, thư thứ nhất và thứ hai gửi cộng đoàn Côrinthô, thư Galát, thư Philíphê, Philêmôn và thư Rôma. Thường thì, các nhà chú giải đều dự đoán khá chính xác những chuyện như thế, trong khi một số các vị khác như các nhà chú giải, lại nghĩ là tất cả 14 thư đều do thánh Phaolô viết hết.

 Các thư khác, hầu hết do các tác giả sau này viết; bởi lẽ, có những cú pháp được viết khác hẳn kiểu thông thường thánh Phaolô suy nghĩ và sống thực, nhưng lại không do thánh nhân soạn thảo. Các ấn bản này được gọi là ngụy-thư Phaolô, gồm các ấn bản như: thư gửi cộng đoàn Êphêsô, Côlôsê, thư thứ 2 Thessalônikê và các thư mục vụ như: thư 1 và 2 gửi Timôthê và Titô. Theo thiển nghĩ, thực sự cũng có thư mục vụ do thánh Phaolô viết và gửi cộng đoàn Laođixê một phần đã nằm ở thư gửi cộng đoàn Côlôsê và Êphêsô. Riêng thư Híp-ri (còn gọi là thư Do thái) có lúc cũng được cho là do thánh Phaolô thảo ra, nhưng theo các nhà chú giải ngày nay thì điều đó không đúng. Sở dĩ có chuyện đó, là vì cung cách thấy trong thư Hip-ri không giống như lối suy nghĩ của thánh Phaolô hoặc người nào lâu nay theo trào lưu do thánh nhân thiết lập. Thật sự, thì thư Hip-ri không thuộc dạng thư từ, lại không phải để gửi cho cộng đoàn Do thái, và điều chắc chắn là thư này không do thánh Phaolô tự tay viết.

 Có thể nói mà không sợ sai lầm rằng: các ấn bản này tuy thuộc bộ kinh-điển, nhưng không giống như thánh Phaolô viết theo tính lịch sử. Việc sưu tầm các thư của thánh Phaolô viết cũng kích thích việc sưu tầm thư do người khác viết, rồi gián tiếp áp đặt cách sai lầm rằng các thư như thế là do các nhân vật cao cấp trong giáo hội tiên khởi như thánh Phêrô, Giacôbê, Giuđê, Gioan từng chủ trương. Ở đây nữa, cần minh xác một điều, là: thánh Phaolô là nhân vật chính đã viết phần hai của sách Công vụ, và điều chắc nữa là: một phần ba sách Tân Ước lại vẫn nói về thánh Phaolô Tông đồ là nhân vật chủ chốt của Tin Mừng.

 Có lẽ việc này cũng không đúng cho lắm, là: ta vẫn cứ liệt thánh Phaolô vào hàng ngũ các vị chuyên “viết thư”. Bởi, khi đọc nội dung những điều ông muốn nói cho thư ký ghi chép, thánh Phaolô không sử dụng tài ăn nói hoặc khoa hùng biện như khi ông viết. Ngôn từ mà thánh nhân sử dụng là những tư tưởng “hiện có ở trong đầu”. Thế nên, ta sẽ sơ hở mà phạm lỗi nếu để quá nhiều thì giờ vào việc phân tách bàn văn hoặc từ ngữ ghi trong đó. Ngay đến tác giả có lần ông cũng nói: trong thư, ông chơi chữ cũng khá nhiều. Ông là người kinh doanh lều/bạt và/hoặc da thú, nhưng ngôn ngữ tiếng Hy Lạp để chỉ về việc đó bằng cụm từ “skenopoios” có nghĩa là người phụ sân khấu, tạo mẫu, hoặc có vai trò ít quan trọng kiểu “vai ngoại chính” hoặc nhân vật bất chợt được tìm đến chỉ cho việc dàn-dựng sân-khấu.

