CHUYỆN PHIẾM ĐẠO ĐỜI (TẬP I)

Chuyện Phiếm Đạo Đời Tập I

Trần Ngọc Mười Hai (Mai Tá)

THAY LỜI TỰA

Điều hiển nhiên, ĐẠO là ĐƯỜNG chứ chắc chắn không thể là Pháo Đài vì rằng một khi là Pháo Đài thì sẽ không còn là ĐƯỜNG NỮA. ĐƯỜNG ĐI là để dành cho mọi người. Có người đi bộ, người đi xe, cho dù là xe đạp, xe gắn máy hay ô-tô, thế nhưng ai cũng đều có quyền ĐI, có thể đi chậm hay đi mau tùy ý, nhất nhất không thể đứng lại, xây thành lũy pháo đài vì như vậy là gây cản trở, là GIẾT ĐẠO, chứ không còn là đi ĐẠO nữa.

Tính chất SỐNG của ĐẠO là như vậy và khi nói đến SỐNG là nói đến ĐỜI SỐNG. ĐỜI ĐẠO hay ĐẠO ĐỜI không thể trong thế đối lập, trái lại trong thế hội nhập. Trong ĐẠO có ĐỜI và trong ĐỜI có ĐẠO.

Có lẽ từ ý niệm đó mà vào cuối thập niên 60, một số tu sĩ thuộc Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế Đà Lạt  – qua ban Hallêluyah – đã làm dấy lên một phong trào NHẠC VÀO ĐỜI với những nhạc phẩm có nội dung kinh thánh sâu sắc; thế nhưng, lại khoác bên ngoài bằng những nhịp điệu trẻ trung và vui tươi được giới trẻ lúc bấy giờ coi là thời trang như Slow Rock (Vào Đời), Twist (Người Gieo Giống), Swing (Trên Đường Emmau), A gogo (Chúa Yêu Trần Thế), vv…

Điều đáng nói, Trần Ngọc Mười Hai lại là thành viên của ban Hallêluyah. Chả trách gì, mà ý niệm ĐẠO vào ĐỜI đã đâm rễ sâu trong con người bản thân. Đó là động lực để Trần Ngọc Mười Hai đưa ĐẠO vào ĐỜI. Thế nhưng, trong hoàn cảnh cá nhân, không bằng phương tiện âm nhạc nữa, mà bằng một thể loại văn chương có nhiều khả năng lôi cuốn người đọc  – đó là CHUYỆN PHIẾM -  để chuyển tải những xác tín, những giá trị, những căn bản của Tin Mừng mà trong suốt gần 20 năm, Trần Ngọc Mười Hai đã lĩnh nhận trong quá trình được đào tạo trong Dòng Chúa Cứu Thế với các Linh mục giáo sư Nguyến Thế Thuấn (Kinh thánh), Đinh Khắc Tiệu (Thần Học), Nguyễn Ngọc Lan (Triết học)…

Vì rằng, là Chuyện Phiếm, cho nên đề tài được Trần Ngọc Mười Hai chọn lựa rất gần gũi với cuộc sống thời thường mỗi ngày. Có thể, đó là “Ấy là kể chuyện”, “Em còn nhớ hay em đã quên”, “Tôi xa Hà Nội năm lên 18 khi vừa biết yêu”, “Để lại cho em này những buổi chiều”, “Có chăng thần học dục tình?”…

Thế nhưng, tất cả những chuyện có tính … “đời thường ở huyện” đó lại được ánh sáng Tin Mừng sọi dọi. Trước những trăn trở, dằn vặt của cuộc sống, TIN MỪNG chính là ánh sáng dẫn đường và khi chọn phương tiện chuyện phiếm để bộc bạch nỗi niềm, chắc hẳn Trần Ngọc Mười Hai chỉ có mục tiêu đó.

Hy vọng mục tiêu này sẽ được quảng đại độc giả khắp nơi chia sẻ và có lẽ chỉ cần một vài độc giả nào đó -qua những chuyện phiếm rất gần gũi với ĐẠO, với ĐỜI- có thể bỗng chốc nhìn thấy một tia sáng nào đó soi dọi ĐỜI mình và ĐỜI người, thì hẳn sẽ là niềm an ủi lớn lao cho tác giả Trần Ngọc Mười Hai.

Vũ Nhuận.

§1 – “ẤY LÀ KỂ CHUYỆN”

( Mt 16, 19; 6, 14 )

Cũng giống nhiều người khi lập gia đình, bần đạo có đủ tứ thân phụ mẫu. Ba vị hôm nay đã mãn phần. Còn lại mỗi nhạc mẫu, vẫn tại vì. Nhạc mẫu của bần đạo năm nay ngoài 90. Nhưng cụ vẫn khỏe, dù trải qua hai lần giải phẫu lớn. Cụ rất tinh tường và thông suốt. Rất dễ tính, chứ không như phần đông các cụ mà bần đạo thường gặp ở nhà bạn bè.

Điểm đáng kính phục nơi nhạc mẫu của bần đạo, là: cụ rất thích đọc sách/báo. Mắt cụ bị cườm nặng, nhưng cụ vẫn cứ đọc. Đọc không thấy mệt. Và, chẳng biết chán. Ban ngày đọc chưa đủ, cụ tranh thủ đọc cả vào ban đêm. Và vì đọc nhiều, nên cụ có thói quen thích kể cho con cháu nghe, về đủ thứ trên đời. Điều khác dễ thương nơi cụ, là: hễ thấy chuyện kể nào xem ra không hấp dẫn người nghe, cụ bèn phán: “Ấy là kể chuyện !”

Vâng. “Ấy là kể chuyện” hay chỉ đọc truyện kể, đều là những việc nên làm. Nên, chẳng phải vì đó là đề nghị của các bậc sinh thành, lúc trọng tuổi. Nhưng, đấy chính là động tác trí tuệ mà nhiều người thường sử dụng, trong cuộc sống. Mọi người đều làm thế từ hồi còn tấm bé. Vào tuổi lớn khôn, và cả vào những ngày sắp ra đi về nhà Cha, nhất nhất đều… “Ấy là kể chuyện !”

Trong cuộc sống, trẻ bé nào cũng được mẹ nâng niu đưa vào giường ru cho em ngủ. Mẹ kể cho em nghe những câu truyện thần tiên rất hay. Và hấp dẫn. Hấp dẫn đến độ bé chìm vào giấc mơ thiên thần hồi nào, không biết. Lớn lên, miệt mài cuộc sống, người trọng tuổi lại được bầu bạn cũng như báo chí – truyền thông kể cho nghe những chuyện đời. Chuyện dài thế kỷ về người đời. Và đời người. Chợt gần đến lúc giã từ trần thế, các cụ còn được con cháu kể cho nghe những câu truyện đẹp. Truyện vui an bình về cuộc sống miên trường trong Sách Thánh, nơi kinh Phật…

“Ấy là kể chuyện” hay đọc mỗi truyện kể, đều mang tính đa năng, rất thích. Có truyện nghe xong tưởng như là thật. Có truyện nghe đi nghe lại nhiều lần, vẫn cứ đinh ninh: chỉ là truyện kể.

Truyện dưới đây, do một vị cao niên kể về các sự việc “rất thật” của bà con anh em, hay chính mình trong cuộc sống thường tình, ở huyện:

Vào buổi tiệc vàng mừng 50 năm hôn phối của các cụ, con cháu nội ngoại quây quần bên nhau, rộn ràng dâng lời chúc tụng. Nào là: mừng Ông nội trường thọ ! Chúc Bà ngoại đắc phúc, đắc thọ, đắc nhân tâm. Bách niên giai lão v.v… Thôi thì, không biết bao nhiêu là từ ngữ thân thương, trang trọng. Bỗng chốc, trong đám con cháu có người trẻ muốn rút kinh nghiệm bằng câu hỏi nghe qua tưởng như xấc xược. Nhưng người trẻ chỉ muốn hỏi để áp dụng cho đời sống của chính mình:

– Thưa Ông/thưa Bà, sao Ông/Bà lại có thể sống chung với nhau lâu đến thế ? 50 năm gần gũi bên nhau Ông/Bà có bí quyết gì không ạ ?

Được hỏi, các cụ cũng chẳng ngại đáp lời. Cụ ông giành phần nói trước:

– Ấy, chung qui cũng do tự mình cả thôi, cháu ạ ! Nghĩa là, Ông đây lúc nào cũng quyết tâm học hỏi và cố gắng thực hành điều Chúa dạy trong Phúc Âm.

Chưa thỏa mãn, đám trẻ tiếp tục vấn kế:

– Thưa Ông, như thế nghĩa là thế nào ạ ?

Cụ Ông bèn nói tiếp:

– Thôi, để ông kể cho mà nghe. Này nhé, năm đầu khi mới lấy nhau, Ông quyết thực hiện lời Chúa dạy: hãy yêu người lân cận như yêu chính mình !…

Đám con cháu xem ra không mấy thuyết phục, lại hỏi tiếp:

– Thưa Ông, thế những năm sau đó thì sao ạ?

Cụ Ông đáp:

-Ấy… ba năm sau đó, ta cũng áp dụng lời Chúa, thôi. Ông nhớ, lời ấy như thế này: các con hãy yêu thương và thứ tha cho kẻ thù của mình!…

o0o

“Ấy là kể chuyện”, là như thế. Rất thật. Và cũng rất ư là không thật. Yêu thương và tha thứ không phải chỉ nên làm trong suốt 50 năm gần gũi, bên nhau mà thôi. Tha thứ và yêu thương hết mọi người, cả kẻ thù của mình, suốt cuộc đời nữa. Chuyện “tưởng như đùa” ở trên lại là chuyện rất thật. Sự Thật trăm phần trăm rút từ sách Sự Thật chứ không từ truyện kể, ở ngoài đời.

Vâng. Yêu thương và tha thứ. Đó chẳng là bí kíp hay bí mật, gì hết. Cũng không mang tính nghệ thuật nào cả. Nhất là nghệ thuật sống bên nhau suốt 50 năm trời, ròng rã. 50 năm keo sơn gắn bó với nhau, đó là chân lý để đời. Chân lý có niềm tin rất vững vào Đức Chúa của sự thật, Đấng hằng nhắc và dạy ta biết tha thứ và yêu thương. Đây không là bí kíp hay bí mật, nhưng là mệnh lệnh. Và, người Công Giáo chúng ta vẫn tuân lệnh ấy như triết lý sống động.

Vấn đề ở đây, hôm nay, là: trong 20 thế kỷ qua, Giáo Hội đã thương yêu và tha thứ, đủ chưa? Làm sao Giáo Hội có thể tha thứ người khác được, trong khi chính mình chưa dám tự nhận là mình cũng có lỗi lầm trong yêu thương và tha thứ như bất cứ người phàm nào khác? Giáo Hội ta đã nhận lỗi và xin lỗi chưa ? Đã xin lỗi những người ở cấp thấp hoặc nạn nhân của chính mình, chưa?

Trả lời điểm này, cần nhiều bàn thảo lâu dài; nhưng vào những ngày đầu thiên niên kỷ, có hai sự kiện tiêu biểu liên quan đến hành động nhận lỗi và xin lỗi, từ phía Giáo Hội. Trước nhất, là việc Đức Hồng Y Edward Clancy, cựu Tổng Giám Mục Sydney đã chính thức xin lỗi thổ dân Aborigines Úc Châu về các hành động “không phải phép” mà Giáo Hội sở tại đã làm với người dân nghèo hèn ở Úc. Sự kiện khác xảy đến ngay sau đó, là việc Đức cố Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô 2, lúc đương thời, ngài cũng đại diện cho toàn thể Giáo Hội Công Giáo, đã công khai xin lỗi mọi người về các việc Giáo Hội đã làm đối với người Do Thái, và Giáo Hội bạn.

Quả là, khi xin lỗi như thế, hai đấng bậc chủ chăn ở cấp cao, không mảy may sợ mất đi quyền uy sức mạnh, nào hết. Thế nhưng, nhìn từ góc cạnh nào đó, cử chỉ xin lỗi có một không hai của các ngài cho thấy đã có biến chuyển lớn trong Giáo Hội. Kể từ nay, Hội Thánh Chúa ở Sydney và Giáo Hội Công Giáo toàn cầu, sẽ tiếp tục đặt mình dưới sự soi sáng của Đấng mà toàn thể Hội Thánh, với tư cách là kẻ tin, vẫn tin tưởng và thờ lạy: Chúa Thánh Linh.

Đằng khác, với mặc khải:

“Này ngươi là Đá, và trên đá ấy Ta sẽ xây dựng Hội thánh của Ta, và quyền môn âm phủ sẽ không thể nào thắng nổi”. (Mt 16, 18)

Quyền uy vững mạnh như Đá Tảng được Chúa gầy dựng cũng đã một lần biết mình lầm lỡ. Rõ ràng, khi xưa “Đấng được gọi là Đá”, không đề cao cảnh giác đủ về tính cách “có thể lầm lỡ như người phàm”, đã được dặn dò như sau:

“Hết thảy các người sẽ vấp ngã vì Ta.”; để rồi, các ngài cứ khăng khăng: “cho đi mọi người đều sẽ vấp ngã vì Thầy, tôi sẽ không như thế bao giờ.”( Mt 26, 34 )

Và quả y như rằng, sau đó không lâu “Đá Tảng” Hội Thánh vẫn một mực chối biến: “Tôi không biết Người ấy.”(Mt 26:72) May thay, cuối cùng thì thánh nhân chực nhớ ra lời Thầy báo trước:

“và ra ngoài, ông khóc lóc rất thảm thiết.” (Mt 26: 75)

Nay, các “đá tảng” của Hội Thánh, từ năm 2000 nổi bật ấy, tuy không “khóc lóc thảm thiết’, nhưng các ngài cũng nhận là mình đã có lầm lỗi. Cũng đã xin lỗi nạn nhân đau khổ vì quyết định của các đấng bậc quyền uy, thuở trước. Và, cử chỉ của các ngài là một biến động lớn làm thức tỉnh con tim nhân loại.

Nêu ra đây hai sự kiện kể trên, bần đạo không có ý tạo dịp để chỉ trích bất cứ quyền uy rất thánh, nào hết. Chỉ gợi ý – hoặc bảo “ấy là kể chuyện” – để xác minh rằng: đức tính quan trọng mà kẻ có quyền có uy cần duy trì trong mọi tình huống, chính là: nhận lỗi đi đôi với tha thứ. Tha thứ không phải là hành động biểu tỏ uy lực của người nắm quyền vận mệnh nào đó. Nhưng, tha thứ chính là quyền uy sức mạnh. Là, chức năng ý nghĩa của quyền và uy ấy. Không tha thứ, thì chẳng thể nào thực hiện được quyền uy sức mạnh. Chẳng làm sao:

“tháo cởi – cầm buộc điều gì dưới đất.” (Mt 16: 19)

Tha thứ, không chỉ là ý nghĩa hoặc đặc điểm của quyền uy sức mạnh mà thôi, nhưng còn là mệnh lệnh. Tha thứ là đặc thù luôn sánh đôi với đặc tính thương yêu. Thương yêu người đồng lọai. Yêu thương cả kẻ thù mình nữa. Yêu không thôi, vẫn chưa trọn vẹn. Yêu và thương cần đính kèm hành động tha thứ rất chân tình, nữa. Tha thứ không miễn cưỡng. Tha thứ không bằng đầu môi chót lưỡi. Và, không tha thứ sẽ không chứng tỏ được là mình đã yêu và đã thương.

Vâng. Đấng phát hiệu lệnh “hãy yêu thương đồng loại như yêu chính mình” một lần nữa, đã khẳng định:

“Nếu các ngươi tha thứ cho người những điều họ sai lỗi,

thì Cha các ngươi, Đấng ở trên trời, cũng sẽ tha thứ cho các ngươi.” (Mt 6: 14)

Và,

“Cũng vậy, Cha ta, Đấng ngự trên trời, sẽ xử với các ngươi, nếu các ngươi mỗi người không thật lòng tha thứ cho anh em mình.” (Mc 11: 26; Mt 6: 14-15)

Ngõ hầu cùng nhau nói được “ấy là kể chuyện”, hôm nay xin gửi đến các bạn thêm một truyện kể khác. Truyện xảy ra hồi thế chiến thứ hai, do tác giả mang tên D.Z., viết như sau:

Ý Đại Lợi năm 1945.

Hồi cuộc chiến khốc liệt xảy ra vào năm đó, tôi vừa tròn 17. Vào ngày sinh của tôi, vẫn còn thấy đâu đó các cuộc chạm súng lẻ tẻ giữa binh sĩ Mỹ và Đức Quốc Xã, ở trong làng. Hôm ấy, là ngày cuộc chiến kết thúc ở Ý. Nhưng chúng tôi không hay biết gì hết.

Lúc ấy, có khoảng 10 tay lính Đức đang bố ráp nhà trại của chúng tôi. Lý do ? Là vì có nông dân nào đó đã cả gan bắn chết một người trong số họ. Để trả đũa, lính Đức bèn gom dân làng lại, tất cả có chừng 12 người, đem ra pháp trường bắn bỏ. Trong số các người này, có chị ruột của tôi. Họ bắt tất cả những người vô tội xếp hàng ngang, quay mặt vào tường. Và, họ chuẩn bị lên nòng. Nghe tin dữ, tôi chạy vội đến đề nghị viên chỉ huy hãy để tôi thay cho người chị yếu mềm và hẩm hiu kia. Quả thật, chị tôi đang có con nhỏ và chẳng bao giờ làm một việc tày trời như vậy. Và, họ bằng lòng cho tôi thay.

Không hiểu sao, lúc ấy thay vì úp mặt vào tường chờ lệnh, tôi lại ngẩng đầu lên quay mặt về hướng những người lính đang chờ hiệu lệnh. Tôi nhớ rõ từng nét mặt của các tay súng sắp giết người vô tội. Kìa, tất cả đều bơ phờ, mệt mỏi. Chừng như, họ đang đói và khát nước ghê lắm. Bọn họ toàn những thanh niên, tuổi còn rất trẻ. Cỡ chừng 16, 17 là cùng. Nhưng người nào người nấy đều biết cầm súng. Biết giết người. Tuy còn trẻ, họ nhất định sẽ theo lệnh, giết trọn 12 dân lành để trả thù cho một người trong họ, bị ám sát.

Thế rồi, vì quá bất ngờ, nên tôi không kịp cầu nguyện. Chỉ cố gắng nhớ được dăm ba tiếng Đức học lóm hồi còn ở trường nhỏ. Tôi đánh bạo lắp bắp vài câu với tên chỉ huy. Chỉ muốn biện bạch với anh rằng: chúng tôi không giết người Đức. Chúng tôi chẳng dính líu đến chiến tranh. Rất chán ghét cảnh giết chóc… Đang lúc vội vã và chao đảo, tôi chẳng biết tình hình rồi sẽ ra sao.

Bất chợt, tay chỉ huy ngạc nhiên khi thấy tên nhãi ranh như tôi, mà lại cả gan dám chống cự lính Đức Quốc Xã bằng ngôn ngữ ưu việt của chính họ. Suy nghĩ một hồi, tay này ra lệnh cho thuộc cấp rút khỏi hiện trường. Và, bỏ đi mất dạng.

Chiều đó, tiếng súng vẫn nổ rền, trong xóm. Sáng ra, vạn vật trở nên im ắng cách lạ thường. Tôi đã thấy nhiều xác chết nằm rải rác trong thôn làng: xác lính cùng với xác dân, nằm ngổn ngang khắp chốn. Bước vào, tôi chợt nhận thấy có nhiều lính Đức bị thương. Họ la liệt nằm quanh khu Nhà Thờ cổ. Một người trong họ nằm vất vưởng trên chiếc ba-lô rách mướp, đang lúi húi viết thư cho ai đó. Chừng như là vợ anh. Anh viết hồi lâu, nhưng vỏn vẹn chỉ mấy chữ:

“Em yêu dấu, có lẽ đây là lá thư cuối cùng anh viết cho em..”

Chỉ bấy nhiêu.

Viết xong, anh ký tên. Ghi rõ địa chỉ và nhờ tôi chuyển về quê cho anh. Tôi làm theo lời dặn, không đắn đo. Cũng chẳng thắc mắc. Tôi lựa lời an ủi anh trong vài phút. Sau đó, tôi tìm cách giúp đỡ vài người lính khác. Cố giúp đỡ được nhiều người càng tốt.

Về sau, tôi được tin về người lính nhờ tôi chuyển hộ thư cho vợ, đã sống sót. Thật có phúc. Nghe đâu, người ta đem anh về bệnh viện quân y, trên tỉnh. Nhưng, phải chịu ca mổ cưa mất một chân. Anh chấp nhận thân phận què quặt. Ít lâu sau, tôi nhận được một thư khác. Thư của người vợ lính mà tôi không biết tên. Trong thư, chị ngỏ lời cảm ơn tôi đã giúp chồng chị. Thật ra, tôi chẳng nhớ mình đã giúp được ai. Giúp những gì.

Hôm khác, tôi cũng được thư của một quả phụ người Đức, mà tôi chưa một lần quen biết. Bà hỏi tin về người con duy nhất của bà. Tôi biết rất ít về người con của bà. Chỉ biết, anh từng chiến đấu trong thôn làng nhỏ bé nơi tôi ở, thôi. Đành chịu, tôi chẳng tài nào nhớ nổi hiện anh lưu lạc ở nơi đâu. Chỉ mang máng nhớ, dường như có thấy bóng dáng của anh đâu đó, vào lúc chiến tranh vừa chấm dứt. Thế thôi.

Lúc ấy, anh cố lê gót chân gầy bước vào ngôi Nhà Thờ nhỏ, lặng thinh cầu nguyện. Anh thả hồn hiệp thông với ông cha xứ trong lời nguyện bằng tiếng La-tinh. Chỉ có thế. Chẳng tài nào nhớ được gì hơn. Cũng chẳng biết rõ chút gì về anh.

Cuối cùng, bà mẹ chiến binh ấy cũng tìm ra được mộ phần của người con xấu số. Nghe đâu bà là quả phụ giáo sư dạy sử, tại đại học Berlin. Ông bà độc nhất có mỗi anh là con trai.

Cứ thế, sau ngày cuộc chiến tàn lụn, tôi càng khám phá thêm được tình yêu của Chúa. Tôi nhận diện Ngài, qua những người mà trước đây tôi coi như kẻ thù của chúng tôi. Những người mà tôi đoán sẽ không đội trời chung. Tôi nghĩ về sự phi lý của chiến tranh mà tôi có dịp mục kích. Những điều xấu đã hằn in nơi đầu óc non trẻ của tôi, vào lúc ấy. Tôi đã chứng kiến những gương can đảm của người lính. Ở hai bên. Không phân biệt bạn hay thù.

Chiến tranh kết thúc, tôi có dịp gặp nhiều người trẻ. Và, tôi cùng với các thanh niên ấy tìm cách biến đổi các tiêu cực của cuộc đời thành những điều tích cực. Chúng tôi cố giúp những người trẻ đang chán hết mọi sự. Giúp họ tìm ra ý nghĩa của cuộc sống. Và, chúng tôi lập thành nhiều nhóm, giúp nhau duy trì lòng tin vào Chúa. Cũng giúp nhau đào sâu hơn niềm tin người Công Giáo. Chúng tôi mời nhiều diễn giả trên tỉnh, về mở cuộc hội thảo cho nhiều nhóm, nhiều người.

Một hôm, chúng tôi mời thành viên nhóm Focolare đến trình bầy về đời sống cộng đoàn. Và, sứ mạng Lấy Tình Thương Xóa bỏ Hận Thù. Mọi hoạt động đều nhằm cổ súy tình đoàn kết nạn nhân chiến cuộc. Chúng tôi nhấn mạnh đến sự bình an Chúa ban cho người chịu khổ đau. Cả những người còn hận thù, cay đắng nữa.

Nghe kể, tôi thấy như có gì đang chuyển động bên trong mình. Và, tôi khám phá ra rằng: tôi xác tín hơn về sự tha thứ. Xác tín rằng: tình thương yêu đồng loại bao gồm cả hành động tha thứ. Tha thứ không giới hạn. Tha thứ không mệt mỏi.

Ít lâu sau, tôi trở thành bạn thân, gần gũi diễn giả hôm trước. Hiện nay, tôi vẫn duy trì sức mạnh của sự tha thứ. Vì đấy là đặc thù của nhóm Focolare mà tôi là thành viên, rất thực. ( D.Z )

o0o

Vâng. Đấy là Thương yêu đùm bọc. Và cũng là thứ tha. Tình yêu ở đây không cao ngạo. Không đòi hỏi nhiều. Chỉ cần thứ tha. Cần, là để Thiên Chúa dễ làm việc nơi con người mình. Chúa làm trong yêu thương và tha thứ.

“Ấy là chuyện kể” ở đây muốn thêm một điều: Tha thứ là bằng chứng của tình yêu đích thực. Tha thứ, là tin vào quyền uy sức mạnh của Thiên Chúa. Đấng hy sinh trọn vẹn đời Ngài để tha cho các kẻ đang quay lưng phản chống lời Ngài.

Trần Ngọc Mười Hai

cầu mong cho mình và mọi người luôn nói

“ấy là kể chuyện” để rồi, sẽ thứ tha

§2 – NHỚ MÀ LÀM – LÀM MÀ NHỚ

(2Cr 11: 23-25)

Đã từ lâu, bần đạo có thói quen cũng hơi kỳ, là: hay tò mò theo dõi mục giải đáp thắc mắc trên các báo Đạo. Cũng tựa như mục “Giải đáp” trên báo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp do Lm Hồng Phúc phụ trách bao năm trời, từ hồi còn ở quê nhà. Nói kỳ, là bởi nhiều khi bần đạo chẳng có gì thắc mắc để cứ phải thưa cha với thưa cố, con không hiểu tại sao, vv và vv… nghe nó kỳ quá. Đi Đạo, Hành Đạo và giữ Đạo vẫn là chuyện thường ngày ở huyện, có gì phải thắc mắc, mà phải chình ình trên giấy. Ngộ nhỡ, ông cha nào thấy tên mình viết thư hỏi han, thấy cũng kỳ.

Ấy, cũng vì tò mò mà bần đạo gặp được những câu hỏi và trả lời đều rất “ngây thơ” vô tội, hoặc đã vô số tội mà còn ngây thơ. Thành ra, cứ để “cha” với “cố” phải bận tâm sưu tầm lục lọi sách vở mà xem lại, trả lời cho nó đúng bài bản.

Cụ thể là, hôm ấy câu hỏi là của một nữ giáo dân người Tây và người trả lời là Lm Brian Lucas, thuộc Tổng Giáo phận Sydney, Úc. Câu hỏi, đại để như thế này: “Thưa cha, có người hỏi con là có buộc phải đi lễ ngày Chủ nhật không? Ở miền quê, không có linh mục làm lễ, thì ta giải quyết làm sao?… “

Tôi nhớ, vị linh mục người Úc ấy có thói quen đi thẳng vào vấn đề và trả lời đại loại như thế này: “chiếu Giáo lý của Giáo hội Công giáo, theo điều khoản số 2177, 2178, 2179 2180, 2181, 2183 và 2185, thì: ta phải tuân giữ việc đi lễ các ngày Chúa Nhật như một luật buộc của Giáo hội Công giáo trên khắp hoàn cầu”. Rồi ngài linh mục phụ trách cũng không quên thêm thắt vài điều: nào là: theo giáo luật số 1247, thì các giáo dân phải tham dự thánh lễ theo nghi tiết Công giáo “, hoặc: phải đi lễ vào các ngày thánh tức Chúa nhật hoặc, các ngày lễ trọng. Có thể đi lễ Chúa nhật vào chiều hôm trước, tức thứ Bẩy sau 6, 7 giờ chiều… mới là đúng luật.”

Chao ôi! Vị linh-mục-rất-chức-năng hết trích dẫn các điều khoản này thuộc Giáo luật, vấn đề kia thuộc “Giáo lý” của Đạo. Để rồi, ngài kết thúc câu giải đáp bằng các cụm từ ‘cho đúng luật’. Nghĩa là, những luật và luật. Sống với xã hội ngoài đời, phải giữ đúng luật mới khỏi tranh cãi, chém giết. Còn trong Đạo, mới chỉ thắc mắc chứ có ai dám cãi tranh với các cụ nhà Đạo đâu, mà sợ có chết chóc với đấu tranh hoặc tránh đâu, cho khỏi .

Bần đạo còn nhớ, khi xưa hồi còn rất nhỏ đã nghe ông ngoại (vẫn có thói quen đi lễ nhà thờ hàng ngày từ 5giờ sáng), bảo rằng: các cháu mà không đi ‘nhà thờ’ ngày Chủ nhật, thì ma quỷ khéo cám dỗ nó lôi tuột xuống hỏa ngục đấy. Lúc ấy, thằng bé đã dám nói với ‘ông ngoại mình’ là các cô dì, chú bác trong nhà chẳng chịu đi lễ các ngày Chủ nhật, đâu thấy ai xuống hỏa ngục đâu. Và, thằng bé còn hỏi: hỏa ngục ở chỗ nào vậy, hả ông ngọai? Và, ông ngọai nói: thấy các cha bảo thế chứ có biết nó nằm ở nơi nào đâu, mà nói cho cháu biết.

Lớn lên, bạn bè bần đạo, nhân lúc mạn đàm ngày giỗ chạp, cũng đã kháo nhau rằng: đã đi dự lễ cưới, lễ mồ cử hành vào ngày thứ bẩy (trước 6. 7 giờ chiều) có buộc hôm sau phải đi lễ ngày Chúa nhật hay không? Nếu không, có mắc tội trọng như ‘ông ngọai’ bần đạo quả quyết không? Hỏi nhau mà không dám đưa lên mặt báo, sợ mấy ông cha trù ẻo. Đành, cứ lẳng lặng đi cả hai lễ, cho chắc ăn. Tuy nhiên, nhiều vị bảo: nghĩ lại cũng buồn cười. Chẳng biết có phải rượu nói hay không, mà sao câu hỏi nào cũng có chữ ‘phải’ hết. Bởi, đã nói đến ‘phải’ tức là đả động đến luật lệ rồi.

Bàn đến đây, bần đạo nhớ đến khung cảnh một buổi tinh mơ giờ lễ hôm ấy, cố giáo sư kinh thánh Lm NguyễnThếThuấn lúc ấy cứ thường xuyên khẳng định rằng thì là: Đạo của ta, dù có giáo lý giáo luật này nọ vẫn không phải là Đạo gò bó, bị ràng buộc bởi luật lệ… Nay, gặp lại chữ ‘phải’ trong những vấn đề có liên quan đến chuyện giữ Đạo, đến tham dự thánh lễ Chúa nhật, khiến bần đạo lại thêm vướng chân, bận tay với những câu hỏi khác dội về từ nơi đâu, xá tắp, như:

-phải chăng thánh lễ là việc ‘phải’ làm vào những ngày của Chúa, và các ngày nghỉ lễ?

-phải chăng vì chữ ‘phải’ trong Luật của Hội thánh mà giới trẻ ngày nay không còn ham thích đi lễ, nữa?

-thánh lễ ngày Chúa nhật có thành một thứ ‘cỏ vê’ (corvée) không đi không được? Và, đã lỡ đi rồi có được ra ngoài vừa tham gia vừa hút thuốc nói chuyện, được không? Hay đang dự lễ, nhưng đầu óc để tận đâu ..

-vậy thì, đâu là ý nghĩa tích cực của thánh lễ, nói chung?

-làm thế nào, để hấp dẫn được đám trẻ đi lễ thường xuyên hơn?

-và, có nên dọa nạt hoặc ra hình phạt này khác nếu bọn trẻ không chịu đi lễ nào hết?

o0o

Và, cứ thế hàng chục câu hỏi bạn bè có thể đưa ra, tùy thích. Nhưng phiếm luận ở đây, hôm nay chỉ để mạn đàm với nhau. Biết đâu, chắc cũng nảy ra một luận cứ nào đó khả dĩ làm mãn nguyện một số vị chức sắc trong giới lão làng nào đó, chăng?

Có lẽ ở đây, ta cũng chẳng nên định nghĩa hay định hình thánh lễ Misa, mà làm gì. Bởi, khi bắt đầu tìm hiểu Đạo Chúa trước khi chịu thanh tẩy, hẳn chúng ta ai cũng đã hơn một lần tìm hiểu và đã vỡ lẽ từ lâu. Có chăng, thì chỉ nên xem lại lời nhắn khi xưa, lúc mà Đức Chúa chấp nhận cuộc khổ nạn với quyết định lớn lao có ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại. Lời nhắn nhủ bảo ban kia chính là khúc đoạn Tin Vui An Bình mà thánh sử gia Mat-thêu ghi lại, như sau:

“Đương lúc họ ăn

thì Đức Yêsu cầm lấy bánh và chúc tụng

rồi bẻ ra và ban cho họ.

Ngài nói: hãy cầm lấy mà ăn, này là Mình Ta.

Đọan, cầm lấy chén và tạ ơn,

Ngài ban cho họ mà rằng:

Hãy uống chén này hết thảy;

vì này là Máu Ta,

Máu giao ước đổ ra vì nhiều người

để nên ơn tha tội.

Ta bảo các ngươi: từ nay Ta sẽ không còn

uống đến hoa quả giống nho này nữa,

cho đến ngày ấy, ngày Ta sẽ uống thứ mới

với các ngươi trong Nước Cha Ta.”

(Mt 26: 26-29).

Còn nữa, thánh Phaolô cũng đã có thư gửi đến giáo đoàn Co-rin-thô, trong đó ngài xác nhận:

“Chính tôi đã chịu lấy nơi Chúa

điều tôi truyền lại cho anh chị em là:

“Chúa Yêsu trong đêm Ngài bị nộp

Ngài đã cầm lấy bánh, và tạ ơn xong,

Ngài bẻ ra và nói:

Này là Mình Ta, vì các ngươi

hãy làm sự này mà nhớ đến Ta

Cũng vậy, về Chén, sau khi đã dùng bữa tối xong,

Ngài nói chén này là Giao ước mới trong Máu Ta,

các ngươi hãy làm sự này mỗi khi uống

mà nhớ đến Ta.” (1Cr 11: 23-25)

Tự thân, bần đệ chẳng dám đi sâu vào chi tiết, mà bàn luận. Đây là việc của các vị chú giải Kinh thánh. Bần đạo tài hèn sức yếu, chẳng dám múa mỏ trước chư vị tiền bối, rất giỏi nhiều bề, đề huề đàng nhân đức, với Đức tin. Chỉ xin mạo muội trích dẫn hai đoạn kể trên, để xin thưa rằng: bần đạo tìm đỏ cả con ngươi mà vẫn không tìm ra một ‘từ’ hay ‘ngữ’ nào chứng tỏ tính ‘bắt buộc’ trong đoạn trích, ở trên. Cũng không thấy cụm từ nào có chữ ‘phải’ nơi lời dặn của Thầy Chí Thánh, lẫn thánh Phaolô, rất thông thạo tín lý. Cũng chẳng thấy có từ ngữ nào nói đến thời gian hoặc không gian bắt buộc để cử hành tiệc thánh như Thầy Chí Thánh khuyên răn.

Xem như thế, khi đọc Kinh thánh, người đọc dễ nhận ra đây là lời khích lệ của Đấng Bậc Khả Kính, đáng Yêu. Cũng có thể, coi đây như lời trăn trối của Đấng hằng yêu ta đến giờ phút trước khi chết. Đây chính là lời lẽ đầy thân thương dặn dò lần cuối, trước khi Đức Chúa ra đi chấp nhận khổ ải để đem lại ơn cứu độ đến với muôn người.

Theo phong tục người Việt, trước khi về với ông bà tổ tiên, các bậc cha mẹ thường hay căn dặn (mà người đời gọi là lời trăn trối) con cháu: chúng con hãy nhớ yêu thương, nhường nhịn nhau. Nhớ thắp hương/nhang để tỏ lòng nhớ đến ông bà, cha mẹ vào những ngày giỗ chạp, kỵ … để rồi, nhân bữa tiệc lòng thương lòng mến của con cháu cùng tộc, ông bà sẽ chứng giám phù hộ cho.

Lời căn dặn, nhắc nhớ của Đức Kitô với các người con yêu thương của Ngài, cũng mang dáng dấp một lời trăn trối của Đấng sinh thành loài người dưới thế, như đàn cháu con. Khi còn sống, Đức Kitô hằng yêu cầu con cháu loài người thực hiện mộng ước chân phương, tức ý định của Ngài trong tinh thần vui vẻ, và tự nguyện. Phải chăng cũng trong ý nghĩ và tinh thần ấy mà chính Chúa từng nhắc nhở những ai có ý định tiến lên cử hành lễ tế toàn thiêu, thời Ai Cập hành hình Do Thái, là: trước khi làm việc này, hãy xem có ai làm phật lòng mình, thì hãy để của lễ ở đó, mà ra đi làm hòa với người “làm phật lòng mình” (chứ không phải mình làm mất lòng họ), rồi hãy về tiếp tục dâng của lễ. Dù, có là ngày Chúa nhật, hay lễ trọng, hoặc lễ buộc?

Nói như thế, thánh lễ (vào ngày nào cũng vậy), trước tiên mang hình thái của một bữa tiệc (nói nôm na ta gọi là bữa ăn) giữa anh em cùng nhà. Trong bữa tiệc đó, những người con, người cháu thực hiện ước muốn của đấng sinh thành, thể hiện nơi lời trăn trối, trước khi chia lìa. Và, một khi đã thực hiện được chúc thư tình thương của cha của mẹ mình rồi ,thì mọi người con/người cháu đều vui vẻ, tự nguyện tụ họp nhau lại hầu nhớ đến công ơn sinh thành, dưỡng dục cũng như lời dặn dò, giáo huấn của tiền nhân.

Khi cùng nhau đánh chén (vì cũng có rượu, có bánh), con cái trong gia đình có thêm tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Giúp nhau dàn trải tình thương yêu của bậc trên, mà nhận lấy cho riêng mình. Đương nhiên là, trong buổi tiệc thánh, trong bữa giỗ chạp, kỵ đâu có các màn say sưa, be bét những cãi vã, ganh đua, kèn cựa hoặc chửi bới nhau. Mà, chỉ là những giây phút linh thiêng, đầy tưởng nhớ. Nhớ lại, Cha Hiền Chí thánh, đã từng nói: ..”mỗi khi làm sự này, thì…” ta lại nhớ đến bậc trưởng thượng, sinh ra ta. Và như thế, hồi tưởng lại thời gian lâu nay, là con là cháu, ta đã được tình thương yêu của Cha ấp ủ, đùm bọc đến là thế nào.

Đành rằng, thánh lễ không chỉ mang mỗi ý nghĩa duy nhất là bữa tiệc (dù là tiệc ly hay tiệc hội ngộ), hoặc bữa giỗ chạp mà thôi, nhưng còn chứa đựng nhiều tính thánh thiêng, như: hiến tế, hiệp thông nguyện cầu, huấn dụ hoặc thể hiện tình yêu thương chan chứa, bày tỏ niềm tin sâu xa, cảm nhận sự hiện diện của Thiên Chúa, bày tỏ quyền được làm con, làm dân riêng của Đức Chúa, bày tỏ sức đoàn kết yêu thương của dân Ngài đã chọn…

Nhưng, dù mang ý nghĩa nào đi nữa, thánh lễ ngày nay không thể mang tính cách ‘cỏ vê’ được. Bởi, ‘cỏ vê’ dứt khoát là việc cưỡng bách rất khó chịu. Cũng tựa như thi hành hình phạt, luật lệ ở xã hội không có tình thương, đương nhiên cứng ngắc. Giỗ chạp, cúng kỵ cũng mang tính chất tế tự, hiệp thông, cầu khẩn… nhưng chắc chắn không có tính cách cưỡng ép bắt buộc theo kiểu ‘cỏ vê’, ‘huấn nhục’ ở quân trường. Hễ không thi hành, là sẽ có hình phạt nặng hơn, như ở trong Đạo thời buổi trước, sẽ: mắc tội trọng, vi phạm luật Hội thánh, khi chết chắc chắn sa xuống hỏa ngục, vân vân và vân vân, rất đáng sợ.

Nhiều người còn ví von thánh lễ như các cột mốc ngăn chặn người khùng/lãng trí bên vệ đường, ngay cạnh khúc quanh co nguy hiểm nơi đỉnh đèo, một thứ “garde-fou” giúp cảnh giác các bác tài đang mơ màng trên tay lái hoặc đang ỷ y, diệu vợi… Ví von như thế, có thông thoáng, nhiều phóng khoáng, nhưng hơi hạn hẹp. Nói cho ngay, tự bản chất, các cột mốc chỉ đường cho xe chạy, chẳng mảy may mang tính gò bó, bắt buộc không làm sẽ sa xuống hố thẳm vực sâu, hoặc rơi tọt xuống hỏa ngục.

Cuối cùng, ngay trong Giáo lý của Hội thánh, những chương đọan, điều khoản số 2181, 2183 (đã được Lm Brian Lucas trích dẫn ở trên) cũng đã chừa ra vài ngoại lệ, vì các lý do chính đáng, như: đau yếu, ốm o, trông nom con nhỏ, hoặc đã được vị chủ chăn miễn chuẩn trước đó (xem giáo luật số 1245). Hoặc ở nơi nào không có linh mục chăm sóc họ đạo để tổ chức được một thánh lễ, luật hội thánh còn đề nghị tổ chức những buổi gọi là ‘bẻ bánh Lời Chúa’, tức: một hình thức chia sẻ và suy niệm Kinh thánh thay cho thánh lễ.

Thành ra, thay vì nhận định rằng: ‘phải’ đi lễ ngày Chúa nhật, và ‘chỉ được đi lễ chiều’ hôm trước đó (tức ngày thứ Bẩy) nếu nội dung của thánh lễ là nội dung của lễ Chúa nhật hôm sau như một thói quen bắt buộc, một hình thái gò bó nào đó. Cũng nên quan niệm Thánh lễ sao cho nhẹ nhàng, vui vẻ và thích thú một chút. Có như thế, mới hấp dẫn được đám người chưa đến lúc hoặc chưa liên tưởng đến “ngày trở về, anh bước lê trên quãng đường đê đến bên lũy tre”..mà về nhà Cha, trên trời.

Bần đạo vẫn còn nhớ, vào thời điểm một chín sáu tám, khi ở Đà lạt năm đó có phong trào “Ca vào đời” do ban Hallêluyah của Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, đã thấy nhen nhúm đâu đó các nhu cầu cùng vấn nạn về chuyện: làm sao để thanh niên, thiếu niên nhà mình, thay vì tổ chức các ‘ban fa-mi’ (balle de famille, tức: nhảy nhót trong gia đình), sập xình, thì tham dự hết mình, dự phần vào thánh lễ. Lúc ấy, đã có nơi thành lập các ca đoàn có giàn nhạc đệm, có trống, có ghi-ta, có vĩ cầm hoặc kèn đồng…, như tại nhà thờ Dòng ở đường Kỳ Đồng, nhà nguyện Đắc Lộ thuộc Dòng Tên đường Yên Đổ, Sài gòn. Có nơi, dám tổ chức cả ‘thánh lễ nhập thể’, có chỗ mở các buổi ‘bẻ bánh Lời Chúa’ tại gia để chia sẻ Kinh thánh gọi là “veillée biblique” (tức Canh thức suy niệm thánh kinh), vv.

Cuối cùng, vấn đề đặt ra, là: làm thế nào để lôi kéo thế hệ trẻ mai sau, siêng chăm đi dự tiệc thánh (ở nhà Đạo), năng đi dự giỗ chạp (ở gia đình) với lòng phấn chấn hăng say, thay vì tính ngày tính giờ phải thế này, buộc thế kia, vì luật buộc phải thế. Đừng để làm sao, người trẻ hay cao niên tham dự thánh lễ vẫn còn vài thắc mắc: lễ này có buộc không? không đi có mắc tội trọng hay khinh khi lỗi phạm gì không? Làm sao, để mọi người đi nhà thờ cũng như khi dự lễ có được tâm trạng như đi gặp Người mình Yêu. Như đi “nhậu” (không phải theo nghĩa be bét, sáng say chiều xỉn), như dự tiệc Khilykhitô (tức: khi thì ly, khi thì tô), với các bạn thân thiết, hữu ích cùng thân yêu. Có thế, mới không còn vấn nạn quá nhiều về ‘cỏ vê’, ‘chà láng’, ‘huấn nhục’, cực hình như hồi còn trong quân trường đổ mồ hôi, sôi nước mắt.