 Thánh Phaolô tự gọi mình là tay “khùng điên” vì Đức Kitô: mà cụm từ “khùng điên” ở đây mang nghĩa ở các vở hài dành cho khán giả thuộc cấp thấp chỉ là anh hề sân-khấu chuyên nhắp miệng bắt chước các nhân vật chính có trong kịch mà thôi. Nhân vật như thế được dàn dựng là để diễn thay cho nhân vật nào đó trong kịch thể theo hiệu lệnh và sở thích đặt nơi vai trò nhái miệng cho giống với kịch hài, rất buồn cười. Thật ra, ông cũng hơi giống anh hề sân khấu một đôi chút. Cả khi nói về “sự khùng điên của thập giá” đi nữa, ông cũng chỉ muốn đượm tính hóm-hỉnh coi đó như cái giá cứ kè kè bên cổ. Quả, đây có một chút tính “truyền thống” như vẫn thấy ở văn hoá Hy Lạp đến nỗi cả Socrates lẫn Êsốp đều có thể giữ vai trò ấy rất khéo léo, và nhờ đó góp phần làm nên vở hài, tựa thế thôi. (x. L. Welborn, 2005).

 Cũng nên suy thêm một chút để có thể nói được rằng: không một ai –kể cả thánh Phaolô- ngay từ đầu, lại nghĩ rằng các thư viết theo thể loại như thế lại trở thành “Kinh Sách” để đưa vào “Tân ước” để mọi người tin. Đó cũng chỉ là các thư được ghi chi tiết lúc này lúc khác, thế thôi. Không giống như tác giả khác ở Tin Mừng, thánh Phaolô chẳng bao giờ giấu tên giấu tuổi mình là tác giả của các tài liệu đề ra như thế.

 Cũng nên nhớ: phần lớn các thư do chính thánh Phaolô viết, là để giải đáp các câu hỏi gửi về thánh nhân theo dạng thư, do thành viên cộng đoàn muốn hỏi về một số luật lệ hoặc thói tục, thôi. Cũng đừng nên lưu giữ các thư như thế vào sổ bộ như đồ gia bảo … Và nên biết: các thư do thánh Phaolô soạn là để đọc lớn cho cộng đoàn nghe, bởi mục đích thánh nhân viết thư là để trả lời cộng đoàn về các câu hỏi từng nảy sinh. Nói tóm lại, rất nhiều vị trong cộng đoàn thời đó không biết đọc biết viết nên mới cần thánh nhân giải đáp các vấn đề mình cần biết…

                                                                         ——-

    Thánh Phaolô và kinh nghiệm thành hình đời đi Đạo

 Ngay từ đầu, thánh Phaolô là người Do thái, và mãi mãi ông cũng sẽ là người Do thái. Ông chưa bao giờ hồi hướng về với đạo giáo nào khác. Và, ông cũng chẳng bao giờ là người Công giáo theo đúng nghĩa, bởi Công giáo thời bấy giờ làm gì đã thành hình sớm như thế. Có thể gọi ông là Kitô-hữu -nếu ta muốn hiểu cụm từ này như dịch danh xưng những “kẻ theo Đấng Thiên Sai”– (tức cụm từ chỉ các kẻ tin vào Đức Giêsu). Cộng đoàn Antiôkia là một trong các cứ điểm mà thánh Phaolô hăng say làm việc nhiều hơn hết. Quả, làm việc với cộng đoàn ở đây, thánh nhân cũng gặp nhiều trắc trở với giới lãnh đạo; nhưng cuối cùng, thánh nhân cũng đã tách ly, không còn làm việc ở đó nữa. Và, từ bấy giờ, thánh nhân đã phải minh định lại từ ngữ nói về thuyết “Thiên Sai”, theo chân CHúa.

 Thánh Phaolô chưa từng gặp mặt Đức Giêsu đến một lần, trong quá trình Chúa sống ở cõi trần. Thánh nhân có nghe nói về Ngài, phần lớn là qua lời thánh Phêrô, nên ông biết là Đức Giêsu đã chết và đã sống lại và Ngài sẽ lại tái lâm, rất sớm có lẽ vào thời thánh nhân còn tại thế. Thánh Phaolô thừa hiểu là dân con Hội thánh khi nói về việc Chúa quang lâm đều hiểu theo nghĩa đen, rất thực tế. Ông cũng biết, cộng đoàn của ông được lập ra là để quây quần huớng về Chúa và chờ đợi ngày Ngài quang lâm, thêm lần nữa. Các thánh thời tiên khơi nhìn toàn bộ cuộc sống của Đức Giêsu như kiểu mẫu rất xứng đáng, nên các ngài rất thông cảm cho nhân loại, vẫn chờ đợi xem con người rồi sẽ ra sao, mãi về sau. Theo các thánh, Đức Giêsu quả là “A-đam mới”, “Con người mới” đáng kính phục. Thật ra, các thánh cũng ý thức được sự cần thiết phải kết hợp với Chúa hiện diện với các đấng theo cung cách cũng rất lạ. Các thánh được khai tâm về việc này phần lớn là nhờ nghi thức thanh tẩy và tiệc lòng mến. Thông tin mà thánh Phaolô có được về chuyện này,là do từ người khác. Bởi lúc đầu, bản thân thánh Phaolô cũng không ưa thích các loại hình như thế. Vì thế nên, những điều được thánh nhân nhấn mạnh trong thư cuối cùng cũng khác với những điều do thánh nhân thực hiện qua nghi thức lễ/tiệc ấy.

 Nếu hỏi rằng: người theo Chúa có chấp nhận thánh Phaolô về với cộng đoàn mình không? Thật ra, cũng khó mà trả lời chính xác. Ở Tin Mừng thánh Máccô, ta thấy xảy ra “sự việc” ít thấy trong đời sinh hoạt công khai của Đức Giêsu là: hôm đó, có một người thực hiện việc chữa lành người tật nguyền và trừ quỉ nhân danh Đức Giêsu và cũng theo kiểu Chúa và môn đệ Ngài từng làm, dù ta có gọi việc đó là phép lạ hay không cũng chẳng thành vấn đề.

 Vấn đề xảy ra khi ấy, là: một số tông đồ nòng cốt những muốn hạ bệ ông và các người có lập trường tương tự; nhưng khi ấy Chúa đã phản bác ý kiến này và truyền cho các thánh tông đồ cứ để họ làm, dù họ không thuộc nhóm của các thánh. Bởi, nếu những người này làm được điều tốt lành và theo kiểu tốt đẹp, thì cũng đâu có gì là sai quấy. Theo thiển ý, thánh Máccô khi kể lại tình huống vào lúc ấy là để đưa ra một thẩm định về sự việc rất gần gũi vào thời và nơi chốn mà thánh sử sinh sống. Bởi, thánh Máccô viết Tin Mừng là viết tại Rôma vào những năm 70 sau khi Chúa về Trời.

 Do đó, tôi thiết nghĩ, các thừa-tác-viên đồng hành với thánh nhân đã thực hiện công cuộc mục vụ rất tốt, nhưng lại không được lòng tông đồ trụ cột như thánh nhân và đồng sự của thánh nhân, là phụ nữ. Các vị nữ lưu này không có đủ quyền bính như các đấng bậc trụ cột ở Giêrusalem tựa như thánh Phêrô, Giacôbê và thánh Gioan nên không được phê chuẩn. Thêm vào đó, nhóm của các ngài chỉ gồm có thánh Phaolô và các thừa-tác-viên nữ như chị Phôbê, Chloê, Priscilla, vv.. Nói tóm lại, điều đó cho thấy các vị này đã làm nhiều điều tốt đẹp không chỉ ở Akaia thôi, mà cả ở La Mã cho cộng đoàn dân Chúa sống tại đây. Thánh Máccô còn nói: hãy để họ làm như thế, vì họ đang làm những việc được Chúa khích lệ. Duy có điều, là: thánh Máccô không đại diện cho tất cả các nhóm Đạo Chúa vừa phát triển, nên đó mới thành chuyện.