Có như thế, ta sẽ hân hoan tiến bước, mỗi khi đến nhà thờ, nhà thánh mà hát bài:

“Con hân hoan bước lên bàn thánh Chúa,

Chúa là hoan lạc, tuổi thanh xuân con…”

Làm sao để, không chỉ toàn các “lão gia/nhân sinh thất thập’ mới hát được “Chúa là hoan lạc tuổi thanh xuân… con”. Bởi, tuổi thanh xuân giờ đây đang ngồi ở casino, mải nhảy nhót, đang vui say nhậu nhẹt chứ đâu có chịu, bước lên bàn thánh đâu mà “nhớ mà làm” và, càng làm càng nhớ. Nhớ Cha. Nhớ Chúa. Rất nhiều. Nhớ chiều thứ năm ‘Bữa Tiệc Ly’ có lời căn dặn: cứ thế mà làm. Rất thánh.

Trần Ngọc Mười Hai

đôi khi cũng thắc mắc đến độ rất nhớ

§3 – CÓ PHẢI LÀ ANH NGOÀI LUỒNG

( Mt 28, 19 )

Mỗi lần nói đến hoạt động của những người anh em bên đạo Hồi, chừng như ta vẫn cho rằng họ thuộc thành phần cực đoan, giữ đạo và hành đạo đến độ cuồng tín. Chẳng lý gì đến người khác. Đạo khác. Vừa qua, trên trang báo dành cho giới trẻ đi Đạo ở Úc, có mục hỏi đáp gửi đến người anh em trong Đạo có tên là Gio-an về các hành động vẫn bị mang tiếng là “cực đoan” của một số người anh em ngoài luồng, thuộc giáo phái đạo Hồi. Xin ghi lại ở đây câu trả lời của một Linh Mục Công Giáo ở Úc, như sau (xin giữ kín tên tác giả như đã yêu cầu):

Anh Gio-an thân mến,

Đọc thư anh hỏi về các hành động “đầy bạo lực” của một số người anh em theo đạo Hồi, tôi cũng đoán ra được mức độ giận dữ của anh khi hay tin vụ đánh bom tự sát xảy ra ở khắp nơi. Quả thật, đây là một trong các hành vi đang gây căm phẫn không ít, không những đối với gia đình những người đã chết hoặc thương vong thôi, mà còn mang đến cho bạn bè, người thân đang sống tại những vùng có bom nổ những tình tự bất ưng, nữa.

Như anh có nói, nhiều người đổ trách nhiệm ấy cho các người anh em Hồi Giáo lâu nay vẫn bị mang tiếng là “cực đoan” về những hành động tương tự. Và, trong thư anh cũng nói đến chuyện này. Anh còn nhấn mạnh là anh không biết nhiều về những người theo đạo Hồi và muốn tìm hiểu xem đạo của các anh em này có tin vào điều gì an bình và tốt đẹp hay không. Để trả lời, tôi xin tóm tắt vài điểm chính yếu về đạo Hồi. Hy vọng là câu trả lời ngắn và gọn dưới đây chỉ mong làm sáng tỏ sự khác biệt giữa giáo lý căn bản của đạo Hồi và quan điểm của những người lâu nay muốn dùng Hồi Giáo để biện minh cho các hành động mà họ đang làm, thôi. Tuyệt nhiên, đây không phải là bài tham luận có tính cách nghiên cứu gì cả.

“Hồi Giáo” xuất xứ từ tiếng Ả Rập có nghĩa là “Quy phục”, tức trạng thái đặt mình theo ý định của Thiên Chúa. Người theo đạo Hồi là người chấp nhận việc “quy phục” và tìm cách sống cuộc đời theo thánh ý của Thiên Chúa.

Đành rằng, nhiều tôn giáo, trong đó có Thiên Chúa Giáo, vẫn dạy con người sống phù hợp với thánh ý của Thiên Chúa. Nhưng, điều làm cho đạo Hồi khác với Đạo Chúa, là: người theo đạo này tin rằng thánh ý của Thiên Chúa được bộc lộ qua vị ngôn sứ của họ là Đức Mohammed, vị thánh từng sống ở Trung Đông cách nay 14 thế kỷ.

Đức Mohammed sinh trưởng tại Ả Rập, ở thành phố nay là thánh địa Mecca. Khi ông 40 tuổi, ông nhận được ơn lạ mà ông gọi là Mặc khải từ Thiên Chúa, Đấng cho ông thấy chân lý tỏ tường để ông truyền dạy cho tín đồ mình. Chi tiết về Mặc khải này được ghi lại thành kinh Koran, tức Sách Thánh của Hồi Giáo.

Theo nguyên ngữ Ả Rập, người theo đạo Hồi gọi Chúa của họ là Đức Allah. Sách Koran dạy rằng Đức Allah là Đấng toàn năng, toàn thiện và có lòng xót thương. Đức Allah coi sóc thân phận và duyên kiếp của tất cả mọi người trên thế giới. Sách còn dạy rằng: vào ngày tận thế, Đức Allah Rất Thánh sẽ đến thế gian phán xét con người. Ngài cho họ lên thiên đàng hoặc xuống hoả ngục còn tùy cách thức họ cư xử trong cuộc sống.

Trong chừng mực nào đó, có thể nói rằng: đạo Hồi dựa trên học thuyết của Do Thái Giáo và Thiên Chúa Giáo, vào lúc đầu. Đức Mohammed đã kể lại những chuyện được viết trong sách Thánh của đạo Do Thái trong đó có dạy: chính Thiên Chúa cứu vớt những người công chính và trừng phạt các kẻ đồi bại, tội lỗi.

Cũng vậy, kinh Koran qui chiếu về các nhân vật chính đã ghi trong Phúc Âm của Thiên Chúa Giáo, trong đó có Đức Giê-su, Mẹ Ma-ri-a, tức Mẹ của Chúa. Kinh Koran còn nhắc tên Đức Giê-su đến 25 lần và tôn kính Đức Giê-su như vị ngôn sứ do Thiên Chúa gửi đến. Kinh Koran cũng để ra nguyên một chương sách kể về vai trò của Đức Ma-ri-a mà Sách này đặt tên Đức Mẹ là “Maryam”. Kinh Koran cũng lấy tên của Mẹ làm đầu đề cho nhiều chương trong trong sách đó.

Khi Đức Mohammed nói về Mặc Khải mà ông lĩnh hội, ông lại quay sang phía đối lập. Có nhiều người tin vào thông điệp ông chuyển tải, nhưng cũng có người chẳng tin gì hết, vào những điều ông nói. Nhằm so vai sát cánh với phía đối lập, ông Mohammed quyết định rời Mecca, dẫn dắt các đồ đệ của mình tới Medina. Ở đây, ông hình thành ra đạo Hồi. Và như thế, hành trình về Medina được người theo đạo Hồi tưởng nhớ, dùng đó làm ngày khởi đầu cho niên lịch của đạo mình.

Tám năm sau, khi định cư ở Medina, giáo chủ Mohammed và các đồ đệ của ông lại trở về Mecca, kiểm soát toàn bộ thành phố này. Khi ấy, ông Mohammed đã trở thành quốc trưởng, ở đây.

Dưới thời ông Mohammed lãnh đạo, nhiều người dân ở Mecca đã theo đạo và nhiều bộ tộc trên toàn cõi đất nuớc Ả Rập cũng đã đi theo. Từ đó, đạo Hồi trở thành một thế lực tôn giáo và chính trị rất quan trọng, ở Ả Rập. Sau đó, còn lan rộng sang nơi khác, sau khi Giáo chủ Mohammed băng hà.

Niềm tin tưởng và cách hành đạo chính của đạo Hồi có thể tóm tắt vào 5 trụ cột dưới đây:

1. Bản tuyên xưng đức tin dùng làm nền tảng cho đạo Hồi trong đó mọi người đạo hữu đều tuyên xưng, là: không có Thượng đế nào khác ngoài Đức Allah và Mohammed là tôi tớ cũng như sứ giả của Thượng đế.

2. Việc cầu nguyện. Mỗi ngày, người theo đạo Hồi vẫn cầu nguyện tất cả 5 lần: vào lúc trời mọc, giữa trưa, xế chiều, lúc mặt trời lặn và buổi chiều tối. Người theo đạo Hồi có thể cầu nguyện ở bất cứ nơi nào trên địa cầu, miễn phải quay mặt về phía thánh địa Mecca. Đến ngày Thứ Sáu, mọi người phải cùng nhau đến cầu nguyện tại đền thờ Hồi Giáo.

3. Việc bố thí. Người theo đạo Hồi buộc phải chia sớt của cải cho người nghèo. Mọi người thường làm việc này theo hình thức đóng thuế mỗi năm.

4. Kiêng ăn, nhịn uống. Trong tháng chay tịnh Ramadan, người theo đạo Hồi phải kiêng ăn cữ uống trong suốt thời gian từ lúc mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn.

5. Hành hương về với Mecca. Người theo đạo Hồi buộc phải hành hương về với thánh địa Mecca, ít nhất là một lần trong đời mình.

o0o

Không có điều khoản nào nói về về niềm tin và lối hành đạo khiến người theo đạo Hồi phải có thái độ hung hãn với người khác, tỉ như các đánh nổ bom tự sát hoặc khủng bố ở các nơi trên thế giới.

Thật ra, với kinh điển của đạo, Hồi Giáo lên án các hành động mang tính cách đầy bạo lực như thế và các nhà lãnh đạo Hồi Giáo ở các nơi trên thế giới (kể cả Anh và Úc) đều lên tiếng chống đối khủng bố. Đôi lúc, các nhóm khủng bố coi hành động của họ như một phần của cuộc thánh chiến chống lại những ai không cùng một niềm tin tưởng với họ. Và, họ coi việc đánh bom tự sát như cách thế minh định một phần của cuộc thánh chiến mà họ chủ trương. Tuy nhiên, các nhà kinh điển Hồi Giáo bác bỏ mọi cam kết như thế.

Các nhóm khủng bố biện luận rằng: hễ ai ôm bom tự sát cho chính nghĩa của Đạo Hồi, người ấy sẽ là thánh “tử vì đạo”, có nghĩa là họ chấp nhận chết cho niềm tin của mình trong cuộc thánh chiến này. Thật ra, giáo huấn đạo Hồi lên án việc đánh bom như thế và quy hành động ấy vào 2 tội trạng, sau đây:

1. Đạo Hồi ngăn cấm người ta tự sát

2. Đạo Hồi cấm không cho ai được giết hại kẻ vô tội.

Thành thử, người ôm bom tự sát đều mắc vào một trong hai tội trạng này. Hành động này không phải là hành vi tử vì đạo. Đúng hơn, đây là hành động tội ác nhân gấp đôi: tự giết mình và giết kẻ vô tội.

Tháng 7 năm 2005, quan điểm này được các nhà kinh điển Hồi Giáo bảo vệ tại nhiều nơi kể cả Mỹ và Canada. Các vị ấy đưa ra lời cam kết phản ứng lại vụ đánh bom ở nhiều nơi. Ở các nơi này, đã có luật chính thức chống bạo hành theo kiểu này.

Luật lệ ở đây, được trích dẫn từ kinh Koran và từ nhiều văn bản khác của Hồi Giáo. Các văn bản này đều có nói: Giết hại người khác nhắm vào thường dân vô tội là việc cấm đoán và những ai dùng bạo lực như thế không thể nào trở thành vị thánh “tử vì đạo” được. Trái lại, họ là “tội phạm”, mới đúng.

Có sự khác biệt lớn giữa giáo huấn đạo Hồi và việc bóp méo tinh thần của đạo này để biện minh cho các hành vi tội ác. Đạo Hồi chính mực phải được tôn kính. Bạo hành tội phạm nhất định phải bị lên án.

Về tôn kính đạo Hồi, tôi nghĩ ta nên kết luận bằng lời lẽ văn bản từ Công Đồng Vatican II. Tại Công Đồng, Đức Giáo Hoàng và các Giám Mục Nghị Phụ đã tỏ lòng kính trọng những người anh em theo đạo Hồi, khi các ngài nói:

“Hội thánh rất kính trọng các anh em Hồi Giáo.” (trích tuyên ngôn về Hiệp thương giữa Giáo Hội và các đạo không phải là Ki-tô Giáo, câu 3.)

Điều đó có nghĩa là: không phải lúc nào người theo Đạo Chúa và đạo Hồi đều tỏ ra tôn kính lẫn nhau. Nhưng quả là có những thời kỳ hai đạo này vẫn cứ gây chiến với nhau. “Trong nhiều thế kỷ, đã có sự cãi vã, thù địch nổi lên giữa những người theo Đạo Chúa và đạo Hồi”. Tuy nhiên, dù lịch sử có rơi vào giai đoạn đáng buồn, Công đồng vẫn thúc giục mọi người hãy phấn đấu để hai bên thông cảm lẫn nhau và hiểu biết nhau hơn.

o0o

Cách nay 40 năm, tức vào năm 1965, Công đồng Vatican II đã nói đến điều này. Thông điệp của Công đồng vẫn còn tươi mát và cấp bách với thời đại, hơn bao giờ hết:

“Vì sự tốt đẹp cho mọi người, chúng ta hãy làm cho người theo đạo Chúa và anh em đạo Hồi hợp tác với nhau trong mọi việc hầu bảo vệ và cổ võ sự công bằng xã hội, giá trị đạo đức, tự do và bình an đến với hết mọi người.”

Đến đây, vấn đề cấp bách nên đặt thêm, là: chúng ta, những người tự cho là “trong luồng”, có thái độ cũng cực đoan và “ngoài luồng” không kém? Phải công nhận, là chúng ta cũng có thái độ rất cực đoan, ở đâu đó. Cực đoan trong tâm tưởng, hay qua ngôn ngữ, cử chỉ ngay cả với người trong Đạo của mình nữa.

Cho nên, đôi lúc cũng nên tự hỏi, xem mình có nhìn người khác, đạo khác thông thoáng và thích nghi hơn đối với chính đạo của mình, ở đây. Và bây giờ, hay không.

Trần Ngọc Mười Hai

chỉ muốn có giòng chảy suy tư nhân tháng Ramadan của đạo Hồi

§4 – EM CÒN NHỚ HAY EM ĐÃ QUÊN

(Yn 13: 15)

Làm sao quên được, lời Thầy dặn dò mới đây thôi. Dặn dò như ngày nào ta nhớ đến Thầy. Nhớ đến cực hình Thầy gánh chịu. Nhớ Lễ Hội Vượt Qua, nhớ Chúa Phục Sinh để lại lời nhắn nhủ rất thân thương như:

“Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy,

mà còn rửa chân cho anh em,

thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau.

Thầy đã nêu gương cho anh em,

để anh em cũng làm như Thầy

đã làm cho anh em. (Yn 13: 14-15)

Nếu để ý một chút, chắc đàn anh, đàn chị cũng sẽ đồng ý, nghĩ rằng: một trong các tập quán cố hữu mà giới trẻ ngày này đã để mất, hoặc chưa tạo được cho mình, đó là thói quen đọc sách. Sách gì cũng thế, huống chi là Sách Thánh.

Tuổi trẻ ngày nay –dĩ nhiên không phải là tất mọi người trẻ- thay vì đọc sách tu đức, hạnh các thánh, lại bỏ ra quá nhiều thì giờ để dán mắt vào màn ảnh nhỏ truyền hình, hoặc màn hình vi tính, điện toán… mà quên rằng báo chí, sách Đạo…, ngoài tính cách thông tin, giáo dục của nó, còn là món ăn tinh thần không thể thiếu trong ngày dài cuộc đời.

Khi đọc một đoạn sách, xem một bài báo, người đọc thường tỏ vẻ thích chí đến độ đôi khi cũng rung chân, rung đùi, tấm tắc khen hay. Thích chí, vì gặp được tri kỷ có ý tưởng hay-lạ, rất đồng ý. Và, người đồng ý, thưởng lãm ý tưởng hay và lạ kia đôi lúc chìm đắm trong niềm riêng suy tư ấy. Suy tư hoặc suy tưởng đến điều hay, ý lạ trong nhiều khoảnh khắc rất lâu, như muốn cho các tư tưởng sâu sắc kỳ lạ ấy lắng đọng trong tâm tư, tâm hồn mình.

Cách đây khá lâu, trong một bài báo đăng trên tuần san Time xuất bản ở Mỹ vào cuối thập niên ’90, có tựa đề: “Cái đạo của Hồ” (Hồ đây một thầy lang trẻ có tên gọi là David, người Trung Hoa sống ở Mỹ), có đoạn viết như sau:

“Hễ thấy các đồng nghiệp bất bình với nhau về một chuyện gì đó, hoặc mỗi lần có chuyện phật ý, David Hồ thường đem quan niệm của các triết gia Trung Hoa ra mà thuyết phục đối phương, cũng như tự thắng chính mình. Quan niệm cố hữu mà David Hồ thường dẫn chứng nhiều nhất chính là ý của Lão Tử, khi triết gia nói về chữ Nhu. Ông nói, nhu thắng cương là lẽ thường của trời đất, vậy” (Time, 30/12/1996)

Vấn đề gợi nhớ hôm nay, khi nghe lời Chúa ở trên, không phải để hỏi rằng: nhu thắng cương hay cương sẽ địch lại nhu. Cũng không để hỏi “ai thắng ai”, trên đường đời ngắn ngủi. Mà là, hỏi xem: tính khiêm nhu hay những điều Thầy Chí Thánh khuyên dạy: “Anh em hãy làm như Thầy đã làm cho anh em”, có là đức khiêm tốn, khiêm nhu mà các nhà luân lý trong Đạo thường khuyên nhủ, không.

Ai có thói quen đi nhà thờ nghe giảng giải, hoặc thường đọc sách tu đức vv.. hẳn sẽ không quên rằng bao giờ các bậc thày dạy dỗ cũng khuyên đồ đệ ăn ở khiêm tốn, nhu mì và nhã nhặn với người trên/kẻ dưới. Khiêm tốn, nhu mì là trạng huống tâm linh cho thấy bản thân người được đề cập đến lúc nào cũng trong tư thế nhún nhường, dễ thương.

Nhún và nhường, không phải vì ngu si đần độn hay có mặc cảm tự ti mới làm thế. Nhưng, là biết mình ở thế “có thể hơn” người kia, người khác. Nhưng vẫn trầm lặng như vẫn thua kém người ấy, người kia. Vẫn cứ vui vẻ nghe khuyên răn hoặc phát biểu, cho vui vẻ cả làng. Thế mới dễ thương. Thế mới giải quyết được những hung hăng, xung khắc, tranh giành.

Tuy thế, nhún và nhường không có nghĩa dối trá, hoặc mạo nhận. Bởi, dối trá mạo nhận còn tệ hơn là kiêu căng, ngạo mạn (tức đối nghịch với khiêm tốn, nhu mì). Hành vi dối trá – mạo nhận chỉ thích hợp với tầng lớp xã hội đớn hèn, ở cấp thấp. Thứ xã hội chỉ thấy có nào những lừa đảo, hoặc bất tương kính. Xã hội nào chỉ gồm những người tìm cách dối trá, ám hại nhau thì xã hội ấy, không thể có an bình, hạnh phúc. Cũng thế, chẳng thể nào có được bầu khí thân thương, dễ chịu phải có.

Nói đến khiêm nhu, nhún và nhường lâu nay biết bao nhiêu sách vở, bài báo đã đề cập. Có triết gia Đông – Tây, các nhà tâm lý học kim – cổ thường đề cao đức tính dễ thương này. Đề cao và coi đó như chìa khóa dẫn đến mọi thành công trên đường đời.

Thế nhưng, cũng có ý kiến cho rằng: nhu hay nhún chỉ là phương cách mà giai cấp thống trị đưa ra sử dụng hoặc khuyến dụ người khác thực thi là cốt để khuynh loát, đè đầu đám bề dưới cứng đầu, khó dạy. Họ chỉ muốn thu gom hết cả và thiên hạ thu về một mối, để rồi mặc tình thao túng. Mặc sức vẫy vùng, như chỗ không người. Nói tóm lại, đây chính là cách dụng nhân tài tình: lấy nhung lụa bọc lên gông cùm, sự dữ để dễ bề trừ khử và dồn nén các tay sừng sỏ.

Đó là khái niệm của người đời về tính khiêm nhu, nhún nhường. Giáo lý Kinh thánh của Đức Kitô nói gì về đức tính này?

Đứng từ tầm nhìn nào đó, nếu quan niệm Kinh thánh như vườn Địa đàng mà Đức Chúa trao ban cho con người, thì ta cũng nên tản bộ ở nơi đó để tìm ra hoa thơm cỏ lạ, lời hay ý đẹp. Và như thế, Khiêm nhu, nhún nhường sẽ là loài hoa không thiếu vắng trong nhà Cha, nhà Chúa qua cách thức diễn đạt khác nhau của các thánh sử.

Với thánh Mat-thêu, đó là khẳng định về đạo làm người:

“Kẻ lớn hơn trong các ngươi

sẽ là tôi tớ của các ngươi.

Kẻ nào tự nhắc mình lên sẽ bị hạ xuống

Và kẻ nào tự hạ mình xuông sẽ được nhắc lên.”

(Mt 23: 12)

Xem như thế, hạ mình là bí kíp làm người cho ra người mà Đức Kitô dạy môn đệ của Ngài hãy nghe theo. Ngài chính là Người đầy những chất “người” và tình người nhất, mà mọi người nên học. Nên thụ giáo. Ngài còn là Đức Chúa Cứu Chuộc chúng ta, trong mọi tình huống.

Thật ra, không thể học đòi thụ giáo Đấng “Hiền lành và Khiêm nhượng trong lòng” mà lại bỏ đi đặc điểm “Khiêm nhu” căn bản của Ngài. Còn ai lớn hơn Ngài, trong tư cách và vị thế của Đấng Chủ Tể Càn Khôn. Đấng Uyên Bác thâm sâu, đầy sáng tạo? Ngài chính là Alpha và Omega của mọi việc. Tức là, Đầu Hết và Chót Hết. Thế mà, Ngài vẫn tự hạ mình đến tận đáy sâu của sự thấp hèn. Ngài tự hạ, để qua đó đàn con thân yêu của Ngài nhận ra chiều kích sâu thẳm nơi chân lý vĩnh hằng Ngài mạc khải cho mỗi người, và mọi người.

Ngài chính là Đấng “Chót hết” (Omega) mà Đức Maria đã tôn vinh hết lòng khi Mẹ được người chị họ Êlizabét ghé viếng, ủi an. Và, Mẹ từng cất lời ngợi khen Đức Chúa đầy Khiêm Hạ như sau:

“Người đã ra oai sức mạnh cánh tay Người,

làm cho tan tác lũ kiêu căng lòng trí,

hạ kẻ quyền năng khỏi ngôi báu

và suy tôn những kẻ khiêm nhượng.”

(Lc 1: 52)

Khiêm nhượng – hạ mình, vì Thầy vốn là “Đấng Hiền lành và Khiêm nhượng trong lòng” đã dạy mọi nguời con ăn ở nhún nhường, rất hạ mình (Ep 4: 2). Đó mới là điều căn bản, cốt thiết. Đồng thời có như thế, mọi nguời con mới mong được cất nhắc và có được hạnh phúc ở Nước Trời. Ở môi trường thân yêu mà mọi người đều sống thoải mái. Sống khiêm tốn, yêu thương nhau như các trẻ nhỏ vẫn cứ thương yêu, như chưa bao giờ biết hận thù, ghét ghen:

“Nếu các ngươi không hoán cải và trở nên như trẻ nhỏ

các ngươi không vào được Nước Trời.

Vậy, phàm ai kể mình hèn hạ như trẻ nhỏ này,

thì người ấy là kẻ lớn trong Nước Trời.”

(Mt 18: 3-4/ Lc 18: 14)

Thánh Phaolô, trong thư gửi giáo đoàn Côlôsê, cũng đã nhắn nhủ:

“Vậy, theo tư cách là thánh được Thiên Chúa chọn và yêu mến anh em hãy mặc lấy lòng lân mẫn biết chạnh thương, đức nhân hậu, khiêm nhu, hiền từ và đại lượng.” (Co 3: 12)

Rõ ràng, khiêm nhu được coi là nhân đức tối cần. Đức tính này nằm trong tư cách thánh thiêng của những người được Chúa bình chọn. Đặc tính này tương tự và theo ngay sau lòng nhân hậu, hiền từ và đại lượng. Khiêm nhu, như thế đâu có nghĩa dồn nén. Trái lại, có khiêm nhu từ tốn, mới được nâng cao, kính trọng. Có khiêm nhu, mới có cung cách hiền từ, nhân hậu.

o0o

Nói cho cùng, kiêu căng, ngạo mạn mà làm gì. Bởi, khi tất cả của cải, vật chất, tiếng tăm có là gì trước mặt Thiên Chúa. Và, trước mặt người đồng loại, nữa. Đằng khác, những gì ta có, đâu nào có phải do ta tài cán, do tính láu lỉnh hoặc công đầu của mình tạo ra, đâu. Nhưng, tất cả đều là ân huệ, từ Chúa. Do Chúa tặng ban. Vì, Ngài là Đấng Có. Có từ Đầu Hết cho đến Cuối hết. Mọi sự, ngay như toàn thể vũ trụ cũng ra nhỏ bé trước mặt Thiên Chúa. Huống hồ, là bộ óc nhũn nhẽo, bé mọn không quan trọng của thụ tạo thấp hèn, mang tên “người”.

Và sau chót, chỉ một điều quan trọng, là: cần có cuộc sống an bình ở Nuớc Trời. Trong không gian/môi truờng mà ở nơi đó Thiên Chúa luôn gần gũi với những nguời nhỏ bé, hiền lành và khiêm hạ trong lòng. Nhu này mới đích thực là Nhu thắng Cương. Chứ không phải thứ nhu nhược, nhu hèn. Nhu thắng Cương là thứ nhu của thần sứ Nuớc Trời mang tên rất khiêm tốn “Lão Tử” từng sống ở xứ miền rất khiêm hạ, bên Trung quốc.

Và, câu hỏi cuối cùng được gửi đến tất cả chúng ta, để lòng tự hỏi lòng, là: mình đã “nhu” được tí nào chưa? Liệu có thắng bạo tính rất “cương” của những kẻ thường hay cương bạo, cương vô lý. Cương đến độ “tôi chẳng cần biết em là ai”. Cũng chẳng cần, đến lời khuyên rất “khiêm nhu, khiêm hạ” của Đức Chúa.

Hỏi là hỏi thế. Còn, câu trả lời vẫn dành để cho chính ta. Chính mình. Những người mình cận thân. Hoặc cận lân. Những người tuy gần mà xa. Tuy xa mà gần. Gần đến độ sẽ sống khiêm nhu, khiêm hạ. Rất hèn kém. Như lời khuyên dạy của Đấng Hiền lành và Khiêm Nhượng trong lòng. Mới đây thôi.

Trần Ngọc Muời Hai

Vẫn bạo miệng hỏi lòng mình

nhân dịp nghe lời khuyên dạy

của Thầy Chí Thánh,

Lễ Tiệc Ly.

§5 – VÀO NƠI TRỐNG VẮNG

(Mt: 4: 1)

Về với giây phút lắng đọng nguyện cầu của Mùa Chay có sám hối, có đổi thay, hẳn là nhiều vị cũng đã nhận ra yếu tố “trống vắng – lặng im” được đề cập khá nhiều, trong Kinh thánh?

Ngay từ đầu, lúc khởi động cuộc rao giảng Nước Trời, đã thấy những nét chấm phá bàng bạc thật rõ nét nơi Tin Mừng:

*Với thánh Mát-thêu, ngay ở đoạn 3 câu 1, đây lời khẳng định:

“ Trong những ngày ấy

Yoan Tẩy Giả xuất thân

rao giảng trong sa mạc xứ Yuđê”

Tiếp đến, là đoạn 4 cũng câu đầu:

“Bấy giờ Đức Yêsu

được Thần Khí dẫn vào sa mạc”

*Với thánh Marcô, cũng thấy đôi điều được minh xác:

“Và ngay đó, Thần Khí xua Ngài vào sa mạc” (Mc 1: 12)

*Còn thánh Luca, ở đoạn 6 câu 12 đã thấy nói:

“Trong những ngày ấy,

Ngài ra núi cầu nguyện

Và Ngài thức suốt đêm..”

Giờ phút cuối, trước khi bước vào vườn Cây Dầu chấp nhận đi vào chốn miên trường về với Cha, Ngài cũng đã nhắn nhủ:

“Hãy cầu nguyện cho khỏi sa cơn thử thách”

(Lc 22: 39)

Ở đời thường, cũng có đoản văn/đoạn viết rất nhè nhẹ đầy ý nghĩa của Tin Vui An Bình như đoạn trích dịch sau đây:

“Người mẹ trẻ đặt chân lên hẻm nhỏ cuộc đời, đã vội hỏi:

-Đường vào chốn vinh quang, hạnh phúc có dài lắm không?

-Có đấy. Sắp tới con đường còn gập ghềnh nhiều nỗi chông gai, hơn nữa. Và, con sẽ già dặn hơn, khi tới đích. Thế nhưng, điểm tới bao giờ cũng tốt cũng đẹp hơn khi khởi đầu. Rất nhiều.

Người mẹ trẻ thấy vui trong lòng, khi nghĩ rằng tương lai cuộc đời sẽ chẳng thể nào tốt đẹp, hơn hôm nay. Người Mẹ vẫn cứ vui chơi quanh quẩn cùng đàn con thơ ấu. Cho ăn. Cho uống. Cho chúng nô đùa, tắm rửa. Dạy chúng cách cột giày. Biết chạy xe. Và, nhắc chúng thăm chừng người thân, cùng mọi vật trong nhà. Làm bài tập thường xuyên. Xong việc, còn giúp chải răng, cầu nguyện rồi mới lên giường,đi ngủ.

Mặt trời chiếu sáng trên cả mẹ con. Và, người mẹ trẻ sung sướng kêu lên: tương lai chắc cũng chẳng vui hơn ngày hôm nay. Nhưng phút chốc, chiều tối đã kịp xuống dần. Rồi lại, phong ba bão tố như ùn ùn kéo đến. Che kín mảnh không gian nhỏ bé, hé ở trên đầu. Đường xá, lối đi giờ đây tràn ngập, những mầu đen. Bọn nhỏ run lên, vì hãi sợ. Người mẹ trẻ ấp ủ đàn con bằng đôi cánh trần, nhưng vẫn ấm. Đàn con nhỏ hoàn hồn, được mẹ thương yêu vỗ về, bèn nói nhỏ: Mẹ ơi! Bọn con chẳng còn sợ gì, vì có mẹ gần bên. Chẳng ai làm gì được con của mẹ.

Bầu trời lại ngập sáng. Mẹ con đưa nhau ra ngoài. Tìm chốn non cao vắng vẻ, cất bước đi lên. Đàn con thoăn thoắt phút chốc đã tới đỉnh đồi. Người mẹ trẻ lẽo đẽo đi sau. Chầm chậm, từng bước cứ thế bước dần lên ngọn đồi sừng sững. Lên đến nơi, người mẹ trẻ chỉ cho con thấy cảnh trời mây nước, thật trong sáng. Thật an lành. Mẹ dạy cho con ý nghĩa của sự vật. Dạy con, cách đoán biết thời tiết, lẫn lòng người. Và, mọi việc trên đời đang diễn tiến. Nhờ có mẹ, đàn con đủ sức đương đầu với thế giới đang đợi chờ, ở bên ngoài.

Ngày qua ngày, mẹ dạy cho con biết thế nào là thương người. Biết cảm thông, trông đợi việc xảy đến. Tốt xấu, vẫn là đời người. Dạy cho con biết thế nào hy vọng. Và, trên hết mọi sự, thế nào là yêu thương tha nhân, cùng khắp. Yêu vô điều kiện. Yêu không đắn đo.

Khi đàn con lên tới đỉnh đồi, chúng hỏi mẹ:

-Mẹ à, tụi con sẽ chẳng làm được gì, nếu không có mẹ ở bên.

Ngày lại ngày, thời gian cứ thế trôi. Hết tháng rồi lại đến năm. Cứ thế, tháng ngày biền biệt, vụt biến. Mẹ nay, ngày một yếu kém già hơn xưa. Thân mình Mẹ thun nhỏ lại. Lưng mẹ mới đó đã khọm còng. Và, đàn con vẫn ngày một cao lớn, khỏe mạnh. Khỏe và khôn hơn. Các con của mẹ đã vững vàng đi đứng. Chững chạc hơn trước rất nhiều. Không còn phải nhờ mẹ dắt đưa. Mẹ thì không thế. Đêm về, mẹ vẫn ngả lưng trên nền đất. Mắt ngước nhìn các vì sao, đổi ngôi liên tục. Sao vận đổi như năm tháng cuộc đời của mẹ. Bỗng, mẹ khẽ bảo:

– Này các con. Hôm nay, xem ra mẹ đã khá hơn nhiều. Hơn hẳn những ngày vào tuần trước. Và, các con nay cũng đã biết đuợc nhiều thứ. Các con sẽ truyền lại mọi hiểu biết của mình cho cháu chắt của mẹ. Và, khi lộ tẻ đường đời bắt đầu gập ghềnh khó đi, các con hãy cùng kề vai đỡ nâng nhau. Hãy cùng nhau mà tiến tới. Cũng tựa hồ như mẹ đã làm cho các con, lúc còn nhỏ.

Và vào ngày nọ, đàn con lại có dịp lên chốn non cao, nơi đồi vắng với mẹ hiền. Tất cả thấy đường lên đỉnh đồi vẫn ngập ánh vàng tươi, sáng chói. Cửa trời như vẫn rộng mở chờ đón đàn con của mẹ. Nhân đó, mẹ bảo các con:

-Nay, mẹ ở vào đoạn cuối của đường đời. Mẹ đã nhìn ra điểm tới cuộc đời mẹ sắp đến. Cũng không thua gì thuở ban đầu. Mẹ rất biết, mai ngày các con sẽ lại ra đi tiếp nối con đường của mẹ. Với niềm hào hùng đầy khí thế, các con sẽ xứng đáng là con yêu của mẹ. Hãy ngẩng cao đầu lên, mà tiến bước. Chắc chắn con cháu của mẹ rồi cũng đi lên, hiên ngang như mẹ đang dấn từng ngày.

Đàn con chợt đứng lại, nói với mẹ:

– Mẹ à, dù mẹ có về chốn nào đi nữa, mẹ vẫn quanh quẩn ở cùng chúng con, mà mẹ.

Và, nhè nhẹ như thế, người mẹ của đàn con thân thương nay đã ra đi…

Mẹ đã đi. Nhưng, đàn con vẫn đứng nhìn mẹ qua cửa vòng vàng óng ánh, nhiều vì sao. Cửa vòm từ từ khép lại. Bóng mẹ khuất dần phía bên trong. Đàn con nhìn một lúc, rồi vội nói:

-Thôi! Bọn mình dù không thấy mẹ, nhưng chắc chắn mẹ vẫn ở đâu đây, với chúng ta. Mẹ không ở trong ký ức. Nhưng, đang hiện diện khắp quanh ta. Và cả ở trong ta. Mẹ là tiếng lá reo vào buổi sáng, khi ta xuống phố. Mẹ là chất ngọt mùi thức ăn. Đến giờ này, con của mẹ vẫn nhận thấy mùi thơm kỳ lạ vương vất đâu đây. Mẹ là đoá hoa đẹp của chúng mình. Là mùi thơm còn đọng lại ở cánh tay, đang ấp ủ. Tay mẹ lạnh, như vẫn đặt lên vầng trán, lúc chúng mình đau.

Ơi mẹ! Mẹ là hơi ấm bình an của chúng con, ngày đông giá. Là tiếng mưa rơi nhè nhẹ, lúc sang thu. Mẹ là ngũ sắc óng ả, bến cầu vồng. Là suối nước tinh mơ tỉnh giấc nồng ngày con mừng sinh nhật. Mẹ ở bên, như nụ cười trìu mến, con vội nở. Giọt nước mắt hân hoan của mẹ, con biến nó thành vì sao lấp lánh. Cảm xúc của mẹ vẫn ở lại nơi con, trải dài đời thanh xuân con vẫn biết. Mẹ là nôi ấm con chào đời. Là căn hộ đầu đời, con yên thân. Mẹ là bản đồ dẫn đường con tiến bước. Là tình đầu sôi nổi, con tha hương. Mẹ, bạn hiền con trân trọng. Là tình thân thương, rối bời cơn giận dỗi.

Trái đất vẫn nhỏ nên con không xa rời mẹ. Dù có là thời gian. Dù là mảnh vụn của không gian. Dù là sự chết. Dù cơn đau ốm con không sờn lòng. Không! Dứt khoát cả trăm lần mẹ không xa rời con lâu như thế. Mẹ là tình yêu vĩnh cửu. Là cõi miên trường, của đời con.

o0o

Vâng. Đi vào nơi trống vắng. Hay, lên chốn non cao. Vẫn là lời mời gọi thân thương của Thầy Chí Thánh Nhân Hiền, vào Mùa Chay tịnh. Mời gọi này, Thầy vẫn gửi đến với đàn con yêu, mỗi ngày. Và mọi ngày.

Trần Ngọc Mười Hai

và tâm trạng

vừa mất đi người Thầy

và cũng là người anh em.

§6 – SAO CỨ GỌI CÁC CỤ LÀ CHA

(Mt 23: 8-11)

Nếu bảo rằng, nhận định của ai đó cho rằng danh xưng, tên gọi thường nói lên thân phận của người gọi nó là đúng, thì theo thiển ý, điều này chỉ đúng trong một số trường hợp nào đó, mà thôi. Có nhiều danh xưng, tên gọi dù sử dụng hằng thế kỷ, đôi khi vẫn thiếu sót, chướng tai. Không xét lại, e rằng sẽ mang tiếng chủ quan?

Điều cần xét ở đây, có lẽ nhận định trên đem lại cho bạn và tôi, nhiều thứ … tức rất bực. Hoặc nhẹ hơn, cũng là những ưu tư bức xúc, có lúc rất lấn cấn. Không ưu tư sao được, khi lời dặn dò của Đức Chúa vẫn còn đó, nỗi buồn:

“Các ngươi đừng xưng hô ai dưới đất

là ‘cha’ của các ngươi;

vì Cha của các ngươi chỉ có một,

Cha trên trời!”

(Mt 23: 8-11)

Ngàn năm sau, đặc biệt là năm một chín chín bẩy, tác giả cuốn “Chủ nhật hồng giữa mùa tím”, cũng từng nhận định:

“Trong mạch lạc Tin Mừng Mt 23:8-11, Chúa Yêsu chỉ đề cập đến mối tương quan với các bậc thầy trong dân Do Thái. Nhưng ở đây, chúng ta có thể quả quyết theo tinh thần thư Rôma và thư Galát: ‘Thần Khí đã đến trong lòng kẻ tin mà kêu lên: Abba cha ơi!, thì đương nhiên chỉ có thể kêu lên với Thiên Chúa, không thể với cha mẹ nào khác ở trần gian; vì cũng đúng là ‘Cha của các ngươi chỉ có một, Cha ở trên trời” (Nguyễn Ngọc Lan, sđd tr. 267)

Những năm gần đây, qua trò chuyện điện đàm hoặc điện thư với nhiều vị, bần đệ đã xin phép các bậc vị vọng có chức tước trong phẩm trật nhà Chung, để được xưng hô bằng “anh” hoặc “em” theo thứ tự tuổi tác (như truyền thống dân gian người mình) cho nó thân mật, tình thân. Và, cũng để tuân theo lệnh truyền của Chúa, qua di chúc sau đây:

“Như Cha thương yêu Thầy,

Thầy yêu thương anh em

và như Thầy thương yêu anh em,

anh em hãy yêu thương nhau”

(Galát 15: 9-12).

Với anh em linh mục trẻ, thì chuyện sửa đổi lối xưng hô dường như ít thành vấn đề. Nhưng, với các vị đạo mạo ‘có tuổi mà không có tên’, thì ít khi chấp nhận để người khác gọi mình bằng ‘anh’, ‘em’ hoặc ‘cháu’ cộc lốc, vì “không xứng”, “không phải phép”…

Có lẽ, đề tài này cũng nên được chuyền nhau để “phiếm”, để cùng nhau học hỏi văn chương chữ nghĩa, bấy lâu nay?

Thú thật, nếu ta đồng thuận với câu “văn tức người”, thì cũng phải đi tới cùng kỳ lý, nghĩa là: đã gọi ai bằng ‘cha’, thì phải xưng ‘con’ với ‘ngài’ ấy, chứ. Mà, danh xưng ‘cha/con’ luôn ngầm hiểu mối tương quan thân sinh/con đẻ, hoặc: thái độ kẻ cả, cha chú? Theo truyền thống Nho giáo, Cha hoặc Thầy, là người chỉ biết ‘phán’. Còn, ‘con’ vẫn là người chỉ nên ‘nghe’ và nhận lệnh.

Với Công Đồng Vatican II, tương quan cha/con trong nhà Đạo, phải dần dà đổi thay cho thích hợp với sứ vụ tông đồ. Và, tương quan trong lối xưng hô cũng phải đổi mới cho hợp với lẽ Đạo, mới đúng.

Bàn rộng hơn, vấn đề danh xưng/tên gọi sẽ không thành chuyện, cũng chẳng gây khó khăn gì nhiều đối với người nước ngoài. Bởi, với người Phương Tây, cha mẹ hay con cái thường gọi nhau bằng tên tục. Tức: không đặt nặng thứ tự sinh trước sinh sau, thế hệ trước thế hệ sau. Có thân lắm hoặc yêu thương lắm, chỉ cần ghép thêm hai chữ “my dear” (mon cher/ ma chère) phía đuôi, là đủ.

Đằng này, với người Việt, một khi đã xưng ‘cha’ với người nào đó, hoặc gọi họ là ‘con’/’các con’ phải làm thế này, thế nọ, thì lúc đó không còn quan hệ mật thiết, thân tình nữa, mà là: lệnh hoặc đôi bên đã có sự cách biệt, trông thấy. Một thứ kính nhi viễn chi.

Nhìn vào tôn giáo bạn, người Đạo Phật gọi các nhà sư bằng ‘Thầy’ và các sư nữ bằng ‘ni cô’. Bên Tin Lành, bà con gọi các bậc vị vọng là ‘mục sư’, hoặc thầy giảng là ‘Thầy’, chứ ai xưng cha với con, như các linh mục bắt bổn đạo mình kêu đâu. Nếu bảo, đây chỉ là cha ‘linh hồn’ như vị nào từng biện giải, thì đâu rồi, mẹ ‘hồn linh’ lẫn ‘linh tinh’? Sao không gọi các nữ tu là ‘mẹ’ mà chỉ là ‘sơ’ (phiên âm từ tiếng Pháp: soeur), dù đôi khi các chị cũng làm công việc linh hướng, hướng những linh hồn, nữa. Thành thử, ngôn ngữ nói lên quan hệ, để diễn tả tính quan trọng trong tương quan giữa người với người.

Còn nhớ, có một lần, một linh mục bạn chịu chức hai năm sau bạn linh mục của bần đệ, qua câu chuyện thân mật trong bữa Khilikhitô nọ, (nghĩa là chỉ họp mặt để vui vầy chứ không mang tính ‘linh hướng’ hay ‘linh hồn’ gì cả), đôi bên nhận họ nhận hàng, nhận ra tông ti trên dưới, ta cùng một thế hệ… tu đi. Nay, chỉ khác nhau có một điều: kẻ là cha Đạo, người bố đời, thế thôi. Rất vui vầy hỏi han, nhậu nhẹt và vui hưởng. Thế nhưng, ngày vui qua mau, và cũng bớt vui khá nhiều khi “ông” cha Đạo ấy có việc phải về sớm, bèn “tổng’ chào mọi người kể cả vị cha đời, vốn học trên lớp bố ấy, chính là đương sự viết bài này), rằng: “Cha về nhé, các con!”