 Thánh Phaolô có kinh nghiệm đổi đời thoạt vào lúc Chúa sống lại và Chúa đã tỏ hiện cùng thánh nhân qua một thị kiến lớn xảy đến với thánh nhân trên đường ngài đi Đamát. Chính vì thế, mà sau đó thánh nhân mới trở về Ả Rập, tức vùng Nabatêa nằm về phía Đông Nam của Đamát, suốt 2 hoặc 3 năm liền để tự chứng tỏ là ông đã trải nghiệm được điều mà Giáo hội gọi là “Con Đường đi Đamát”. Chừng như thánh nhân cũng quay lại Đamát sống một vài năm san sẻ với các tín-hữu ở đó những gì mà thánh nhân đạt được, ngõ hầu mọi người có thể thông hiểu đời của Chúa, nhất là sự việc Chúa sống lại đã rõ rành rành. Về sau, thánh nhân lên đường đi Giêrusalem suốt 15 ngày ròng rã là để gặp các lãnh tụ chóp bu con dân của Chúa sống ở Giêrusalem và nghe biết về Chúa nhiều hơn nữa. Tiếp đó, thánh nhân đi Antiôkia và trở thành một phần của cộng đoàn dân con Đức Giêsu ở đó. Được Hội thánh ở đây đỡ đầu, thánh Phaolô trở thành vị thừa sai năng nổ suốt mười hai năm hoặc hơn nữa, tại các thí điểm mục vụ như: Syria, Cicilia (tức một phần của Thổ Nhĩ Kỳ) như mọi người đều biết. Và ở đãy, thánh nhân miệt mài làm việc với các vị chưa trở thành Do thái nhưng vẫn tin vào Đức Giêsu cũng như tin Thiên Chúa của Ngài. Chính vào giai đoạn này, chừng như thánh nhân cũng làm việc tại Galatia khoảng chừng vài ba năm thêm nữa, nhưng không thành công cho lắm.

 Dù thế, Giáo Hội Giêrusalem cũng đã phát triển lan rộng sang nhiều chốn miền khác như Lyđia, Jôppa, Xêdarê, Siđôn… Cuối cùng, thánh nhân buộc lòng phải về lại Giêrusalem để có cuộc họp thượng đỉnh với thủ lãnh Giáo Hội hầu bàn về tình hình người anh em ngoại giáo nay hồi hướng quay về với Đạo Chúa. Ở đây nữa, thánh nhân đưa ra đề nghị và đã được công nghị chấp thuận là: những ai vừa mới hồi hướng trở về với ràn chiên của Chúa không cần phải qua thủ tục “cắt bì” như người dân Do thái vẫn làm. Thành thử, vấn đề hỏi rằng: các vị này có cần thiết phải trở thành người Do thái trước đã rồi mới được làm tín hữu Đức Kitô, không?

 Nhiều người nghĩ, trả lời cho câu hỏi trên phải là: Có! Ai cũng cần làm việc ấy và phải giữ luật Torah về chế độ ăn uống các thức ăn tinh khiết. Thánh Phaolô chủ trương không cần thế, và ông đã thắng cuộc. Có lẽ có người lại cho rằng ông đã mua phiếu của các lãnh tụ Giáo hội ở Giêrusalem, đó là chuyện rất thường xảy ra ở Trung Đông, nghĩa là chỉ cần thuận đem về cho Giêrusalem thành quả quyên góp được từ cộng đoàn kiều dân sống tản mác ở ngoài đem phân phát cho người nghèo khó ở nơi đó, là xong. Vị thủ lãnh nào ngửa tay nhận quà như thế, mà lại không đền đáp bằng quà chuẩn thuận với thánh Phaolô, sẽ bị giới chức ở rong cuộc coi như người thiếu lễ giáo hoặc xã giao lịch thiệp. Tuy nhiên, chẳng mấy chốc, một số lãnh tụ trong đó có thánh Phêrô và thánh Giacôbê lại đã bội ước bèn rút lại sự đồng thuận về chính sách mà thánh Phaolô chủ trương, đặc biệt đối với cộng đoàn sinh sống ở Antiôkia. Cũng xin mở dấu ngoặc ở đây để nói thêm, là: bà con phải nhận ra rằng ở miền Cận Đông thời trước và có lẽ ngày nay vẫn còn tiếp tục cả ở Trung Đông, chẳng mấy ai thắng hoặc bại một cách triệt để hết. Bởi, người thua cuộc cũng sẽ đoạt lại chút gì đó, sau khi bị coi như đã đại bại. Và qua đó, hẳn cũng có người sẽ vội kết luận rằng: toàn bộ Giáo hội tiên khởi như được bảo bọc bằng thứ “bom nổ chậm” sẵn sàng nổ bùng bất cứ lúc nào. Đúng thế. Và khi xảy ra những chuyện như thế, chắc chắn sẽ có luồng hơi lạnh vụt bốc theo chiều hướng khác nhau… Kết cuộc là, thánh Phaolô đành tách ly khỏi các đấng bậc này, và nhất là tách rời khỏi thánh Banaba người từng là bạn đồng hành cộng tác với ông trong nhiều công tác mục vụ vào dạo trước. Cuối cùng, thánh Phaolô đành đi theo con đường mình vạch sẵn như một thừa sai biệt lập chỉ khẳng định quyền bính tư riêng trực tiếp có từ Đức Giêsu thôi.

 Và như thế, thánh Phaolô là nhà hoạt động cho tự do để trỗi dậy. Thánh nhân còn là nhà cách mạng bảo vệ quyền tự do có trách nhiệm cho con người. Thánh nhân không chỉ là người tái tạo thị kiến lớn về cộng đồng nhân loại, nhưng là người sáng chế ra nhãn giới ấy và thực hiện nó cũng rất đạt.

                                                                         —

 Thánh Phaolô và địa hạt tư riêng do mình tạo

 Kể từ đó, thánh Phaolô rời bỏ thế giới Cận Đông để đi xa, xa hơn nữa tập trung vào Châu Âu, cũng rất lâu. Có một khoảnh khắc rất phút chốc về Đạo Chúa, đặc biệt là lịch sử của châu Âu, giống như vậy. Bằng nhiều cách khác nhau, ta có thể khẳng định rằng: chính thánh Phaolô là người tạo cho châu Âu một ý nghĩa của tự do chưa từng có trong lịch sử, cả những tháng ngày lịch sử Hy Lạp. Đó là sự tự do con cái Chúa, ta cần nhớ.

 Lúc đầu, thánh Phaolô đến Maxêđônia, đã đi thẳng vào thủ phủ Thessalônikê và Philíphê. Sau đó, thánh nhân mới tiến về thị trấn Akaia quan trọng nằm ở phía Nam Hy Lạp như A-ten và Côrinthô, điều đó có nghĩa là đã đi vào với trung tâm của văn hoá Hy Lạp đã thuần thành với La Mã. Thời gian tạm lưu tại thủ phủ khác ở châu Á là Êphêsô, có nghĩa là thánh nhân đã đặt mình vào với các thị trấn đang đến hồi đi lên thuộc Trung Đông, lúc đó. Thành thử, có thể nói mà không sợ sai lầm rằng: ông là nguời thành thị. Ông đến với thị thành theo con đường rộng lớn nối kết Đông-Tây hoặc các hải cảng quan trọng, ở đó có nhiều trung tâm mậu dịch và di trú. Thánh Phaolô tự coi mình như đã làm hết tất cả ở nửa phần phía Đông của đế quốc La Mã và đã hướng tầm nhìn về phía Tây của đế quốc này, là Tây Ban Nha. Thật ra, ông chưa một lần đặt chân lên đất nước Tây Ban Nha bao giờ cả. Nhưng, lại có mặt ở nhiều trung tâm lớn khác từng chịu ảnh hưởng của nền văn minh đế quốc La Mã đặt nặng lên các miền có nền văn hoá, chính trị và kinh tế kiểu Hy Lạp, cũng như Âu Châu.

 Thánh Phaolô cũng đã định cư –nếu gọi được như thế- đặc biệt ở các thủ phủ như Côrinthô, Êphêsô và cuối cùng lại đã dậm chân tại chỗ, đóng đô ở La Mã nhiều tháng ngày ở nơi đây, ông đã có hồ sơ dày đặc với cảnh sát, cũng nhiều năm. Ba năm tù đày ở Côrinthô. Ba năm khác bị nhốt ở Êphêsô và thêm ba năm nữa lại cũng bó chân ở La Mã, cũng không chừng. Các nơi khác ở châu Âu, ông chỉ ghé qua đôi ngày rồi thôi. Có nơi chỉ vài tuần là nhiều nhất.