Xem thế, vấn đề xưng hô cha/con Đạo-đời là vấn đề của mấy “ông” linh mục, chứ không phải của các “cụ” ngoài đời. Nói vụng nói trộm, nếu sau này Giáo hội cho phép phụ nữ làm linh mục (chẳng chóng thì chày rồi cũng đến ngày “N” ấy thôi), thì các linh mục nữ ấy sẽ xưng hô làm sao với các “cụ” cha hoặc “mẹ” ở đời? Chẳng lẽ lại chào nhau… “Thôi, cha “nữ” về nhé các con, nữ nam!” hoặc: “Mẹ” về nhé các bố đời? Thật cũng khó nghe, chứ nhỉ? Khó nghe và khó chấp nhận.

Thôi thì, ta cứ để qua một bên chuyện xưng hô, gọi nhau í oét. Nếu chỉ có tính xã giao, mời chào thôi, cũng chẳng là điều muốn nói. Đằng này, có “cụ” dù mới chỉ làm cụ được vài năm thôi cũng đã quên ngay câu dặn dò của vị chủ chăn hôm truyền chức: các con hãy sống những điều mình rao giảng, chứ đừng giảng điều mình đang sống.”

Mà điều mình đang giảng là Lời Chúa vẫn nhắc nhở hơn 2 ngàn năm không thiếu: “Các con đừng gọi nhau bằng Cha, vì chỉ có một Cha trên trời.”

Và, chớ có giảng điều mình đang sống. Nghe rất chí lý. Bởi, có cụ chưa làm “cha” nhà Đạo thì khấn nguyện đủ điều, nào thanh tịnh, vâng lời và khó nghèo, đủ cả. Đến khi làm “cụ “ rồi, dù chỉ là cụ non, mới được dăm ba năm, cũng đã ra vẻ thày đời, rất bậc “cha”, cùng chú. Từ đó, coi những người đáng tuổi cha thật của mình, như con. Con tất tần tật.

Có lẽ đến đây, cũng nên ngưng buổi phiếm. Kẻo, cả nguời viết lẫn kẻ đọc sẽ cùng nhau lên cơn sốt mà tố khổ, hoặc kể sướng cho nhau nghe dài dài, thì chết mất thôi.

Thay vào đó, xin tình nguyện kể cho nhau chuyện tình đời. Hy vọng sẽ thấy yêu nhau hơn. Thân nhau hơn, như những người đồng nghiệp trên chiến tuyến tông đồ. Ở đó, mọi người vẫn chỉ là anh là chị, là em của nhau. Luôn hỗ trợ đùm bọc, dắt díu nhau trên chốn chợ đời hoặc nhà Đạo, mà sống Tin Mừng. Tin rất Mừng về cảnh chung sống hài hòa; không còn khinh khỉnh ngó xuống. Coi nhau như kẻ cả/người dưới, chẳng dám ngẩng đầu.

Chuyện kể hôm nay, là một mẩu đối thọai về vi tính giữa người có kinh nghiệm như “cha” hoặc cụ non và kẻ chẳng có tí gì là nghiệm với kinh.

Chuyên gia: Nào, có chuyện gì thế, bạn hiền?

Khách gọi: Tôi đã tham khảo một số nơi, nay muốn cài vào máy mình chương trình này nhưng không rành cho lắm, giúp tôi được không?

Chuyên Gia: Được quá chứ, bạn. Ta bắt đầu chứ?

Khách Gọi : Vâng tôi đã sẵn sàng. Phải làm gì trước?

Chuyên gia: Trước tiên, bạn mở rộng con tim của mình. Bạn tìm ra địa chỉ con tim chưa?

Khách Gọi: Rồi. Nhưng nhiều chương trình cùng lúc chạy liên tu, mình vẫn cài vào được chứ?

Chuyên gia: Cái gì đang chạy vậy?

Khách Gọi: Hãy gượm. Xem nào. Đây này: Đau khổ Thời Đã Qua; Tự Ti Mặc Cảm; Ác Cảm Hận Thù. Và, hiện giờ thấy có chương trình Rất Bực Tức đang chạy ngút ngàn.

Chuyên gia: Không sao. Phần mềm của chương Yêu Thương sẽ xóa sạch phần của chương trình Khổ Đau Thời Đã Qua. Nó sẽ biến ngay thôi. Có thể, bạn vẫn còn thấy nó lưu dấu hiện diện nơi bộ nhớ, nhưng nó sẽ không làm ngưng trệ các chương trình khác của bạn đâu. Phần chương trình Yêu Thương bây giờ đã qua mặt chương trình Tự Ti Mặc Cảm bằng “mô đun” khác gọi là Rất Tự Tin hoặc Mặc Cảm Tự Tôn, tùy bạn sẽ chọn. Tuy nhiên, bạn phải xóa hẳn chương Ác Cảm và Rất Bực Bõ mới cài vào được. Bởi vì, các chương ấy sẽ bị phần mềm của chương Yêu Thương xóa hết ngay bây giờ. Bạn có xóa được không?

Khách Gọi: Hiện tôi chưa biết cách. Có thể nào chỉ cho tôi được không?

Chuyên gia: 30 giây thôi, không khó. Trước hết, đưa chuột vào Menu, tìm đến Tha Thứ. Làm càng nhiều càng tốt cho đến khi nào Ác Cảm, Hận Thù và Hờn Giận biến mất mới thôi.

Khách Gọi: Làm được! Thương Yêu tự nó đang cài. Như thế có đúng cách không?

Chuyên gia: Rất đúng. Nhưng cũng nên nhớ là bạn chỉ có chương trình căn bản thôi đấy nhé. Còn phải nối kết với các Con Tim khác để nâng cấp.

Khách Gọi: Ấy chết! Tôi vừa phạm lỗi. Nó nói: Sai sót – Chương trình không chạy ngoài phần cấu thành”. Phải làm sao bây giờ?

Chuyên gia: Không sao đâu. Có nghĩa là: Yêu Thương đã được cài và đang chạy trên Con Tim, nhưng chưa chạy vào Con Tim của bạn. Theo nghĩa không chuyên môn, thì nó muốn nói Bạn phải Yêu Thương mình đã trước khi cài Yêu Thương người khác.

Khách Gọi: Vậy thì phải làm sao?

Chuyên gia: Dẹp bỏ Tự Mãn; rồi nhắp các tập tin sau đây: Tự Tha; Thẩm Định Giá Trị Riêng Tư và Thừa Nhận Hạn Chế của mình.

Khách Gọi: Được. Xong ngay.

Chuyên gia: Bây giờ bạn chép tất cả vào ổ dĩa “Tim Tôi”. Máy sẽ chép đè lên bất cứ tập tin nào gây mâu thuẫn và bắt đầu nối tạm các chương nào sai sót. Điều nữa, bạn cũng cần xóa chương Tự Kiểm Bằng Lời Nói ra khỏi ổ đĩa và làm sạch Giỏ Rác để nắm chắc là tất cả đều ra đi và sẽ không quay trở về.

Khách Gọi: Kìa! Tim tôi bây giờ ngập những tập tin mới. Mỉm Cười đang đi vào màn hình nhỏ của tôi và Bình An cùng Toại Nguyện đang được chép vào ngập Con Tim tôi. Như thế có là bình thường không?

Chuyên gia: Thỉnh thoảng thôi. Với những người khác, cũng mất nhiều thì giờ, nhưng cuối cùng rồi thì tất cả mọi chuyện đều đạt đúng thời hạn. Như vậy là, Yêu Thương đã được nhập vào. Còn một chuyện nữa, đừng kết thúc điện đàm vội, Yêu Thương là phần mềm miễn phí. Cần đảm bảo là hãy cho đi và gửi các mô đun đến những người bạn gặp. Để rồi, họ sẽ san sẻ với người khác nữa và gửi về lại cho bạn vài mô đun rất tuyệt.

Khách Gọi: Cảm ơn Chuyên Gia. Rất biết ơn.

o0o

Cuối cùng, phải nhận là thật khó sửa đổi, một khi đã có thói quen trong xưng hô. Sửa hay không sửa, điều quan trọng là: khi xưng hô với nhau, ta nên cài phần mềm chương trình Yêu Thương vào địa chỉ của Con Tim, là được.

Bởi lẽ, vào ngày cuối của cuộc đời, tất cả cũng chỉ cần có thế, mà thôi.

Trần Ngọc Mười Hai

đôi lúc cũng thấy

lấn cấn.

§7 – NGHE CŨNG LÀ QUÀ TẶNG

( 1 Cr 14, 1 – 40 )

Không cần biết, em là ai. Con trai hay con gái. Đã có tuổi, hay mới chỉ có tên. Chẳng cần hỏi, em có thích không thái độ và hoạt động của vị tăng sư nhà Bụt. Mà tên tuổi, nghe cũng rất quen. Dường như, ông là thiền sư. Một thiền sư nhà Bụt đã phát biểu như sau:

“Trong xã hội hiện đại, con người đã và đang mất đi năng lực lắng nghe. Ngày nay, có những ông chồng không thể nói với vợ, những người cha không thể nói được với con cái”.

( Thích Nhất Hạnh ở Bangkok- Tin BBC – 21/5/2007 )

Có đồng ý với Thiền sư hay không, cũng phải nhận rằng: nhiều người hôm nay vẫn có năng lực để thấy và để nghe, đấy chứ. Có điều là, họ chỉ muốn thấy và chỉ muốn lắng tai nghe những gì họ thích, mà thôi. Còn chuyện: có lắng nghe điều hay lẽ phải của Đấng Trên Cao không, vẫn là quà tặng phải “xin”, mới có. Phải hỏi, mới có câu trả lời. Thỏa đáng.

Và câu trả lời, về nghe-cũng-là-quà-tặng, thì: những ai thường xuyên đọc Kinh thánh sẽ gặp ra điều đó trong thư Thánh Phao-lô gửi đến cộng đoàn khắp nơi. Đặc biệt, là cộng đoàn tiên khởi, ở Cô-rin-thô.

Trong thư thứ nhất gửi cộng đoàn này, Thánh Phao-lô đề cập nhiều đến “ơn thần thiêng nói tiếng lạ” (1 Cr 14: 1). Để hình tượng hóa ơn thần thiêng này, thánh nhân dùng thân xác con người làm biểu tượng, mà so sánh. Và, mọi thành viên trong cộng đồng Dân Chúa, đều là chi thể cùng một thân mình, là Đức Ki-tô. Hễ một chi thể bị đau, cả thân mình thấy mệt. Một phần thân thể phát triển, là toàn bộ con người hưng phấn, Bởi thế, vốn là chi thể của cộng đoàn, mọi người cũng nên tiếp tay gầy dựng sao cho cộng đoàn nên tốt đẹp. Có thế, mới xứng đáng là quà tặng của Giê-su Ki-tô, Đức Chúa.

Về quà tặng, thánh Phao-lô liệt kê những gì Chúa trao ban, theo thứ tự quan yếu của mỗi món. Đại để, có người được phước làm tông đồ, kẻ thì ngôn sứ. Vị khác, rất thích hợp với vai trò thầy dạy. Chữa lành tật bệnh hoặc công việc gì khả dĩ nâng đỡ, đùm bọc những người anh em. Người có tài ăn nói, kẻ có khả năng lắng nghe. Như phụ nữ trong các buổi hội họp. Ở thời trước.

Trong thư ngắn, Thánh Phao-lô kể khá dài về kỹ năng cũng như biệt tài làm tiên tri, nói tiếng lạ. Làm tiên tri – nói tiếng lạ, chắc chắn phải là một quà tặng Chúa ban. Nhưng, không phải là không có những rắc rối kèm theo. Rắc rối, có thể là cơn xuất thần như vừa được mặc khải. Và, vị tiên tri lúc ấy chỉ bập bẹ những điều mà người nghe không thể hiểu. Ở nơi thư, thánh nhân còn giải thích về các hiện tượng, rằng: trừ phi người hiện diện biết cách diễn nghĩa sự kiện ấy, bằng không thì quà tặng này sẽ không thành hiện thực. Bởi, quà tặng là để gầy dựng cộng đoàn. Vì lợi ích của cộng đoàn. Chứ không phải để cho cá nhân, riêng ai.

Và, tác giả thư tâm tình gửi cộng đoàn, còn minh định thêm một điều, là: quà tặng làm Ngôn Sứ và nói tiếng lạ phải được lồng trong bối cảnh của cộng đoàn. Dùng không đúng, sẽ đi đến hiện tượng náo loạn trong chính cộng đoàn các kẻ tin. Nhất là, vào buổi tụ tập để nghe nhau. Nghe, chứ không phải thi nhau nói. Và, khi đã có người nói, dù là tiếng lạ hay chỉ là ngôn ngữ của vị Tiên Tri, thì mọi người nên lắng nghe.

Nói cho cùng, cộng đoàn nào cũng thế, người người thường chỉ thích nói. Chứ, không thích nghe. Cho dù, nghe vào những lúc lòng trí còn đang “động”. Rất động, vì những sinh hoạt của đời sống. Luôn luôn động. Chứ không tĩnh, như các buổi thiền. Và, làm sao có thể tĩnh và “thiền” suốt được, khi con người mình đang động. Nhất thứ, mình lại không phải như các bậc “thiền” sư, đắc Đạo. Tức, những sư tổ môn thiền, hoặc chuyên lắng nghe. Nghe con tim mình. Tim của thiên nhiên, vạn vật.

Thế gian hôm nay, không phải “đã mất đi khả năng nghe”. Mà chỉ là: không có nhiều cơ hội và thời gian, để nghe. Đâu phải, ai cũng có khả năng và thì giờ để nghe. Để thiền, đâu. Ngay như, các vị mang danh là “thiền sư” cũng thích nói nhiều, chứ đâu muốn nghe nhiều. Cũng thế. Đâu phải “ngày nay có những ông chồng không thể nói với vợ mình”, chẳng phải vì ông ta hoặc vợ ông không chịu nghe. Không muốn nghe. Mà vì, ai cũng chỉ thích nói. Cả vợ chồng, con cái, lẫn sư cha.

Thành thử, như có nói ở trên. Nghe và lắng nghe không chỉ là quan năng sẵn có đi liền với thân xác, khi con người sinh ra. Nghe, là quà tặng từ Trên. Chẳng đúng sao ? Này nhé: ngay từ lúc mới sinh, trẻ bé đã có những hai tai. Và, chỉ một miệng. Bé có la, có khóc nhiều cho lắm thì cũng chỉ độc nhất từ một miệng. Như thế, đâu có nghĩa bảo là: bé đã mất đi năng lực “lắng nghe”. Trái lại mới đúng. Bởi, bé đã biết nghe từ lúc còn trong bụng mẹ. Nhưng khi lọt lòng, tiếp xúc với đời, bé mới bắt đầu biết la. Biết khóc. Và, cũng biết nghe.

Nói cho cùng, muốn cho quan năng “biết lắng nghe” như quà tặng đích thật, tưởng cũng nên liên tưởng đến câu thơ, bài hát ta vẫn nghêu ngao từ thuở nào:

“Xin cho con biết lắng nghe

Lời Ngài dạy con trong… quá khứ.”

Lắng nghe, quả là quà tặng. Quà tặng ấy, nếu không xin sẽ không có. Nhưng vấn đề là, khi có nó rồi, mình còn giữ nó cho tốt, hay không.

Trần Ngọc Mười Hai,

đang nghe đấy,

nhưng vẫn cứ hỏi

§8 – NAY ĐỒ DÂNG CÚNG, CÓ NÊN ĂN

(1Cr 8: 1-13)

Nếu kịch tác gia bi-hài Wlliam Shakespeare của Anh Quốc mà còn sống, và đang ở đất nước của người Việt mình, thì chắc hẳn trong kịch bản Hamlet, ông cũng có câu nói nổi cộm như bao giờ. Câu ấy đại loại, như: Ăn hay không ăn đồ cúng, đó mới là vấn đề.

Vâng. Qua chung sống với người ở ngoài, dân con đi Đạo chúng ta cũng từng được mời ăn đồ cúng kiếng, mà người thường vẫn gọi là “thừa lộc”, tức: các phẩm vật cơm chay đã dâng cúng thần linh, Phật Vị, Đấng ở trên vào các ngày giỗ chạp, cúng kỵ. Sống ở đâu. Chung đụng với cộng đoàn nào khác biệt, ta đều gặp tình huống tương tự. Mỗi tôn giáo, mỗi cộng đoàn đều có tập tục và niềm tin khác biệt. Cả đến niềm riêng tin tưởng nơi đồ cúng, đã đặt lên bàn thờ dâng tiến đấng trên cao, làm lễ vật chứng giám niềm tin. Chí ít, là lễ vật dâng Thần linh, Lạt Ma, Đức Phật .

Cộng đồng dân Chúa Đạo mình, cũng từng kinh qua các kinh nghiệm như thế. Nhất thứ, đối với các cộng đoàn sống gần gũi với người ở ngoài Đạo Chúa, như dân thành Côrinthô. Vào thời trước, Giáo đoàn tiên khởi Côrinthô cũng từng có vấn nạn tương tự. Nhiều vị trong giáo hội ở đây từng ưu tư thắc mắc về việc ăn đồ cúng của người ngoài Đạo. Nên, các vị đã biên thư hỏi vị linh hướng của mình, là thánh Phaolô tông đồ.

Trả lời cho vấn nạn trên, thánh Phaolô đã để ra hai chương 8 & 9 viết trong thư gửi giáo đoàn Côrinthô, năm 54 CN. Vừa qua, trong loạt bài khai tâm tìm hiểu thư thánh Phaolô đăng trên The Catholic Weekly số 4363 đề ngày 29/04/2007, Lm M Kenney, SM có lời bình như sau:

“Trả lời vấn nạn: có nên ăn đồ cúng hay không? Thánh Phaolô đưa ra 3 đề mục đề cập 3 chuyện khác nhau. Chương 8, nói về chuyện ăn đồ cúng kiếng thần linh. Chương 9, bàn về nguyên tắc phải giữ khi ở vào hoàn cảnh hiện thời. Và cuối cùng, thánh nhân đưa ra một vài gợi ý nhằm giải quyết vấn đề, nêu trên.

Trước hết, là đề tài làm bận lòng người dân thành Côrinthô nhất, tức: về thú vật tiến lễ. Theo tập tục thời bấy giờ, không phải toàn bộ vật thú hy sinh đều đã toàn thiêu. Mà là, chỉ một phần thân mình của thú làm của lễ mới bị thiêu và đưa lên bàn thánh, thôi. Phần còn lại, được trả lại cho người tặng để họ chia sẻ thức ăn ấy với gia đình họ.

Trong thư, thánh Phaolô nói có 3 cách có thể giải quyết: ăn phần nào chưa bị thiêu ngay trong đền thờ dân ngoại (8: 10). Có thể ăn phần còn lại đem bán ngoài phố chợ (10: 25). Hoặc, có thể dùng phần ấy mà ăn tối ở chỗ riêng tư với bạn bè, ngoài Đạo (10: 27).

Vấn đề thánh Phaolô đặt ra cho dân thành Côrinthô, là: ăn đồ cúng như thế có phải là hành vi thờ phượng ngẫu thần, chăng? Thánh Phaolô quả quyết: tín hữu Đức Kitô biết rằng chỉ có duy nhất một Chúa là Chúa Cha và Con của Ngài, là Đức Giê-su Kitô thôi. Vì thế, sẽ không thành vấn đề gì cả nếu tín hữu Đức Kitô ăn thịt thà đã dâng cúng ngoại thần, bởi lẽ, tín hữu Đức Kitô thừa hiểu rằng Ngoài Thiên Chúa ra, không có thần nào là Chúa hết.

Tuy nhiên, trong cộng đoàn, vẫn có một số người không có được lòng tin vững chãi. Đối với họ, ăn đồ cúng kiếng ngoại thần rất dễ vấp ngã, làm cớ vấp phạm cho nguời khác. Tức, những người anh, người chị trong cộng đoàn mình sống, yếu đức tin hơn.

Đi vào thực tế, thánh Phaolô với tư cách tông đồ được Chúa chọn làm gương mẫu cho cộng đoàn, nay có những chỉ dẫn về việc ăn đồ dâng cúng ngẫu thần. Trước tiên, là lời bàn về việc tham gia tiệc dâng tế tại các đền thờ người ngoài Đạo. “Được phép làm mọi sự, nhưng không phải mọi sự đều có ích” (1Cr 10: 23). Nhất thứ, những điều “không có ích” ấy phản nghịch lại lời kêu mời của Đức Kitô. Họ được ăn nhưng không phải là: ở nơi thờ tự ngẫu thần. Mà là, được phép ăn tại bàn thờ của Thiên Chúa, tức là: tiệc thánh thể. Tiệc agapè của lòng mến.

Thứ đến, nếu là đồ bán ngoài chợ mà trước đó đã dâng cúng các thần ở đền thờ Hy Lạp và La Mã, thì sao? Cá nhân tín hữu Đức Kitô có được mua thức ấy về ăn không? Thánh nhân trả lời là: Được. Bởi, tín hữu Đức Kitô đều hiểu rằng, thần của người Hy Lạp và La Mã đều không phải là Chúa. Và, họ được phép ăntrong chốn riêng tư “và đừng hỏi han gì cả, vì cớ lương tâm” nếu không là cớ vấp phạm cho bạn bè, người thân(1Cr 19: 25).

Tóm lại, nếu người đi Đạo, ai được mời đến ăn nhà bạn bè, người ngoài Đạo, họ có thể ăn bất cứ thứ gì; trừ phi, có Kitô hữu khác cũng có mặt hôm ấy và coi việc ăn uống như thế là cớ vấp phạm. Và, “Đừng ai tìm ích riêng mình, nhưng là ích cho kẻ khác” (1Cr 10: 24), cho nên hãy thận trọng.

o0o

Ngày nay, khi chú giải Lời Chúa qua thư thánh Phaolô tông đồ, Linh mục M Kenney, SM không thêm lời bàn, hoặc khuyên răn rút từ luật Hội thánh, hết. Tuy nhiên, với ánh sáng dẫn đưa từ các thông điệp về phụng vụ cũng như thần học sau Công đồng Vatican II, vấn đề nêu trên tưởng cũng đã có hướng giải quyết rồi.

Còn nhớ, kể từ thời Hậu-Công Đồng Vatican II, tín hữu Đức Kitô sống ở Việt Nam và một số nước Á Châu, đã được phép không thờ phượng nhưng vẫn tôn kính ông bà tổ tiên, đã về với Chúa hay thành Phật. Tôn kính không có nghĩa là tôn thờ. Vì, rõ ràng ta vẫn được dạy rằng: chỉ thờ phượng một Chúa, mà thôi.

Cuối cùng, vấn đề cần đặt ra hôm nay, không phải: có được ăn đồ cúng hay không? Để rồi, anh em mình cứ thế mà tranh cãi dài dài về luật lệ, với giới răn. Nhưng, cũng nên chú tâm đến điều khoản đậm nét trong giới luật duy nhất và tối thượng Chúa ban hành, là: “Hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu chúng con.” Những gì phản chống lại điều khoản của giới luật này, mới là chuyện đáng bàn. Và, đáng để ta tranh cãi. Hoặc hỏi han.

Trong tinh thần thân thương trở về với câu nói rất bi và hài của kịch tác gia Shakespeare, có lẽ cũng nên đặt lại lời khẳng định trăn trở nêu ở trên, rằng thì là: “Thương hay không thương tha nhân láng giềng của mình, đó mới là vấn đề.” Đó chính là vấn đề thâm căn nhất. Đó là vấn đề nhức nhối không kém. Của mọi người. Vào mọi thời.

Trần Ngọc Mười Hai

và những thắc mắc đặt thành vấn đề,

nhưng không cứng rắn.

§9 – BẬN LÒNG NGƯỜI CON

(1Cor 11: 23-26)

“Cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn bánh và uống chén này là anh chị em loan truyền Chúa đã chịu chết.”

(1Cor 11: 23-26)

Rõ ràng lời khẳng định trên đây là của vị thánh rường cột về tín lý thần học của Giáo hội, thánh Phalô Tông đồ. Là rường cột, nhưng thánh nhân trước đó đã là một Pharisêu, thứ dữ. May mà, thánh nhân đã “chiêu hồi” nhà Đạo, rất kịp thời. Chứ không thì, cũng khó cho các vị giảng thuyết, xưa nay. Khó, vì sẽ có và có thể có nhiều sự kiện xảy ra trong giáo lý, phụng vụ Hội thánh (?). Nhưng dù gì đi nữa, đã từ lâu mỗi lần đọc trích đoạn các thư của vị thánh rất tông đồ này, dân con nhà Đạo vẫn có thói quen hay và đúng khi tuyên bố, rằng các đoạn thư mình vừa được nghe qua đều thấy rất ư …“rờn rợn”, như: Đó là Lời Chúa!.

Vâng. Các đọan văn hoặc thư được trích dẫn từ Tân Ước hay Cựu Ước đều được Hội thánh coi là “Lời Chúa”, hết. Điều này, chắc chẳng có ai “bận lòng tướng quân” để mà thắc mắc? Những thắc mắc, đại để như: trình thuật Tân Ước, thì không có gì phải bận tâm, chứ nhiều cốt truyện được kể trong Cựu Ước có gốc gác từ một số truyện dân gian Do Thái hoặc của các nước Cận Đông thời xa xưa, được “các Đấng” đưa vào thánh kinh. Thế mà, vẫn được Hội thánh gọi là Lời Chúa. Thôi thì, bần đạo chỉ biết tin như “tin (rất) kính) và làm công việc “loan truyền Chúa đã chịu chết”. Thế thôi.

Chuyện phiếm hôm nay, bần đạo chẳng dám lạm bàn về tính thực/hư hoặc xác thực hay không của nhiều cốt truyện trong bản văn Kinh thánh, đâu. Bởi, cách đây vài chục năm có lẻ, bần đạo từng mài đũng quần nhà trường, được cố giáo sư kinh thánh Lm Nguyễn Thế Thuấn dạy cho biết, là phải hiểu như thế. Nay, chỉ: xin vâng! Và “Cho con biết lắng nghe Lời Ngài dạy con trong …tăm tối.”

Đúng thế. Vốn, đã nhiều năm hụp lặn “trong tăm tối”, nên hôm nay bần đạo mới xuất đầu lộ diện nêu thử vài thắc mắc đã được một số “đấng bậc” vị vọng đề cập đến khá lâu, về phụng vụ. Để may ra, cũng có được chút ánh sáng chiếu rọi nơi tối tăm mù mịt mà nghe “lời ngài dạy” để tỏ con ngươi nhà Đức Chúa Lời, cho nó bõ.

Thế nên, dưới đây chỉ là những thắc mắc rất không thứ tự của một số kha khá nhiều người từng thổ lộ với bần đạo về thói quen trong cử hành nghi thức phụng vụ trong Đạo, mà ta thường tự nhủ:

“mỗi lần ăn bánh và uống chén này, là anh chị em loan truyền Lời Chúa”.

Vậy thì, chả dám dông dài mà làm gì, xin đi thẳng vào vấn đề. Cho được việc.

Số là: từ hồi còn khá trẻ -thứ trẻ người nhưng không non dạ- bần đạo được vinh hạnh tham dự một số buổi chia sẻ Lời Chúa, bẻ bánh tại gia theo kiểu hơi khác sinh họat thường thấy trong nhà Đạo. Mà, lúc ấy có vị gọi là “nghi tiết phụng vụ theo kiểu giáo hội Hà Lan hay Hoa kỳ, gì đó. Tựu trung, cách bẻ bánh Lời Chúa kiểu này cũng đã mở ngỏ cửa giáo hội địa phương để có được nguồn gió mới rất tinh mơ, về một hình thái phụng vụ rất thích hợp với phong tục tập quán của dân tộc.

Lúc ấy, dường như ơn thánh dư đầy hay sao mà giáo hội sở tại đã có kiểu phụng tự độc đáo, như thế. Ngay lúc bấy giờ, có bạn đã tự hỏi: sao giáo hội không có những buổi hợp lòng bẻ bánh Lời Chúa theo hình thức thế nào đó phù hợp với giáo hội phương Đông, hơn nhỉ?

Nói cách khác, bạn mình tự hỏi: tại sao ta không có những buổi dâng lễ hoặc tế hiến theo nghi thức “ăn Mình và uống Máu Chúa” một cách thích hợp với bối cảnh và phong tục tập quán của Á Đông, người Việt? Làm như thế, chắc sẽ hấp dẫn nhiều người trẻ đến nhà thờ, là điều chắc. Ít lâu sau, không thấy nhiều buổi như thế nữa. Có lẽ thiên hạ sợ rằng cử hành nhiều buổi như thế quá sẽ hóa loạn. Rồi ra, Giáo hội “trung ương” cũng ra lệnh “dứt phép thông công”, thôi. Thành thử, bạn bè cũng như bần đạo đã phải “thun vòi”, chỉ lẳng lặng lòng hỏi lòng. Tự mình trả lời cho mình, mà thôi.

Bẵng đi một dạo, tại xứ sở quê hương của người, bần đạo gặp được một đấng “vị vọng” -đúng hơn, phải nói là một nhóm Đạo hữu hay tín hữu Đạo Chúa- có cùng một thắc mắc tương tự. Bèn thấy lòng mình nhẹ hẳn đi. Vị ấy, là nữ tu người Úc rất vị vọng, sơ Carmel Pilcher, đã đại diện cho Giáo hội Úc đi phó hội ở Đài Bắc. Một hội thảo theo chuyên đề, xem cách thức người người phụng thờ Thiên Chúa khác nhau thế nào? Lúc ấy, sơ Carmel Pilcher vẫn còn là Giám đốc Uỷ ban phụng vụ của Tổng giáo phận Sydney.

Về đến nhà, sơ Carmel Pilcher đề nghị với Tổng giáo phận: ta nên đưa vào nghi thức phụng vụ Giáo hội, một số truyền thống sinh hoạt có tính cách văn hóa, đầy bản sắc dân tộc. Cụ thể hơn, sơ Pilcher có các đề nghị như sau:

-Hãy chia sẻ phần âm nhạc và phong tục của mỗi nước và đưa vào phụng vụ chung.

-Như vào ngày Lễ Tro, ta nên dùng dầu dừa và nước cốt dừa để uống và xức dầu thay cho dầu thánh đang dùng. Vì ở Phương Đông, người ta dùng dầu dừa để chữa bệnh và tẩy uế các tì ố.

-Mầu đỏ, là mầu mang nhiều ý nghĩa với người Châu Á. Thành thử, ta nên đưa nhiều mầu đỏ vào trong khuôn viên nhà thờ hơn.

-Chắp tay, cúi đầu là cử chỉ cung kính của người nhiều nước tại Châu Á. Ngay như ngày Tết Âm Lịch, một lễ hội rất long trọng của người Á Đông, có nhiều nghi thức phong phú và đầy ý nghĩa truyền thống. Nên, Giáo hội hãy cho phép các nước này được sử dụng lịch phụng vụ dọc theo Âm Lịch, cho đỡ phiền toái, lẫn lộn.

-Trong khi ở Úc, ta thường có thói quen san sẻ thức uống, thì ở các nước Á Châu, người ta mời nhau, chia nhau thực phẩm. Chuyện này, ta có thể thực hiện tại các nước có tập quán tương tự, như: sau thánh lễ, lúc gặp gỡ ngoài nguyện đường, thay vì mời nhau tách cà phê hay trà nóng, ta nên mời nhau một chút gì nhè nhẹ, như: chè, cháo … chẳng hạn. Vân vân và vân vân…

Đề nghị gì đi nữa, vấn đề nằm ở chỗ: được Công Đồng Vatican II soi sáng mở rộng cửa như nguyên tắc hướng dẫn hành động, ta có thể bắt đầu nghiên cứu xem có thể đưa một vài hình thức cụ thể nào đó từ tập quán của người Châu Á đem vào thay cho phương cách phụng vụ có tính cứng ngắc, cổ xưa, vẫn quen sử dụng, lâu nay.

Chẳng hạn như, cho phép các giáo hội địa phương được trở lại với hình thức mà hồi đó có vị gọi là “thánh lễ nhập thể”, do cố linh mục Hoàng Sĩ Quý áp dụng tại nhà nguyện Đắc Lộ (đường Yên Đổ) vào đầu thập niên 70, ở Sàigòn.

Đi từ nguyên tắc cởi mở của Công Đồng Vatican II, ta cứ dọ dẫm thử một vài hình thái phụng vụ khác xưa, như sơ Carmel Pilcher đề nghị. Ví dụ: y phục cho vị chủ tế mặc khi cử hành thánh lễ, cử chỉ bái phục, nhất là thay vì dùng bánh bằng lúa miến, ta thay vào bằng thứ bánh gì đó cũng mang vẻ tôn kính, cũng trịnh trọng như bột lúa, miễn sao không phản lại tinh thần của phụng vụ “Lễ Tiệc Ly”, là được.

Mới đây, trong chuyến thăm tham dự nghi thức phụng vụ tại một làng của người sắc tộc Jarai ở Pleichuet, Pleiku Việt Nam, sứ thần Tòa Thánh Pietro Parolin có nói về Giáo hội Việt Nam đương đại như sau:

“Tôi vẫn còn thấy trước mắt và trong lòng mình hình ảnh các cộng đoàn phụng vụ ở Qui Nhơn, Pleichuet, Hà Nội, vv.. hình ảnh các tín hữu này, mà nhiều người thuộc dân tộc thiểu số, tràn ngập nhà thờ Kontum vào ngày 08/03/2007. Tôi còn thấy trước mắt hình ảnh của cộng đồng Hạ Long thật sốt mến, một cộng đồng từng gánh chịu nhiều khổ đau…” (trích bản dịch từ tiếng Pháp từ Zenit của Trần Duy Nhiên, Việt Nam).

o0o

Thật ra, không thấy Đức Ông Parolin có nói về truyền thống của người sắc tộc trong phụng vụ thánh lễ hôm ấy, hay không. Nhưng theo chỗ bần đạo đoán biết, thì: người có trọng trách hướng dẫn chăn dắt cộng đoàn kẻ tin Pleichuet, là Lm Trần Sĩ Tín, CssR, cũng đã từng chú ý rất nhiều đến hình thái “sắc tộc” khi cử hành hoặc tổ chức các nghi thức phụng vụ cho người sắc tộc, trên Tây nguyên Việt Nam.

Lời cuối của bần đạo khi suy nghĩ và nghe tin về các sinh họat phụng vụ rất “bản sắc”, là: một ngày nào đó, thế nào ta cũng có thay đổi về phụng vụ tại các châu lục địa mới phát triển và còn triển khai nhiều hơn nữa, về mặt phụng tự. Khi ấy, ai cũng sẽ phấn khởi để nhớ và đọc “Lời Chúa” qua thư thánh tông đồ Phaolô gửi giáo đoàn Cô-Rin-thô trích dẫn ở trên: Anh chị em đang loan truyền Chúa chịu chết.”

Chúa đã chết. Chết thực sự ở đất nước Do Thái, cách đây hai ngàn năm có lẻ. Nhưng chắc là, Chúa đang chết với ‘bản sắc’ phụng vụ của ta, ở nhiều nơi.

Trần Ngọc Mười Hai vẫn thắc mắc

và bận lòng

về hình thái phụng vụ

hôm nay

§10 – CỨ CHỌN CHỖ TỐT MÀ NGỒI SAO

(Lc 14: 7-14)

Tin Mừng Chúa nhật 22 có nói:

“khi anh được mời đi ăn cưới, thì đừng ngồi vào chỗ nhất, kẻo lỡ có nhân vật nào quan trọng hơn anh cũng được mời, và rồi người mời phải đến nói với anh rằng :xin ông nhường chỗ cho vị này… ”

(Lc 14: 8-9)

Đành là thế. Nhưng đằng này, đi dự tiệc lòng mến thì sao ?

Mới đây, có bạn đi lễ tiếng Anh, nhặt được “mảnh vụn suy tư” nhỏ trên tờ Bản Tin Giáo Xứ, đề cập đến vị thế/chỗ ngồi trong nguyện đường như sau:

“Tại sao mỗi khi đi nhà thờ, bạn và ta cứ ẩn giấu thân mình nơi hàng quỳ bên dưới mà không chịu ở trên, cho anh em nhờ? Có người đưa ra nhiều lý do để giải thích. Tựu trung, các lý do được tóm gọn như sau:

– để thêm lòng sốt sắng: một trong các lý do họ đưa ra, là: vì bọn tôi không uyên bác, hoặc học cao hiểu rộng, nên ngồi ở dưới cho chắc ăn. Tránh được các câu hỏi bất chợt, hoặc cái nhìn tập trung của vị cha cố đang chia sẻ. Lại nữa, gặp khi ngủ gật, cũng không ai biết.

– vì thói quen, tập tục: ngồi phía dưới là vì hồi nào đến giờ, mẹ tôi vẫn dạy: đi nhà thờ, con đừng bao giờ tìm chỗ tốt mà ngồi. Vì làm như thế dễ khiến người khác chú ý. Gặp khi ho hen hoặc hát trật cũng đâu ai bảo sao.

– do tính vị kỷ: ngồi phía sau, gặp lúc đụng chuyện có thể rút dù rất dễ; hoặc có chuyện gì xảy đến, còn biết đường mà thoát thân.

Nhưng, tờ “Bản tin giáo xứ” còn đề nghị: dù gì đi nữa, nếu toàn bộ cộng đoàn tham dự thánh lễ mà cứ ngồi ở phía sau phía dưới sẽ còn gây nhiều khó khăn hơn, như:

– hàng ghế trước sẽ trống vắng, rất khó coi.

– làm như thế sẽ tạo khủng hoảng giữa “bàn tiệc Chúa ngồi” với “khách ngồi bàn Chúa”, dễ gây lúng túng.

– và người hay đi trễ thường muốn tránh các cặp mắt “nhìn trừng trừng”, nên vẫn chọn giải pháp ở lại đằng sau, hơn là phải đi suốt từ dưới lên, mọi người thấy hết.

Để giải quyết khó khăn trên, người viết “mảnh vụn suy tư” bèn đề nghị với cộng đoàn các kẻ tin, rằng: để tỏ lòng hiếu khách với người anh em trong cộng đoàn thường hay đi trễ ta nên lấp đầy chỗ trống ở hàng trên. Chúa biết lòng ta, sẽ trả công, bội hậu.

o0o

Từ chuyện “ngồi đâu ? đứng chỗ nào ? trong giờ lễ” ta qua câu hỏi khác cũng của một bạn không rành chi tiết phụng vụ, đọc được nơi tuần san The Catholic Weekly – 15/5/2007, như sau:

“Khi rước Mình Thánh Chúa nơi bàn tay, tôi thuờng hay thắc mắc/bối rối về mảnh vụn bánh thánh còn sót nơi tay mình sẽ ra sao. Thì, chị bạn là thừa tác viên kẻ liệt cho biết: chuyện Mình Thánh Chúa còn sót trong bình đựng Bánh Thánh là chuyện thường tình, đâu có gì bận tâm đâu, mà phải lo nghĩ ! Vậy, xin hỏi: đâu là ý kiến đúng, xin linh mục cho biết”.

Và, câu trả lời của đấng bậc chịu trách nhiệm giải đáp, vẫn là giải đáp rất kinh điển, như sau:

“Trước hết, cho tôi được phép bắt đầu bằng lời bình luận của người Cha Già khả kính của Giáo Hội, là thánh Xy-rin ở Yêrusalem. Trong sách “Khai Tâm Giáo Lý” dành cho các bổn đạo tân tòng năm 352, thánh Xy-rin có chỉ cách rước Chúa vào lòng như sau: “Khi đến gần Thầy Cả để đón Mình Thánh Chúa, con đừng giơ bàn tay bẹt thẳng ra đằng trước; cũng đừng giang các ngón tay ra ngoài, nhưng hãy để cho lòng bàn tay trái cách sao cho giống như hình ngai vua ngự triều để bàn tay phải đưa Mình Thánh Chúa ngự vào nơi đó.

Vì bàn tay phải của con sẽ đón nhận Vị Vua Cao Cả trên hết các vua. Và khi đón nhận Mình Thánh Chúa Ki-tô nơi lòng bàn tay của mình, con hãy thưa “Amen” Ước gì được như vậy. Và sau khi đã thánh hóa cặp mắt trần của con cho cẩn trọng để tiếp xúc Thân Mình rất Thánh của Đức Chúa, thì con hãy lĩnh nhận bằng tất cả sự thận trọng, để không có gì rơi rớt mất đi. Bởi vì, nếu con để một chút gì rớt rơi bên ngoài thì cũng như thể là con đã đánh mất một phần chi thể của con rồi. Hãy nói cho cha biết coi, nếu có ai cho con nhiều hạt vàng, chắc là con sẽ giữ gìn hạt vàng ấy một cách cẩn thận ghê lắm, để không có hạt nào rơi vãi ra ngoài, có phải không? Với những gì quý hơn nữ trang vàng bạc, thì chắc là con sẽ còn phải cẩn thận hơn nhiều !” ( sđd, 5, 19 – 22 ).

Từ những lời chỉ cách này, rõ ràng là thánh Xy-rin không chỉ coi toàn bộ Mình Thánh Chúa, mà cả những vụn Bánh Thánh là trọn vẹn Thân Mình Đức Ki-tô. Thánh Tô-ma A-qui-nô lại đã phản ánh niềm tin tưởng này trong bài ca vịnh “Khong khen Xi-on” do thánh nhân đặt vào năm 1264 vào cuối lễ Mình Máu Chúa câu hát rằng:

Không còn ngờ vực gì nữa, khi linh mục bẻ bánh làm đôi, mỗi phần đều giữ trọn vẹn thân mình của Chúa.”

Cả đến Công đồng Tri-Đen-Ti-Nô cũng nói về sự thật này như một tín điều của lòng tin:

“Nếu có ai từ chối không tin rằng, phép Bí Tích Thánh Thể Cao Cả, chứa đựng trọn vẹn Thân Mình Đức Ki-tô trong mỗi hình mỗi dạng, và ẩn dưới bất cứ thành phần vụn vặt, khi phân cách, thì kẻ đó rõ ràng bị rối.” ( Giáo luật số 3, chương 13).

Trong tin tưởng rằng mỗi phần của bánh thánh đều chứa đựng trọng vẹn Thân Mình Đức Ki-tô, Bánh Thánh đôi khi được trao cho những người đau ốm, liệt lào, thì dù người chỉ đón rước một phần nhỏ của Bánh Thánh thôi, cũng đã rước toàn bộ Thân Mình của Chúa.

Tương tự như thế, Hội Thánh yêu cầu vị linh mục khi dâng thánh lễ phải hết sức cẩn thận tẩy rửa các ngón tay mình cho thanh sạch và cũng làm như thế khi tiếp xúc bình, chén và dĩa thánh đựng Mình Thánh Chúa. Vì các chén thánh và dĩa thánh này có đựng Mình Thánh Chúa, lúc hiến dâng.

Sách lễ La Mã còn ghi lại những chỉ dẫn thông thường, như sau:

”Mỗi khi có vụn Bánh Thánh dính vào ngón tay, nhất là sau khi bẻ bánh hoặc khi trao Mình Chúa cho giáo dân tham dự, vị linh mục chùi phủi sạch các mảnh vụn từ ngón tay mình lên trên dĩa thánh, hoặc nếu cần, cũng nên rửa các ngón tay này. Và, linh mục cũng phải gom các vụn bánh thánh có thể rơi rớt bên ngoài dĩa thánh nữa.

(Mục chữ đỏ Sách lễ Rô Ma, số 278).

Cũng thế,

“nếu có bánh thánh hoặc mẩu vụn bánh rơi xuống, cũng phải tỏ lòng tôn kính mà cầm lên.”

(sđd, số 280).

Và rồi, các mảnh vụn này phải được phủi gạt vào cho gọn trong chén thánh, rồi sau đó vị linh mục uống tất cả vào lòng. Kế đến, phải chùi sạch chén thánh bằng khăn sạch được gọi là khăn thánh.