 Thánh Phaolô rất muốn đi Tây Ban Nha. Nhưng theo tôi, ông chưa từng đặt chân đến đó, dù chỉ một lần. Và cũng không ai nắm chắc là: khi ấy ông có còn giữ ý định đến đó nữa hay không. Bởi ông có đến, cũng chẳng ai hiểu được tiếng Hy Lạp để được nghe ông giảng về thần học Đức Kitô theo nhãn giới của ông. Tại Tây Ban Nha, thật ra cũng chẳng có hội đường nào dành cho người Do thái hết. Chẳng có nhóm hội nào kính sợ Chúa, đến được nơi này. Những người được thánh nhân lân la tiếp xúc và giảng giải, thường ở các nơi khác, chứ không phải ở tại phần đất này.

                                                                         —

 THIẾT LẬP LỊCH TRÌNH ĐI ĐỨNG RẤT TUẦN TỰ

 Thứ tự thời gian của các thư do thánh Phaolô viết cũng khác thứ tự thời gian thánh nhân từng hiện cuộc lữ hành đi khắp chốn. Thông thường, thánh nhân đi đâu về nơi nào bao giờ ông cũng viết thư phúc đáp gửi các cộng đoàn do ông thành lập hoặc đã thăm viếng (có lẽ khá nhiều). Hầu như tất cả các thư do thánh nhân viết cho cộng đoàn Côrinthô hoặc Êphêsô đều diễn tiến vào mùa nghỉ đông ở vùng đó. Trong Tân ước, thứ tự các thư do thánh nhân viết không cho thấy thứ tự thời gian, mà chỉ sắp xếp theo thứ tự thư dài đăng trước thư ngắn xếp sau, cuối cùng là thư ngắn nhất trong các loại. Ở đây, tôi sẽ sắp thư do thánh nhân viết theo thứ tự thời gian vào lúc thánh nhân thực hiện cho thư ký chép, như sau:

             Thư 1 Thessalônikê

            Thư Philíphê

            Thư 1 & 2 Côrinthô

            Thư Gálát

            Thư Rôma

 Còn, thư Philêmôn và các thư khác, không nhất thiết phải theo thứ tự thời gian hoặc theo kiểu dài ngắn như khi thánh nhân nói chữ “tôn huynh” ở thư Rôma, là ám chỉ những người có tuổi từ 49 đến 56, thôi. (x. Gregory Tatum, op New Chapters in the Life of Paul: the Relative Chronology of his Career, 2007)

                                                                   —

 TẨY SẠCH NGỘ NHẬN VỀ THÁNH NHÂN

 Bài này, chỉ là giòng chảy thông tin về thánh Phaolô mà tôi đề cập hồi năm thánh 2008 mừng kính ông. Nhưng tới nay, bản thân tôi vẫn chưa nói rõ thánh Phaolô thực sự là ai? Loại người nào? Cũng xin bà con mọi người hãy kiên nhẫn, bởi năm thánh Phaolô chỉ mới xẩy ra không lâu, còn vang vọng nhiều năm hơn nữa. Ta chẳng thể nào biết thánh Phaolô là ai cho đến ngày Đức Giêsu sống lại và gặp thánh nhân qua một thị kiến vĩ đại xảy ra trên đường đi Đamát, tiễu trừ dân con Đạo Chúa. Sự kiện ấy, không chỉ biến đổi cuộc đời của thánh nhân thôi, mà còn cải hoán cả tính chất rất Phaolô nữa.

 Ở đây, tôi muốn ghi thêm đôi giòng đề nghị ta tìm kiếm những gì thực tiễn khi bàn về nhân vật Phaolô lịch sử. Có lẽ cũng không cần dừng lại ở đây như những người chủ bại thôi không còn muốn tưởng tượng về vị thánh độc đáo mà nhiều ảnh hình cứ lởn vởn quanh ta, suốt nhiều năm. Chẳng hạn, nhiều người cứ tưởng thánh nhân là người bài bác dân Do thái. Không có gì chứng minh chuyện ấy đích thực là thế. Quả, thánh nhân khi xưa cũng đòi cho nữ giới trong cộng đoàn của ông được bình quyền và có cơ hội đồng đều không thua nam giới. Có lẽ, cũng nên thử nhìn vào tình hình các bậc nữ lưu có vai trò đặc biệt trong cộng đoàn Phaolô như các chị Chloê, Phôêbê, Giu-ni-a, Ê-vô-đi-a, Xin-ti-chê, Ap-pia (ở Côlôsê), Priscilla… Thật ra, ta cũng thấy một số văn bản còn nằm trong ký ức của nhiều vị cứ diễn giải theo cung cách trái ngược với những gì ta nghe biết. Có lẽ, vì thế, cũng nên nói đôi chút về các sự kiện như vậy, ở đây.

 Trong bức thư nọ, thánh Phaolô khuyên các phụ nữ hãy giữ im lặng nơi thờ phượng và không được phép dạy dỗ ai hay giảng giải điều gì. Nhưng, văn bản này lại xuất từ một trong các thư thấy có vào giai đoạn cuối đời ông (tức rút từ thành phần các thư mục vụ) chứ không phải do một thánh Phaolô theo tính sử-học viết ra. Trong văn bản khác, thánh nhân lại khuyên các nam nhân trong cộng đoàn do ông thành lập ở Côrinthô đừng để tóc dài, còn nữ giới cũng không nên để tóc ngắn. Ở đây, ta cũng nên thận trọng với bối cảnh của văn bản nói như thế. Bởi, Côrinthô thời ấy, nam nhân đồng tính luyến ái thường để tóc dài và nữ giới đồng tính vẫn thường để tóc ngắn. Và, tại các thị thành thắp đèn mầu đỏ ở nhiều chỗ trong các thị trấn nhỏ như Côrinthô lúc bấy giờ, thường những người như thế không được trọng vọng. Trong khi đó, thánh Phaolô lại cứ muốn thành viên cộng đoàn do ông lập phải cho đi và nhận lãnh trọn vẹn sự tôn kính từ mọi người; chính vì lý do đó thánh nhân mới ra chỉ thị như thế với Kitô-hữu sống ở đó, lúc bấy giờ. (xem Crossan and Reech, In Search of Paul, 2004, nói về vấn đề này rất thoáng.)

 Ở đây, cũng cần nói thêm, là: thời thánh Phaolô, vai trò của vị “linh mục/tư tế”, “giám mục/ chủ quản”, và cả “Đức Giáo Hoàng” vẫn chưa chính thức thành lập. Thật sai lầm theo sử học nếu cứ coi thánh Phaolô như một linh mục hoặc giám mục. Chắc chắn thánh nhân không là vị Đạo trưởng hay Giáo Hoàng. Ông cũng chẳng là thầy tu kiểu khắc kỷ, sống trên núi.

                                                                         —

 TÓM LƯỢC

 Toàn bộ bài này, tập trung suy tư về Saulô người Do thái sống ở Tarsus, tức thánh Phaolô theo chân Đức Giêsu đã chấp nhận cái chết và đã sống lại. Trong phút chốc, ta hãy coi ông như một nhân vật có phong cách rất tư riêng, một người không theo nghi thức Antiôkia của phương Đông, một kiều dân Do thái tin vào Đức Giêsu, nhà lữ hành vĩ đại, người sáng lập nhiều cộng đoàn dân Chúa, và là cây viết tài tình và trên hầu hết các tác giả Tân Ước, ông đích thị là người tin vào Đức Giêsu đã chết và đã sống lại trong vinh hiển.