Cũng thế, phải cẩn thận khi lau giũ khăn thánh, vì có thể vẫn còn sót vài mẩu vụn bánh thánh dính ở đó. Truyền thống giáo hội khuyên nên kỹ lưỡng khi giặt rửa khăn thánh bằng tay trong thẫu đựng nước và nuớc này sẽ đổ vào bể bồn truyền thẳng xuống đất hoặc đổ vào nơi không ai giẫm đạp. Không được đổ nước này vào bồn rửa bình thường. (xem chỉ dẫn trong sách Nghi thức Phụng Vụ, số 120 )

Khi trao mình thánh cho người ốm/kẻ liệt, thường phải lấy hết mảnh vụn bánh thánh ra khỏi bình đựng cho vào ly nước rồi vị phó tế hay linh mục sẽ uống nước này với lòng kính cẩn.

Khi đón rước Mình Thánh Chúa nơi lòng bàn tay, cũng nên xem có mẩu vụn bánh thánh nào còn sót, phải đưa vào miệng mà đón nhận. Thông thường, ai rước Chúa bằng miệng, thì vấn đề này không đặt ra.

Cùng lúc như thế, cũng không nên quá tẩn mẩn về các mẩu vụn bánh thánh li ti không thấy đuợc bằng mắt trần, tựa như hạt bụi bánh có thể rơi vãi xuống sàn đất hoặc bên dưới bàn thờ.

Nói cho cùng, mọi giáo dân đều phải cẩn trọng khi tiếp xúc với mẩu vụn bánh thánh. Nhưng cũng đừng quá tẩn mẩn tỉ mỉ từng chi tiết. Lẽ tự nhiên cuộc đời dạy ta biết xử sự. Cho nên, chẳng ai có thể tỉ mỉ đến độ lo lắng quá đáng với các mẫu vụn bánh thánh li ti, không thể thấy bằng mắt thịt được.

o0o

Đấy. Nhận định của các đấng bậc và truyền thống Giáo Hội là như thế. Tựu trung, khi đến tham dự tiệc thánh hoặc cử hành nghi thức phụng vụ, thiết tưởng cứ nên dùng lý lẽ tự nhiên là hay hơn cả. Nói cho cùng, nếu đó là mẫu vụn thân mình hoặc xương cốt của người mình yêu dấu, thì chắc chắn ai cũng biết mình sẽ phải làm gì.

Chắc rằng, bạn trẻ khi đưa ra thắc mắc ở trên, cũng đã có câu trả lời.

Lẽ thường tình dạy ta cách sống ở mọi nơi. Mọi hoàn cảnh. Nhất thứ, là khi ta tiếp xúc các đấng vị vọng. Ở Trên ta.

Trần Ngọc Mười Hai

Cũng thắc mắc đấy,

nhưng không bối rối,

tẩn mẩn

§11 – SỐNG ĐẠO VỚI NGƯỜI ĐỒNG ĐẠO

( 1Cr 11, 20 – 27 )

Có nhiều lần, bạn bè thường hỏi nhau về kinh nghiệm sống Đạo giữa đời: phải chăng đó là kinh nghiệm đầy gai góc ? Vâng. Có thể là như thế. Nhưng, với một số người khác: sống đời giữa chốn nhà Đạo, còn gay hơn nhiều. Nhận định này nghe qua có vẻ nghịch lý. Ở một số trường hợp, điều này cũng đúng thôi. Bởi, một trong những điều gay go, rất khó vượt qua trong cuộc đời chính là lối sống cho phải Đạo giữa những người cùng gốc gác. Cùng một niềm tin.

Chuyện này, thật cũng xưa như trái đất rồi. Xưa, theo nghĩa nó từng xảy ra với hội thánh tiên khởi. Đúng hơn, phải nói: đã xảy đến với cộng đoàn Cô-rin-thô. Nay, ta thử nghe thánh Phao-lô tường trình trong thư ngài gửi cộng đoàn thân thương này, để có kinh nghiệm, rất cảm thông.

Trong thư thứ nhất gửi cộng đoàn Cô-rin-thô đoạn 11, thánh Phao-lô đã đề cập đến các khó khăn nội bộ làm rối loạn lòng Đạo của anh chị em, ở đây. Nói là, khó khăn nội bộ, thật ra chỉ là cách nói hoa mỹ đại để diễn tả các khúc mắc quanh lối xử sự giữa các anh chị em trong cùng một cộng đoàn với nhau. Và, nhất là lối hành xử của anh chị em ấy khi cử hành Tiệc Thánh.

Với cộng đồng dân Chúa vào thế kỷ đầu, vẫn thường thấy có vấn nạn, là: có nên ăn uống trước khi cử hành tiệc thánh, không ? Thật ra, của ăn thức uống là thành phần của Thánh lễ rồi. Bởi thế nên, chuyện có được phép ăn hoặc uống hay không trước khi tham dự Tiệc Thánh cũng không còn là vấn đề lớn lao gì. Bởi, vào thời thánh Phao-lô, Tiệc Thánh được tổ chức tại các tư gia. Thông thường, là ở nhà các đấng vị vọng có gia thế, tương đối khá giả. Ở các nơi cử hành tiệc thánh tại gia, thường chỉ có sức chứa khoảng chừng cho 50 vị, là tối đa. Bởi thế nên, khó khăn mà các thánh gặp ở đây, nói rộng hơn, là điều kiện để tổ chức buổi tiệc có khả năng chứa được bao nhiêu vị.

Trên thực tế, cả người nghèo lẫn người rủng rỉnh của ăn của để, xưa nay vẫn cùng nhau đến tham dự Tiệc. Thế nhưng, ở thời thánh Phao-lô, người nghèo chỉ có thể đến dự tiệc thánh sau khi đã hoàn tất công việc đồng áng, lao động để kiếm sống, mà thôi. Nói như thế, tức là: vào tình hình khi xưa, người dư dả rộng thì giờ, thường đến sớm hơn người khác và lại hay độ thực trước đám đến sau. Họ thường xơi hết của ngon, thức lạ, và chỉ để lại cho người đến sau thừa lộc có chút ít đầu thừa đuôi thẹo, thôi.

Có điều khác nữa, là: số người đến sớm tham dự tiệc thánh đã ở trong tình trạng ngà ngà, không xỉn thì cũng đã lưng lửng say, lại say vào lúc tiệc đang ở hồi kết thúc. Thêm vào đó, cũng có vài chuyện xảy đến gây phân rẽ người giầu kẻ nghèo, đó là: cộng đoàn kẻ tin lúc bấy giờ hay có thói quen tổ chức tiệc tại phòng ăn ở nhà các vị có của dư của để. Mà, các phòng như thế lại không đủ rộng để có khả năng chứa hết mọi người đến dự. Bởi thế nên, khi người nghèo đi lao động về để dự tiệc thì lúc ấy đã khá trễ; thành thử, cứ phải ngồi vào chỗ hơi xa, khó có thể tường tận những gì diễn tiến bên trong. Chính vì thế, khó mà thân thương cởi mở, với nhau.

Sự việc cứ như thế tiếp tục xảy đến ngày này qua tháng nọ, thì làm sao tránh được bất mãn đố kỵ, giữa người giàu kẻ nghèo được. Đó là chưa nói trường hợp những người sống thoải mái có của dư dật lại hay có khuynh hướng gần gũi các giới có trách nhiệm, dễ gây nghi kỵ bè phái, hoặc nịnh hót, để có phần. Chính đó là những khó khăn khiến thánh Phao-lô thấy đau lòng khi sự việc cứ tiếp tục diễn ra. Và, tình hình có lúc trở nên tồi tệ đến độ thánh nhân đã phải thốt lời trách móc:

“Vậy cứ như cách anh chị em hội họp cùng nhau một chỗ, thì không còn là để dự Tiệc Thánh của Chúa. Vì mỗi người lo đánh bữa riêng của mình trước và người thì đói, kẻ say mèm.” (1Cr 11, 20 – 21 ).

Để giải quyết các khó khăn trước mắt ấy, thánh nhân đề nghị với thành viên cộng đồng dân Chúa lúc bấy giờ, là: nên chờ cho đến khi mọi người tới đông đủ cả, hãy bắt đầu cử hành Tiệc thánh, thì tốt hơn. Chí ít, hãy ăn uống tại nhà trước khi đi nếu thấy đói bụng. Rồi sau đó, hẵng đến dự tiệc. Có như thế, mọi người mới thấm thía ý nghĩa của việc san sẻ Mình Máu thánh Chúa trong cách thế thích hợp với Lời Ngài dạy.

Để làm giãn tình hình căng thẳng giữa cộng đoàn Cô-rin-thô, thánh Phao-lô đề cập tiếp trong thư về vấn đề ơn đặc biệt Chúa ban cho mỗi người, như sau:

“Đặc sủng chia làm nhiều, nhưng cũng là một Thần Khí. Phục vụ chia làm nhiều, nhưng cũng là một Chúa. Kỳ công chia làm nhiều, nhưng cũng là một Thiên Chúa, Đấng ra uy làm nên mọi sự nơi mọi người” (1Cr 12, 4 – 6).

Khi nói, mỗi người được ban cho biệt tài miệng lưỡi khác nhau, là thánh nhân muốn bảo: đặc sủng này có thể gây hiểu lầm và phân rẽ trong hàng ngũ các anh chị em trong cộng đoàn. Bởi, chính được coi là ơn huệ đặc biệt, nên những người được phú ban ơn ấy, lại tự nghĩ rằng: mình “hơn hẳn” những ai không được Chúa phú ban ơn đặc biệt. Thậm chí, có người sử dụng đặc ân này làm như phương tiện riêng tư khiến càng gây thêm khúc mắc, khó coi.

Cuối cùng, để cắt nghĩa cho con dân ở Cô-rin-thô hiểu thêm về ơn đặc biệt, thánh Phao-lô kết luận chủ đề mà thánh nhân vẫn thường nhắc nhở mọi người, là: tất cả cộng đoàn đều cùng một thân mình, nhưng có nhiều chi thể, nhiều thành viên. Hiểu như thế, ta cứ để Lời Chúa dẫn dắt, là tốt nhất.

Hôm nay, là người nhạy cảm, ta sẽ nhanh chân nhảy vào cuộc mà cho rằng: cộng đoàn tiên khởi cũng giống như mọi cộng đoàn khắp nơi, vào mọi lúc. Nghĩa là, cũng có những nhận định hời hợt, sai sót. Nhất thứ, khi nghĩ rằng: đây chỉ là cảnh “trâu cột ghét trâu ăn”, hoặc “quan võ ghét quan văn dài quần”, mà thôi. Nhưng xét cho kỹ, chuyện xung khắc nội bộ, dù chỉ là chuyện nội bộ của cộng đoàn các kẻ tin vào Đức Kitô, thật ra không đơn giản để ta có được những nhận xét như thế.

Rốt cuộc, để giải quyết vấn đề “nội bộ” ở mọi nơi, của mọi thời, có lẽ cũng nên trích dẫn ở đây lời dặn dò của Đức Chúa. Lời, đã được thánh sử Gio-an, tức vị tông đồ Chúa thương ghi lại như sau:

“Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau”

(Ga 13, 35)

Nhớ điều này, thì mọi khúc mắc hoặc vấn đề dù có trầm trọng cách mấy đi nữa, đều sẽ dễ dàng giải quyết. Để cho vấn đề được quan niệm cách nhẹ nhàng hơn, tưởng cũng nên trích lại ở đây đoạn tuồng cải lương rất ngắn từng được nghệ sĩ Văn Hường thường hát:

“Muốn sống cho ra một kiếp người,

Đời con cay nghiệt, lệ còn rơi.

Mỗi khi thất vọng hờn nhân thế,

Mở miệng thầm than một chữ đời.”

(Bài Vọng Cổ – Đời )

Và, hôm nay cũng như hôm nào, nếu bạn và tôi có than thở về những gì không hay đang xảy đến với cộng đoàn mình, thì hãy bắt chước các ca sĩ dân gian nào khác mà hát rằng:

“Đời, c’est la vie. Tình, c’est l’amor”.

Trần Ngọc Mười Hai

phải thú thật

cũng đã có lần

từng hát rống lên như thế…

§12 – MỘT THOÁNG MẠN ĐÀM VỀ “CÁI GIA GIA”

(Lc 2: 51-52)

Cách nay gần hai thế kỷ, Bà Huyện Thanh Quan đã có lần ngẫu hứng, ứng khẩu thành thơ để vịnh về đèo Ngang nhân chuyến công du qua đèo này. Bài vịnh “Qua Đèo Ngang” của bà, có hai câu cuối kết vẫn làm bận lòng người đọc, đến bây giờ:

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.

(Bà Huyện Thanh Quan – Vịnh Đèo Ngang)

Theo lời bàn của một vị giáo sư việt văn hơn 40 năm về trước là Lm Phạm Thanh Quốc CssR, thì ít có ai quyết đoán được hình thù con “quốc quốc” ra làm sao. Nhưng, ta cũng có thể tưởng tượng nó như loài “chim” lạ, suốt ngày phát lên những âm thanh lanh lảnh giống như người gọi hồn tổ quốc về chứng giám chuyện gì. Còn, cái “gia gia” thì đành chịu. Chẳng ai biết được đó có phải là loài thú hay loài người mà miệng suốt ngày thấy mỏi vì hai chữ “gia gia”.

Đặt vấn đề nói trên, hôm nay, không phải để mạn đàm tính cách hư thực về loài thú (?) luôn cất tiếng kêu rên như thế. Nhưng, người bàn chỉ muốn có đôi nét về chữ “gia” nếu hiểu như tổ ấm, cơ ngơi của gia đình.

Về gia đình, có lần Ts Trịnh Thanh Nhật đã mở đầu cho bài tham luận của ông trên làn sóng điện ở Sydney, Úc Châu có tên là 2SER nhiều năm về trước, khi ông bàn luận về đề tài: “Gia đình, huyền hoặc và thực tại”. Khi ấy, ông có nhận định rất cứng, như: “Với truyền thống gắn bó thân thương sẵn có của ‘gia đình’, người Việt tại Úc sẵn sàng bước vào thế kỷ 21, thế kỷ của Hòa Bình, Thịnh Vượng với lòng khoan dung và độ lượng.” Như thế, có nghĩa là Ts Trịnh Thanh Nhật đồng ý là: các gia đình người Việt ở Úc có truyền thống gắn bó thân thương, rất “nền tảng” của xã hội.

Về phía thành viên của “nền tảng” ấy ở Úc, các nhận định khác cũng đa dạng. Tuy bé bỏng cỡ tuổi Mẫu giáo hay lớp Một đầy tính trẻ thơ, các em học sinh người Úc dưới đây đã có ý tưởng cũng rất “nền tảng”, khi các em phát biểu trả lời thầy cô. Tại trường tiểu học Curran vùng MacQuarie Fields, Sydney, khi được hỏi: “Em nghĩ thế nào về “gia đình”?, các em lần lượt trả lời như sau:

-Shaun: đó là tổ chim non trong đó có Damien, Cathy, Bradley, Sue, Jonathan và em nữa.

-Còn Charlene thì gọi: ‘gia đình’ là: bộ xe-pháo-mã, có ba quần quật đi làm sáng tối, có mẹ quanh quẩn công việc nội trợ trong nhà, và có em là Charlene vui chơi nô đùa với chúng bạn.

-Riêng Mark, thực tế hơn: Nếu không có ‘gia đình’, chắc mấy đứa chúng em đói bụng ghê lắm, và như thế buồn chết đi được…

Con trai thì đơn giản, chỉ như thế. Nhưng con gái vẫn tình cảm hơn:

-Mary, 6 tuổi: ‘gia đình’ là nơi em vẫn rửa bát, và vẫn đọc truyện thiếu nhi mỗi tối cho ba mẹ nghe cho dễ ngủ.

-Riêng Amy, thì khác: ‘gia đình’ là nơi em được nuông chiều cẩn thận. Em yêu gia đình, vì ba má đều khen em rất ngoan, và học giỏi nhất nhà…

Tóm lại, đối với các em: gia đình là ba, là má, là tất cả. Là, cõi mộng mơ, là chốn tuyệt vời em đang sống. Nhưng, cũng có lúc ‘gia đình’ không là tất cả, và cũng chẳng là gì cả. Nhất thứ, khi mọi khổ ải dồn về che khuất con tim bé bỏng hiền dịu. Dù cho, tim ấy muốn ‘vui trở lại’, mải vui dài dài. Đã hơn một lần, nhũng người như bé Joe, tuy mới có 6 cái xuân xanh, nhưng bé cũng đã biết chọn lựa và so sánh:

-Joe: ‘Em thích gia đình Peter hơn gia đình em. Ba nó không dữ như ba mình, nhé’;

hoặc:

-Emilie: ‘Em ghét Ba lắm. Tối ngày uống rượu hoài à. Uống đã, rồi gây sự đánh luôn cả mẹ’;

-Jessica: ‘Mỗi lần em chán gia đình, em bèn lấy búp bê ra chơi, ngồi nói chuyện suốt với búp bê. Chơi với búp bê còn sướng hơn chơi với người lớn. Sao người lớn kỳ thế nhỉ…’

Quả thật, đã có biết bao nhiêu thiên thần tuổi nhỏ đã phát giác ra chân lý: chơi với người, chán hơn chơi với con Tôtô, Kiki. Bởi, với Jessica và hàng triệu triệu em khác trên thế giới, gia đình đã trở thành thế giới của người lớn. Của áp-phe, tiền bạc hoặc rượu chè bài bạc. Thậm chí, cả tội ác nữa cũng không chừng. Đồng ý, phải có người lớn mới có gia đình. Và, chỉ người lớn mới là chủ gia đình, mới tác thành tổ ấm, hoặc cái nôi của tình người. Nhưng, ví thử cũng nôi ấy, tổ ấy, mái ấy lại gồm toàn những khuôn mặt “ông cụ” không thôi, thì chắc gia đình sẽ không còn mang ý nghĩa ‘mái ấm tình người’ nữa nhỉ?

Phát biểu của trẻ con đôi lúc cũng khiến cho người lớn trở về với thực tế phũ phàng. Thứ thực tế của rất nhiều gia đình thuộc thế hệ hôm nay. Cho đến giờ, thật khó có được thống kê chính xác về thực trạng của tất cả các gia đình trên thế giới, nói chung. Nhưng, những lời trần tình của trẻ nhỏ ở trên hẳn cũng đủ để hối thúc bà con ta trở về nguồn, tìm lại hình ảnh đích thực của cái gọi là ‘gia đình lý tưởng’. Hoặc, ít ra cũng có một cái nhìn về ‘gia đình đích thực’ để khỏi phải ‘thương nhà mỏi miệng cái gia gia’ như Bà Huyện Thanh Quan đã công phu vịnh thơ cách nay hàng thế kỷ.

Trở về ‘cội nguồn’ của niềm tin Kitô giáo, có thể nhiều người sẽ gặp gỡ nhau trong câu nhắn nhủ, rất ‘triệt để’ như:

“Hãy để mặc các trẻ nhỏ, đừng ngăn cản chúng đến với Thầy, Vì Nước Trời thuộc về những người như thế.’

(Mt 19:14);

Hoặc:

“Lại còn không biết là Con phải ở nơi nhà Cha con sao?

Nhưng ông bà không hiểu lời Ngài nói với họ.

(Lc 2: 49)

Với cương vị của Thánh gia, quả là: Đức Mẹ và thánh Yuse không hiểu tường tận công việc Đức Yêsu đang làm. Bởi, công trình cứu độ đâu khi nào lại mang tầm kích như “chuyện thường ngày ở… nhà” đâu. Chí ít, đó lại là ‘nhà’ hay ‘gia đình’ ở trần gian. Của người phàm. Hơn nữa, ở một đoạn khác, Đức Yêsu đã minh định thế nào là gia đình ruột thịt, khi Ngài trả lời câu hỏi của ai đó:

“Giang tay chỉ các môn đồ của Ngài,

Ngài nói: Này là mẹ ta và anh em Ta.

Phàm ai làm theo ý Cha Ta, Đấng ngự trên trời,

kẻ ấy là anh em và là mẹ Ta.

(Mt 12: 49).

Thực tế mà nói, là thành viên gia đình Ngài, nhiều khi không đơn giản, hoặc dễ chịu; vì, phải thuận theo đòi hỏi rất triệt để như sau:

“Kẻ yêu cha mẹ hơn Ta

ắt không xứng với Ta.”

(Mt 10: 37)

Hoặc:

“Các ngươi sẽ bị mọi người ghét vì Danh Ta,

Nhưng ai bền vững đến cùng,

Người ấy sẽ được cứu.” (Mt 10: 22)

Tuy nhiên, để an ủi mọi người, Ngài đã khích lệ:

“Hãy vui sướng và hân hoan

vì phần thưởng của các ngươi

lớn thật trên trời.”

(Mt 5: 22)

Tóm lại, câu nói trên đây được các thánh sử Mat-thêu và Luca ghi lại, đã nhắc nhở những “con quốc quốc” cũng như “cái gia gia” thời đại ngày nay: chớ đau lòng, nhớ nước nhiều quá. Và, cũng chẳng cần phải “thương nhà” đến nỗi cứ mỏi miệng như thế, mà làm gì. Tất cả, hãy cứ hướng về phía trước tức Nước Trời hoặc Mái ấm đích thực để hân hoan, phấn chấn hơn vì, “Nước Trời đã gần kề”.

Trong tinh thần vừa phiếm vừa luận, hoặc nói theo ngôn ngữ thời thượng, như: vừa tán vừa chạy (theo nghĩa ‘một thoáng tản mạn’), không thể bàn về “cái gia gia” mà lại không đề cập đến gia đình rất thánh. Và, khi tản mạn về gia đình rất thánh là Thánh Gia, cũng không thể và không dám so sánh đối chiếu gia đình “thường thường bậc trung” với gia đình của các Đấng được. Bởi, như thế là phạm thượng. Như thế là, không phải. Ở đây chỉ xin trích dẫn vài điều chính mà Lm Phan Đỗ Thục Linh đã đề cập theo hình thức các điểm chốt như sau:

-Gia đình của Đức Chúa là tổ ấm cơ ngơi rất hài hòa, sâu lắng. -Thánh Gia đã trải qua những giai đoạn thăng trầm như mọi gia đình khác. Có lúc phải xa nhà, trốn chạy các truy lùng, đành tạm trú nơi chuồng thú hôi hám, nghèo hèn.

-Thân sinh phụ mẫu của Chúa đã trải qua cơn khủng hoảng rất căng khi Đức Yêsu đi lạc.

-Đã có lúc Đức Yêsu được nhiều người theo chân, nhưng lại có lắm kẻ thù tìm cách giết hại.

-Là Thánh Gia tuy có khác, nhưng các Đấng vẫn cảm thông với mọi gia đình đang khốn khó.

-Về tương quan giao tế và thái độ xử sự với mọi người, thánh gia là gương mẫu lý tưởng.

-Nếu gia đình bình thường cần Thánh gia giúp đỡ, hãy chung sống hài hòa đồng với cộng đồng và xã hội bên ngoài.

-Cuối cùng, vẫn là nguyên tắc thông thường cho mọi người và mọi gia đình: Cho đi vẫn tốt hơn thu vén vào cho gia đình mình, dù chỉ là yêu cầu về tâm linh, siêu hình.

* Suy cho kỹ, dù “cái gia gia”có mỏi miệng vì thương nhà, nhưng đó có lẽ là việc mỏi miệng rất tốt. Đáng cho mọi gia đình chịu mỏi.

Trần Ngọc Mười Hai

với những tình tự

vừa nhớ cũng vừa thương.

§13 – ĐỂ LẠI CHO EM, NÀY NHỮNG BUỔI CHIỀU

(Mt 28: 20)

Cứ như phong tục ở nhà, vào những ngày giỗ chạp hoặc thắp nén hương lòng, bà con nhà mình thường có thói quen ôn lại kỷ niệm hoặc giáo huấn của các cụ, lúc sinh thời. Ra đi, nhưng các cụ vẫn để lại của hồi môn quý giá của ông bà. Của dòng họ ‘hào kiệt’. Gia phả đặc thù, của riêng ta. Mùa Chay hôm nay, Mùa của những tưởng nhớ ghi tạc lời vàng, thân thương của Thầy Chí Thánh, rất Nhân Hiền.

Vào ngày giỗ, Thầy Nhân Hiền có điều nhắn nhủ dặn dò và tôi xin mạo muội gọi đó là “chúc thư Tông Đồ”, gửi đến cho mọi người, ở trần thế. Thầy ra đi, chừng như Thầy vẫn nhớ thương đàn em, những muốn ở lại. Rất muốn ở lại, nên Thầy đã để chúc thư thần thánh, ngắn gọn đầy tình Thầy-trò, sau đây:

“Và này Thầy sẽ ở với anh em mọi ngày, cho đến tận thế” (Mt 28, 20)

Lời chân tình ở trên, hẳn đã hơn một lần bạn cũng như tôi, chúng ta đều nghe trối trăn. Nhưng sao như, lời rót vào tai này rồi lọt tai kia. Rõ ràng là: Thầy đã hứa và Thầy vẫn làm. Nhưng, chừng như lời trăn trối ấy được lặp đi lặp lại khá nhiều lần, vào những dịp ta tụ họp mừng Tiệc Thánh, cũng đành nghe quen. Nghe nhiều quá, đâm quen. Vốn dĩ quen dần, ta không còn để ý đến ý nghĩa hoặc nội dung của Lời trối trăn từ Thầy nữa.

Và hôm nay, nội dung Lời Thầy quả quyết vẫn còn ý nghĩa như “Thầy ở với anh em mọi ngày…” Ở với anh em mọi ngày, là lời cam kết của Đấng Thánh Chí Tôn, khi đã căn dặn nhiều điều trước đó. Điều căn bản, trước khi Thầy rời bỏ đàn con vào buổi chiều êm ả trên đồi vắng. Và lời căn dặn ngàn đời còn ghi tạc, vỏn vẹn có mấy câu:

“Vậy, các con hãy ra đi thâu nạp môn đệ khắp muôn dân, thanh tẩy cho họ, dạy họ giữ những điều Thầy đã truyền cho các con.”

(Mt 28, 19)

Vỏn vẹn chỉ mấy câu. Nhưng, cũng đã gói ghém tấm lòng: vẫn như “nhưng Cha thương con thương con, cho nước phải giật mình.” Hoặc: “nhưng Cha thương con thương con, cho tình lên sức sống, cho tủi hờn đi xuống, và: “nhưng Cha thương con thương con, cho niềm kiêu hãnh vươn lên”. (nhái Phạm Duy)

Vâng. Tấm lòng ấy, lòng của Cha đã từng biểu lộ cho người con, người em môn đệ trong suốt cuộc đời của Cha. Và cũng là Thầy. Cuộc đời của Cha ‘đau khổ cũng nhiều’, lại ‘đủ điều đắng cay’. Thì nay, trước khi giã từ con, giã từ người em môn đệ, Thầy để lại lời cuối cho con cho em, lời cuối rất chân tình.

Lời cuối cho em hôm nay, chắc chắn bạn bè người thân cũng từng bức xúc, niệm suy trong các tuần lễ vừa xảy đến. Khỏi cần nghi vấn. Khỏi cần ngại ngần. Nghi, mà làm gì. Ngại, mà làm chi. Chỉ e dè, ý nghĩ vẩn vơ nảy ra trong đầu trong óc của đàn em thân thương, vào phút cuối của đường hầm tăm tối. Có sám hối. Có đổi thay. Vào Mùa Chay.

Lời cuối cho em, có thể là lời của phút cuối một buổi chiều. Buổi hôn hoàng không có cảnh trời hụp lặn. Không thấy được hy vọng đổi mới, ngày Phục Sinh hôm sau.

Chắc chắn, bà con hôm nay khi quây quần bên người Thầy sẽ ra đi, đều quyết tâm thực thi điều Thầy trăn trối. Với căn dặn. Thầy đi cho siêu thoát. Thầy đi trong vui mừng. Nhiều phấn khởi. Cha đi, đàn con cũng chẳng buồn. Vì: “cha vẫn ở lại với các con, cho đến tận thế”. (Mt 28: 20)

Nhưng vấn đề, là: lòng con đã khấn nguyện. Đã tỏ bày quyết tâm thực hiện cái gọi là Chúc Thư Tông Đồ từ Thầy. Nhưng thực tế, con làm được điều gì? Hỏi, tức: đã trả lời.

Trả lời hôm nay, không là bằng chứng đã làm những gì. Làm được bao nhiêu ? Mà, chỉ để tưởng nhớ tinh thần của một hội ngộ rất thân. Nhân ngày giỗ tổ. Giỗ người Thầy Nhân Hiền đã ra đi. Thầy đi, nhưng Thầy “để lại cho con, những buổi chiều”. Những hôn hoàng có sám hối, có hứa hẹn đổi đời.

Thầy đã đi. Nhưng “Thầy vẫn ở lại mọi ngày”. Điều này, là con ai cũng đã ghi tạc. Cũng đều nắm vững. Nhưng, có lúc người con, người em đã nhiều lần quên lãng. Nhiều lần, nhưng không có nghĩa cố tình lãng quên. Nhiều lần, chỉ có nghĩa: người con, người em của Thầy đã từng thực hiện chúc thư của Thầy. Đã từng rong ruổi, lòng muốn chuyển tải lời nhắn của Thầy, nhưng quên sót.

Trong bầu khí tưởng nhớ ‘lời Thầy dặn dò’ trước lúc ra đi, khi thắp nén hương lòng ngày giỗ Tổ, người em, người môn đệ của Thầy hẳn sẽ nhận chân được tầm quan trọng của Chúc Thư Tông Đồ, Thầy đã gửi gắm.

Còn lại, là quyết tâm thực hiện. Được bao nhiêu ? Đến bao giờ? Việc ấy, tùy lòng con – và em.

Trần Ngọc Mười Hai

gửi đến cho mình

lời nhắn nhủ

với lòng mình

§14 – NHỮNG HÚY VÀ KỴ NƠI NHÀ ĐẠO

( Rm 1, 26 – 27 )

Nếu húy và kỵ là những gì mà người người ít dám nói, hay tránh né, hoặc chẳng dám nghĩ đến, ở đời thường; thì, trong nhà Đạo, cũng có những chuyện tương tự, vẫn xảy đến. Có lẽ, một số người còn coi đây là chuyện khó tin, nhưng có thật. Có thật, hiểu theo nghĩa: đã từng xảy đến với cuộc đời. Của người theo Đạo, lẫn Đạo theo.

Vừa qua, một độc giả không tên nhưng có Đạo, đã có thư cho Lm. John Flader, vị Linh Mục phụ trách mục gỡ rối tơ lòng – và là lòng Đạo – với những thắc mắc khá dài, và không kém phần sôi sục, như sau:

“Tôi rất ngỡ ngàng bối rối khi biết là một số người cùng phái tính luôn thèm muốn lôi cuốn nhau mà tôi coi là những người rất tốt. Rất đàng hoàng. Nhưng Giáo Hội lại coi chuyện đồng tính luyến ái sống chung như một hành vi tội lỗi. Điều này gây nên làn sóng bất bình, rất sôi động một thời. Vậy, thắc mắc của tôi là: Kinh Thánh có coi hành vi đồng tính luyến ái là sai trái, đáng trách không? Nếu phải tỏ lòng kính trọng mọi nhân vị, ta có nên kính trọng người cùng phái tính luyến ái yêu thích nhau không? Và, những người như thế có buộc phải kiêng dâm suốt đời không?”

Câu trả lời đương nhiên phải dựa trên sách vở kinh điển giáo luật, rất nhà Đạo như sau:

Trước hết, muốn minh định lập trường của Hội Thánh về vấn đề trên, cũng nên dựa vào định nghĩa của Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo mà biện giải, rằng: những người đồng tính luyến ái được mô tả như “người có kinh nghiệm sống thèm muốn lôi cuốn dục tình với người cùng phái tính để độc chiếm cho riêng mình.”

( x. Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo đoạn 2357 ).

Những người như thế được coi như cùng phái tính mà lại thèm muốn lôi cuốn nhau về mặt tình dục, là điều không phải. Điều được nhấn mạnh là về ‘con người họ’ chứ không phải về sự việc ‘đồng tính luyến ái’. Cần phân biệt rõ người đồng tính luyến ái có hành động ăn nằm với người cùng phái tính và sự luyến ái, theo tư cách con người, như mọi người. Tức là, phân biệt sự việc với con người cho rõ. Bởi, những người này vẫn là các nhân vị được dựng nên như người bình thường theo hình ảnh của Chúa. Họ đều là con Thiên Chúa như bất cứ nhân vị nào khác.

Người đồng tính luyến ái được Đức Ki-tô cứu rỗi. Được Chúa yêu thương và được mời gọi đi vào đời sống vĩnh cửu với Ngài ở Nước Trời, giống như tất cả các người khác. Họ có cùng phẩm giá và được đối xử tử tế với lòng tôn kính, như bất cứ một ai. Hơn nữa, phần đông những người trong họ là những người có tài, lại rất xuất chúng. Họ từng đóng góp rất nhiều công sức và sự việc lớn lao cho xã hội.

Lâu nay, chúng ta quen biết nhiều người trong số họ và tỏ bày sự trân trọng không kém trong đối xử với họ. Cách đây ít năm, bản thân chúng tôi cũng đã chấp nhận cho một người anh em như thế được gia nhập cộng đoàn, trước khi anh qua đời vì bệnh AIDS ngặt nghèo. Anh được anh em khác cùng tâm trạng, những người đồng tính luyến ái giúp hoàn tất hành trình tin-yêu. Các anh em, đã phấn đấu để sống đời khiết tịnh như người Công Giáo tốt.

Đối với con người của anh em thì như thế. Không có gì đáng than phiền. Nhưng, hành động dục tình của anh em đồng tính luyến ái, vẫn là hành động hoàn toàn trái nghịch với luân thường đạo lý. Cũng vậy, tương tự hành động rối loạn dục tình, hành động của anh em chẳng khác gì chuyện thông dâm, ngoại tình, được Sách Thánh – Cựu Ước lẫn Tân Ước – đề cập.

Vào thời Áp-ra-ham, Thiên Chúa đã phá hủy hai thành Sô-đô-ma và Gô-mo-ra vì người dân hai thành này đã có những hoạt động đồng tính luyến ái, lan rộng. Sách Sáng Thế mô tả tỉ mỉ:

“Dân thành người Sô-đôm, đã đến vây quanh nhà, từ già đến trẻ, toàn dân không trừ một ai, họ kêu ông Lót ra mà bảo: đâu rồi, hai người đến nhà anh đêm nay; anh đem họ ra đây để chúng tôi được “biết” (dục tình) với họ”.

(Kn 19: 5)

Ông Lót còn năn nỉ:

“Tôi van anh em.

Xin đừng làm chuyện xấu xa đồi tệ.”

(Kn 19: 6 – 7).

Và cũng vì hành vi đồi tệ của họ mà

“Ya-vê đã mưa xuống trên Sô-đô-ma và Gô-mo-ra,

diêm sinh và lửa từ trời cao xuống.”

(Kn 19: 24 ).

Sáu thế kỷ sau, khi Ya-vê Thiên Chúa trao cho Mô-sê lề luật Ngài ban để toàn dân thi hành, Ngài có lệnh truyền:

“Với trai, ngươi sẽ không đồng sàng như nằm với đàn bà: đó là điều đáng nhờm tởm.”

(Lv 18, 22).

Trong Tân Ước, Thánh Phao-lô cũng đã miêu tả những gì sẽ xảy đến với con dân là: nếu họ không thờ phượng một Thiên Chúa đích thật, như sau:

“Vì thế, Thiên Chúa đã phó mặc họ cho những tình dục bỉ ổi. Nữ giới tráo đổi giao hoan lẽ thường để làm những điều nghịch luân. Nam giới cũng vậy, gác bỏ giao hoan lẽ thường với nữ giới, mà hăm hở thèm muốn lẫn nhau, trai với trai, làm điều ô trọc, chuốc lấy vào thân cái công lênh đích đáng với sự lầm lạc của họ.”

( Rm 1, 26 – 27 ).

Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo đã tóm tắt hành vi vô luân của việc ăn nằm đồng tính luyến ái như sau:

“Sách Thánh luôn ngăn ngừa các hành vi ăn nằm theo tư cách đồng tính luyến ái để khỏi trở thành hành vi sa đọa. Truyền thống Giáo Hội cũng từng tuyên bố: ‘hành vi ăn nằm theo tư cách đồng tính luyến ái tự bản chất đã nên rối loạn’. Hành động như thế tức đi ngược với luật tự nhiên… Dù ở hoàn cảnh nào đi nữa, những hành động như thế không bao giờ được chấp nhận.”

( x. GLHTCG đoạn 2357 )

Những người đồng tính thèm muốn luyến ái với nhau được kêu gọi sống cuộc đời chay kiêng khiết tịnh như bất cứ người nào khác còn độc thân. Có thể những người này sẽ phải phấn đấu nhiều hơn, nhiều lúc rất mãnh liệt nữa là khác. Để làm được việc này, cũng nên hành xử như các người đồng tính thèm muốn luyến ái hoặc những người đã có gia đình nay không còn sống với người phối ngẫu của mình nữa. Nếu thỉnh thoảng họ sa ngã vấp phạm, họ có thể được tha thứ qua Bí Tích Hòa Giải, miễn là họ phải thành thật phấn đấu để sống đời khiết tịnh.

Giáo Lý Hội Thánh cũng dạy rằng:

“Người đồng tính luyến ái được kêu gọi sống đời khiết tịnh. Bằng vào đặc tính biết tự chế khả dĩ dạy họ sống nội tâm phóng khoáng, nhiều lúc được bạn bè tiếp sức hỗ trợ, bằng lời cầu nguyện và hồng ân bí tích nhiệm mầu, những người như thế đều có thể và sẽ dần dà và quyết tâm tiến gần đến với sự hoàn thiện của Ki-tô hữu.”

(x. GLHTCG đoạn 2359)

o0o

Ở Hoa Kỳ, phong trào mang tên Lòng Quả Cảm do Lm. John Harvey sáng lập, từ nhiều năm nay trở nên khí cụ hữu hiệu đã giúp được nhiều người có vấn đề đồng tính thèm muốn luyến ái để sống đời sống khiết tịnh. Tại Sydney và một vài thành phố ở Úc, cũng có những phong trào tương tự được đưa lên mạng và tại các phòng chuyện trò.

Với sắc thái tế nhị và nhạy bén của vấn đề người đồng tính luyến ái, như một trong các tình trạng khó xử của xã hội hiện thời, thiết tưởng câu giải đáp của Lm. J. Flader ở trên, tạm gọi là khá thực tiễn. Tuy nhiên, chắc chắn không thể làm hài lòng được hết các người anh, người chị đang có những khúc mắc khó khăn to lớn hơn dự tưởng. Các người anh người chị ấy cũng đang cần sự cảm thông của chúng ta là những người đồng Đạo, hôm nay.

Cuối cùng, xử thế hay xử sự cho đúng chức năng vẫn là một chọn lựa. Chọn lựa của riêng mình, không ai làm thay được. Nhưng dù gì đi nữa, Thánh Kinh Tân Ước vẫn là người bạn đồng hành, và cảm thông nhất, trong mọi thời.

Trần Ngọc Mười Hai

chẳng dám nói hay

hơn bất cứ bạn nào,

người nào

§15 – PHÚT NGUYỆN CẦU SAO VẪN LAN MAN?

( Mc 14, 23 )

Trong Hội Thánh, có nhiều vị lâu nay từng khẳng định rằng: sức sống của Giáo Hội vẫn nằm ở sinh hoạt Phụng Vụ, tại địa phương. Điều này quả là rất thực. Không có gì phải bàn cãi. Tuy nhiên, trên thực tế, một số hình thức sinh hoạt lễ lạy kéo dài trong một số lễ tiếng Việt đôi lúc đã làm nhiều người – nhất là người trẻ – thêm nghĩ ngợi, thắc mắc,

Cách đây không lâu, sức sống Phụng Vụ một lần nữa đã được biểu lộ tại một Họ Đạo ở nước ngoài. Hôm đó, cộng đoàn mừng lễ đặt tượng Thánh Tử Đạo Việt, tại nhà thờ ở nước ngoài. Đây là lần đầu Giáo Xứ ngoại quốc, thấy xuất hiện tượng thánh nhỏ, đặt cạnh các tượng cao lớn, người Âu người Mỹ. Về Phụng Vụ, đây là hiện tượng ít thấy ở nước ngoài.

Cầu các thánh bàu cử cho cộng đoàn con dân của Chúa đâu thành vấn đề. Chỉ là đề tài thảo luận, khi việc tham dự buổi nguyện cầu cứ lê thê kéo dài. Với dân con nhà Đạo chững chạc hơn, niềm tin và sinh hoạt Phụng Vụ dù kéo dài đến bao lâu cũng không thành chuyện. Nhưng với người trẻ thời vi tính, thời gian và ý nghĩa xử dụng cho sinh hoạt Phụng Vụ cần được lưu tâm, nếu không, sẽ trở thành hình thức, nặng nề dễ gây thắc mắc, chán ngán.

Vừa rồi, một người trẻ ở Sydney đã viết thư hỏi Linh Mục John Flader về thời gian Mình Chúa hiệu lực được bao lâu, sau khi ta đón Chúa vào lòng. Đây có thể hiểu như vấn nạn của người trẻ, về thời gian và ý nghĩa của các công việc ta làm, ở Nhà Thờ. Câu hỏi người trẻ đặt ra như sau:

“Khi bánh và rượu trở thành Mình Máu Chúa, như vậy Thánh Thể Ngài có hiệu lực được bao lâu. Tôi muốn nói đến hai trường hợp: thứ nhất, khi rước Chúa vào lòng, Thánh Thể Ngài ở lại trong tôi bao lâu ? Bao nhiêu giây phút, mới gọi là phải lẽ ? Chừng bao lâu sau tôi được phép làm việc khác? Thứ hai, sau phút Hiệp thông rước lễ, vị Linh Mục cất Bánh Thánh còn dư để ở Nhà Tạm. Chuyện này dễ hiểu. Nhưng, Máu Thánh của Ngài, tôi thấy các vị giúp lễ đem đổ vào bồn đặc biệt trong phòng mặc áo? Nhìn từ góc độ nào đó, tôi thấy việc này không đẹp chút nào. Tôi mong được giải thích thoả đáng, kẻo có thái độ bất kính”.

Và dưới đây là câu trả lời của vị Linh Mục chuyên trách mục giải đáp thắc mắc trên Tuần Báo Công Giáo Sydney, ngày 10.6.2007, như sau:

“Trước tiên, xin được phép làm sáng tỏ đôi điều từ câu hỏi bạn nêu ra. Có thể, bạn hơi lẫn lộn đôi chút về mấy vấn đề nói ở trên. Thực ra, phải nói: Bánh miến trở thành Mình Chúa và rượu nho trở nên Máu Thánh Chúa. Cả hai, cùng một lúc đã trở nên một. Một thân mình Đức Ki-tô, có Mình và Máu Thánh, rất đầy đủ trọn vẹn. Thành thử, Bánh Thánh bạn đón rước vào lòng, lúc cộng đoàn Hiệp thông rước lễ, không chỉ là mình Đức Ki-tô thôi, mà còn là trọn vẹn Con Người của Chúa, có “Mình và Máu Thánh, có linh hồn và có cả tính thần thiêng Thiên Chúa”, nữa.

Theo ngôn từ truyền thống, thì Máu Rất Thánh đựng trong chén, không chỉ là Máu Đức Ki-tô thôi, mà còn là trọn vẹn Con Người của Ngài, nữa. Khi ta thêm câu “Linh Hồn và Tính Thần Thiêng Thiên Chúa” nơi Ngài, ta đón nhận Ngài vào lòng cùng lúc với các thứ khác. Như thế, có nghĩa là: ta đón rước Đức Ki-tô sống động. Đón Chúa với thân xác đã sống lại của Ngài.

Sách “Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo” cắt nghĩa điều ấy như sau: “Đức Ki-tô trở nên một và trọn vẹn. Ngài hiện diện nơi các phần nhỏ bé của bánh và cũng hiện diện cách trọn vẹn với toàn bộ thân mình của Ngài nơi mọi phần Bánh Thánh. Hiện diện như thế, khi Linh Mục chủ tế bẻ Bánh, sẽ không phân rẽ thân mình của Ngài chút nào.” (sđd, đoạn 1377)

Và khi sách Giáo Lý nói như thế, điều này có nghĩa là: nếu có ai chỉ đón có phân nửa Bánh Thánh vào lòng mình thôi, thì người ấy vẫn đón toàn bộ và trọn vẹn Thân Mình Đức Ki-tô, gồm có Mình và Máu thánh của Ngài. Đôi lúc, người ốm nặng liệt giường không thể nuốt vào bụng nguyên cả Bánh Thánh mà chỉ một phần nhỏ thôi, hoặc có khi họ cũng được trao cho uống một vài giọt Máu Rất Thánh của Chúa, thì người ấy vẫn đón nhận trọn vẹn Đức Ki-tô vào lòng. Trọn vẹn với đầy đủ giá trị của Bí Tích Thánh Thể.

Về lại với câu hỏi của bạn về thời gian kéo dài việc Chúa Ki-tô hiện diện nơi Thánh Thể, thì sách Giáo Lý Hội thánh Công giáo viết: “Sự hiện diện của Thánh Thể Đức Ki-tô khởi đầu từ khoảnh khắc hiến tế và kéo dài cho đến khi các phần nhỏ của Thánh Thể còn tồn tại.” (sđd đoạn 1377)

Khi rước Bánh thánh đón nhận Chúa vào lòng, các phần nhỏ của Thánh Thể bắt đầu tan trong miệng gần như lập tức. Vì thế, có người nói là sự hiện diện của Thánh Thể Đức Ki-tô chấm dứt ngay khi Bánh Thánh tan biến. Chúa Ki-tô vẫn hiện diện ở với chúng ta, trong chúng ta. Tuy nhiên, cùng lúc có cả Cha và Thánh Thần Chúa. Ba Ngôi cùng ngự trị trong tâm hồn, không chỉ là sự hiện diện riêng của Thánh Thể.

Truyền thống Giáo Hội vẫn đề nghị, là: sau Thánh Lễ, chúng ta lưu lại nhà thờ chừng mươi phút để cảm tạ vì vừa được đón Chúa qua hiệp thông rước lễ; việc này hàm ngụ ý nghĩa là: Đức Chúa của ta vẫn hiện diện nơi Thánh Thể trong thời gian dài như thế. Dầu sao đi nữa, Hội Thánh vẫn khuyến khích mọi người nên cảm tạ Chúa.

Về sự hiện diện của Thánh Thể Chúa kéo dài suốt thời gian sau Thánh Lễ, nếu như Bánh Thánh đặt trong Nhà Tạm được giữ ở đó lâu đến độ Bánh biến dạng phân rã, và có thể có người bảo rằng: đó không còn là Thánh Thể Chúa nữa. Chính vì lý do này, mà Bánh Thánh trong Nhà Tạm vẫn được thay mới luôn, ngõ hầu Bánh không bị cũ mốc.

Bình thường, ta không lưu giữ Máu Rất Thánh của Chúa. Thành thử, vấn đề này không cần nêu ra. Sau hiệp thông Rước Lễ, hoặc sau Thánh Lễ, Máu Rất Thánh còn dư đều được “Linh Mục chủ tế hoặc vị Phó Tế hoặc người giúp lễ hôm ấy uống cho hết.”

(Chỉ dẫn chung của Sách Lễ Rô-ma, đoạn 163, câu 284b).

Trong sách, không thấy nói đến các thừa tác viên khác được chỉ định uống nốt phần còn lại. Trong trường hợp, nếu Máu Châu Báu Rất Thánh được đổ vào bồn đặc biệt trong phòng Thánh, thì ống dẫn từ bồn phải dẫn thẳng vào lòng đất. Thật sự thì, theo chỉ dẫn Bí Tích Cứu Chuộc có nói rõ: những ai làm quấy chuyện này, sẽ bị vạ tuyệt thông, mà chỉ có Đức Thánh Cha mới hóa giải được.

(sđd, câu 107 )

Trong trường hợp người phụ trách dọn bàn thờ không am tường, đi đổ Máu Thánh rất Châu Báu của Chúa vào bồn đặc biệt, thì người ấy không mắc lỗi và cũng chẳng bị vạ tuyệt thông. Nhưng, phải chỉ dẫn tường tận cho anh hoặc chị ấy biết để không có những hành động khiếm nhã hoặc bất kính xảy ra.

Đọc giải đáp ở trên, hẳn là các bạn cũng như bần đạo đều được đả thông. Bởi, nói đến Phụng Vụ, ta thường nhớ đến “Luật chữ đỏ”, tức các điều chỉ dẫn đã thành luật để giữ. Và, người có chức năng trong các nghi thức hoặc Giờ Kinh Phụng Vụ, đều nên cắt nghĩa và tuân thủ, trước khi trao cho họ trọng trách nào. Dù, người ấy đã trọng tuổi hay còn trẻ.

Về tuổi trẻ, tuổi hăng say, năng nổ nhưng cũng thường thắc mắc. Chí ít, là những điều đã trở thành luật trong Phụng Vụ cũng như đạo đức chức năng của Hội Thánh. Vấn đề còn lại đối với tuổi trẻ, là: có thể làm bất cứ việc gì cho Giáo Hội, hoặc Xứ Đạo. Họ vẫn hăng say và năng nổ như hồi nào. Nhưng, mọi việc muốn họ làm phải có nghĩa. Và, nên cẩn trọng yếu tố thời gian.

Với người trẻ, thời gian và ý nghĩa của các việc làm trong “Giờ Kinh Phụng Vụ”, luôn là những gì đáng quý trọng. Có để tâm đến chuyện này, mới hy vọng hấp dẫn người trẻ tham dự nghi thức Phụng Vụ. Có thể là Thánh Lễ. Có thể là Chầu Thánh Thể hoặc Chặng Đàng Thánh Giá. Rất lan man, như thời cũ.

Lời phiếm cuối hôm nay, là: cử hành hay tham dự Tiệc Thánh/ hụng Vụ đều là sống Đạo. Vào thời buổi có quá nhiều tự do, nhiều thứ hấp dẫn giới trẻ. Tuổi đời chỉ thích sống vui, sống hùng và sống mạnh. Trước khi sống có ý nghĩa. Chứ không sống lấy lệ, ta cũng nên rút ngắn thời gian lại, ngõ hầu giới trẻ thấy hấp dẫn tham dự sinh hoạt Giáo Xứ ? Của hội thánh sở tại ?

Câu trả lời xin dành cho các bạn, những vị đang đọc các dòng chữ này.

Trần Ngọc Mười Hai

vẫn cái cố tật hay đặt vấn đề

khi nghe bạn trẻ tâm sự

§16 – NÚI SỌ VÀ NỖI SỢ

( Mt 26, 39 )

Trong buổi Giáo Lý hôm ấy, vị giảng viên có đề cập đến chuyện “sợ”, nơi con người. Cụ cao hứng vào đề bằng một truyện cổ nước Nam, cho học viên nghe:

“Ngày xưa có một người muốn thoát khỏi bàn tay quân thù đang lục soát thôn làng, bèn lẩn vào một hang sâu núi thẳm quanh vùng, lánh nạn. Đêm đến, vì cuồng chân mỏi cánh, người ấy bèn ra ngoài hưởng tìm đôi chút trăng thanh gió mát. Bỗng, thấy có con ma nọ cứ lởn vởn quanh bụi rậm. Sợ quá, người này nằm rạp xuống đất không dám ngóc đầu ngọ nguậy gây tiếng động. Thấy thế, con mạ bèn xán lại gần và hỏi: “Này anh bạn, sao không ra ngoài mà chơi, chui vào đấy mà làm gì ?”

Thấy ma nói tiếng người sõi quá, người này càng sợ phát khiếp lên, run rẩy đáp: “Dạ, dạ thưa, con sợ ông quá con không dám ra”. Nghe thế, ma liền bảo: “Ơ kìa, sao mà lại ngốc thế ! Ta có gì đáng sợ đâu ? Có giống người kia mới đáng sợ. Anh bạn thử ngẫm nghĩ lại mà xem. Ai làm cho anh xất bất sang bang ? Ai làm anh ra cơ cực bần hàn, như thế này đây ? Người hay ma ?”

Nói xong, ma cười rống lên một tiếng thật to, rồi biến mất dạng trong đêm tối…”

Đám trò nhỏ nghe truyện cổ bèn nhao nhao phát biểu, có em cho rằng: từ xưa đến nay em chẳng biết sợ điều gì. Nhưng quỷ thì quả đáng sợ thật. Nói đến quỷ, một trò khác lên tiếng, bảo: hồi còn bé, em có thói quen đi Nhà Thờ làm thiếu nhi Cung Thánh, chuyên giúp lễ, quỳ chầu Mình Thánh Chúa suốt tuần. Có lần, thấy có các cha Dòng về Xứ Đạo làm tuần Đại Phúc giảng phòng, bổn đạo kéo đến ì xèo, nghe đông lắm. Chật ních Nhà Thờ. Nghe các cha Dòng giảng, hay thật. Nhưng khổ nỗi, các ngài hay đem chuyện quỷ dữ, với hồn ma hiện về cảnh cáo người còn sống. Nào là, ma quỷ cắt lưỡi người nói dối, nào là ma đội lốt người phàm, cứ kéo chân người ta lôi hết xuống hỏa ngục, chịu cảnh vạc dầu sôi lửa bỏng, nếu không bỏ tội vẫn lỗi phạm.

Nhiều người nghe xong, sợ quá cứ đấm ngực thùm thụp. Có vị còn kêu tên cực trọng suốt buổi giảng. Thậm chí, có người lại kéo nhau vào Tòa Cáo Giải xưng tội với cha Dòng cho yên tâm. Có người quá sợ cảnh lửa bỏng, bèn theo chân các cha, đăng ký tình nguyện gia nhập trường Dòng. Các cụ vốn nghĩ rằng: làm thế, sẽ nắm chắc chiếc vé thẳng lên Thiên Đàng, trăm phần trăm, không sợ gì !?!

Trên đây là mẩu chuyện nhỏ, mang dáng dấp cổ sơ thần thoại, khó tin là có thật. Nhưng, cũng không sai sự thật là mấy. Duy có chi tiết, bảo rằng: sợ hỏa ngục đến độ phải đăng ký gia nhập Dòng Tu này nọ, thì xem ra không thực tế. Chẳng thuyết phục được đám học trò lớp Giáo Lý.

Thời buổi khoa học, với những vi tính truyền hình bộc phát khắp nơi, mà còn nói chuyện sợ với sệt, thì xem ra không khoa học chút nào. Nói thì nói thế, nhưng thực tế vẫn có nhiều vị mang dáng dấp, những sợ và sệt, khi tham gia hành trình đi Đạo và giữ Đạo. Có vị, còn dựa vào Phúc Âm Lời Chúa, kể về hoàn cảnh không đến nỗi khiếp đảm, nhưng vẫn sợ, vội trích dẫn: “Người bắt đầu buồn bã và âu sầu. Bấy giờ Người bảo các ông:

“Tâm hồn Thầy buồn đến chết được”.

(Mt 26, 38).

Và sau đó:

“Tiến xa thêm ít bước,

Người sấp mặt xuống mà cầu nguyện:

“Lạy Cha, nếu có thể được,

xin cho chén này qua đi khỏi Con !”

(Mt 26, 39)

Trích dẫn như thế, có người hiểu là: Đức Chúa đã hãi “sợ” vì phải uống chén đắng. Có lẽ Ngài sợ kinh qua con đường khổ ải nhục hình trước khi vào chốn vinh quang chăng ?

Với bản tính con người, quả là Đức Chúa cũng có lúc do dự khi cần có quyết định tiến lên với chương trình cứu độ, Cha Ngài trao. Bởi thế, Ngài nói tiếp:

“Nhưng song không phải như ý Con,

mà là như ý Cha.”

(Mt 26, 39)

Xem thế, thái độ do dự, hoặc khựng lại vài giây phút trước khi có quyết định có liên quan đến sự “rỗi” cả loài người, Đức-Chúa-Làm-Người” sao tránh khỏi trạng thái rất người” ấy.

Tuy nhiên, sợ hay không chính là thái độ của Si-môn Phê-rô, khi được người hầu gạn hỏi:

“Cả bác nữa,

bác cũng đã ở với ông Giê-su,

người Ga-li-lê đó chứ gì ?”

(Mt 26: 69)

Sau lúc ấy, chính cột trụ vững chắc của Hội Thánh, cánh tay mặt của Đức Chúa đã thật sự biết sợ. Thánh nhân sợ liên lụy, sợ dính dấp cảnh khổ hình như Thầy Chí Thánh của mình, trong khổ nhục, hay còn sợ nhiều chuyện xấu khác sẽ xảy đến.

Tuy nhiên, sau ba lần chối Thầy, Phê-rô thánh nhân đã thực sự biết “sợ”. Ngài sợ cho chính mình, sợ thái độ hèn hạ của mình, sợ khổ, sợ chết, chết như Thầy mình. Cũng may, vì biết sợ như mọi người, mà Thánh Phê- rô kịp quay đầu trở về mà sám hối đổi đời.

Là người, hẳn là còn một nỗi “sợ” khác, không kém hèn hạ và nhục nhã. Đó là nỗi “sợ” của vị trấn thủ Phi- la-tô, khi được vợ cảnh cáo, kể về cơn mộng mị “đáng sợ” bà vừa nằm mơ “thấy người ấy”. Cũng vì sợ bóng sợ vía, sợ liên lụy, mất chức. Sợ sự xấu xảy đến với gia đình, thôi thì đủ mọi thứ lo và sợ, kể sao hết. Bởi thế, quan trấn thủ Phi- la-tô mới rửa tay chấm dứt phiên xử bằng một lệnh truyền cho đem Đức Chúa đi đóng đinh.

Cũng trong trình thuật Tin Mừng, các chuyện về nỗi “sợ” của người phàm, đều như thế. Nhưng, ngôn ngữ và tinh thần của Tin Mừng, lại khác hẳn. Tin Mừng giải thoát con người, trước tiên là giải thoát khỏi những nỗi sợ quái đản. Sợ những chuyện không nên sợ, không đáng sợ.

Trong Tin Mừng thánh Mát-thêu có đoạn nói Đức Ki-tô chấn chỉnh các Tông Đồ khi thấy các vị quá hãi sợ, thì Ngài bảo:

“Đừng sợ chúng !”

(Mt 10, 26)

Hoặc:

“Đừng sợ những kẻ giết được xác,

nhưng không thể giết được hồn;

hãy sợ Đấng có thể diệt cả hồn lẫn xác

trong hỏa ngục.”

(Mt 10, 28)

Tóm lại, trong khí thế đồng hành với Giáo Hội, kinh qua những ngày cuối của Mùa Chay rất đáng sợ – hiểu theo nghĩa phàm tục – tưởng cũng nên tự kỷ và tự nhủ mà hướng thẳng về phía trước. Về những ngày tươi sáng có Chúa giải phóng hết mọi người khỏi nỗi sợ chết chóc. Chết cả xác lẫn hồn. Ta sẽ hiên ngang tiến vào vùng sáng Phục Sinh, có Chúa ở cùng.

Hiên ngang lên mà hát ca những lời lẽ triệt hạ nỗi sợ vu vơ:

“Đừng nhìn tương lai với những lo sợ

Đừng nhìn tha nhân trong nỗi nghi ngờ hay dèm pha

Đừng sợ chông gai vướng chân ta

Đừng ngại gian lao suốt tâm hồn sáng chân người…

Đừng sợ bạn ơi, hãy đứng thẳng lên.

(Lê Hựu Hà – Bài ca tuổi trẻ)

o0o

Thành thử, hãy sống như tuổi trẻ, tuổi không biết sợ, dù có lên Núi Sọ với Đức Giê-su trẻ tuổi…

Trần Ngọc Mười Hai

vẫn cứ tự nhủ

dù cho không còn trẻ.

§17 – CỘNG TRỪ NHÂN CHIA, ẤY CUỘC ĐỜI

(Lc 1: 30)

Vì quá sợ, nên người làm ta như mê dại. Vì mất mát, nên ta làm người mang nặng những lo toan. Lo toan, mê dại và sợ sệt, là các hiện tượng đã và sẽ còn xảy đến với ta. Xảy đến với hết mọi người. Sợ miên man. Sợ đến rùng mình. Rùng mình khi nghe kể truyện vào buổi sớm, rất tối tăm. Buổi sớm có những truyện như Scream 2, Silence of the lamb. Tối tăm, như những chuyện thời bây giờ, những là Hannibal Lester, The X files, Millenium…

Đã có lần, khi được hỏi về những khó khăn ngài từng gặp, khi đấu tranh cho tự do tôn giáo, ở khắp nơi, thì vị linh mục tranh đấu nọ bảo rằng: đó chính là sự sợ hãi.

Câu trả lời, xem ra ngắn gọn. Nhưng, cũng gợi lại một vài kinh nghiệm về các sự kiện có một không hai xảy đến trong lịch sử đời người. Một trong những sự kiện nổi bật, là: khi được loan báo về việc cùng chung cứu độ, thì người thiếu nữ trẻ chân phương chất phác tên là Maria bất chợt đã có nỗi lo tương tự. Và, sứ thần từ trời phải trấn an:

“Maria đừng sợ!”

(Lc 1: 30)

Không chỉ mình Đức Maria mới có nỗi sợ khi Mẹ biết rằng mình phải đưa vai gánh vác cả công trình hợp tác với Chúa, cả thánh Yuse cũng được bảo ban:

“Hỡi Yuse, con của Đavít,

chớ sợ…”

(Mt 1: 20)

Xem như thế, Đức Maria đã biết sợ. Và, thánh Yuse cũng biết sợ. Cả hai vị đều cùng một cảm giác giống nhau. Các thánh đều hiểu là sự thể sẽ diễn ra ngoài sức tưởng tượng của người phàm. Cũng thế, các vị hằng ngày gần gũi Chúa hơn, thế mà vẫn sợ:

“Hãy vững lòng!…đừng sợ!

(Mt 14: 27)

Tôi đây.”

(Mt 26)

Nếu Ba Mẹ trần gian của Đấng Cứu Thế biết sợ, thì chuyện các thánh tông đồ run hãi, là điều chẳng lạ. Huống hồ, những kẻ phận hèn dân dã. Có thể nói, sợ là một trong bẩy tâm tình nằm sẵn nơi mọi người, kể từ khi con người đầu tiên vi phạm lời dặn dò của Đấng Tạo Hóa. Thành thử, vốn sinh ra làm người, ai mà chẳng sợ.

Sợ, đã xuất hiện ngay từ khi có con “người”. Vào tuổi nhỏ, có thể chỉ là nỗi sợ vu vơ, vì nghe dọa dẫm khá nhiều. Với người lớn, sợ thường đi theo sau đôi lần mất mát. Mất niềm tin, mất hiện vật. Mất nhiều thứ, nhiều chuyện. Và có khi là mất tất cả. Có người, không sợ về những mất mát vật chất. Nhưng chỉ sợ thứ khác: sợ thay đổi, diễn biến. Sợ biến chất và biến mất. Sợ bệnh, sợ tật. Sợ chết chóc vv…

Sợ, là bản chất có sẵn nơi con người. Cuộc sống dù đầy đủ không mất mát, thiếu gì, nhưng người người vẫn sợ. Sợ thiếu hụt. Sợ không có thêm. Sợ rằng: rồi ra, chẳng còn gì để sống vui, sống lành lặn. Sống thoải mái.

Sợ luôn dính liền với con người và người đời. Một phần, là vì đời người nhiều lúc được suy nghĩ tính toán rất thực tế. Những tính vá toán như các phép tính căn bản cộng – trừ – nhân – chia, tưởng đã đủ. Con người còn biến chế nhiều phép tính khác: bình phương, lũy tiến… đến phát sợ. Cứ thử nhìn vào 4 phép tính căn bản trong đời người thôi, ta sẽ thấy.

Này nhé, thoạt khi còn trẻ, vào lúc bé em cất tiếng chào đời, thi gia đình ba mẹ em đã làm tính cộng. Cộng thêm những người là người. Khi em lớn lên, bước những bước chập chững vào trường lớp/trường đời, thì dù em có làm nhiều tính cộng hơn nữa để tạo thêm kiến thực và kinh nghiệm, thì như em đang trăn trở với bài tính trừ, rồi đó.

Bởi, em đã dần dà để mất tuổi thơ ấu hồn nhiên xưa. Em mất đi tính trong sáng, đôn hậu. Mất cả con người nhỏ bé, thơ ngây âu yếm ấy. Mất luôn cái tính bản thiện buổi nhân chi sơ. Có nghĩa là, em học cộng rồi học trừ để em thêm khôn, thêm ngoan. Em có khôn đấy, nhưng đã bớt ngoan rất nhiều. Cộng là thế đấy. Và, trừ là như vậy.

Ở tuổi trường thành, người trẻ cũng phải lập gia đình. Dù, hai vợ chồng có trở nên một (đúng như ý nghĩa của hôn nhân nơi nhà Đạo); nhưng kỳ thực, cả hai cũng đang là tính nhân: nhân rộng tính nhân bản, nhân vị. Nhân là nhân thêm bản vị tính của mình để tạo thêm nhiều hữu thể cho vũ trụ nhỏ bé, là trái đất đang ngày một cằn cỗi.

Và rồi khi trở về với cát bụi, thì đó chính là lúc người người đang làm bài tính chia: chia ly, chia lìa và chia xớt sự sống cho người khác. Cho theo cách thế khác. Để, mọi người cùng được sống. Cùng góp mặt với đời, và với trời.

Ấy đấy, cuộc sống con người là thế đấy. Bốn phép tính trải dài trong suốt cả cuộc đời. Tuy nhiên, tự bản chất, 4 phép tính này lại phối hợp với nhau. San sẻ cho nhau. Đan quyện vào nhau như âm với dương. Như một dịch lý, ngũ hành. 4 phép tính này đôi khi cũng phản kích, đối chọi nhau. Nhưng tuyệt nhiên, không mảy may mang tính chất nghịch/nghịch thường. Trái lại, với con người, như thế là hiển nhiên. Là nghịch lý.

Tự bản chất, con nguời chỉ muốn làm độc nhất có hai phép tính. Tính cộng và tính nhân, mà thôi. Trong khi đó, cuộc đời vẫn thấy xảy ra các tính trừ và tính chia. Và đó chính là điều rắc rối trong đời người.

Nói theo cách đầy hình tượng hơn, thì đời người được cụ thể hóa bằng những hành vi tranh thủ, giành chia.Thu tiền, thu của, thu thập tất cả những gì thuộc về vất chất. Giành ăn, giành bạn, giành quyền hành, chức tước. Thứ gì cũng muốn. Muốn thu, muốn giành lấy cho riêng mình.

Có điều trớ trêu thay, là: con người càng giành giựt, và thu vén bao nhiêu càng để luột mất những gì mình đang có, đã có. Nếu biết quan tâm đến bài tính trừ, hoặc tính chia, chia sớt, chia sẻ với hết mọi người đang còn thiếu hoặc ít thu thập hơn mình, thì khi ấy cuộc đời chắc chắn sẽ nhẹ nhàng, và đẹp hơn lên. Trở về với Kinh Sách rất Thánh, tức Lời Vàng cho mọi người và mọi thời, người người sẽ thấy hiện ra dẫy đầy những khẳng định về nghịch lý này. Điển hình hơn cả, là: phép tính trừ.

Trừ là trừ khử, bỏ bớt đi cả những gì mình không đủ. Tựa như Lời của Chúa nói trong Tin Mừng thánh Yoan:

“Quả thật, quả thật Ta bảo các ngươi:

giả như hạt giống gieo xuống đất không chết đi,

thì nó trơ trọi một mình;

nhưng nếu nó chết đi,

nó mới sai hoa lắm quả.”

(Yn 12: 24)

hoặc:

“Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất,

ai ghét sự sống mình nơi thế gian này,

thì sẽ giữ nó đời đời.”

(Yn 12: 25)

Quả là, khi đạt đến cùng kỳ đích của những luận và phiếm, người đọc sẽ nhận ra rằng: trong cuộc đời con người ít ai thích là con tính trừ và khử ấy cho bản thân riêng mình. Tuy nhiên, các bạn cũng đừng vội nản. Bởi, Đức Chúa đã làm phép tính chia chính là để cho con người chúng ta học hỏi bắt chước, mà làm như Ngài:

“Và Ngài nói:

Ta bảo thật các ngươi:

Bà góa nghèo khó ấy đã bỏ vào nhiều hơn hết thảy.

Vì, họ hết thảy lấy của dư mà bỏ vào làm của công,

còn bà lấy túng thiếu mà bỏ vào,

tất cả của độ thân mình có.”

(Lc 21: 3)

Phép tính chia trong Kinh thánh là sự chia sẻ, chia sớt. Bỏ vào thùng tiền tất cả của độ thân mình có. Đòi hỏi của phép tính chia là như thế. Chia, là không chỉ chia sẻ một phần nhỏ những gì mình đang có, mà là “tất cả của cải độ thân”.

Về phép tính chia, ta cũng lại có những lời khuyên ngọc ngà, như:

“Phàm ai xin, ngươi hãy cho”.

(Lc 6: 30)

“Đi đi! Có gì thì đem bán mà cho kẻ khó…”

(Mc 8: 21)

“Các ngươi đã không công mà được, thì cũng hãy cho không!”

(Mt 10: 8)

“Kẻ có hai áo, hãy chia cho người không có…” (Lc 3: 11)

“Hãy chia xẻ sự hoan lạc với chủ ngươi.”

(Mt 25: 21).

Tóm lại, với các kẻ tin vào Đức Kitô, hẳn không có phép tính nào trong cuộc đời lại quan trọng bằng hai phép tính nói trên: chia sớt ngọt bùi lẫn khổ đau với Chúa, với người người. Và, lọai trừ khỏi chính mình những gì là dư dật, không cần thiết cho bản thân. Cho chính mình.

Định nghĩa đó, có thể mang cung cách hơi quá đáng đối với một số người. Thậm chí, có người có thể cho đó là chuyện không tưởng, hoặc khó có thể xẩy ra với con người xác thịt chỉ biết có cộng thêm hoặc nhân rộng, hơn nữa. Cũng có thể có người cho rằng: các truyện trong Kinh thánh là chuyện xa xưa, cổ lỗ; không còn thích hợp với thời đại. Thì đây, một truyện không dài, chắc chắn không cổ lỗ những hai nghìn năm có lẻ; cũng na ná chuyện dân gian, rất thánh:

Ngày đầu bước lên bậc trung học, tôi gặp một bạn cùng lớp/cùng trường trong hoàn cảnh hết sức ngẫu nhiên. Anh đang trên đường thả bộ về nhà, với dáng điệu kỳ khú. Tên anh là Paterson, Kyle Paterson.

Hôm đó, Kyle Paterson chừng như đang khệ nệ bưng toàn bộ chồng sách đã học ở trường về nhà, để làm chuyện gì đó, xem ra có vẻ quan trọng lắm. Nhìn anh trong dáng điệu nặng nề, có lẽ vì chồng sách khá nhiều cuốn, tôi vội tự nhủ: khiếp! Sao lại có người khùng điên như thế. Giờ này, mà mang bấy nhiêu sách về nhà vào ngày thứ sáu nóng nực như thế này…? Chắc hẳn, anh chàng này đang ở vào tình trạng khủng hoảng hay khủng khiếp, gì đó chăng?

Vốn có sẵn trong đầu kế hoạch nhỏ cho mình trong mấy ngày cuối tuần ấy, tôi vội nhún vai một cách rất “Ang-lê”, định bụng phớt lờ anh ta, rồi đi một đường biến lẹ cho nhẹ nợ. Đi không được bao nhiêu bước, tôi bỗng thấy đám học trò chừng ba bốn đứa tinh nghịch, chạy xồng xộc xô Kyle Paterson té vào vũng nước bẩn đọng gần đó, làm tung tóe các sách anh bưng.

Cặp kính cận dầy cộm, vụt khỏi đôi mắt nai, văng đi đâu mất; khiến anh cứ phải lồm cồm ngồi dậy rờ mò, tìm kính. Và, nhặt sách. Tôi thoáng thấy nét ảm đạm đã vội hiện lên trên khuôn mặt rất lặng câm, của anh.

Lúc ấy tim tôi, lóe lên một luồng điện cảm xúc, rất ái ngại. Tôi bèn chạy đến. Nhặt đôi kính cận mà anh mò mãi thấy, vội đưa cho anh. Chợt thấy có giọt long lanh, nơi khóe mắt của anh, tôi vội nói khẽ vừa để anh nghe:”Bọn này thật không phải!

Hại bạn như thế, ắt sẽ có người hại lại!” Anh nhìn tôi trong phút chốc, rồi nói: “Này! Cảm ơn nhiều lắm đó!” Lúc ấy, tôi thấy anh nhoẻn một nụ cười tươi mát,sáng rõ trên khuôn mặt rực rỡ. Tôi giúp anh thu nhặt mấy cuốn vung vãi, rồi hỏi anh hiện cư ngụ ở đâu để không chừng tôi tháp tùng đưa anh về.

Khu vực anh ở, không xa chỗ tôi là bao. Nhưng tôi hơi lạ, sao tôi chẳng bao giờ thấy anh xuất hiện, bên ngoài trời. Thì ra, anh vừa chuyển từ trường tư thục trên tỉnh về đây ít ngày. Tôi vốn chẳng có chút kinh nghiệm gì về chuyện học trường tư thục, hoặc trường đóng học phí, nên chúng tôi có dịp nói chuyện với nhau suốt buổi, trên đường nhỏ về nhà.

Bưng hộ chồng sách cho anh, tôi nhận ra rằng: anh cũng là thiếu niên can trường. Tôi còn biết anh lại thích chơi banh nữa. Nên, thứ bẩy sau đó, tôi đến nhà để rủ anh ra sân. Và cứ thế, chúng tôi chơi với nhau như người bạn thân. Suốt tuần này qua tuần khác. Càng chơi với anh, tôi càng thấy thích; và cũng cảm phục anh. Bạn bè của tôi nhiều đứa cũng nói thế.

Sáng hôm ấy, Kyle lại đến với tôi với chồng sách khệ nệ trên tay, như dạo nào. Thấy vậy, tôi nói: “Bộ! bạn tính làm cho cơ bắp nơi tay trở thành kiến càng hay sao, mà ôm nhiều đến thế?” Anh cười, rồi cứ thế nhét vào tay tôi một nửa số ấy…

Bốn năm sau, chúng tôi đã trở thành đôi bạn thân thiết lắm. Năm đệ nhị cấp, chúng tôi buộc phải khoanh chọn tên trường để tiếp tục lên. Kyle Paterson chọn Georgetown làm trường tuyển, còn tôi nhất định chỉ theo học trường Duke. Biết là, chúng tôi mãi mãi vẫn là bạn thân, dù có xa nhau cả vạn dặm. Chúng tôi quyết định không đổi trường. Kyle thì nhất quyết theo ngành y. Còn tôi, theo nghiệp kinh doanh nhờ một học bổng có được từ bộ môn bóng chày, mà tôi thực tập lâu nay.

Ngày tốt nghiệp trung học, Kyle được chỉ định đại diện cho học sinh trong trường lên phát biểu cảm tưởng và cảm tạ nhà trường đã hun đúc tất cả, bấy lâu nay. Tôi vẫn chọc quê anh là, có khùng mới đi nhận công việc chán ngấy, ấy. Dù bị chọc quê, anh vẫn phải chuẩn bị cho bài thuyết trình, vì đã lỡ nhận lời. Tôi thì cứ khoái chí không bị lọt mắt xanh của mấy ông thầy bà cô, nên khỏi bị buộc làm cái công việc kỳ khôi ấy.

Ngày ra trường, tôi thoáng thấy Kyle súng sính trong bộ đồ rất lớn. Trông anh bảnh trai. Rất có mã. Anh có dáng dấp tự tin, lại hài lòng với chính mình. Với cặp mục kỉnh tòng teng bên tai, anh trông dễ coi và có vẻ trí thức lắm. Bọn con gái thì cư là mê tít những mẫu người như anh. Chính vì thế, mấy cô ấy vẫn đeo đuổi bên anh, trong khi tôi thì chẳng có ma nào bén mảng, bận tâm. Đôi lúc tôi cũng hơi ghen cho số phận hẩm hiu của mình.

Giờ “G” đã đến. Tôi thấy Kyle có vẻ hơi lúng túng, khi sắp đến giờ phải nói vài lời, đại diện cho học sinh. Tôi bèn gọi anh đến để ủy lạo bằng vài ba câu bình thường: “Này bạn, tớ thấy bạn hôm nay có dáng lắm đó!” Anh nhìn tôi cũng bằng vẻ mặt như hôm trước, nghĩa là hiểu ngầm lời cảm ơn chân tình.

Anh bắt đầu lấy giọng rồi nói: “Hôm nay là ngày tốt nghiệp. Bạn bè chúng ta thường hay dùng ngày này để nói lên những lời cảm ơn đến các vị đã giúp chúng ta đi cho hết những ngày tháng gay go với mọi công lao, rèn luyện. Phụ huynh, thầy cô và anh chị em của các bạn có thể là những huấn luyện viên rất giỏi, nhưng phần lớn họ là những người bạn thân của các bạn.

Hôm nay, đứng ở đây, tôi muốn chuyển đến các bạn một tín hiệu để chứng minh rằng: trở nên người bạn tốt với ai đó, tức là tặng cho họ một món quà quý giá mình có thể làm được. Tôi xin kể cho quý vị nghe một câu chuyện…”

Ngước nhìn cặp mắt của anh, tôi không ngờ là anh kể lại câu chuyện về buổi đầu tiên hai anh em chúng tôi gặp nhau bên cạnh vũng nước. Lúc ấy, anh có ý định kết liễu cuộc đời mình vào những ngày cuối tuần sau đó. Anh nói: là anh đã lên kế họach dọn dẹp sách vở mang về nhà để mẹ anh khỏi phải bận tâm làm việc ấy, sau khi anh từ giã cõi đời. Và, anh đã nhất quyết sẽ làm việc ấy.Bất chợt, anh quay qua nhìn tôi đính kèm một nụ cười nhẹ rồi nói: “Tạ ơn Trời, tạ ơn đời! Tôi đã được cứu thoát! Bạn của tôi đã gỡ tôi ra khỏi các hành động mà tôi không thể nói ra được lúc bấy giờ.”

Lúc ấy, tôi nghe như có tiếng thở phào truyền nhanh qua đám cử toạ khi người bạn trẻ tuổi, đẹp trai và nổi danh ở trường kể hết cái giây phút yếu mềm xảy đến trong đời của anh. Tôi thấy ba mẹ anh lúc ấy cũng quay qua nhìn tôi, và họ mỉm cười. Bạn của tôi tiếp lời: “Mãi cho đến giây phút ấy, tôi mới thấy được phần sâu thẳm của nỗi buồn. Thành thử, hôm nay xin quý vị đừng đánh giá thấp tất cả sức mạnh của công việc mà quý vị đang làm. Một cử chỉ nhỏ thôi, quý vị cũng có thể giúp được biết bao nhiêu điều.

Chính Thương Đế đã đặt chúng ta vào với cuộc sống của người khác. Để, chúng ta có thể gây ấn tượng lên nhau, theo tuồng kích nào đó. Thành ra, thưa quý vị, hãy tìm thấy Thượng Đế nơi người khác. Hãy chia sẻ cho nhau tất cả niềm vui, nỗi buồn. Hãy làm thân với bạn bè. Vì họ chính là các thiên thần sẽ nâng đỡ và nhấc cánh cho chúng ta mỗi khi ta gặp chuyện sầu buồn, khó khăn. Giúp ta ra khỏi tình huông ngập lụy, chìm đắm. Làm như thế, tức là ta đã sẻ chia. Như thế mới là tặng quà cho nhau. Hãy chia sẻ và tặng ban thật nhiều. Cho nhau. Vì, cuộc đời của chúng ta hôm nay, chính là quà tặng của Thượng Đế. Và, đó cũng là ý nghĩa của cụm từ The Present, hôm nay. “

Cũng có thể điều Kyle Paterson nói là đúng. Đúng hay sai ở đây không quan trọng. Chỉ quan trọng là cả hai đã biết san sẻ cho nhau , cả những chuyện vui cũng như nỗi buồn.

Thành thử, trong 4 phép tính của cuộc đời, phép chia (tức chia sớt, chia sẻ), lại là phép tính khó khăn nhất, ít người muốn làm. Dù chỉ là một lần. Một lần trong giòng chảy của cuộc đời, đã thấy vui.

Trần Ngọc Mười Hai

vẫn cầu cho chính mình không thấy khó khi làm phép tính chia.

§18 – LỜI NÀO CHO ANH, ÁO NÀO CHO EM

( Tv 29, 2 )

Ấy là chuyện kể. Nhưng chuyện kể ở đây, lại là chuyện của bé em. Và, bé lại muốn kể với Chúa. Hệt như với bố mẹ và người thân, chuyện kể hôm nay, vỏn vẹn chỉ vài hàng, như sau:

Buổi học hôm ấy, cô giáo muốn tập cho các em học sinh của cô biết viết thư ngắn, gửi về cho Đức Chúa. Viết thư cho người thường đã thấy khó. Viết cho Chúa, lại càng khó hơn. Thế nhưng, với các em học sinh lớp 3 ở đây, chẳng có gì là khó cả. Nên, đối với bé Kim, em cứ cầm bút lên là có thể đặt bút viết ngay một bức thư nhỏ, gửi cho Đức Chúa, như sau: “Hỡi Đức Chúa của con ơi, nếu Chúa chịu mở mắt mà xem mọi người ăn mặc đến mà ghê rợn như thế nào, mỗi lần đi Nhà Thờ, thì Chúa Nhật này Chúa nhớ mà xem con đây mặc áo gì ? đi đôi giày mầu gì? Có đẹp không nhé! “

Ký tên: Bé Kim của Chúa.

Và, cô giáo mở thư ra đọc, chẳng biết viết gì trả lời em, thay cho Chúa. Vì, cô hết ý!

Vâng. Hết ý! Hay còn gọi, là: “Hết biết!” vẫn là những tình tự rất “hết ý kiến” của nhiều người ở huyện. Không riêng gì, một cô giáo trường làng. Nhất thứ, đó lại là ý kiến về cách ăn và cách mặc, ở Nhà Thờ. Bấy lâu nay.

Vừa qua, có độc giả nọ cũng viết thư cho tuần báo The Catholic Weekly số 16.9.2007 hỏi ý kiến về “chuyện ăn mặc”, rất ngắn gọn như sau:

“Tuần vừa qua, đi Nhà Thờ nọ ở Sydney, tôi thấy có thông cáo dán ngay trước cửa ra vào. Thông cáo chỉ vỏn vẹn có mỗi lời căn dặn rất tức cười. Không hiểu sao các vị toàn nói chuyện, nào là “vào Nhà Chúa” phải ăn mặc cho đàng hoàng, tề chỉnh. Nào là, ăn nói cho nghiêm túc, nghe được một chút v.v… Thắc mắc của tôi hôm nay, là: tại sao cách phục sức khi đi Nhà Thờ không trở thành một quy định thống nhất cho mọi Nhà Thờ Công Giáo, ở các nơi? Mà, có mỗi Nhà Thờ nhỏ này là có chỉ đạo, thôi? Ai có quyền quyết định những chuyện như thế? Khi nào và nhân danh ai, ta có chấp nhận cho phép những người đi Nhà Thờ được ăn vận như những “tên hề trên sân khấu”, mà vào Nhà Chúa? Xin cho biết ý kiến. Rất biết ơn.

Đã có lời hỏi, mà lại hỏi công khai có giấy có bút trên báo, thì đương nhiên là phải có câu trả lời, rất phải. Từ các đấng bậc rất đàng hoàng, nghiêm túc như sau:

“Dĩ nhiên không phải là mọi người đều đồng ý cho rằng những ai đi Nhà Thờ ăn mặc như miêu tả trong thư giống… “tên hề trên sân khấu”, lại đựợc phép bước vào bên trong Nhà Thờ, dự lễ. Những năm trước, có khá nhiều người đến tỏ bày với tôi, cũng có thái độ như thế. Đôi lúc còn giận dữ hơn. Giận nhất, là về sự giảm sút tiêu chuẩn đặt ra cho việc ăn mặc phục sức khi đi Nhà Thờ, ở xứ này.

“Xin được nói ngay ở đây, rằng: Tôi rất mừng là, ít ra, cũng đã có một Nhà Thờ dám đăng bố cáo nhắc nhở Giáo Dân rằng: Nhà Thờ, đích thực là Nhà của Chúa. Vì thế, mọi người hãy nên ăn vận cho tể chỉnh mỗi khi vào nơi đáng kính như thế.

“Ví thử, ta đến một nơi nào có tổ chức tiếp tân, do cơ quan chính phủ khoản đãi, hay ở nhà tư một đại gia nào đó, ắt ta cũng thận trọng, mà ăn vận cho phải phép ? Có thế, mới hy vọng được ban lễ tân cho người ra đón, mời ta vào dự phần? Ở đây nữa, Nhà Thờ càng đúng là Nhà của Chúa hơn. Bởi, ở nơi đây, chính Chúa đang chờ ta ghé viếng. Ngài đợi ta từ Nhà Tạm, ở bên trong.

Ai có dịp ghé Đền Thánh Phê-rô, ở Rô-ma, sẽ thấy: ở đó có quy định rất ngặt trong vấn đề ăn mặc. Không tuân theo quy định của ban tổ chức, chắc chắn du khách không thể nào lọt vào bên trong thánh đường, được. Quy định ở đó, không cho phép ta được mặc quần cụt. Không mặc váy ngắn quá đầu gối. Không để vai trần. Nhất nhất, đều phải ăn mặc sao cho nghiêm trang tề chỉnh, mới mong được vào bên trong. Việc này cũng phù hợp với nhà của Vương Quốc Nước Trời, dành cho mọi Ki-tô hữu. Và, bất cứ Nhà Thờ nào trên thế giới cũng đều được coi trọng như Nhà của Chúa, chẳng cứ gì Đến Thánh Phê-rô, ở Rô-ma.

Ngay như tại các câu lạc bộ địa phương, cũng quy định về cách phục sức, rất nghiêm nhặt. Trên trang mạng nọ, thấy có chỉ dẫn khách hàng đến tụ điểm khiêu vũ ở Sydney, cũng được cảnh báo, là: “Một số câu lạc bộ có đề ra quy định ăn mặc khi đến đây tham dự. Ở một số nơi, còn cấm cả chuyện mặc quần Jean áo thun (bất kể được tạo mẫu theo kiểu nào đi nữa). Xin bà con ăn mặc cho đúng phép, để khỏi bị từ chối không cho vào”. Vào vũ trường, mà còn như thế huống hồ vào đền Chúa ngự.

Có thể, có người sẽ bảo rằng: Chúa đâu có khó như vậy. Ngài đâu bắt buộc người đi Nhà Thờ phải ăn mặc như thế nào, đâu! Chúa chỉ quan tâm đến tấm lòng, mà thôi. Bản thân tôi, chẳng có gì để phản đối quan niệm này. Thế nhưng, thường ta tỏ bày những gì mình đang có trong lòng ta ra bên ngoài, bằng cách ăn cách mặc, chứ ? Ngay như các đôi tình nhân, hẹn hò nhau vào buổi đầu, há người con trai lại không chứng tỏ là mình chú ý đến người đẹp bằng cách ăn mặc sao cho ra hồn, ư? Nếu chẳng may, anh lại ăn mặc bê bối, hẳn là người con gái kia sẽ nghĩ là anh chẳng để ý gì đến cô, hoặc chẳng đánh giá cao cô ta, được mấy tí. Và có thể là lần hẹn ấy sẽ là lần cuối, cũng không chừng.

Cả khi đến nhà bạn bè dự tiệc sinh nhật, hoặc ra ngoài dự yến tiệc, ta vẫn chẳng lo ăn vận sao cho thích hợp với không khí của buổi ấy là gì? Ăn mặc cho thích hợp, tức là ta tỏ bày sự kính trọng, quan tâm đối với bạn bè mình ghé thăm. Áo quần và cách phục sức vẫn là phương cách thích đáng để nói lên sự tôn trọng ta có đối với người khác. Và, cũng nói lên là mình biết tự trọng, nữa.

Nếu cần phải ăn mặc chỉnh tề khi bước vào Nhà Chúa, ta cũng phải làm thế khi tham dự Thánh Lễ. Bởi vì, nói cho cùng, Thánh Lễ là việc phụng tự ở mức độ cao nhất, ta chứng tỏ với Chúa. Quà tặng Chúa ban nơi Bàn Thánh sau lúc truyền phép, là chính Đức Ki-tô đã trở thành Đức Chúa bằng xương bằng thịt. Ngài đã cho đi chính Mình Ngài và gửi đến với ta, nơi tiệc Thánh. Tiệc của Lòng Mến. Tiệc Thánh là tiệc có của ăn nuôi dưỡng lòng Đạo nơi ta. Hiện diện trong tiệc thánh, có đủ triều thần các Thánh trên Thiên Quốc, đến dự phần.

Đằng khác, chúng ta đồng hành với Ba Ngôi Đức Chúa, qua nghi thức phụng vụ rất thánh thiêng. Và, ở vào lúc ta cùng với hết thảy các thánh nam nữ, tung hô chúc tụng: “Thánh! Thánh! Chí Thánh! Ngàn trùng Chí Thánh!…” (Kh 4: 8). Nếu ta biết những gì đang thực sự diễn ra ở bữa Tiệc, hẳn là ta sẽ cho Chúa thấy những gì mình đang có trong tâm hồn. Và, cách thức diễn tả điều này, là việc ăn mặc phục sức, cho phải phép.

Ngoài ra,còn một lý do khác khuyến khích ta ăn mặc cho phải phép mỗi khi tham dự Thánh Lễ, là: đây còn là bằng chứng, mà ta muốn cho xã hội thấy được là ta hết lòng tôn kính Chúa. Là, bằng vào cách ăn mặc khi tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật. Áo quần ta mặc chứng tỏ cho người khác thấy được các giá trị ta trân quý, trong tương quan với Chúa. Đây là cách thế hay nhất để rao giảng Tin Mừng. Khi xưa, mọi người có thói quen dùng cụm từ “Ăn vận như đi lễ Chúa Nhật”, là muốn chỉ về áo đẹp ta ăn mặc. Biết mặc đẹp khi đi Lễ, thì tự thân, việc này đã mang ý nghĩa rao giảng “Tin Mừng”, rồi.

Ăn mặc cho phải phép khi dự Lễ, là sống đích thực điều mà Thánh Vịnh 29 vẫn khích lệ:

“Hãy dâng lên Yavê vinh quang Danh người;

hãy bái thờ Gia-vê rạng ngời chiêu thánh !”

o0o

Vấn đề không phải là bày đặt ra luật này lệ nọ về cách ăn cách mặc cho giống nhau, như bộ đồng phục khi đi lễ, mà là: hãy nghĩ xem ta nên phục sức thế nào khi tham dự các lễ hội như thế. Và sau đó, cứ tùy nghi mà xử sự.

Cũng như mọi lần, các đấng bậc nhà mình khi đã trả lời thắc mắc vấn nạn nào, thì thắc mắc ấy dù có gai góc cách mấy, thì người đọc cũng sẽ thấy câu trả lời, sẽ trơn. Rất mực khuôn phép nhà đạo. Trơn, còn hơn các câu nói khi kể chuyện hay rất phiếm. Nhất thứ khi đó lại là, chuyện phiếm về câu nói của trẻ nhỏ. Trẻ như bé Kim, ở trên.

Trần Ngọc Mười Hai

vẫn muốn “ấy là kể chuyện”,

dù chỉ là chuyện ăn mặc

§19 – ÁO ANH TRẮNG QUÁ, NHÌN KHÔNG RA

(Yn 21: 4)

Đã có lần, nhiều người có nhận định rất ư là lẩn thẩn quanh mấy chuyện vẩn vơ, như: nhà thơ Hàn Mặc Tử khi nói câu trên, chắc cũng đã liên tưởng chút nào đến Đức Chúa sống lại ngày Phục Sinh, chứ nhỉ? Hỏi như thế, có dịch ra tiếng La-tinh hay tiếng Ý để hỏi, thì vị đứng đầu Giáo hội nhà mình cũng chẳng biết nhờ ai mà trả lời.

Giả như, câu hỏi bâng quơ của yếu nhân nào đó cho đi là đúng, thì ắt hẳn đồ đệ thời của Chúa cũng đã mang cùng tâm trạng, như thi sĩ mọi thời? Bởi, có thi sĩ nọ đã từng thì thào, rằng: “Làm thi sĩ, nghĩa là ru với gió, mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” (Xuân Diệu – Cảm xúc), thưở nào rồi. Có thể là, các môn đệ chắc cũng có tâm hồn trăng sao thi sĩ ghê lắm, mới không nhận ra được Thầy qua mầu trắng Phục Sinh, hôm nào:

“Xảy ra là đang lúc họ chuyện vãn

và bàn tính với nhau

thì chính Đức Yêsu tiến lại gần bên

mà đi với họ;

nhưng mắt họ bị ngăn

không làm sao nhận ra được Ngài”

(Lc 24: 15).

Thôi chết thật rồi. Không nhận ra được Ngài, chẳng phải vì các môn đệ vốn là thi sĩ hay nông dân thuyền chài gì gì đi nữa, nhưng chỉ vì mắt mình bị ngăn. Ngăn hay ngừa, đâu phải chỉ có các môn đệ vốn nam nhân, mới bị như thế. Cả các phụ nữ cũng đến thế, mà thôi. Đích thân, các vị phụ nữ cũng đã chạy tứ tán lùng tìm xem ai đã lấy xác của Thầy mình đi; để rồi, Thầy đứng sờ sờ ngay trước mắt đó, mà cũng không biết:

“Nói rồi, bà quay lại đằng sau

và trông thấy Đứng Yêsu đứng đó,

nhưng không biết là chính Đức Yêsu.”

(Yn 20: 14)

Rõ ràng, chỉ bình thường mắt thịt, thị sĩ họ Hàn đã dùng đến cụm từ “trắng quá, nhìn không ra”. Với thánh Luca, thì lại khác: “họ không nhận ra Ngài”(Lc 24: 15). Thánh Yoan, thì nói: “các bà trông thấy, nhưng không biết”(Yn 20: 14). Và, thánh Marcô lại trình thuật: “Ngài quở mắng sự cứng tin, lòng chai đá của họ, bởi họ không tin những kẻ được thấy Ngài đã sống lại” (Mc 16: 14).

Sau cùng, với thánh Mat-thêu, thì rõ ràng hơn:

“Thấy Ngài,

họ phục lạy

nhưng có kẻ hoài nghi” (Mt: 28: 14).

Cũng có thể: nhìn không ra, không thấy, hay không nhận… cuối cùng vẫn chỉ là nhìn trong trạng thái hoài nghi, chưa tin. Chả thế mà, Đức Kitô khi đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ, Ngài vẫn luôn khẳng định: “Phúc cho ai không thấy mà tin”.

Không tin, vì:

”Các ngươi có nhìn lấy nhìn để,

mà cũng không thấy.

Vì lòng dân này đã ra chai lại:

Chúng đã nặng tai nghe,

Chúng đã nhắm mắt lại”

(Mt 13: 14)

Thành ra, nhìn mà không thấy, chẳng phải vì áo trắng Phục sinh của Ngài “trắng quá nhìn không ra”, mà vì người người chỉ nhìn sự vật và sự kiện –nhất là sự kiện Phục Sinh, Chúa sống lại– chỉ bằng mắt thịt hạn hẹp. Chứ đâu có nhìn bằng mắt tin tưởng. Mắt của lòng yêu thương trìu mến. Suốt ngày cứ đi tìm người mình yêu. Nhất thứ, khi người Yêu Rất Nhân Hiền của mọi người xưa đã chết, nay đà sống lại. Vì mình. Và cho mình.

Sống lại vì mình và cho mình, là câu nói rất “có căn”. Tựa như thánh Phaolô tông đồ, từng quả quyết:

“Nếu Đức Kitô đã không sống lại

thì việc anh em tin

cũng thành hão huyền

và hiện nay anh em vẫn còn ở trong tội lỗi.”

(1Cr 15: 17)

Nói cách khác, nếu không có Phục Sinh đầy mầu trắng, thì chuyện: theo bước chân mềm Hiền Dịu của Chúa, chỉ là chuyện vô duyên lãng xẹt, chẳng nên làm. Lại nữa, nếu không có mắt, những tin và yêu, thì cũng chẳng thể nào nhận ra được mầu trắng yêu đương, rất Phục sinh của Đức Chúa.

Hôm nay thêm một vấn đặt ra, là: mang danh đồ đệ, tức người con yêu của Đức Chúa, dân con nhà Đạo là những người anh, người chị, là tôi, bần đạo đây phải sống thế nào để chứng tỏ rằng mình đã nhìn “ra được mầu trắng Phục Sinh, nơi Ngài”. Hoặc, người anh, người chị của tôi nữa phải hành xử với các huynh đệ tỷ muội trong Đạo, “ngoài luồng” thế nào, để rồi “tứ hải giai huynh đệ” chúng ta biết và nhận rằng Chúa Cứu Thế đã Phục sinh, toàn một mầu trắng?

Đặt câu hỏi như trên, hôm nay, không phải để vấn nạn lòng tin – yêu của anh, của chị hoặc chính mình mình, dù chắc chắn là: đã biết và đã nhận ra được mầu trắng Phục Sinh. Đã có câu trả lời từ lâu. Hôm nay, có đặt lại câu hỏi nào khác theo cách thức dị kỳ khác lạ, thì cũng chỉ để mình nhủ lòng mình, rằng: đã tự kiểm đủ chưa? Đã tự xét về mình khá chưa, nhân mùa Phục sinh Chúa sống lại?

Hỏi, cũng còn để nhớ và truyền cho nhau những cảm nghiệm nóng bỏng hồi nào, từ vị đàn anh thân thương thuở trước. Cảm nghiệm có được nhân bài chia sẻ lời Chúa rất ngắn rất gọn dịp vui mừng tràn đầy, về điều-gọi-là “áo trắng Phục sinh”, năm nào. Chừng như, vào thập niên một chín sáu mươi, hồi ấy như sau:

“Đức tin, là ân huệ Chúa ban cho con người, một cách nhưng không. Không kèo nài. Chẳng cầu cạnh. Cũng tựa hồ, như cha mẹ tặng cho con chiếc áo trắng tinh. Cha mẹ cho con chiếc áo mới, chẳng phải vì công lênh tài cán gì của con. Hoặc, do con ngoan và hiền. Nhưng, cha mẹ vẫn cứ cho, chỉ vì lòng cha mẹ vốn rất thương con. Mà thôi. Vậy, bổn phận của con khi nhận “áo trắng” này, là làm sao giữ cho áo được tinh tuyền trắng mãi như thế. Trắng như thể mầu trắng của Phục sinh” (Lm Nguyễn Thế Thuấn, CssR)

Kết cuộc, để đóng góp lời giải cho thắc mắc ở trên, bần đạo chỉ dám xin thêm một lời bàn, là: xin các bạn đọc nốt hai câu cuối mà thi sĩ họ Hàn dùng làm kết đoạn cho bài “Đây Thôn Vĩ Dạ”, viết vào năm ấy:

“Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?”

(Hàn Mặc Tử).

Và, cũng xin thêm một đề nghị nữa, đề nghị rất nhỏ, là: ta cứ thử sửa đổi chữ “A” ở từ “ai” từ chữ chử nhỏ thành chữ viết hoa, ắt sẽ có câu trả lời thỏa đáng. Câu trả lời rất đẹp cho những ngày Phục Sinh sắp đến.

Trần Ngọc Mười Hai

với một đề nghị nhỏ về Mầu Trắng, rất trinh trong.

§20 – ĐÚNG MẸ LÀ MẸ CHÚA TRỜI

(Lc 1: 31-48)

Cũng là đi nhà thờ để dự lễ. Cũng lễ mễ rủ nhau đi đọc kinh. Kinh tôn vương hay kinh tối ở nhà, nhất nhất người nhà Đạo gốc Việt mình bao giờ cũng tung hô/ca tụng Đức Mẹ dưới nhiều danh hiệu. Không có buổi nguyện cầu/đọc kinh nào của dân Ta mà lại không kết bằng lời kinh, rất vần rất thơ, dù khi cha/cố đã có lời chào “Anh chị em ra về bằng an”:

“Chúng con trông cậy rất thánh Đức Mẹ Chúa trời chớ chê chớ bỏ lời chúng con gian nan thiếu thốn Đức Nữ Đồng Trinh hiển vinh sáng láng…

Lạy trái tim vẹn sạch Đức Bà Maria

Cầu cho chúng con…”

Thật ra, các hình dung từ hay nhất thế gian đều đã áp dụng cho Mẹ, như “hiển vinh sáng láng”, “rất thánh”, hoặc “trái tim vẹn sạch Đức Bà Maria”… đều dồn vào một lời kinh thôi, cũng nói lên vai trò rất chính và đáng của Mẹ. Mẹ dân gian. Mẹ của Thiên Chúa.

Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, tước hiệu này có từ lâu. Ai cũng đều hiểu thấu. Nhưng vẫn có bạn trẻ, người thân hãy còn thắc mắc. Thắc mắc hôm nay, là từ một giáo dân người Úc. Có thể, là người mẹ còn trẻ. Mẹ của bầy trẻ, ở đâu đó. Và, câu trả lời cũng là của vị linh mục thông thái hôm trước, Lm John Flader của tờ The Catholic Weekly đề ngày 12/08/2007, như sau:

“Tôi vẫn biết Hội thánh gọi Đức Maria là “Mẹ Thiên Chúa”, nhưng tôi thấy cũng khó mà hiểu được ý nghĩa của giáo huấn này cho trọn vẹn. Với tôi, Thiên Chúa là Đấng Vĩnh cửu, Ngài dựng nên hết mọi sự; kể cả Đức Maria cũng do Ngài dựng ra. Thiên Chúa như thế, không thể nào lại có được một người mẹ. Làm sao hiểu được, Đức Maria lại là mẹ của Đấng Tạo Hóa muôn loài chứ? Kinh thánh có nói gì về vấn đề này không, xin cho biết?

Vâng. Có nhiều điều mình tưởng đó như một tín điều. Tin như đinh đóng vào cột. Nhưng, vẫn có những điều cần giải thích thêm. Nhất là đối với các người trẻ, những người không có quá trình thần học như các cụ trong nhà của Chúa. Và dưới đây là lời giải thích cho tước hiệu của Mẹ:

“Đúng như chị nói, chúng ta vẫn gọi Đức Maria là “Mẹ Thiên Chúa” thật đấy. Chúng ta vẫn gọi Mẹ như thế từ lâu khi cất lên lời kinh “Kính Mừng Maria”, và sau đó ta thưa với Mẹ:

“Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời,

cầu cho chúng tôi là kẻ có tội…”

Nói một cách đơn giản, thì bằng vào các cụm từ này, ta đích thực tuyên xưng Mẹ là Mẹ của Đức Giê-su. Mà, Đức Giê-su là Thiên Chúa Ngôi Hai. Là, Đức Chúa làm người. Như thế, Mẹ là Mẹ của Đức Giê-su. Theo lẽ tự nhiên, ta không nói Đức Mẹ sinh ra Thiên Chúa Ngôi Cha, Đấng Tạo Hóa. Và, trong Kinh thánh có nhiều chỗ, nhiều đoạn nói về chuyện này.

Khi thần sứ Gabriel được Thiên Chúa sai đến với Đức Maria vào buổi Truyền Tin, thần sứ nói với Mẹ:

“Maria đừng sợ! người sẽ thụ thai và sinh con, và người sẽ gọi tên Ngài là Giê-su. Ngài sẽ làm lớn và được coi là Đấng Tối Cao, và Chúa Thiên Chúa sẽ ban cho Ngài ngai Đavít, cha Ngài.”

(Lc 1: 31-32)

Như thế, Đức Giê-su là Người Con vĩnh viễn của Thiên Chúa, Đấng Tối Cao. Ngài là Đức Chúa Con, Ngôi Hai trong Ba ngôi Đức Chúa rất thánh. Thần sứ nói tiếp:

“Thần Khí Chúa sẽ đến trên người, và quyền năng Đấng Tối Cao trên người rợp bóng; bởi thế trẻ sắp sinh sẽ được gọi là thánh, là Con Thiên Chúa!” (Lc 1: 35)

Ít ngày sau, người chị họ của Mẹ là Bà Êlisabét được Thần Khí Chúa tác động đã nhận ra là Đức Maria quả đích thức là Mẹ của Thiên Chúa. Bởi thế, người chị mới kêu lên:

“Bởi đâu tôi được thế này,

là Mẹ Chúa tôi đến với tôi?”

(Lc 1: 42)

Đáp lại, chính Mẹ cũng có nói trong bài ca cảm kích “Xin Vâng” mà hát rằng:

”Hồn tôi tôn dương Chúa, và thần khí tôi nhẩy mừng Thiên Chúa, Cứu Chúa của tôi, vì Người đã đoái nhìn thân phận mọn hèn tớ nữ của nguời.”

(Lc 1: 46-48)

Quả là, nơi Đức Maria lời tiên tri Isaya đã thể hiện:

“Này, cô nương sẽ thụ thai và sinh con,

và bà sẽ gọi tên con là Emmanuel.”

(Is 7: 14)

Trong khi, Mẹ đã tặng ban cho Đức Giê-su mỗi bản tính tự nhiên, chứ không phải Thiên tính, nhưng dù sao thì tại làng Bét-lê-hem, Mẹ đã hạ sinh Đấng Thánh Thiêng Ngôi Con trong Ba Ngôi Đức Chúa. Vì thế, Mẹ đích thực được gọi là Mẹ của Thiên Chúa.

Chân lý này là tín điều của lòng tin, đã được Công đồng Ê-phê-sô công bố vào năm 431 sau Công nguyên. Chính Công Đồng này đã lên án sự sai quấy của bè rối Nes-tô-ri-út. Bè rối này chủ trương Đức Giê-su có hai dạng tính, một là tính người phàm và một là Thiên tính. Theo bè rối này, Đức Maria chỉ là mẹ của hữu thể mang tính loài người, mà thôi.

Công Đồng Êphêsô tuyên bố:

“Nếu có bất cứ ai không công nhận rằng Đức Em-ma-nu-el Kitô đích thực là Chúa, và như thế Thánh Nữ Đồng Trinh Maria không là Mẹ của Chúa được, bởi chỉ theo tính xác thịt mà mẹ cưu mang Thiên Chúa Đấng Ngôi Lời đã làm người, thì hãy coi họ là đạo rối.”

Sách Giáo lý Hội thánh Công Giáo có dạy:

“Thực ra, Đấng mà Đức Mẹ cưu mang làm người phàm là do Thần Khí Chúa tác động. Đấng ấy đã trở nên Người Con của Mẹ theo tính xác thịt phàm trần, không có gì khác Người Con vĩnh viễn của Cha. Ngài là Ngôi Hai trong Ba Ngôi Đức Chúa. Vì thế, Hội thánh xác nhận là Đức Maria thật sự là Mẹ Thiên Chúa (tiếng Hy Lạp gọi là Theotokos)” (sđd đọan 405).

Thánh Xy-rin ở Alexandria, người có uy tín thời Công Đồng Êphêsô có viết:

“Điều làm tôi ngạc nhiên là có một số người có lẽ ngờ vực về việc Thánh Nữ Đồng Trinh có được gọi là Mẹ Thiên Chúa hay không. Nếu Đức Chúa Giê-su là Thiên Chúa, thì sao Thánh Nữ Đồng Trinh mẹ của Ngài đã cưu mang Ngài lại không phải là Mẹ Thiên Chúa được.”

Và, đấy chính là niềm tin mà các tông đồ cảm nhận được nguồn thần hứng đã trao lại cho chúng ta, cho dù các ngài không ghi chú các điều khoản này. Đây là điều các thánh tổ phụ đã dạy chúng ta.

Quả thật, thánh A-ta-na-xi-ô, vị cha già của giáo hội đã để lại nhiều hồi ức nổi bật trong các sách mà thánh nhân viết, trong đó thánh nhân có nói đến tính thánh thiêng và người phàm của Đức Giê-su nơi Ba Ngôi Đức Chúa. Ở chương 3 của sách, thánh nhân đã gọi Thánh Nữ Đồng Trinh Maria bằng danh hiệu là Mẹ Thiên Chúa.

Với xác tín của các thánh tổ phụ trong Giáo Hội, thiết tưởng tước hiệu Mẹ của Thiên Chúa là chính đáng và trung thực.

Chính đáng và trung thực. Đó là hình dung từ rõ nét nói về tước hiệu ở trên của Đức Mẹ. Và còn nhiều tước hiệu khác, cũng thế. Ta cũng sẽ được nghe đến trong lời kinh ban hôm, ban sớm mà con dân nhà Đạo, mình vẫn tin. Tuy chưa hiểu rõ như vẫn không bao giờ hiểu được cho rõ các huyền nhiệm của trần gian. Huống chi, là của Thiên Chúa.

Để minh họa cho những điều ta ít hiểu tường tận nhưng vẫn tin, trong đời thường. Một đời mà người người cứ tưởng là rất khoa học, rất văn minh, nhưng…

Và đây là một mẩu vụn suy tư cũng lại gặp thấy ở cột 8 trên tờ báo nọ. Mẩu vụn này là do một độc giả gửi đến. Độc giả rất bình dân, ít hiểu nhưng vẫn tin:

“Nếu Chúa có tủ lạnh, hình ảnh của anh/chị sẽ xuất hiện ở nơi đó. Nếu Ngài có ví/bóp đựng đồ, Ngài cũng sẽ giữ các tấm ảnh của anh/chị. Ngài gửi đến cho anh/cho chị nhiều đóa hoa muôn sắc, mỗi mùa xuân. Ngài cũng cho mặt trời mọc vào mỗi buổi sớm. Sự thật là, Ngài đang như điên như dại về anh/chị. Chúa đâu có hứa hẹn với anh/chị những ngày sống không đau khổ; những nụ cười không kèm thương đau sầu thảm; hoặc, mặt trời rực sáng mà không mưa đâu. Nhưng chắc chắn là Ngài đã hứa ban quyền uy sức mạnh đến mỗi ngày; Ngài hứa gửi sự ủi an đến với những người đang than khóc và ánh sáng chiếu rọi con đường ta đi. Nếu Ngài đem anh/chị đến đó, Ngài cũng sẽ đưa anh/chị đi ngang qua tất cả. Cả niềm vui lẫn nỗi buồn.

Ở đây nữa, có những sự thật như đếm vẫn hiển hiện mỗi ngày, nơi đời người. Mà, người đời đâu đã chú tâm. Và chú tâm căn bản ta cần đến, mỗi khi nguyện cầu cùng Chúa Mẹ trên cao, là: xin cho sự thật của Ngài vẫn cứ rõ sáng như ban ngày. Rõ sáng, để rồi ta cứ sống, cứ chiêm niệm -chiêm ngắm và niệm suy- mà chẳng cần phải thắc mắc. Với hỏi han.

Trần Ngọc Muời Hai

Trộm nghĩ lắm lúc cũng có thắc mắc

rất vẩn vơ.

§21 – MỘT THOÁNG MẸ HIỀN

( Mt 26: 61 )

Có một điều mà mọi người, bạn cũng như tôi, không thể phủ nhận được, đó là: trong quá trình gợi chuyện và kể chuyện, ta vẫn dùng đến ngôn ngữ. Có thể là ngôn ngữ nói, rất bình dân. Có thể là ngôn ngữ viết, rất bác học, và, ngôn ngữ ta dùng hoặc tượng thanh, hoặc rất tượng hình.

Với người Việt, hầu như mọi người đều không chỉ hài lòng với ngôn ngữ nói chung, mà còn tự hào với sự giàu có của tiếng Việt nữa. Chẳng hạn, để chỉ ngôi thứ nhất số nhiều, bên tiếng Anh, tiếng Pháp có mỗi một chữ “We – Nous”; trong khi tiếng Việt ta có một loạt từ như: Chúng tôi, Chúng ta, Chúng con, Chúng cháu, Bọn tôi, v.v… Ở ngôi thứ nhất số ít, ngôn ngữ bạn có mỗi một chữ “Je – I” trong khi ta có đủ: Tôi, Tao, Tớ, Con, Cháu, Thầy, Chị, Anh, Em, Bố, Mẹ v.v…

Trong tình huống tương tự, khi “kể chuyện” mà gặp các từ bên tiếng Anh, tiếng Pháp như Church – Église, các nhà dịch thuật sẽ dùng cụm từ khác nhau để chỉ cùng một ngôn ngữ gốc, như: Hội Thánh, Giáo Hội, Thánh Đường, Giáo Đường, Đền Thờ, Phẩm trật giáo quyền v.v…

Cụ thể hơn, quay về với Kinh Thánh tìm hiểu các đoạn nói về “Nhà Thờ” tương đương với chữ “Church – Eglise”, người đọc sẽ bắt gặp rất nhiều từ, như:

“Các ông cứ phá đền thờ này đi,

nội trong ba ngày Tôi sẽ xây dựng lại.”

(Mt 26: 61)

hoặc uyển chuyển hơn:

“Ngươi là Đá, và trên Đá ấy, Ta sẽ xây Giáo Hội của Ta. (Mt 16, 18)

Với thánh Phao-lô, cụm từ trên còn có nghĩa:

“Phao-lô Tông Đồ của Đức Ki-tô Giê-su kính gửi Hội Thánh của Thiên Chúa ở Cô-tin-tô làm một với hết thảy các thánh trong toàn hạt A-khai-a.” (2 Cr 1, 1)

Ở đoạn khác trong Sách Thánh, cố Lm, Nguyễn Thế Thuấn, DCCT, đã chuyển ngữ chữ “Church – Eglise”, thành “buổi hội”: “Phụ nữ phải làm thinh trong các buổi hội.”

Xem thế, thì tự thân, chữ “Church – Eglise” mang tính phong phú cả về thể lý, lẫn linh đạo. Đôi khi, sự phong phú của ngôn ngữ – nhất là trong trường hợp này – còn đưa dẫn người kể chuyện cũng như người nghe về một tình huống xôn xao, bực dọc. Thứ xôn xao dễ gây ngộ nhận, về mặt tình cảm.

Dạo gần đây, một số Giáo Dân ở hải ngoại, khi hướng lòng mình về với Giáo Hội ở nhà, chỉ nhìn Hội Thánh (Church – Eglise) như một tập thể gồm các chức sắc, đấng bậc có trọng trách cai quản các tín hữu Đức Ki-tô, thôi. Cho nên, cái nhìn của các vị mang tính xao xuyến, lo âu biểu hiện rõ nơi truyền thông báo chí như:

“… Sao độ này các Linh Mục, Giám Mục nhà mình hay xuất ngoại xin tiền xây Nhà Thờ/nhà thánh thế nhỉ… Các ngài làm như vậy dễ khiến cho người ở ngoài lầm tưởng là ở Việt Nam ta hiện thời đã có tự do tôn giáo rồi…”

Đằng khác, có một số nhận định từ nhiều phía vẫn coi Giáo Hội ở quê nhà chỉ gồm chức sắc, đấng bậc mà thôi, nên thắc mắc của quý vị này đượm nhiều phiền trách:

“…Tại sao các Giám Mục bên nhà vẫn lặng thinh để mặc cho nhà cầm quyền thao túng, cướp đi cái vai trò và trách nhiệm của Giáo Hội trong việc bổ nhiệm và phong chức Linh Mục, như thế? Sao các ngài cứ để con chiên, đệ tử của mình bị bách hại, hoặc cầm tù lâu ngày mà chẳng lên tiếng bênh vực, gì hết vậy ?”

Những xao xuyến và nhận định có phần bức xúc ở trên, đã đưa nhiều người về với trạng thái xốn xang, khó nguôi, thậm chí, có những bức xúc đạt mức cao độ khiến nhiều vị, trong cũng như ngoài nước, mất cả niềm tự chủ, phải thốt lên lời hằn học, chỉ trích công khai trên truyền thông, báo chí. Rõ thật không phải.

Về với đề tài “Một thoáng mẹ hiền” hôm nay, bần đạo không rõ cụm từ Hội Thánh – Giáo Hội khởi sắc từ lúc nào và được đưa vào kinh sách của các tôn giáo những bao lâu. Nhưng, nếu tầm nguyên bên tiếng Anh là chữ “Church”, ta thấy tự điển The Macquarie Encyclopedic Dictionary của Úc có đưa ra các định nghĩa rõ ràng về từ Church như sau:

Church:

– là công trình kiến trúc được dùng làm nơi phụng thờ (tức Giáo Đường, Nhà Thờ)

– là việc công khai phụng thờ Thượng Đế, nơi hội họp (tức sự tuyên tín trong Nhà Thờ)

– (viết Hoa) là cộng đoàn gồm các kẻ tin vào Đức Ki-tô (tức Hội Thánh của Chúa Ki-tô)

– (viết Hoa) là hệ phái những người cùng một lòng tin, công nhận một quyền bính (tức Giáo Hội)

– là quyền bính Giáo Hội so với quyền bính ở dưới thế (tức Phẩm trật Hội Thánh)

– là nhóm người hoặc tổ chức tôn giáo không tin vào Đức Ki-tô như Do Thái Giáo, Phật Giáo (tức giáo phái, giáo hội).

Mặt khác, theo The Dictionary of Jesus and the Gospels, InterVarsity Press 1992, thì chữ “Church” (có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là Ekklẽsia ) đọc thấy trong Tin Mừng theo thánh Matthêu ở đoạn 16, 18 và 18, 17. Qua đoạn này, các sử gia Tin Mừng khẳng định rằng Hội Thánh Đức Ki-tô chính là Nước Trời. Là, Cộng Đoàn các kẻ tin vào Chúa.

Xem như thế, mọi xôn xao bức xúc của bè bạn khi hướng lòng về Hội Thánh sở tại, vẫn là tâm tình mà các vị đang có đối với các đấng bản quyền có trọng trách chăm nom cộng đoàn kẻ tin hiện sống nơi quê nhà. Tâm tư này trải dài ở tầm mức quốc tế. Nghĩa là, phổ biến rộng với nhiều người đang sống tại nhiều nơi, trên thế giới.

Tầm mức quốc tế này, đã phần nào nói lên đặc điểm “chung” và “rộng khắp” của đạo giáo có tầm kích qui mô, là Đạo Công Giáo. Chính vì tính cách “chung” và “đại đồng” của Đạo mà mối xôn xao/lo ngại nói trên đã vượt quá phạm vi quốc gia, Giáo Phận và giáo xứ.

Tuy nhiên, “lo” giữ Đạo ở Giáo Xứ, Giáo Đoàn mình ngoài nơi mình ngụ cư, và “ngại” cho trọng trách cai quản Hội Thánh ở nhà, có là tâm tư/thắc mắc phải chăng, rất đáng quan ngại hay không ?

Thắc mắc, vì có nhiều vị ở hải ngoại (tức đang sống với Giáo Hội sở tại) mà vẫn lo và ngại cho các đấng bản quyền mình ở trong nước (tức Giáo Hội mình đã rời bỏ). Thấy các “cụ” bị cấm cung, không xuất ngoại tham dự Thượng Hội Đồng Giám Mục được thì lo rằng Giáo Hội ở nhà không chừng sẽ biến thành Giáo Hội thầm lặng (như Trung Quốc), cũng buồn. Rồi khi, các đấng bậc được phép ra ngoài thăm các giáo đoàn định cư ở khắp nơi trên thế giới, thì các cụ lại lo là: các “đấng” ấy không chừng bị rơi vào bẫy cạm thâm độc của nhóm người nổi danh là “vô thần” bóp chết tự do tôn giáo, rất lo xa.

Ở đây, cũng chẳng nên tranh cãi hoặc kéo về cùng phe với bất cứ ai. Bởi, nếu cứ lý luận hoặc tranh cãi với nhau mãi về tư thế của Giáo Hội nhà, rồi ra bà con sẽ quên bẵng mất một khẳng định nòng cốt Đức Ki-tô đã nói từ trước với vị chủ chốt Giáo Hội tiên khởi hôm nào, rằng:

“và quyền môn âm phủ sẽ không thể thắng nổi.”

(Mt 18, 18)

Đồng thời, nếu cứ mải tranh luận, có thể bà con cũng sẽ quên bẵng lời nhắn nhủ khẩn trương của vị Giám quản Tông Toà cộng đoàn tiên khởi, là Saulô, người từng bách hại Hội thánh Chúa khi trước, nay hồi hướng trở về:

“Hỡi anh em, nhân danh Chúa chúng ta, Đức Giê-su Ki-tô, tôi nài xin anh em hãy lo cho được đồng ý với nhau hết thảy, đừng để có sự chia rẽ trong anh em, nhưng hãy đoàn kết trong cùng một tâm trí, cùng một quan điểm.” (1 Cr 1, 10)

Vả lại, nói về chuyện “gây khó dễ, bách hại”, thì không phải chỉ lúc này Hội Thánh Chúa mới gặp phải. Theo lịch sử, ngay buổi đầu, những người rủ nhau vào chốn hoang vu nghe Đức Ki-tô giảng giải, tất cả đều đã ra đi. Đi, cả vào lúc đang bị ngoại bang đô hộ, nữa. Là Đấng chuyên kể chuyện dụ ngôn cho người bị cấm đoán, chịu đô hộ, Đức Ki-tô cũng đã bị khó dễ, đủ điều.

Vào thời tiên khởi, Hội Thánh có các hang toại đạo đầy những hãi sợ. Có khổ giá, bắt bớ hành hình, mà các mục tử rao giảng còn chẳng sợ. Đến thời Trung Cổ, đầy những cảnh dầu sôi lửa bỏng, máy chém hoặc giây thừng quàng cổ mà người đi Đạo lẫn đấng giảng rao, đâu nào cản ngăn được bàn tay Chúa Thánh Linh đỡ đần và soi sáng. Xá chi, những kẻ xấu tân thời có làm khó cũng chỉ để tranh giành lợi lộc, quyền thế hoặc mưu sinh.

Hội Thánh ta, tuy yếu ớt, bé nhỏ, nhưng luôn tồn tại trước mọi phong trào bách hại tinh vi, thâm độc đến cực độ. Ai còn lo lắng trước sức mạnh cản ngăn từ các kẻ xấu, là chưa tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh, quyền uy của Chúa Thánh Linh đang hoạt động khắp nơi, vào mọi lúc.

Nếu bảo rằng, các đấng bậc ở nhà, bình chân như vại vẫn cứ làm ngơ trước mọi hình thái bách hại, ngăn tự do tôn giáo và ngôn luận, thì làm sao biết được là các ngài đã và đang làm thinh? Cũng có thể, các ngài đang bị bách hại cũng không kém, theo kiểu tinh vi/khoa học hơn xưa? Cũng có thể, các ngài được Chúa Thánh Linh soi sáng, đang chiến đấu không ngừng nghỉ cho Nước Chúa được bền đỗ đến cùng ?

Đằng khác, đâu cứ phải ra mặt chống đối kẻ xấu mới là cách hay nhất/đúng nhất để giúp Hội Thánh thực hiện chức năng của mình và sống bên cạnh “quyền môn âm phủ” mà chẳng bị âm phủ bế môn uy quyền? Có thể bà con ta không ở trong cuộc, nên quá nhiệt tình với Giáo Hội “ở nhà”, chợt quên mất lời Thầy dặn, trước ngày Thầy về với Cha, chăng? Lời ấy thế này:

“Vậy, các ngươi hãy đi thâu nạp môn đồ khắp muôn dân…”

(Mt 28, 19)

Và, nhất là:

“Này, Ta sẽ ở với các ngươi mọi ngày cho đến tận thế.”

(Mt 28, 20)

Cuối cùng, Giáo Hội ở nhà dù đang lâm vào thế cùng quẫn, cũng sẽ không quên rằng: tất cả đều là ân huệ. Ân huệ được gửi đến theo một hình thái rất nghịch lý. Nghịch lý ấy, đôi khi khó mà tưởng tượng hoặc chấp nhận được. Nhưng, đó mới là mầu nhiệm. Đó mới là thử thách. Thử thách, ở thời tinh vi, khoa học.

Để bà con có thể thư giãn một chút, cũng nên đính kèm theo đây vài hàng chuyện kể mang dáng dấp tâm tình của một cộng đoàn nhỏ thân thương. Vì là chuyện kể từ nước ngoài, nên sẽ có đôi chút “hải ngoại”, chắc bà con cảm thông:

“Hồi còn trung học, tôi có một cô giáo có tài rất đặc biệt. Chồng cô vừa qua đời sau cơn đau tim, chẳng có dấu hiệu gì báo trước. Một tuần sau cái chết của người chồng, cô giáo vào lớp chia sẻ với các em học sinh của cô, lúc sắp đến giờ tan học. Với dáng điệu trầm buồn nhưng thư giãn, cô suy nghĩ giây lát, rồi chậm nói:

“Trước khi kết thúc lớp học chiều nay, cô muốn san sẻ với các em mảnh vụn suy tư không liên quan gì đến lớp của mình; nhưng cô thấy nó rất quan trọng đối với chúng ta. “Mỗi người chúng ta vào với cuộc sống này là để học hỏi, san sẻ, yêu thương, cảm tạ và cho đi những gì mình trân quý nhất. Không ai trong chúng ta biết được ngày nào thì các kinh nghiệm tuyệt vời ấy chấm dứt. Có thể nó bị lấy đi vào bất cứ lúc nào. Có thể đây là cách mà Thượng Đế muốn tỏ cho ta biết mình phải thực hiện tối đa điều tốt đẹp trên đời, dù chỉ phút chốc nhỏ nhoi, trong ngày.

“Mắt cô hơi rướm lệ. Nhưng cô vẫn tiếp tục:

“Thành thử, hôm nay cô muốn tất cả các em hãy hứa với cô một điều là từ giờ trở đi, trên đường đi đến trường hoặc lúc về nhà, các em hãy tìm cho ra thứ gì tốt đẹp, xinh xắn và đặt vào đó sự chú ý của mình. Không cần phải là những gì mình đang thấy. Có thể là mùi thơm từ đâu đó. Có thể là mẩu bánh cỏn con người nào đó vừa vứt vào xọt rác bên đường. Có thể là cơn gió thoảng. Là, xào xạc tiếng lá rơi bên thềm; hoặc, nhè nhẹ ánh nắng ban mai chiếu chậm lên lá vàng rơi đang từ từ rớt xuống, bên đường.

“Hãy để tâm đến những thứ ấy và trân trọng chúng. Bởi, dù chúng có là đồ bỏ, vô dụng đối với một số người, nhưng vẫn là phẩm vật của đời thường. Dù chỉ là chút quà nhỏ bé gửi đến với ta để ta vui hưởng cuộc sống mỗi ngày. Những vật mà ta quên lãng; hoặc, không còn thuởng thức, cũng nên trân trọng. Điều cần, là các em phải để ý đến chúng. Bởi, có thể, vào bất cứ lúc nào, tất cả những thứ ấy sẽ bị nhanh chóng lấy đi.”

“Cả lớp bỗng trở nên im ắng. Và sau đó, chúng tôi sắp dọn sách vở, chuẩn bị rời lớp ra về. Chiều đến, tôi để ý nhiều thứ hơn những gì tôi vẫn làm trong cả học kỳ. Có khi, chỉ trong khoảnh khắc, tôi đã nghĩ đến những thầy, những cô mà tôi có dịp được học ở trường. Nhớ lại cái cảm giác lúc cô chủ nhiệm đem điều ấy đến cho tôi. Tôi cố trân trọng và vui hưởng các vật dụng của đời thường mà trước đó, tôi chỉ nhìn qua, rất thoáng.

o0o

Chuyện vừa kể, không chấm dứt ở đó. Rất ngắn. Nhưng, được người kể thêm vào một chút gì để gọi là có hương có hoa, có cả đề nghị, như sau:

“Trưa nay, bạn hãy chú ý đến những gì rất đặc biệt mà bạn được thưởng thức trong bữa cơm đạm bạc, hằng ngày. Hãy thử đi chân đất. Thử tản bộ trên bãi cát biển xanh, khi mặt trời vừa xuống thấp… Cứ thử xem. Thử nhiều hơn. Bởi, với tuổi đời trôi nhanh, thường vì mình không chỉ quên những gì mình đã làm; nhưng, quên cả những gì mình không làm hoặc chưa kịp làm nữa, mà thôi.

Mọi người trên đời chẳng thể nào đo lường cuộc sống bằng lượng không khí mình hít thở, nhưng bằng giây bằng phút mà chính hơi thở của ta bị cất đi, không báo trước.”

Áp dụng câu truyện mà bạn và tôi đang bàn, Hội thánh Chúa vẫn bao gồm cuộc sống của nhiều đấng bậc, kẻ tin. Hội thánh, chính là thực thể được đưa vào cuộc trần, là để ta có thể chia nhau mà học hỏi. Để yêu thương, cảm tạ và cho đi những gì mình đang trân quý.

Hòa với giòng chảy suy tư của cô giáo trong truyện kể trên, bần đạo nghĩ mình cũng nên trân trọng cảm tạ những gì được gửi đến cho riêng mình. Cho thành viên của mỗi cộng đoàn mình đang sống, dù ở trong hay ở ngoài đất nước tạm dung. Hãy vui hưởng và trân trọng tất cả. Bởi, rồi ra những gì gửi đến với ta sẽ được cất đi vào bất cứ lúc nào, không báo trước.

Trần Ngọc Mười Hai

và những trăn trở

khi có những phiền hà

về một số công việc

§22 – CẦU XIN HAY KHẤN NGUYỆN CŨNG ĐỀU CHÚC TỤNG THIÊN CHÚA

(2Ks 29: 10-11)

Chủ nhật trước, toàn thể Giáo hội đã về mừng lễ Chúa Thăng Thiên Về Trời. Với họ đạo lẻ Sydney, ban chủ trì mục vụ ở đây đã có buổi giới thiệu ngắn chừng mươi phút kêu mời giáo dân trong xứ tham gia Đạo Binh Đức Mẹ. Trong điều lệ hội viên, có thành phần gọi là “Tán trợ”, tuy không hăng say, năng nổ nhưng rất kiên trì. Kiên trì cầu nguyện. Kiên trì lần chuỗi Mân Côi mỗi ngày, như một lời cầu nguyện. Nguyện cầu, để hỗ trợ cho Đạo Binh của Mẹ được thêm Xanh. Thêm hùng hậu.

Cũng vừa rồi, trên mục hỏi đáp của báo The Catholic Weekly ở Sydney số 4365 ngày 13/5/2007, có một thắc mắc liên quan đến kinh điển trong nguyện cầu, như sau:

Anh em Tin Lành và Công giáo chúng ta có thói quen dùng ngôn từ khác nhau đặt thành lời kinh, dâng Chúa. Bên Tin Lành, mỗi khi cầu nguyện, anh em bên ấy còn thêm vào cuối lời nguyện, những câu nghe cũng mới, như: Vì vương quyền, uy lực và vinh quang của Ngài, ôi Lạy Chúa.” Xin quý linh mục cho biết, lai lịch của lời kinh có đặc tính tán dương ngợi khen này. Sao Sách Thánh của Công giáo ta không thấy có những câu kết như thế? Phải chăng, anh em Tin Lành đã chế những câu như thế để thêm huê dạng, cho lời kinh này?

Cũng như các lần trước, kỳ này không thấy Tuần báo The Catholic Weekly ghi tên người đưa ra vấn nạn, nhưng cứ theo nội dung câu hỏi, cũng đoán được, là: vị này rất chịu khó nghiên cứu kinh kệ. Và, lần này cũng thế, chẳng cần biết người hỏi là ai, người trả lời là Lm John Flader có hồi đáp rất thân thương nghiêm chỉnh, như sau:

“Lời cuối câu kinh mà bạn nêu trong thư, thường dẫn về câu tán tụng rất quen. Câu tán dương này không phải do anh em Tin Lành là người đầu tiên sáng chế ra đâu. Đúng hơn, câu ấy đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử phụng vụ của Giáo hội Công giáo.

Thật vậy. Ta có thể dẫn chứng rằng câu này xuất hiện thời Cựu Ước. Trước tiên, là ở sách Ký Sự quyển một, ta thấy có câu: Lạy Chúa là Đấng oai nghi cao cả, là uy quyền, vinh quang và sự chiến thắng và cũng là sự lộng lẫy; vì tất cả mọi sự trên Trời và dưới đất đều thuộc về Ngài. Lạy Chúa, thuộc về Ngài là trời cao và Ngài đã được tán dương như Đấng chủ trì trên cao (1Ks 29: 10-11)“

Trong Didache, còn gọi là Những Lời Giảng Dạy của 12 thánh Tông Đồ, tức là sách viết về lòng đạo của anh em Kitô hữu vào thế kỷ đầu đời. Sách này chỉ dẫn mọi người về tín lý và việc thờ phượng. Trong đó, kinh Lạy Cha được kết thúc cũng bằng một câu tán dương tương tự như thế, ở phần cuối. Nơi chương 8 sách này, người đọc còn thấy có câu: Chớ cầu nguyện như bọn giả hình. Nhưng hãy theo lời Chúa dạy trong sách Tin Mừng. Hãy nguyện cầu như Ngài đã từng dạy, mà đọc rằng: Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện cho danh Cha được tỏa sáng, nước của Cha ngự trị sẽ đến. Chúng con vâng ý Cha dưới đất này cũng như trên cao. Xin cho chúng con được hằng ngày đủ dùng. Và hãy tha mọi lỗi lầm của chúng con như chúng con cũng đã tha thứ những kẻ nào đã có lỗi với chúng con. Xin đừng để chúng con sa vào nơi cám dỗ. Nhưng hãy cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, xấu xa; vì uy lực và vinh quang của Cha, đến muôn đời.”

Giáo lý Hội Thánh Công Giáo nhắc đến kinh được ghi trong sách Didache, có giải thích rằng: có tài liệu khác của giáo hội sơ khai, tức Hiến Chương Các Thánh Tông Đồ có ghi rõ niên biểu của kinh đặt ra là vào cuối thế kỷ thứ IV, còn thêm vào trước lời tán tụng chòm chữ “Vương quyền”. Tiếp đó, là “vinh quang” và “Cha, Con và Thánh Thần”, cũng đã được thêm sau. (x CCC 2760)

Rõ ràng, là: tín hữu thời tiên khởi đã thêm lời tán tụng như thế vào kinh Lạy Cha, khi cử hành thánh lễ Misa. Quả thật, cũng là chuyện bình thường nếu ta thấy trong phụng vụ nguyện cầu, nhiều vị chép Sách thánh rõ ràng đã đưa thêm một ít từ ngữ vào cuối kinh Lạy Cha.

Dầu sao đi nữa, không có bản văn nào của Sách thánh thời cựu trào được chép đúng nhất và tốt đẹp nhất lại có thêm lời tán tụng ấy. Thành thử, chắc chắn là lời tán dương ca tụng này chỉ được chép thêm về sau, vào khoảng thế kỷ thứ IV. Đọc thánh kinh bằng tiếng La-tinh do thánh Giê-rô-ni-mô dịch, không thấy có lời tán tụng như thế.

Nghiên cứu một số bản văn của Giáo hội Công giáo theo nghi thức Đông Phương, trong đó có Giáo hội Maronite và Melchites, các tín hữu chắc cũng thấy là lời tán tụng ở trên được thêm vào cuối kinh Lạy Cha, trong sách lễ. Đây là phụng vụ cựu trào do thánh Kri-sô-tô-mô thiết lập. Theo phụng vụ này, khi cộng đoàn đọc kinh Lạy Cha xong, linh mục chủ tế sẽ đọc thêm lời ngợi khen như: “Vì vương quyền, uy lực và vinh quang của Cha, Con và Thánh Thần bây giờ và mãi mãi đến muôn đời”. Và, khi ấy cộng đoàn mới thưa: ”Amen”.

Sách lễ theo nghi thức La-tinh được Công đồng Vatican II duyệt, cũng bao gồm một lời tán dương tương tự. Tức là, sau khi cộng đoàn hát hoặc xướng kinh Lạy Cha xong, linh mục chủ tế bèn đọc lời nguyện: Lạy Chúa, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ và ban bình an cho chúng con hôm nay. Vì lòng thương xót Chúa, xin cứu chúng con khỏi mọi tội lỗi và gìn giữ chúng con khỏi mọi lo âu để chúng con hy vọng đợi chờ ngày Đức Kitô, Đấng Cứu Thế sẽ đến lại.” Lúc ấy, cộng đoàn mới thưa: “Vì vương quyền, uy lực và vinh quang của Chúa bây giờ và mãi mãi đến muôn đời.”

Khi thêm lời tán dương này vào kinh nguyện phụng vụ, Hội thánh không phải là đã sao y chép lại những gì anh em Tin Lành sáng chế ra, nhưng đơn giản là: trở về với phụng vụ của Hội thánh tiên khởi, mà thôi.

Giáo lý Hội thánh Công Giáo giải thích ý nghĩa của lời tán dương này là để dẫn về chính Thiên Chúa là Cha chúng ta, như sau: Lời tán dương “Vì vương quyền, uy lực và vinh quang của Chúa, bây giờ và mãi mãi đến muôn đời”, một lần nữa, khẳng định rằng: làm như thế, chúng ta lập lại cả ba điều chúng ta thỉnh nguyện lên Cha chúng ta: vinh quang cho Danh Ngài, nước Ngài ngự trị đang đến, và uy quyền nơi thánh ý của Ngài được thực hiện. Thế nhưng, lời nguyện cầu này giờ đây đã tuyên xưng lòng sùng kính và biết ơn, như một phụng tự diễn ra, ở thiên quốc. Những người cầm đầu thế giới phàm trần đã sai sót khi áp dụng cho chính mình cả ba điều quý trọng là vương quyền, uy lực và vinh quang ấy. Vì chỉ Đức Kitô là Chúa đã phục hồi các tước hiệu ấy và đem về với Cha Ngài, cũng là Cha của chúng ta, cho đến khi Ngài trao lại cho Cha, toàn bộ vương quyền khi nhiệm tích cứu độ được đạt đến vào giai đọan hoàn tất. Và khi đó, Thiên Chúa là tất cả trong mọi sự.” (x Giáo lý Hội thánh Công Giáo câu 2855)

Đọc lời giải đáp trên đây, ta thấy giới trẻ nước ngoài thường thắc mắc nêu lên những gì họ chưa hiểu, cả về tín lý, thần học cũng như phụng vụ. Dõi theo câu trả lời của đấng vị vọng ở trên, ta nhận ra rằng: cầu nguyện không nhất thiết phải là cầu xin hay mong mỏi những gì nhận được từ Trên. Nhất thứ, là lời cầu mang nặng ý tưởng: xin bàu chữa cầu cho chúng con là kẻ có tội bây giờ và vào lúc lâm nguy, đến 50 lần một ngày. Cứ như là, Chúa Mẹ có tật đãng trí hay mải đi đâu không nhớ là chúng mình đang cầu và khấn. Các Đấng chắc quên những điều mà đàn con dưới thế muốn xin, muốn có.

Tóm lại, là con cái, sao ta cứ lẽo đẽo theo sau, đọc đi đọc lại mãi một yêu cầu giống nhau rất nhiều lần, mà không phải là: chỉ đơn giản tán tụng với ngợi khen, thôi? Sao không cảm tạ những gì mình đã và sẽ lãnh nhận, như quà tặng Chúa Mẹ ban cho ta một cách nhưng-không? Giả như, các bậc cha mẹ ở trần gian này mà cứ nghe con cái suốt ngày vòi vĩnh mãi một điều, nhiều lần như thế, chắc chắn sẽ bực mình cáu kỉnh mà bảo rằng: hãy im! Lặng yên đi nào?

Có lẽ, ta cũng nên thực hiện đề nghị của Đức Chúa trong Sách thánh, là: chỉ nên đọc kinh Lạy Cha thôi, cũng đã đủ. Đủ để các Ngài yên tâm. Đủ để các Ngài tặng ban ơn lành theo ý của các Ngài. Nói cho cùng, cầu xin hay khấn nguyện mau mắn hoặc dài dài cách nào đi nữa, cũng là điều tốt. Cũng là, tán tụng những hồng ân Chúa ban.

Trần Ngọc Mười Hai

vẫn thắc mắc về những lời cầu, rất xin xỏ.

§23 – TÌNH ĐÃ ĐẾN NHƯ MÂY TRỜI CÒN LẤP LÓ

( Ep 5, 25 )

Có lẽ trong quá trình phiếm Đạo, bạn và tôi, đôi lúc cũng nên kể đôi ba câu chuyện tiếu lâm loại “huề vốn”, cho vui ! Huề vốn, là bởi khi phiếm Đạo, ta hay kể vài chuyện phiếm về Đạo cũng chỉ để có đôi giòng chảy nhè nhẹ, làm nền. Chẳng hại ai. Cũng chẳng đánh bóng một ai. Tham gia chuyện phiếm, bạn và tôi chỉ cần nhoẻn một nụ cười, là xong. Rất huề vốn. Rất hoà cả làng.

Kể truyện tiếu lâm hôm nay, là kể về những cặp tình nhân có hôn và có phối. Truyện rằng: Vào Lễ Hôn Phối hôm ấy, vị chủ tế quen hỏi han thay vì giảng, vài ba câu rất ngắn và cũng rất gọn như sau:

– Câu đầu xin hỏi anh chị là: có phải hôm nay, cộng đoàn mình mừng Lễ Hôn Phối anh chị, không?

– Thưa cha, vâng !

– Thế thì ! Vào những buổi quan trọng như thế này, anh chị có cử chỉ gì gọi là để đời không; hay chỉ có… hôn và có phối, mà thôi ?

– Dạ thưa, tụi con cũng không biết !

– Vậy thì, xin hỏi tiếp: tại sao vào những buổi thề nguyền quan trọng như vào Lễ Hôn Phối hôm nay, các đôi tân hôn (tức là mới hôn)… không chỉ xỏ nhẫn cho nhau, thôi; mà còn nắm tay nhau rất chặt, như thế có phải quý vị sợ lạc nhau, hay không ?

– Dạ thưa cha không đâu. Con nghĩ… sở dĩ các đôi tân hôn vào ngày cưới mà không nắm tay nhau cho chặt, e rằng một trong hai người hoặc sẽ chạy vù ra trung tâm “Phước Lộc Thọ” thuộc Quận Cam, sắm thêm đôi bông hột xoàn cho đủ bộ. Hoặc, người kia cũng sẽ chạy vụt ra bãi trưng bày xe mới sản xuất xem có kiểu nào mơi mới để tặng vợ… không thôi. Thưa cha có lẽ là như thế!

Vâng. Ấy, chỉ là kể chuyện. Cho vui. Chuyện ở đây, chỉ… “có lẽ là như thế”, mà thôi. Chứ thực tế, tình yêu đôi lứa đã đi vào ngày cưới rồi, mà một trong hai người lại bảo rằng: “Có lẽ là như thế”, thì cũng thật không phải. Hoặc chưa phải cho lắm.

Không phải hoặc chưa phải ở đây, có thể là: không phải đạo cho lắm. Đạo làm người. Hay, lẽ Đạo nơi nhà Đạo, cũng nên. “Có lẽ là như thế”, tức là không có gì chắc cho lắm. Đây, không chỉ là niềm riêng lo ngại nếu ta không nắm tay nhau cho chặt, e người phối ngẫu bên kia sẽ vung tiền mua sắm, hết thuốc chữa. Không những thế, còn nhiều thứ mà có lẽ đôi tân hôn chưa kịp nghĩ tới, hoặc vẫn “thưa cha, có lẽ là như thế…” tựa như: “Đời sống mục vụ dành cho hai người”, vào buổi sớm. Lúc vừa … tân hôn, hoặc chưa hôn.

Đây, là đề tài không nhỏ, được Hội Đồng Giám Mục ở Úc mới vừa thảo luận hồi đầu tháng 2.2007, ở Canberra. Vào hội thảo, Giám Mục Eugene Hurley, Chủ tịch Ủy Ban Sống Đời Mục Vụ của Hội Đồng có nhắc đến tập sách mang tựa đề “Hôn Nhân Công Giáo: những vấn nạn thường hỏi”.

Về sách này, Giám Mục E Hurley có nói: tập sách tuy gọn nhỏ, nhưng cũng giúp cho đôi nam nữ hiểu được ý nghĩa của sự dấn thân, chọn lựa. Hiểu được, để rồi tạo lập đời sống lứa đôi của mình, thành đời sống độc đáo, thánh thiện,bền bỉ.”

Người trẻ hôm nay, đang có lý tưởng rất cao về chuyện hôn nhân. Họ tìm được ở nơi đây, hạnh phúc cho chính mình. Và, Giáo Hội vẫn luôn khích lệ họ mừng kính hôn nhân. Đồng thời, giúp họ sống đích thực mầu nhiệm hôn phối cho vẹn toàn. Dĩ nhiên, tập sách ấy là nền tảng xây dựng những điều tốt đẹp, cho hai người. Đồng thời, đưa ra nhiều vấn nạn mà giới trẻ thường thắc mắc.

Và, Giám Mục Eugene Hurley tóm tắt giải đáp cho các vấn nạn trên, như sau:

Hôn nhân, có là điều quan trọng đối với Giáo Hội không?

Hôn nhân, là việc rất quan trọng đối với con người. Đằng khác, hôn nhân cũng quan trọng không kém với Đạo Chúa. Đức Ki-tô coi Hội Thánh như vị hiền thê, trân quý (xem Ep 5, 25). Đổi lại, Hội Thánh cũng san sẻ với thế giới hiện thời những gì mình học được từ tiếng Yêu. Yêu Chúa. Yêu người.

Qua yêu thương, ta trở nên giống Thiên Chúa là Cha, giống Đức Chúa là Con, giống cả Thần Linh Chúa, là Ngôi Ba nữa. Cả Ba ngôi vẫn trao tặng chính mình, cho nhau. Hội Thánh, vì thế, muốn giúp cho mọi người hiểu trọn ý nghĩa đích thực của bí tích hôn nhân.

Hội Thánh có nghĩ là mọi dục tình đều tốt đẹp,

cả không?

Có. Qua giòng mở đầu, Sách Thánh đã khẳng định ngay, sự tốt lành của dục tình nơi con người: Nam và Nữ. Là người, ta được tạo dựng “theo ảnh hình của Đức Chúa”. Và, trong thiên tòa thể xác của mình, ta thấy có ghi lời mời gọi gửi đến mọi người “hãy thẩm nhập vào nhau, trở nên một thân xác duy nhất”. Đổi lại, dục tình giúp ta nên mầu mỡ, và nhân bản. Tràn đầy yêu thương, cảm tạ.

(xem Khởi nguyên 1 – 2).

Tình dục đôi lứa, nam và nữ, diễn đạt theo nhiều kiểu ta không thể đếm cho hết. Ở thân xác và nhân vị, đây là cảm nhận và đáp trả. Kia, là sự diễn đạt và hoạt động của cả hai người. Cuối cùng, với dục tình bằng thân xác, ta có đủ tình yêu lẫn cảm xúc. Nhất nhất, bằng vào tác động dục tình, cả nam lẫn nữ sẽ kết hợp hài hoà thân mình của mình với người phối ngẫu, bên kia.

Hành vi giao hoan phối kết, diễn tả sự mật thiết của thân xác và trí tuệ. Đây, là sự kết hợp hài hoà giữa hai người, như hành vi cho đi và tiếp nhận, của đôi bên. Là, sự hứa hẹn thủy chung. Là, quà tặng hai người trao cho nhau, suốt đời. Hành vi ấy, vẫn đủ sức để nói lên “tình cho hai mình” và “làm tình cho hai mình”. Ở đây, còn có sức mạnh để nói lên chữ “đời con người” và “làm nên đời con người”. Thành thử, từ đó nhân vị vừa tác tạo đã xuất hiện vào đời trong vòng tay yêu thương, của cha mẹ. Ở nơi đây, đã thấy có quyết tâm làm nên cuộc đời, rất yên ổn.

Hội Thánh vẫn khuyến khích hai người có “tình và dục một cách chính đáng”. Điều này nói lên: sự thân mật mà dục tình đã phối kết nam và nữ ăn nằm với nhau như những người yêu cùng niềm tin. Như bậc phụ mẫu đầy uy lực, hai người đích thực hiểu biết lẫn nhau. Chính vì thế, việc phối kết đôi bên ngầm hứa hẹn quyết tâm sẽ ăn đời ở kiếp với nhau, đến trọn đời.

Sao, ngày nay nhiều người vẫn cứ chần chờ chẳng chịu hỏi cưới gì nhau?

Ngày nay, nhiều đôi tình nhân nam nữ vẫn đeo đuổi tương quan dục tình mà chẳng thiết tha gì đến phối kết hôn nhân. Điều đó, có nhiều lý do ta cần cảm thông. Người thì, có nhu cầu cần học hỏi thêm, không muốn lỡ dở cơ hội tốt đẹp. Người thì, mải mê lao động, du lịch, rong chơi, rất chính đáng. Có người, lại sợ nếu quyết tâm ăn ở bền chặt với người khác, e sẽ phải gánh trách nhiệm. Trách nhiệm làm cha làm mẹ. Có người, lại vì áp lực kinh tế – xã hội hoặc gia đình, nên chưa dám. Nói chung, những người có ý nghĩ trần tục, luôn coi việc phối kết hôn nhân như một khế ước thẩm định hơn là lời mời gọi, do Chúa gửi đến.

Thỉnh thoảng, có người trong nhà Đạo lại nghĩ: phối kết hôn nhân theo phương thức “cứ thử một lần”, xem sao đã. Thử một lần có nghĩa: ăn chung một mâm, ngủ chung một giường; lặng lẽ âm thầm một thời gian, rồi thôi. Việc chung chạ kiểu này, đôi khi kéo dài nhiều năm, trước khi đạt đến quyết định dấn thân chịu trận, hoặc “đường ta, ta cứ đi”. Chỉ có thế.

Tuy nhiên, số người sống chung ngoài hôn thú, nay ngày càng sút giảm rất nhiều. Con người ngày nay dễ tự bán đứng khi học đòi thói tân kỳ thời hối mãi; học đòi lơ là bỏ phí các ân huệ trời cho. Nhiều người không còn biết những gì là quyết tâm. Họ để mất thói quen nói lên lời: “thề nguyền!”, không chỉ với một người thôi. Có người lại lầm tưởng, rằng: mình nay có tự do, muốn sống chung với ai tùy thích, chẳng lo ông tơ bà nguyệt ràng buộc, như trước. Cứ thế, họ sống buông thả theo đòi hỏi của thân xác. Chẳng cần gì đến nết na, đạo hạnh. Chính vì thế, hạnh phúc bền lâu vẫn là việc khó tìm.

Thật lòng tính chuyện trăm năm, ta lợi gì?

Sống chung yêu thương, trân trọng nhau như vợ chồng đích thực, cả hai người có quyết tâm lập kế hoạch, cho đời mình. Có quyết tâm như thế, họ mới cùng nhau chia sẻ và nâng đỡ nhau mỗi khi có nỗi niềm ưu tư cay đắng trong đời. Và, thăng tiến được cả tâm tình mù mờ khi quyết chí ở với nhau, thật bền lâu. Quyết tâm như thế, có sự chứng giám của gia đình, giòng tộc và bạn bè đôi bên, luôn hỗ trợ.

Khi hai người công khai tuyên hứa trước mặt Thiên Chúa và Giáo Hội theo bí tích yêu thương, họ cũng gợi được ân huệ mà họ cần đến, khi sống lời mời gọi của Thiên Chúa. Khi tuyên hứa, cả hai không chỉ công khai nói lên mỗi tình yêu của mình thôi, nhưng là nói cả lòng tin và hy vọng nữa.

Hai người phối ngẫu có cần chờ đến lúc lấy nhau rồi mới vui hưởng tình dục, không ?

Chuyện ăn nằm xác thịt dục tình cũng thế, phải nói lên được những gì mình muốn ám chỉ. Và, ám chỉ được những gì mình muốn nói. Giao hoan dục tình, là ngôn ngữ của cơ thể nói lên ý nghĩa hành động cho chính mình. Cho đi một cách trọn tình, trọn nghĩa. Bao lâu, một bên hoặc cả hai chưa sẵn sàng nói được, là: “Tôi cho em (cho anh) tất cả con người tôi, cả thân mình này”, và “Tôi chấp nhận em chấp nhận anh) như món quà trọn vẹn từ nơi em (nơi anh), kể cả tấm thân này”, thì rõ ràng là cả hai người chưa sẵn sàng giao hoan dục tình, cho đúng nghĩa.

Giới lệnh của Chúa không mang gồm tính cách tùy tiện. Giới lệnh Ngài ban, là những gì ta cần trân quý. Trường hợp này, là thân xác của ta. Là, dục tình và nhân vị của ta. Tình yêu và gia đình của ta nữa. Trong thư gửi giáo đoàn Galát, thánh Phaolô đã minh định lập trường của Hội Thánh, như sau:

“Nay đã rõ việc làm của xác thịt, tức: dâm bôn, ô uế, phóng đãng… các điều ấy không dẫn đến Nước của Thiên Chúa. Trong khi đó, hoa quả của Thần Khí, chính là: yêu thương, vui mừng, bình an, độ lượng, tốt lành lương thiện, tín trực, hiền từ, tiết độ.”

(Ga 5, 19 – 23)

Hội Thánh nói với mọi người tình “đang chung sống”, như thế nào ?

Hội Thánh công nhận lòng thành, sự thủy chung của các cặp phối ngẫu đang cùng nhau chung sống. Nhưng đồng thời, Hội Thánh cũng quan ngại cho họ, rất sâu xa. Các đôi tình nhân đang chung sống phải phản ánh được ước vọng của mình ngay khi bắt đầu, là: mình thật lòng muốn sống chung với nhau. Và, họ cũng phải cho biết ước vọng của họ từ trước đến giờ có thay đổi không ? Chung sống với nhau ngoài hôn nhân như thế, có ý nghĩa gì đối với tương quan hai người và đối với chính mình ? Có đúng thật, là hai người đang san sẻ của đời của chính mình không ? Thiên Chúa có chỗ đứng nào trong giòng đời của họ không?

Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II có nói: Hội Thánh rất quan tâm đến hoàn cảnh của các tình nhân đang có khó khăn, cũng như trăn trở trong tương quan hai người. Ngài nhấn mạnh:

“Hội Thánh bày tỏ sự quan tâm rất mực đến các gia đình đang có khó khăn, hoặc có tương quan bất thường. Với những người này, Hội Thánh xin có lời thành tâm, phải đạo, cảm thông, hy vọng và sẻ san về những mà các vị ấy gặp. Hội Thánh gửi đến tất cả, sự quan tâm giúp đỡ vô vị lợi để họ có thể đến gần cuộc sống gia đình mẫu mực,mà Tạo Hóa có ý định “ngay từ ban đầu” và Đức Ki-tô đã ra tay cải hóa đời sống ấy, bằng đặc sủng cứu rỗi của Ngài.” (Xem Tông thư Familiaris Consortio, đoạn 65)

Giáo Hội có đòi hỏi điều gì để hôn nhân trở nên hiệu lực không?

Cốt lõi của hôn nhân phối kết,là việc các đôi tân hôn công khai tuyên hứa yêu thương và tôn kính lẫn nhau như vợ chồng, trong suốt quãng đời còn lại. Luật Giáo Hội minh định nhiều điểm công nhận hôn nhân phối kết giữa hai người thành “hiệu lực” và “hoàn chỉnh”.

Có những điều, khiến cho hôn nhân trở nên bất hiệu lực dưới mắt Thiên Chúa và Hội Thánh, khi: hai người ăn ở với nhau mà không có sự hiểu biết hoặc không có tự do. Hoặc, họ đang ở trong tình trạng tâm thần, thiếu chín chắn từ một bên hoặc từ cả hai phía, vào lúc họ lập cam kết. Hoặc, ngay từ buổi đầu, họ vẫn không muốn sống chung với nhau một vợ một chồng. Hoặc không cởi mở đón nhận quà tặng gửi đến cho nhau, là: con cái. Hoặc, phía người theo Đạo, người này không thực tình muốn kết hôn theo thể thức của Giáo Hội. Hoặc, nếu có cam kết ngoài Nhà Thờ, lại không được sự chuẩn thuận của Hội Thánh. Khi có nghi ngờ về chuyện ấy, Giáo Hội đã có thủ tục “tòa án hôn phối” nhằm làm sáng tỏ hiệu lực của hôn nhân, vốn được kết hợp theo phương cách đặc biệt.

Có cách nào hay nhất giúp củng cố hôn nhân không?

Trước tiên, đôi tình nhân phối ngẫu vui mừng vì quà tặng Chúa ban cho họ, chính là con người của họ, thuộc cả đôi bên. Đôi bên, ý thức món quà tình tứ mình trao cho nhau. Cố gắng phát huy và duy trì món quà tình tứ, tốt đẹp ấy. Dù “tiếng sét ái tình” đầu tiên Chúa ban tặng là cảm giác lôi cuốn lẫn nhau, cảm giác ấy vẫn biến đổi theo thời gian, và tùy cường độ. Quyết tâm trong hôn nhân, đòi hai người phải duy trì tương quan tôn kính lẫn nhau, ở cả hai phía. Tương quan ấy, là sự thân thiện cũng như lòng say mê đắm đuối. Tương quan sẻ san các giá trị của cả hai người. Là, hy vọng và sở thích của đôi bên.

Tương quan ao ước, cùng nhau dựng nên cuộc sống chung. Cùng thiết lập gia đình. Nhất là, cùng nhau đặt nặng quyết tâm, qua sống thực sự điều Chúa dạy, qua việc đáp ứng tích cực lời mời gọi của Chúa.

Cả hai củng cố tương quan giữa hai người, bằng việc để thì giờ mà ở bên nhau, nghe nhau. Đánh giá cao các khác biệt cũng như sự tương đồng giữa hai người. Học hỏi và thảo luận với nhau bằng cách đặt tên cho những bất đồng. Thảo luận với nhau về sự chia sẻ trách nhiệm trong gia đình. Trách nhiệm có con và giáo dục con cái. Chia sẻ với nhau mọi sự, kể cả đào sâu sống đời tâm linh. Biết trách nhiệm, cả trong việc kiếm tìm tư vấn chuyên môn về đời sống lứa đôi và gia đình, nếu cần. Quan trọng hơn cả, là biết nguyện cầu cũng như tham gia cử hành các bí tích. Cùng dẫn đưa chính mình và con cái đạt đến thánh thiện, trọn hảo.

Phải chăng mọi hôn nhân phối kết đều phải trải qua nhiều khó khăn?

Không ai lại ngây thơ cho rằng, hành trình hôn nhân lúc nào cũng suông đuột, dễ dàng. Hôn nhân nào cũng phải trải qua nhiều thời kỳ khó khăn, gai góc. Đặc biệt, là khi đôi tình nhân giáp mặt với những đổi thay, ở ngay chính mình. Thay đổi hoàn cảnh. Thay đổi mọi chuyện. Xem thế, hành trình hôn nhân là hành trình của niềm tín thác và tin tưởng, giống như tình yêu. Đôi tình nhân phải có quyết tâm tha thứ lẫn nhau. Trao đổi với nhau, tiếp tục cùng làm việc với nhau, trải qua các hoàn cảnh mới để tìm lại được chính mình.

Quyết tâm sống đời bền bỉ bên nhau, sẽ luôn phải chịu thử thách. Sống đời ở kiếp với nhau, với gia đình và bè bạn, là niềm vui độc nhất mà những người từng trải đều đã cảm nghiệm. Đây, là niềm vui mà Hội Thánh muốn đôi tình nhân có kinh nghiệm đều phải trải qua. Và, đây cũng là điều mà Hội Thánh nhất định duy trì và hỗ trợ cho hôn nhân. Cho các gia đình trong mọi tình huống.

Trên thực tế, có người đã bày tỏ thái độ tiêu cực với hôn nhân, nhưng Hội Thánh tiếp tục coi hôn nhân như một quà tặng trân quý, Chúa trao ban. Để có ví dụ về các cặp tình nhân sống trong hôn nhân tốt đẹp có tin và có yêu, các Giám Mục trong Hội Đồng, kết thúc tập sách nhỏ nói trên bằng nhận định, sau:

“Hội Thánh thử thách tính chua cay đố kỵ nhiều lúc vẫn thấy có nơi các nền văn hóa của ta. Và, Hội Thánh khẳng định kế hoạch Chúa định ra cho hôn nhân là sự thật ta phải phấn đấu. Những gì tốt đẹp của hôn nhân là điều mà các đôi tình nhân cũng như xã hội đều phải trân trọng. Trong khi một số người đã mau mắn đả phá hạnh phúc được tìm thấy qua hôn nhân; hoặc, có những người chỉ đưa ra những mâu thuẫn, thất bại nơi hôn nhân, vẫn có nhiều “người bình thường” đã hoàn thành hôn nhân trong cuộc sống bền bỉ. Họ để lại cho con cháu mình, những gương trung thành phục vụ của họ.”

o0o

Vâng. Trên đây là giòng chảy chính thức rất tốt lành. Và, cũng rất phải từ Hội Thánh Chúa, ở Úc. Nhưng, đây cũng là lập trường đúng đắn của toàn thể Hội Thánh, nói chung. Không có gì để nghi ngờ, hết. Vấn đề còn lại như đã nói ở trên, là: bạn và tôi, những người đã và đang hoặc sẽ sống cuộc đời hôn nhân, đã có quyết tâm gì chưa? Hay vẫn cứ sợ, rằng: nếu ta buông tay không nắm chặt, thì người kia sẽ miệt mài kiếm tìm; hoặc, sẽ vội chạy đi để chọn và lựa đồ quý ở cửa hàng kim cương hoặc bãi trưng bày xe, ở đâu đó.

Hỏi, tức là đã trả lời.

Trần Ngọc Mười Hai,

tuy đã có lần tự hỏi,

nhưng vẫn chưa dám thấy.

§24 – CỘNG ĐOÀN TÌNH THƯƠNG THƯƠNG TÌNH CỘNG ĐOÀN

(1 Cr 1, 23 – 25)

Vào đầu, câu chuyện hôm nay là một vấn đề rất đáng bàn. Đáng bàn, là đáng luận bàn về một vài thắc mắc đã và vẫn được đề cập tới rất nhiều. Đáng luận bàn, chưa hẳn là để đưa ra một giải đáp chung cuộc và hoàn chỉnh cho các chuyện Đạo – Đời. Vả lại, làm sao có được giải quyết chung cuộc và hoàn chỉnh cho chuyện sống Đạo?

Trừ phi, cả người giải quyết lẫn người thắc mắc đều đã phần nào mãn nguyện. Mãn nguyện một phần thôi cũng đã là chuyện tốt, rồi. Ngoài ra, đâu cần gì nữa để mà bàn với luận chứ!

Trong tinh thần ấy, thắc mắc hôm nay là: chuyện hành xử giữa những người anh, người chị, trong cùng nhà Đạo. Tức, những vị đã từ lâu được nghe lời dạy của Chúa, là: hãy ăn ở hiền hòa với nhau, chấp nhận khác biệt của nhau trong lối sống, trong lập trường chính kiến về Đạo, cũng như trong cách lý giải mọi thắc mắc… để rồi, cùng nhau ta đi đến mục tiêu chung. Mục tiêu mở rộng Nước Chúa ở chốn gian trần.

Về sống Đạo, bần đệ nhớ có một dạo bà con người Việt ở Úc được vị Linh Mục Chánh Xứ nọ rất trọng tuổi – có hơn 30 năm kinh nghiệm mục vụ chung với bổn đạo Việt Nam – đã tỏ bày cảm nghĩ niềm riêng của cụ, mà bảo: làm mục vụ với người Việt, nếu cứ để họ mỗi người tự làm một mình, thì chuyện gì rồi cũng xong. Cũng tốt đẹp. Nhưng, hễ để họ cụm lại dăm ba người làm với nhau, thì thế nào cũng có ý kiến thêm thắt này khác, chắc chắn là y như rằng họ sẽ tranh chấp, cãi vã nhau liên tu bất tận, chẳng xong được việc gì, dù là lớn nhỏ.

Nghe ý kiến của linh mục trên, bần đệ thấy sao nó giống một số chuyện trong cộng đoàn giáo hội, hồi xa xưa. Hồi, các bè phái như: Calvin, Luther, Henry VIII và gì gì nữa ở nhiều nơi trên thế giới. Xưa hơn cả, là cộng đoàn E-phê-sô, ở Tiểu Á; hoặc, giáo đoàn Cô-rin-thô, nơi gần gũi với Thánh Phao-lô, hơn hết.

Lại cũng vừa qua, bần đạo được chia sẻ về các lý giải về chuyện nêu trên của một đấng vị vọng khác tại Úc. Lần này, là Lm. Mark Kenney, SM gợi ý trên tờ “The Catholic Weekly” số đề ngày 15.4.2007, như sau:

“Cánh thư thứ nhất, Thánh Phao-lô tông đồ gửi giáo đoàn Cô-rin-thô là vào năm 54 Công Nguyên. Lá thư này, viết từ thị trấn Ê-phê-sô. Muốn hiểu tường tận lý do tại sao thánh Phao-lô lại viết lá thư này, tưởng cũng nên biết rằng: trước đó, Thánh nhân đã nhận được những giòng tâm tình của một số tín hữu, ở đây. Tâm tình mà các tín hữu ấy nói đến, là những chuyện không hay cũng chẳng đẹp đẽ gì, đã xảy đến với cộng đồng Dân Chúa có cùng niềm tin.

Viết lá thư này, Thánh Phao-lô đã dùng văn phong của thế kỷ thứ nhất, nghĩa là lối viết trước nhất cho người đọc biết lý lịch mình là ai. Ngài viết, là viết theo tư cách của một Tông Đồ thực thi thánh ý của Chúa. Làm thế, Thánh nhân cho thấy mình có đặc quyền được phép ngang qua Đức Giê-su, để giáo huấn tín hữu về những gì có liên quan đến đời sống thiêng liêng, theo tư cách người đi Đạo.

Với lời chào mở đầu, thánh Phao-lô có nhắc đến Sosthenos, một người thuộc giáo đoàn Cô-rin-thô được nói trong sách Cv 18, 12 – 17. Theo thói quen chung, thánh Phao-lô xin được chuyển đến giáo đoàn Cô-rin-thô, ân sủng và bình an do tự Thiên Chúa là Cha, ngang qua Đức Giê-su Ki-tô. Sau câu mào đầu, là lời cảm tạ Thiên Chúa và những luận bàn lướt phớt sơ qua về sức khỏe cũng như thông báo các việc đã xảy đến, kể từ lần viết thư, kỳ trước. Đề cập đến những gì đã xảy đến với cộng đoàn, tức nói đến những gì mà thánh nhân được biết về các mối mầm chia rẽ đã từng xảy ra trong cộng đoàn. Tức, chuyện đang trở thành mối đe dọa cho Tin Mừng mà mọi người đã và đang lĩnh hội.

Trước hết, Thánh Phao-lô đã bàn về sự hợp nhất cộng đoàn. Thánh nhân cho biết: nhiều vị trong cộng đoàn đã bắt đầu nhen nhúm lập bè lập nhóm riêng rẽ. Lập rồi, còn tự hào cho rằng mình vốn tuân theo vị tông đồ được chọn lựa theo tiêu chuẩn ai là người rửa tội chăm sóc cho mình. Người khác thì kể, là: mình đang có hướng chiều mạnh vào Thánh Phao-lô nhiều hơn. Kẻ khác nữa lại nói, họ thích về phe nào theo sát lập trường của Thánh Phê-rô, hơn. Có người, thậm chí cho rằng mình thuộc tông phái A-pô-lô, vị Tông Đồ khả ái có tài lôi cuốn người nghe nhờ vào lối nói hùng biện.

Thánh Phao-lô nhắc nhở cộng đoàn Giáo Dân Cô-rin-thô đừng nên quên rằng: trọng tâm mọi việc chính là Đức Ki-tô, Đấng mà Tông Đồ nào cũng đều phải rao giảng về Ngài. Thánh Phao-lô còn nhấn mạnh: tài ăn nói hùng biện lôi cuốn người nghe đi theo mình, hoặc uy tín biện giải có sức thuyết phục mọi người đều chỉ là những ơn huệ đặc biệt mà vị Tông Đồ ấy được tặng ban. Chứ tuyệt nhiên không là giá trị đích thực, mọi người cần phải có.

Bởi vì, nếu không, sẽ chỉ là cuộc mua bán sự khôn ngoan của thế giới phàm trần, tức giá trị hời hợt bên ngoài, mà thôi. Và, sự khôn ngoan ấy sẽ làm mất đi ý nghĩa đích thực của thập giá Đức Ki-tô. Mà, thập giá Ngài luôn luôn chống đối sự khôn ngoan vẫn có nơi người đời.

Thánh Phao-lô đã bỏ công bỏ thì giờ ra nói nhiều đến tầm quan trọng của thập giá Đức Ki-tô. Đây chính là nghịch lý đối chọi với niềm tin của người tín hữu. Bởi lẽ, dưới mắt thế gian, thập giá Đức Ki-tô là dấu hiệu của sự yếu kém, điên rồ.(x. 1 Cr 1, 23).

Điều duy nhất mà thế gian thấy được là có một Đấng đã chọn cái chết nhục hình của một tội phạm. Và Ngài làm thế, đâu có gì để vênh váo, hoặc tự hào. Điều mà thế gian không thấy được, là thế này: dấu hiệu của sự yếu kém và cái chết rất nhục nơi Đức Ki-tô, lại đã bộc lộ được quyền uy năng lực và sự khôn khéo của Thiên Chúa. Bởi, chính qua việc Đức Ki-tô chết trên thập giá, Thiên Chúa đã đem cho thế gian sự sống mới và ơn cứu độ.(x. 1 Cr 1, 25).

Thánh Phao-lô cũng dùng người Cô-rin-thô làm ví dụ, để nói về sự khôn khéo của Thiên Chúa. Theo tiêu chuẩn thế gian, thì bà con thuộc giáo đoàn Cô-rin-thô không là những nhân vật chẳng có quyền năng phép nhiệm gì hết. Nhiều người trong họ không phải là các yếu nhân có vai trò quan trọng hàng đầu. Hoặc, có vị thế cao sang, quyền quý. Họ xuất thân từ các giai cấp trung bình, khá thấp. Chính vì thế, Thiên Chúa chỉ kêu gọi những người yếu kém như các vị ấy để rao giảng về sự khôn khéo của Thiên Chúa cho những nguời vẫn cứ tưởng rằng mình là rốn vũ trụ, khôn ngoan tài giỏi hơn mọi người.

Lý do khiến thế gian không hiểu được sự khôn khéo của Thiên Chúa, là bởi vì: việc này chỉ được mặc khải cho loài người qua Thần Khí Chúa, mà thôi. Và, nhờ có thanh tẩy, người dân thành Cô-rin-thô đã được lĩnh nhận Thần Khí Chúa. Và vì thế, nay họ trở nên ưu đãi có được sự khôn khéo của Thiên Chúa. Nhờ ơn thanh tẩy, người dân Cô-rin-thô nay mới hiểu được những chuyện linh thiêng xuất tự Thần Khí Chúa.

Đến đây, thánh Phao-lô trở lại vấn đề chia rẽ đang nhen nhúm trong cộng đồng tín hữu Đức Ki-tô. Nếu người dân Cô-rin-thô có được đặc ân nhận lĩnh từ Thần Khí như thế, hẳn họ thấy được rằng: mọi chia rẽ sâu xé trong cộng đoàn không thể là những gì xuất tự Thần Khí Chúa, được.

Thêm vào đó, những ai đầu mối cho các chia rẽ cùng sâu xé vẫn là tôi tớ Đức Ki-tô đang thi hành sứ vụ thừa tác rao giảng. Không có ai ở trên ở cao ai. Đúng hơn, mỗi người chỉ thực thi phần vụ dành cho riêng mình để dựng xây Vương Quốc Nước Trời, mà thôi.

Thánh Phao-lô dùng hình ảnh gầy dựng với công cuộc xây cất là để minh xác lập trường của mình. Thực tế, có rất nhiều người góp phần dựng xây công trình kiến trúc. Mỗi người thực thi phần vụ riêng của mình. Nhưng, chẳng ai nên vỗ ngực tự cao bảo là chỉ có mình mới bỏ hết công sức, thì giờ cho toàn bộ công trình dựng xây ấy.

Về với cộng đoàn các kẻ tin vào Đức Ki-tô, rất nhiều vị vẫn còn đang làm việc cật lực để gầy dựng cộng đoàn. Nhưng, chẳng riêng ai dám tranh giành toàn bộ công lênh ấy. Đức Ki-tô là nền tảng cộng đoàn, Ngài chịu trách nhiệm hoàn chỉnh công trình dựng xây này. Mọi việc đều trong Ngài. Do Ngài hoàn chỉnh. Khi hoàn thành, Ngài dâng tất cả mọi sự lên Cha, là Thiên Chúa.

Thánh Phao-lô kết luận thư chung bằng việc nhấn mạnh rằng: sự đoàn kết là điều lúc nào cũng cần phải có, trong cộng đoàn tín hữu. Thánh nhân nhắn nhủ tín hữu ở Cô-rin-thô, rằng: họ chính là Đền Thờ của Thiên Chúa. Nơi họ có Thánh Thần Chúa ngự trị. Nếu có ai dám phá hủy Đền Thờ này ( tức, phá hoại sự đoàn kết cộng đồng ), thì người ấy sẽ phải trả giá trước mặt Thiên Chúa ( x. 1 Cr 3, 16–17 ).

Và, Thiên Chúa sẽ hủy hoại người ấy.

Nghiên cứu lá thư dài thứ nhất Thánh Phao-lô viết gửi cho cộng đoàn Cô-rin-thô, hẳn bà con mình đều nghiệm ra điều này: mọi hiểu lầm hoặc chia rẽ/rạn nứt trong cộng đoàn thường do nơi bản tính yếu hèn của con người. Yếu hèn, vì người mình quá chú trọng đến những điều hời hợt bên ngoài; hoặc, chỉ để ý đến các giá trị chóng qua của thế gian, mà thôi. Nơi cộng đoàn Cô-rin-thô, đó là tài hùng biện của Tông Đồ A-pô-lô, từng lôi cuốn người nghe, để rồi lập phe, lập nhóm. Nói tóm, có phương thức hoạt động riêng rẽ, rất nghi vấn.

Ở một số nơi trong cộng đồng Hội thánh hôm nay, sự yếu hèn rẽ chia, có thể là do tự ái cá nhân, tham vọng, ghen ghét, lợi ích tiền tài – vật chất, hoặc phe nhóm cục bộ đầy quyền lực. Cũng có thể, do trăm ngàn lý do khác đã từng là mầm mống cách ly nhiều người. Xem như thế, bất cứ cộng đoàn nào trong Hội thánh, còn chia rẽ, cách ly, hoặc đối xử với nhau rất buồn bực, ấm ức và buồn phiền, thì đó là dấu hiệu cho thấy đây không phải là cộng đoàn tình thương có Chúa ở cùng. Mà, chỉ là một cộng đoàn nhỏ, đầy những thương tình. Thương tình mình. Thương tình, chỉ người mình muốn thương.

Cuối cùng, mỗi khi nghe đọc Lời Chúa, cũng nên tự mình hỏi lòng mình. Hỏi xem: mình đã bày tỏ tình thương với người anh, người chị trong cộng đoàn của mình, chưa. Hay, vẫn chỉ duy trì niềm riêng có những thương tình, thương hại thường thấy xảy ra nơi cộng đoàn mình. Với cộng đoàn mình.

Trần Ngọc Mười Hai

mạn phiếm hôm nay là để phiếm cho mình, hơn ai khác…

§25 – MỘT THOÁNG HOẢNG SỢ

(Lc 12:32)

Tin Mừng Chúa nhật thứ 19 thường niên, thánh Luca đã ghi ngay từ đầu, một trấn an:

“Đừng sợ, hỡi chiên bày bé nhỏ,

vì Cha đã vui lòng ban Nước của Người

cho anh em.”

( Lc 12: 32 ).

Đó là chuyện xảy ra từ hơn hai ngàn năm trước. Nhưng vào thiên niên kỷ thứ ba hôm nay, có những vị chủ chăn không còn bé nhỏ ở quê nhà, nhưng vẫn biết sợ. Sợ ma? Sợ quỷ? Không rõ lắm. Nhưng, vị mục tử ấy đã trả lời phóng viên nước ngoài, khi được hỏi: ngài có kinh nghiệm gì không khi đấu tranh cho tự do tôn giáo ở nhà không? Thì cụ đã dũng cảm trả lời: “đó là sự sợ hãi.”

Về sợ hãi, chẳng riêng gì các chiên đàn bé nhỏ hay vị mục tử ở quê nhà, mới biết hoảng. Chừng như, nhiều đấng bậc trong “nhà Chúa” ở khắp nơi, cũng từng hoảng. Và từng sợ. Trong kinh thánh, khi được loan báo tin cao cả, rằng:

“Bà sẽ cưu mang Đấng Cứu Độ loài người”,

(Lc 1: 30).

Đức Maria cũng đã rất sợ. Mẹ sợ đến độ thần sứ phải trấn an:

“Maria đừng sợ !”

(Lc 1: 30).

Phụ nữ như Mẹ, phải đối đầu với chuyện khủng khiếp cao cả, sợ là phải. Đằng này, đường đường một Đấng nam nhi như thánh Yu-se, vị phu quân nhân hiền của Mẹ, cũng hoảng hốt khi nghe tin vui “dấy động cả bầu trời” ấy, thánh cả đệ nhất nam nhân, cũng đã sợ. Và, thần sứ Chúa cũng phải khuyên:

“Hỡi Yuse, con của Đavít,

chớ có sợ!”

(Mt 1: 20).

Giống như thánh cả, các thánh tông đồ mạnh dạn, cứng cỏi như các nhà lao động trên sông nước của Đức Chúa, cũng biết hãi. Chợt thấy bóng Vị Thầy Thân Yêu lại ngỡ là ma. Nên biết sợ. Khiến Thầy Nhân Hiền cũng phải trấn an:

“Anh em đừng sợ!

Chính Tôi đây.”

(Mt 14: 27).

Xem như thế, sợ là trạng thái thường tình xảy đến với nhiều vị. Nhiều người. Trạng huống này, có mặt cùng lúc với người đời và đời người, ngay khi xuất hiện trên đời, thời ban sơ. Và cứ thế, Sợ là đức tính kéo dài, đến hôm nay. Sợ là một trong các tình tự gắn liền với con người, từ lúc nào, không ai biết.

Nhưng, sợ là nghĩa lý làm sao? Thực chất của sợ ra thế nào? Sợ có làm cho con người mất thứ gì không? Thêm điều gì chăng?

Sợ mang nhiều hình thái. Sợ có nhiều lý do. Hình thái và lý do đầu tiên có thể kể đến, là: sợ trước tiên là tình tự qua đó con người không muốn mất đi thứ gì: từ tình yêu, người thân đến tiền của, an bình lâu nay con người vẫn đang có. Sợ ở trạng thái này, là: sợ mất trộm, sợ cướp, sợ bệnh, sợ chết, vv. Sợ thế, là không muốn thiếu hụt, hoặc tỉa bỏ. Nhưng lại muốn có thêm. Thêm Phúc thêm Lộc, thêm sống đời tuổi Thọ, với dân gian.

Sợ, là trạng thái tâm linh của con người chẳng muốn thiếu. Dù chỉ thiếu thốn vật chất. Mất đi bản nhất Trời phú ban cho mình. Sợ thiếu vật chất là chuyện đã đành. Con người còn sợ thiếu thốn cả mặt tinh thần nữa. Đây mới là chuyện đáng ngại. Sợ ở đây là: sợ thiếu. Sợ mất (cũng lại sợ mất). Có trường hợp không thiếu, không mất nhưng người người vẫn sợ. Sợ quá không muốn có thêm. Sợ vì không tin tưởng. Hoặc sợ vì vẫn chưa tin vào lời của người khác. Chưa tin, dù Lời ấy là từ một quyền năng/sức mạnh vượt trội trên mình. Nói tóm lại, sợ là tính chất của người không muốn sự thật nào đó diễn ra, trên thực tế.

Muốn diệt niềm hãi sợ này, chỉ có một cách duy nhất là tái tạo lại niềm tin. Bởi, một khi đã tin trở lại, nào ai có thể làm cho mình sợ sệt, được thêm nữa. Thử đảo mắt nhìn quanh, nhìn vào những giòng tâm sự trong Kinh thánh, ta cũng thấy ít nhiều về những nỗi hãi sợ vẫn diễn ra, từ ngàn trước. Chẳng hạn, những khẳng định của thời xưa:

– Trong thánh vịnh:

“Tôi tin tưởng vào Chúa

và không còn hãi chi.”

(Tv 56).

“Tôi luôn vững lòng không sợ hãi

và rốt cuộc coi khinh lũ địch thù.”

(Tv 112).

– Nơi sách Khôn ngoan:

“Lý do khiến Chúa nương tay,

cũng không phải sợ hãi gì ai.”

( Kn 12 ).

“Dù chẳng có chi phải lo sợ,

chúng cũng kinh hoàng vì sâu bọ đi hoang.”

(Kn 117).

– Và, ở sách Huấn ca:

”Nếu con lỡ nặng lời với bạn,

đừng lo sợ;

con có thể giải hòa.”

(Hc 22).

“Ai kính sợ Đức Chúa

thì không sợ hãi gì”

(Hc 34)…

Và, với Thánh Kinh Tân Ước:

“Khi anh em nghe có chiến tranh,

loạn lạc thì đừng hãi sợ.

Vì những việc đó phải xảy ra,

nhưng chưa phải là chung cục.”

(Lc 21: 9).

Và, nhất là:

“Thầy để lại bình an cho anh em,

đừng xao xuyến,

cũng đừng hãi sợ.”

(Yn 14: 27).

Với những lời nhắn nhủ như thế, chắc hẳn người nghe đã thấy an tâm, ấm lòng. An tâm hơn, khi nhớ ra rằng: những gì mình không làm nổi, Thiên Chúa vẫn làm được. Không tin ư? Hãy theo dõi truyện tích thời vi tính dưới đây:

Nhiều người thời nay thường hỏi và vẫn hỏi:

“Yêsu, Ngài là ai” ?

Và, đây là câu trả lời bắt gặp trên mạng:

Với ngành hóa chất, Ngài biến nước thành rượu.

Ở môi trường sinh học, Ngài sinh ra mà không phải tạo thành.

Nơi ngành vật lý, Ngài đả phá luật trọng lượng, khi về Trời.

Qua kinh bang tế thế, Ngài bác bỏ luật suy giảm lợi nhuận, khi bồi dưỡng những 5000 sinh linh con người chỉ bằng 2 con cá và 5 tấm bánh.

Bằng vào y học của riêng mình, Ngài chữa lành người đui kẻ què, chẳng cần gì thuốc.

Trong lịch sử, Ngài là Đầu hết và cũng là Cuối hết.

Về với thế quyền, Ngài là Ông Hoàng của hòa bình, chuyên tư vấn lời khuyên tuyệt diệu.

Tại nhà Đạo, Ngài cứ nhắn nhủ: không ai đến được với Cha mà không qua Ngài.

Ngài là thế đó. Yêsu Kitô, đích thực tên Ngài.

Chính vì vậy, hãy cùng nhau đến mà phủ phục, ngợi khen.

Bởi, nếu ở gần, không ai còn gì để sợ, nữa. Dù có mất mát, khó khăn. Dù đau khổ, hay buồn phiền, cứ nhớ rằng: Ngài là Đấng Ủi An. Bậc Vĩ Nhân của lịch sử loài người.

Xem tới đây, nếu người người vẫn còn sợ, thì cũng chỉ nên sợ kính, mỗi Đức Chúa Đấng Nhân Hiền rất mực, mà thôi. Phải thế không, hỡi bạn hữu khắp nơi ?

Trần Ngọc Mười Hai

vẫn biết kính

và biết sợ,

như bao giờ

§26 – NHỮNG SỰ RẤT THẬT

(Yn 1: 37-38)

Nếu bạn hữu các nơi cùng hiệp thông với chúng nhân nhà Đạo để cùng nhau ta chia sẻ bài Tin Mừng rất “Thương Khó” đọc vào tuần lễ rất thánh, thì hẳn ta sẽ được nghe trích đoạn Lời Chúa, như sau:

“Tôi đã đến trong thế gian:

ấy là để làm chứng cho sự thật.

Phàm ai thuộc về sự thật,

Thì nghe được tiếng Tôi.

Philatô nói với Ngài:

“Sự thật” là gì?”…

(Yn 1: 37-38)

Nếu câu hỏi khi xưa của Phi-la-tô được viết bằng nét chữ bình thường, tức là chữ “S” không được viết hoa ở từ “sự” và chữ “T” ở từ “thật” cũng được viết bình thường, thì câu hỏi trên đã được gửi đến hết mọi người, từ đám lê dân đến các vua quan, và lãnh chúa. Nhưng, nếu Sự Thật được viết hoa cả hai, thì rõ ràng là câu hỏi này chỉ được gửi đến Đức Chúa, Sự Thật bằng xương bằng thịt, đang đứng trước mặt vua quan, lúc bấy giờ.

Nếu hỏi về sự thật của mọi thứ, mọi sự, thì câu trả lời sẽ tùy tình trạng và tư cách của người hỏi, kể cả lãnh chúa, vua quan đến bậc lê dân. Nhưng, nếu là câu hỏi gửi đến Đức Chúa, đích thực là Sự Thật bằng xương bằng thịt, thì có lẽ Phi-la-tô lúc ấy chỉ hỏi để mà hỏi. Chứ nào đã sẵn sàng nghe câu trả lời. Hay nói đúng hơn, Phi-la-tô đâu đã chuẩn bị để tìm ra câu trả lời mà Đấng Hiện Thân của Sự Thật từng tuyên bố Ngài là Đường và là Sự Thật, từ bấy lâu nay rồi.

Về chữ “thật”, hoặc “sự thật” được trích dẫn, nếu các Phi-la-tô này khác ở cõi trần chịu khó sưu tra tìm tòi cũng sẽ tìm ra rất nhiều cụm từ rất “thật” bàng bạc nơi Tin Mừng. Chí ít, là Tin Mừng Nhất Lãm. Này đây, vài ví dụ:

“Trước khi mọi sự thật đã xảy ra…” (Mt 5: 1),

Hoặc:

“Quả thật, Tôi bảo thật với các ông…”

(Mt 5:26, 6:2; 6:5; 6:16; 8:10; 10:15; 10:25; 10:42; 11:11; 13:17; 16:28; 17:20; 18:3; 18:13; 18:18,1; 9: 23; 19:28; 21:21; 21:31; 23:36; 24:2; 24:34; 24:47; 25:12; 25:40; 25:45; 26:13; 26:21; 26:34…)

Trong đời thường, có những vị mang trong mình đầy đủ mọi thứ rất thật, thông suốt mọi sự, nắm vững được sự thật trong mọi vấn đề. Và, cũng đã tận mắt tường tận “Sự Thật” bằng xương bằng thịt qua mắt thịt của mình. Thế mà, vẫn sự thật ấy vẫn nằm lại ở đôi mắt những xương cùng thịt, mà thôi. Chưa đạt tới con mắt của tin-yêu và kính phục. Thế nên, vẫn còn nghi vấn. Còn ngờ vực ở mức khá cao. Những nghi và ngờ. Những là thách thức chính Đấng đã từng mạc khải: “Ta-Là-Đường-Là-Sự-Thật”, về sự thật:

Thưa Thầy,

Chúng tôi biết Thầy là người ngay thật

Và Thầy dạy đường lối Thiên Chúa

Một cách chân thành;

Vì Thầy không có thói coi mặt đặt tên

Vậy xin nói cho chúng tôi hay…

(Mt 22: 16-17)

Đúng thế. Nhóm Biệt Phái – Kinh sư, đều là giới trí thức thời đại, đã thông hiểu mọi chuyện và thừa biết rằng “ngay thật” luôn đi đôi với “chân thành”. Lại còn giải thích thái độ và tư cách của Thầy, là: “Thầy không bận tâm và không có thói coi mặt đặt tên”. Biệt phái – Kinh sư , thật ra, đã thông hiểu mọi chuyện. Đã từng nghe và cũng từng biết hết mọi sự. Họ biết rõ Đức Giê-su. Ngài chính là “Đường, là Sự Sáng và là Sự Thật”. Nhưng, vẫn cứ nghi. Và, vẫn cứ ngờ. Cứ thách thức chính Sự Thật.

Quả thật, đám Biệt phái – Kinh sư không chịu nghe và nhận ra Sự Thật, thật cũng dễ hiểu thôi. Vì, dù “sự thật có được phơi bầy trên mái nhà”, thì họ vẫn cứ “mũ ni che tai”, không chịu nghe. Không chịu nhận đó là sự thật.

Đã nhiều lần, Đức Giê-su từng cảnh cáo những người “có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe”, nhưng họ vẫn có thói quen “coi mặt đặt tên”. Vẫn bận tâm chuyện người. Thậm chí, có mỗi cọng rác nơi mắt người, họ cũng bận tâm. Để rồi, cố tình quên lờ đòi hỏi của Đức Chúa, là: phải mở mắt, mở tai và mở cả lòng mình mà đón nhận Sự Thật đang hiện diện trước mắt mình.

Trong đời thường, bàn dân thiên hạ cũng muốn biết sự thật về nhiều thứ, nhiều chuyện. Nhưng, lại không có thói quen rất bình thường là mở mắt, mở tai để nghe những gì cần nghe, nên nghe. Chẳng hạn như, nghe xem người ngoài Đạo nhận định thế nào về người đi Đạo, trong Đạo vv…

Chẳng cần tranh cãi hoặc biện luận về tác phong, hoặc lối sống của một chức sắc ngoài Đạo đang nổi tiếng với vài họat động đi nhiều và nói nhiều, ở nhiều nơi. Nhưng, đôi lúc cũng nên để tai nghe xem các vị ấy nói gì về người trong Đạo mình. Dưới đây là một trong các nhận định, làm ví dụ:

“Tại tây Phương, nhiều người đang muốn cho Đạo Kytô được hiện đại hóa, nhưng họ chưa thành công vì thái độ thủ cựu và giáo điều của chức sắc bề trên. Nhiều nhà thờ vắng bóng tín đồ. Người xuất gia rất hiếm. Chỉ vì tại người ta bảo thủ quá, không chịu làm mới, không chịu cách mạng giáo lý và giáo chế…”(Thích Nhất Hạnh – Hẹn Nhau Mùa Anh Đào Sang Năm).

Vâng. Thiền sư ngoài Đạo ở trên đã có nhận định về người đi Đạo, và hệ cấp trong Đạo. Đúng – sai, ở đây không là vấn đề. Bởi, “thiền” sư cũng chỉ nhận định để mà nhận định, chứ đâu phải để cùng mở mắt, mở tai như mọi người bên trong nhà Đạo, để tìm ra sự thật về Đạo hoặc đi tìm chính Sự Thật (viết hoa) như tìm Đạo. Hơn nữa, muốn biết sự thật về mình và về những gì người khác nhận định về mình, về Đạo của mình, có lẽ vẫn phải mở ta, mở mắt mà xem mới thấy, mới biết được sự thật. Không mở tai, mắt và nhất là lòng mình ra, thì làm sao biết được sự thật về mọi chuyện. Chí ít, là sự thật về Sự Thật.

Thời xưa, cổ nhân có câu: “lộng giả thành chân” để nhắn nhủ người đời rằng: điều gì tuy mới hư hư chưa thành thực thực, nhưng nếu cứ lặp đi lặp lại nhiều lần, rồi ra cũng thành sự thực, thôi. Ngày nay, với cuộc cách mạng vi tính, truyền hình, người ta dù có lặp đi lặp lại sự kiện nào đó cả triệu lần, thì sự kiện ấy vẫn không thể nào trở thành sự thật được. Về điều này, nhiều người chắc cũng chẳng đồng ý với lập trường của cổ nhân trên, mà cho rằng: sự thật vẫn cứ là sự thật. Dù ta có bác bỏ và lặp đi lặp lại nhiều lần, nó vẫn như thế. Ngược lại, những gì không phải là sự thật, thì có lặp đi lặp lại nhiều lần, cũng chỉ thành sự thật của con vẹt, mà thôi.

Lại nữa, nói về sự thật (không viết hoa) của mọi chuyện là nói về lập trường, về chính kiến của mỗi người. Và mọi người. Không có gì để biện luận, hoặc tranh cãi. Nhưng nói đến Sự Thật (viết hoa), có lẽ phải nói về niềm tin hơn là quan điểm.

Trong tuần lễ rất thánh và những ngày Vọng Phục Sinh, có những câu hỏi về “Sự Thật” và sự nghi ngờ không tin của một số người về Đấng-là-Đường-và-là-Sự-Thật đã sống lại thật, tưởng cũng nên lặp lại ở đây, một trích dẫn Tin Mừng rất “Thật” về sự thật Phục Sinh như sau:

“Bà Maria Magđala đi báo tin cho các kẻ đã ở với Ngài, bấy giờ những rên cùng khóc. Nghe nói Ngài đang sống và bà đã thấy Ngài, họ cũng chẳng tin.

Sau đó, với một hình dạng khác, Ngài đã tỏ mình ra cho hai người trong nhóm họ đi đường, đang khi họ về chốn thôn quê. Họ đi báo tin cho các người khác, nhưng những người này cũng không tin họ.

Sau cùng, Ngài tỏ mình ra cho chính nhóm Mười Một đang khi họ dùng bữa, và Ngài quở mắng sự cứng tin, lòng chai đá của họ, bởi họ không tin những kẻ được thấy Ngài đã sống lại.”

(Mc 16: 10-14)

Nói cho cùng, ngày hôm nay, trong thế giới đương đại này, có những đạo sĩ, những kẻ chọn lựa ở ngoài hay trong Đạo, bằng cách này cách khác vẫn chuyển cho nhau các thông tin về một sự thật. Sự thật ấy, là: chỉ có lòng yêu thương đích thực mới cứu được mọi người. Chỉ có tình yêu thương người đồng loại mới đưa con người xích lại gần nhau hơn.

Nắm vững được sự thật này, con người sẽ bớt va chạm, bớt gây “thương khó” cho nhau. Nhưng sẽ an hòa, trộn lẫn vào nhau trong niềm vui lớn. Niềm vui yêu thương, quần tụ. Ở đó, Sự Thật đích thực hiện diện và hòa mình với cộng đoàn tình thương. Ở bên ngoài Sự Thật đích thực, tất cả chỉ là hư cấu. Tất cả chỉ là khéo che, khéo đậy. Tất cả chỉ hư hư thực thực. Hoặc, có đấy nhưng không thực. Không đích thực là Sự Thật.

Trong bầu khí thân thương rất thực của những giờ phút tìm kiếm Sự Thật, hãy yêu thương và chịu đựng lẫn nhau. Như Sự Thật của ta đã chịu đựng cho đến chết. Có yêu thương và chịu đựng, rồi ra mọi người cũng sẽ mở mắt, mở tai và mở lòng mình để đón nhận Đức Chúa đến ngự trị trong cung lòng thương yêu rất thực. Sự Thật còn là Tình yêu rất thật. Là sự vui sống rất thật.

Sống hưng phấn. Sống bền chặt. Đó là thông điệp rút ra từ mỗi sự kiện. Và, mọi sự kiện. Dù, sự kiện có tàn nhẫn đau lòng đi nữa, vẫn là những sự kiện rất thật. Sự Thật đã giải phóng chúng ta khỏi cái chết. Để ta cùng sống với Ngài. Trong yêu thương. Trong Sự Thật rất thật.

Trần Ngọc Mười Hai

với những nghĩ quanh câu hỏi

về sự thật

§27 – VÔ NGỘ – GIÁC NGỘ, THẢY ĐỀU RẤT “NGỘ”

( Lc 22, 32 – Lumen Gentium 25 )

Qua nhiều năm lao động ở nước ngoài, bần đạo có dịp chung đụng với một số đồng nghiệp thuộc đủ mọi thành phần ngôn ngữ, sắc tộc khác nhau. Cũng vì sự khác biệt này, mà bần đạo thu thập được nhiều kinh nghiệm về việc “sống Đạo giữa đời”, rất quý. Một trong các kinh nghiệm mà bần đạo có được, muốn chia sẻ với bạn đọc hôm nay, là: tâm tư/thái độ của một người vừa là đồng nghiệp vừa là đồng đạo, thuộc sắc tộc Phi-líp-pin ở Sydney.

Cũng là người Công Giáo chính cống như ai, nhưng đồng nghiệp của bần đạo lại có những ý nghĩ và phong cách rất vui và cũng rất “ngộ”. Mỗi lần phát biểu điều gì, anh đều sửa lại phong cách rất trịnh trọng, mà bảo: bạn này, những điều tôi sắp nói với bạn đây, hiển nhiên đều là “vô ngộ” cả đấy ! Với cụm từ “vô ngộ” anh dùng, ai cũng hiểu là anh không có ý xấc láo phạm thượng, nhưng chỉ muốn chứng minh rằng anh vốn nắm vững chân lý, rất đầy mình. Nắm vững chân lý giống như Đức Giáo Tông nhà mình. Rất Công Giáo. Rất Phi-líp-pi-nô.

Nghe anh nói, ai thấy cũng phát ghét. Nhưng, chẳng buồn phản đối, làm gì. Vì, ở xã hội với đủ mọi thứ tiện nghi đã sẵn, ai cũng có quyền ăn quyền nói, dù là nói sai, nói hụych tẹt. Tuy thế, vừa qua, một đấng bậc rất trịnh trọng ở Sydney cũng có phong cách rất ư là tự hào, khi ngài tuyên bố với báo chí, bảo rằng; hễ có dân biểu nào người gốc Công Giáo, mà bỏ phiếu ủng hộ cho công cuộc nghiên cứu “tế bào vô sinh” ở viện dưới tiểu bang New South Wales này, thì “bản quan” sẽ dứt phép thông công, ngay tức thì. Đại ý “đức ngài” ở Sydney muốn nhắn nhủ: nếu có vị dân biểu nào lại ung dung cho thông qua đạo luật “vô sinh” nói trên, thì khi đi lễ ở Sydney sẽ bị “đức ngài” không cho rước Mình Chúa… mỗi tuần.

Có lẽ vì lời doạ dẫm này mà, mới đây, tờ The Catholic Weekly ngày 1.7.2007, có trích đăng thắc mắc của độc giả trẻ gửi đến Linh Mục phụ trách mục hỏi đáp; thắc mắc về cái-gọi-là đặc tính “vô ngộ” của các đấng bậc cao nhất của Tòa Thánh Rô-ma. Câu hỏi ngắn và gọn như sau:

“Xin ngài giải thích cho biết điều mà xưa nay người ta vẫn gọi là “phán quyết từ Tông Tòa” của Đức Giáo Hoàng có nghĩa gì? Chúng ta có nên hiểu: đó là tuyên bố có tính cách bắt mọi người phải tin không? Phải chăng điều đó còn gọi là “vô ngộ”?

Và, câu trả lời của nhà báo Đạo, dĩ nhiên phải dựa trên sách vở rút từ kho tàng chân lý rất “giác ngộ” của Giáo Hội, như sau:

Cụm từ “Phán quyết từ Tông Tòa” là từ ngữ xuất xứ từ tiếng La-tinh: “Ex Cathedra”. Bên tiếng La- tinh, cụm từ này nghĩa đen được hiểu là: “lời tuyên bố phát xuất từ ghế ngồi”, hay còn gọi là từ ngai tòa của vị Giám Mục. Cũng do ý nghĩa của các từ này, ta có được danh tự “Nhà Thờ Chánh Tòa” (the Cathedral), tức là Nhà Thờ nơi có ngai của vị Giám Mục chủ quản Địa Phận trụ trì. “Phán quyết từ ngai toà” là giáo huấn của Hội Thánh được ban từ vị có quyền bính tối cao của Giáo Hội, tức Đức Giáo Hoàng.

“Phán quyết từ ngai toà” được Công Đồng Vatican I áp dụng vào năm 1870, lúc Công Đồng quyết xác định tính chất “vô ngộ” ( không sai lầm ) của Đức Giáo Hoàng. Công Đồng thời đó đã khẳng định: “Vì thế nên, khi quyết một lòng gắn chặt với truyền thống được phú ban ngay từ đầu của Giáo Hội, chúng tôi ban huấn lệnh và chỉ thị rằng: sẽ trở thành tín điều mặc khải mang tính thánh thiêng, điều mà Đức Giáo Tông ở Rô-ma, khi ngài ngồi ở vị trí trên ngai toà mà phán ra điều gì, thì có nghĩa là ngài đã sử dụng thiên chức của vị Chủ Chăn và là Thầy Dạy để giáo huấn mọi Ki-tô hữu.

Những điều được ngài xác quyết, do quyền bính tối cao của Thánh Tông đồ được Chúa ủy thác, đã trở thành tín điều cho lòng tin hoặc lòng đạo; và Giáo Hội trên khắp địa cầu đều phải tuân giữ. Đức Giáo Tông, nhờ có sự phù trợ của Thiên Chúa, khi đã khẳng định điều gì, thì điều ấy đều mang tính “vô ngộ” được Chúa hứa ban cho ngài qua Thánh Phê-rô; và với lời hứa này, Chúa Cứu Thế muốn rằng Giáo Hội của Chúa phải được ban quyền xác-định tín-điều cho lòng tin và lòng đạo đức; chính vì thế, mọi xác định của Đức Giáo Tông ở Rô-ma sẽ không thể lay chuyển và chẳng cần đến sự đồng thuận của Giáo Hội.” (Hiến chế Đức Tin – Mục Tử Suốt Đời, chương 4, đoạn 11).

Công Đồng Vatican II cũng đã trích dẫn đoạn này và đưa vào Hiến chế Ánh Sáng Muôn Dân, đoạn 25.

Nói tóm lại, để cho tuyên phán của Đức Giáo Hoàng thành “phán quyết từ ngai toà”, cần có ba đặc thù rõ rệt. Trước nhất, phán quyết ấy phải mang tính toàn cầu. Nghĩa là, do Đức Giáo Hoàng, với cương vị là Chủ Chăn Tối Cao và là Thầy Dạy của toàn thể Giáo Hội, chứ không chỉ một phần của Hội Thánh đưa ra. Thứ đến, điều ngài phán phải thuộc về niềm tin hoặc lòng đạo. Tức, thuộc lĩnh vực mà qua đó Giáo Hội có thẩm quyền ban dạy. Và chót hết, điều được Giáo Hội phán quyết phải mang tính định đoạt. Tức, được phán quyết bằng đường lối dứt khoát; có nghĩa là, được ban ra bằng các từ ngữ mà khi nghe phán quyết này, mọi kẻ tin trong Giáo Hội đều chấp nhận sẽ tuân giữ, không có luật trừ.

Mỗi khi Đức Giáo Hoàng ban huấn từ theo cách này, thì giáo huấn của ngài được coi là “vô ngộ”. Có nghĩa là, những điều ngài xác quyết như thế, không mang tính sai trái; bởi lẽ phán quyết ấy được sự hỗ trợ của Chúa Thánh Thần. Nói theo ngôn ngữ của Công Đồng Vatican II, thì: “Chính vì lý do ấy, mà xác định của ngài (tức của Đức Giáo Hoàng ) đều được nói rất đúng, tự bản chất, không thể lay chuyển và cũng chẳng cần có sự đồng thuận của Giáo Hội, bao lâu phán quyết được lập ra có sự giúp đỡ của Chúa Thánh Thần như Chúa đã hứa ban cho Đức Giáo Hoàng trong cương vị của đấng kế vị Thánh Phê-rô.” (xem Hiến chế Ánh Sáng Muôn Dân, đoạn 25 ).

Nói khác đi, mọi tuyên ngôn mang tính “phán quyết từ ngai toà” của Đức Giáo Hoàng đều trở nên “vô ngộ”. Thế nhưng, không phải là mọi phán quyết như thế, đều có liên quan đến tín điều, tức là: tuyên bố có tính cách chính thức về một sự thật mà mọi người trong Giáo Hội phải tuân giữ. Hơn 150 năm qua, chỉ có hai tín điều mới đã được các Đức Giáo Hoàng phán quyết, đó là: tín điều “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội”, do Đức Giáo Hoàng Pi-ô thứ 9 xác quyết vào năm 1854, và tín điều “Đức Mẹ Hồn Xác Về Trời” được Đức Giáo Hoàng Pi-ô thứ 12 quyết định vào năm 1950.

Tuy nhiên, trong thời gian dài này, đã có nhiều giáo huấn được hiểu đó là các “phán quyết từ ngai toà” nhưng không dính đến tín lý. Tỉ như: việc tấn phong các Thánh nam nữ được coi như tuyên ngôn “vô ngộ”; tức, các Thánh được tấn phong chắc chắn đang ngự trên Nước Trời và đang là đối tượng cho toàn thể Giáo Hội kính nhớ.

Thêm vào với các cuộc phong Thánh, Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô 2 cũng đưa ra một số “phán quyết từ ngai toà”. Trong số này, có thể kể ra đây, như: tuyên ngôn ngài lập năm 1994 có nói: “Giáo Hội không có thẩm quyền tấn phong Linh Mục cho các phụ nữ”. Khi ngài tuyên bố như thế, có hàm ngụ là: không có gì nghi ngờ, rằng: Đức Giáo Hoàng, lúc ấy, xử dụng vai trò giáo huấn qua tư cách của Vị Chủ Chăn Tối Cao theo đường lối dứt khoát. Với những lý do nhằm đảm bảo rằng: mọi nghi vấn phải được cất gỡ như vấn đề có tầm quan trọng rất lớn, vấn đề gắn liền với thực chất thánh thiêng của chính Giáo Hội.

Với sứ vụ thừa tác như một sư huynh (xem Lc 22: 32), tôi tuyên xưng rằng: Giáo Hội không có thẩm quyền gì về bất cứ khía cạnh nào để phong chức Linh Mục cho phụ nữ; và đó là phán đoán dứt khoát phải được mọi tín hữu trong Giáo Hội tuân giữ.”

(Tông thư Phong chức Linh Mục, đoạn 4)

Một năm sau, nhằm làm sáng tỏ là: phán quyết này thực sự mang tính “vô ngộ”, Thánh Bộ Đức Tin có tuyên bố trong một văn bản hồi đáp do Đức Hồng Y Ratzinger ký và được Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô Đệ Nhị phê chuẩn, trong đó ghi rõ: “Giáo huấn này đòi hỏi phải có sự đồng thuận dứt khoát; bởi lẽ, giáo huấn được thiết lập trên Lời của Chúa có ghi trên giấy, đã được tuân thủ cũng như áp dụng ngay từ đầu theo truyền thống của Giáo Hội; điều này được thiết lập một cách “vô ngộ” do vị Chánh Thẩm Bậc Thầy của mọi người trên hoàn vũ đưa ra.

( xem Văn kiện Công Đồng Vatican II, Hiến chế Niềm Tin Giáo Hội Ánh Sáng Muôn Dân 25, 2)” (Hồi đáp thắc mắc của truyền thông SCDF, 28.10.1995).

o0o

Đọc lời giải đáp trên đây, người đọc và chính bần đệ cũng thấy là: các bậc vị vọng đều có quyền và có phép để “phán quyết từ ngai toà” của mình. Nhưng, vấn đề là: ở đời thường, những gì không do Vị Chủ Chăn Tối Cao tuyên phán và không liên quan đến niềm tin và lòng đạo, để buộc Giáo Dân phải tin hay không, đó là chuyện khác.

Lâu nay, ta vẫn được dạy rằng: niềm tin và lòng Đạo là quà tặng nhưng-không của Đức Chúa. Thế thì, với tư cách nào mà các vị ở “lưng chừng và ở trên”, dù là chủ quản cả Giáo Phận hay Tổng Giáo Phận đi nữa, lại muốn tước đi món quà nhưng-không quý báu ấy từ con dân thấp bé của nhà Đạo, như vậy? Dù gì đi nữa, ai nỡ lòng nào tước đi món quà và quyền lợi cao và quý, là: đón rước Mình Máu Chúa Rất Thánh vào lòng của mọi kẻ đã và sẽ còn tin vào quyền năng của Chúa.

Là bề trên, bề dưới hay bề ngang hàng, hay con dân nhà Đạo cùng tầm cỡ, chỉ khuyến cáo để sửa sai, thì còn được. Chứ ai lại doạ nạt những bề ngang khác, như thời kỳ còn máy chém “guillotine”, vào thời hơi cổ cổ. Cũng may là, vị chủ quản Tổng Giáo Phận Úc này, mới chỉ ngồi ở bàn giấy để “phán” và “phán” với truyền hình, nhà báo, chứ chưa lên “ngai toà” mà xác quyết, nếu không chắc còn đáng sợ và khủng khiếp hơn.

Nghe những dọa và nạt cỡ trên, bần đạo nhớ lại chuyện hồi xa xưa: có vị chủ quản một họ đạo lẻ đã bắt chước các Đấng Bậc Bề Cao, cũng doạ và cũng nạt dân con thấp bé “không biết gì”, rằng thì là: “…Nếu con không làm việc cha bảo, thì con không nên đến Nhà Thờ này mà đi lễ làm gì. Và, cha sẽ chúc dữ cho con và gia đình con đó…”

Lời phiếm (chứ không phải… lời phán) cuối cùng của luận bàn hôm nay, là: xin cho con biết lắng Lời Ngài dạy con thương mến. Chứ không phải, là: xin cho con biết cách những đe và nẹt, để phải…chạy dài khỏi Nhà Thờ Nhà Thánh, khỏi phải thương mến. Bất cứ ai. Phải chăng, đây cũng là chuyện “vô ngộ” nhưng rất “ngộ”?

Trần Ngọc Mười Hai

rất nhiều lúc như trẻ lại

cũng biết sợ,

nhưng không sợ

những doạ và nạt

§28 – NGƯỜI LÀ AI? BÀ LÀ AI?

(Lc 8: 2/ Yn 12: 3)

Ở đời thường, mà đi hỏi những câu như trên, hẳn sẽ bi úp ngay vào miệng một lời căn dặn: không biết, thì cứ là “dựa cột mà nghe”, cần gì phải hỏi! Nhưng trong phiếm Đạo, đây lại là những câu rất cần hỏi. Rất sáng giá để hỏi mãi, hỏi hoài không thôi. Cần là bởi, ở nơi nhà Đạo, câu này được đưa ra rất nhiều lần. Câu hỏi sáng giá là vì ở ngoài đời, những câu tương tự rất được nhiều người đề cập đến. Nhất thứ, ở vào tình huống có những chuyện kể rất ư là “trẻ trung”, như trong nhóm của những người vừa trẻ, lại vừa có Đạo như sau:

Trong buổi giáo lý cho nhóm trẻ ở nhà thờ, sau nhiều giờ học hỏi xem ra bọn trẻ đã có hơi “bão hoà”. Bão đến chan hòa cả lớp nhỏ, vì thầy cô giảng và giải, nói quá nhiều. Nay, hãy dành cho học trò để chúng hỏi. Đã cho phép, thì trò xin một phút hỏi đáp hơi “lạ” và ngoài đề, như sau:

-Xin hỏi thầy, thầy có biết Mẹ Maria là người gì không?

-Chà, câu hỏi xem ra có hơi hóc búa, à! Thì, Đức Mẹ là người Do Thái, chứ gì nữa!

-Chưa đúng hẳn.

-Chẳng lẽ, Mẹ là Người Palestin sao?

-Cũng sai luôn! Thầy đã thua chưa? Chịu đi, em sẽ nói cho mà nghe.

-Được, lần này thì thày xin chịu, để ta còn lo mà học tiếp chứ.

-Đức Mẹ của mình là… người “Lào”, thế thầy thấy có đúng hay không?

-Chi tiết này em lấy ở đâu ra thế?

-Dạ thưa, cũng quanh quẩn trong nhà thờ lúc mà mọi người củng đọc kinh. Đâu gần chỗ các bà đạo đức ở đầu bàn, đọc rất lớn tiếng ấy mà.

-Đâu, em thử chứng minh coi?

-Dạ vâng, thưa Thầy, ngay lập tức: Này nhé, trước giờ lễ ngày Chúa Nhật, ai đến nhà thờ sơm sớm một chút sẽ nghe các bà các cụ đọc kinh, rất ư là dài và lại sang sảng. Trong các kinh được đọc, có một cụ người Bắc Ninh hay Bzắc kỳ cựu gì đó, đọc tiếng nước gì mà nghe sao như tiếng sắt tiếng vàng chen nhau. Đích thực là cụ đọc chữ “Kìa Bà Lào” đang tiến “nên” như dzạng đông, đẹp như mặt dzăng, dzực dzỡ như mặt dzời. Oai hùng như đạo binh xếp hàng và trận. Bà “nà” ai, Bà “nà” ai?

Vâng. Bà là ai? Hay, như các cụ người Phát Diệm vẫn thường đọc, thì Bà “nà” ai? vẫn là câu hỏi không chỉ đặt ra cho Đức Mẹ mà thôi, nhưng là cho các vị nữ lưu, trong Kinh thánh.

Vừa qua, có độc giả lại đặt thêm câu hỏi gửi đến các đấng bậc rất “lão làng” ở Sydney, cũng một câu hỏi tương tự. Hỏi, là hỏi về lý lịch 3 vị nữ lưu trong Kinh thánh là: Maria Ma-đa-lên-na, Maria ở Bê-tha-nia, và nguời phụ nữ lỗi phạm cũng cùng tên gọi, như trên. Câu thắc mắc rất ngắn gọn, giản đơn như sau:

Thỉnh thoảng, có dịp đọc Kinh thánh, tôi vẫn thường tự hỏi về tên tuổi của ba vị phụ nữ có mặt trong Sách này. Ba vị này mang tên gọi na ná rất giống nhau. Một vị, là Maria Mag-Đa-lê-na. Vị kia, là Maria chị ruột của Mác-Tha. Và, Maria khác là nữ phụ tội lỗi ngồi dưới chân Chúa mà đổ dầu ra lau chân cho Ngài. Xin cho biết, có phải cả ba vị này đều là một phải không. Xin loé cho một chút ánh sáng về vấn đề này, để còn tin.

Và, câu trả lời của đấng bậc mô-phạm được chuyển đạt lại, như sau:

“Có lẽ chị cũng không phải là người đầu tiên đưa ra câu hỏi này. Thôi thì, cứ xin phép để chúng ta có cơ hội mà đào sâu thêm những gì mình vẫn tin tưởng, từ thời Giáo hội tiên khởi, mãi cho đến hôm nay. Dường như, là vào năm 591, Đức Giáo Hoàng Grêgôriô Cả đã giảng một bài trong đó ngài định ra chức phận của ba vị nữ lưu mà chị có nói đến trong thư thắc mắc nói trên. Có phải, cả ba vị cũng chỉ là một, thôi chăng?

Đức Giáo Hoàng Grêgôriô nói như thế, là để phản ánh về một truyền thống vẫn có vào hồi xưa, ở Phương Tây. Nhưng thật ra, ý tưởng này đã được các nhà thần học nổi danh thuộc Giáo Hội tiên khởi, bài bác từ lâu.

Các tổ phụ người Hy Lạp thời trước –tức các vị thánh thuộc Giáo hội tiên khởi ở Phương Đông, đã viết sách bằng tiếng Hy lạp trong đó các ngài liên tục khẳng định rằng: Maria Mag-đa-lê-na, Maria làng Bê-tha-nia và người nữ phụ không ghi tên nhưng đã phạm lỗi nặng vẫn là ba vị, hoàn toàn khác nhau. Sự kiện này vẫn tồn tại ở nơi truyền thống về thần học thuộc Giáo hội Chính Thống, ở nơi đó.

Vậy thì, ta nên nghĩ làm sao về sự khác biệt này?

Trước nhất, hãy nghe thánh Gio-an xác định. Theo thánh nhân, thì chính Maria chị của Mar-tha và người em La-za-rô, là người đã đổ dầu vào chân Chúa lễ Vượt Qua và vào ngày Chúa chịu chết, tại nhà của các vị ấy ở Bê-tha-nia, một thủ phủ gần Yêrusalem.

Lúc ấy, là sáu ngày trước Lễ Vượt Qua.

“Hôm ấy, Có Mar-tha lo phục dịch. Còn Lazarô khi đó, là một trong những người đồng bàn với Ngài. Lúc ấy, Maria lấy một cân dầu thơm cam tùng hương thuần chất quí giá mà xức chân Đức Giê-su, và lấy tóc mình mà lau chân Ngài.” (Lc 12: 2-3)

Việc xức dầu mà thánh Gio-an kể trên đây rõ ràng khác với việc xức dầu trước ngày Chúa công khai bước vào cuộc đời giảng rao, có người nữ phụ hiện diện ở nhà ông Simôn, người Pharisêu ở Galilê, được thánh sử Luca ghi lại ở chương 7, câu 36-50.

Thánh sử Luca có ghi lại chi tiết tương tự, nhưng lại không cho biết tên của người nữ phụ ấy. Nhưng, theo truyền thống đang có vào thời ấy, thì bởi vì người nữ phụ này là người đàn bà tội lỗi, thì chắc đó phải là Maria Mag-đa-lê-na, một trong bẩy tà thần nữ quỷ đã bị đuổi đi xa.

Đây, là một trong những xác nhận mà nhiều vị không đồng ý. Là nguời phạm lỗi không có nghĩa là đã bị tà thần hay quỷ dữ ám nhập. Và, cho dù có bị tà thần quỷ dữ ám hại, cũng không nhất thiết người ấy công khai là người phạm lỗi truớc mặt công chúng. Là trường hợp nào đi nữa, thánh sử Luca viết ở các chương ngay sau đó, có đề cập đến việc Maria Mag-đa-lê-na đã được bẩy tà thần quỷ dữ thoát khỏi con người của chị, lúc ấy rồi (x Lc 8:2). Tuy nhiên, thánh sử Luca cũng không nói rõ ở đây có phải người đó là Maria, cùng một nữ phụ từng đổ dầu vào chân Chúa Giê-su, ở các chương mà thánh sử đã viết trước đó, hay không..

Điều này, xem ra cho thấy rõ là người nữ phụ công khai phạm lỗi kia không phải là Maria Mag-đa-lê-na.

Việc tin rằng người nữ phụ phạm lỗi chính là Maria Mag-đa-lê-na chắc chắn đã được củng cố thêm bằng sự kiện là cho đến năm 1969, Phúc âm đọc vào lễ thánh Maria Mag-đa-lê-na ngày 22 tháng Bẩy, là đoạn Tin Mừng đã được thánh sử Luca viết về sự kiện Đức Chúa từng được người nữ phụ phạm lỗi đổ dầu vào chân.

Dầu sao đi nữa, Hội thánh muốn cách ly mọi liên tưởng trong vấn đề này. Vì thế cho nên, vào năm 1969 năm mà phụng vụ Hội thánh đã thay đổi Tin Mừng nói về việc Chúa hiện ra với Maria Mag-đa-lê-na, vào sau ngày Ngài sống lại.

Xem như thế, rõ ràng là có hai cuộc đổ dầu vào chân Chúa Giê-su là do hai người nữ phụ thực hiện: một, do Maria ở Bê-tha-nia