                                                                       —

 THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP CỦA THÁNH NHÂN

 Năm sinh: có lẽ vào năm thứ 6 trước Công nguyên

Nơi sinh: thành Tarsus, thuộc gia đình Do thái khá bảo thủ, gần như cùng thời với Đức Giêsu

Năm ông qua đời: có thể là năm 64 sau Công nguyên (dưới triều Nêrô)

Nghề nghiệp: Doanh thương (ngành da)

Học vấn:        Học Kinh thánh từ người Do thái tại nguyện đường, nhưng ông vẫn qui về bản 70 tiếng Hy Lạp. Ông không theo trường lớp nào hết nhưng lại rất giỏi về tư tưởng Hy Lạp nhờ các triết gia từng du thuyết và nhất là các nhà thỉnh giảng đến Tarsus, xứ của ông. Có thể nói, ông là người Biệt Phái xứng đáng với danh hiệu này. Có lẽ ông không học ở Giêrusalem dưới thời Gamaliel; trước ngày ông “hồi hướng trở lại”, tín hữu Đạo Chúa ở Giu-đêa không ai biết đến ông. Ông không là người bách hại Hội thánh ở Giêrusalem. Khi thánh Stêphanô bị ném đá đến chết, ông không có mặt ở nơi đó.

 Ngôn ngữ sử dụng: tiếng Hy Lạp, nhưng không viết giỏi ngôn ngữ này. Ông cũng biết đôi chút tiếng Hip-ri, A-ram và La tinh.

 Ngoại hình: người lùn tịt, râu tóc gọn gàng như mọi người

Các tranh vẽ trên da và cả trên đá tìm được ở Thổ Nhĩ Kỳ năm 2006, nhất là bản vẽ do nông gia nọ làm chủ, có chi tiết ngày giờ rải rác đây đó. Nông gia ấy đi Êphêsô gặp thánh Phaolọ, nhà thuyết giảng đại tài. Thánh Phaolô, người nhỏ thó, đứng ngang tầm với trẻ nhỏ. Ông thường ngồi lên bàn mà giải dạy. Nông gia nọ có vẽ hình ông lên đá. Ông quả thật là người lùn. Và, đây có thể là điều ông có nói đến qua chữ “tâm tình” trong thư thứ hai gửi tín hữu Côrinthô. Ông là người bé nhất trong số các tông đồ của Chúa. Khi đứng thẳng, ông chỉ ngang tầm ngực thánh Phêrô, thôi. Ai ai cũng có thể kiểm chứng điều này qua những gì còn giữ lại trong quan tài bằng đá tìm được ở Rôma (xem phần “Nơi qua đời”, ở bên dưới.

 Tình trạng hôn phối: có lẽ ông cũng có vợ

Ơn gọi: là tông đồ của Đức Ghiêsu chịu chết và đã sống lại

Quyền bính: Trỗi dậy nhờ đụng mặt Chúa qua thị kiến với Đức Giêsu-Chịu-nạn-và-sống-lại

Mục vụ: thiết lập nhiều cộng đoàn kẻ tin Đức Giêsu trong thế giới ngoại giáo đang lan rộng

Công tác giám sát: Hội nghị các tông đồ ở Giêrusalem

Địa hạt công tác thực thụ:

                        Ở miền Đông Địa Trung Hải (Ả Rập, Syria, Cicilia)

                        Miền Tiểu Á (Galatia, Á Châu = Êphêsô)

                        Akaia (Côrinthô)

                        Illyricum

 Dự định công tác: ở Tây Ban Nha, nhưng chưa dạt ý nguyện

                        Có thể, thánh Phaolô nghĩ nơi đó là Bithynia và Pontus, cửa ngõ vào phía Đông

(Babylon? Parthia?)

Phương tiện di chuyển lúc đầu: đi bộ, rồi đi đường biển

Mục đích đến cộng đoàn: để ghé thăm, làm sứ giả, và viết thư (đọc cho người khác viết)

Hồ sơ ở tù: cũng khá dày (đặc biệt thời gian ở tù tại Êphêsô, Giêrusalem, Rôma)

Sinh hoạt khác: Gây quỹ cho người nghèo ở Giêrusalem góp từ các cộng đoàn ngoại giáo

Sức khoẻ: Khá dũng mãnh

Nơi Ông qua đời:

Tháng 12 năm 2006, các nhà khảo cổ đã khai quật một quan tài bằng đá được hiểu là trong đó chứa đựng hài cốt thánh Phaolô chôn bên dưới thánh đường hiện nay là Vương Cung Thánh Đường Thánh Phaolô, ở Rôma.

Advertisements
%d bloggers like this: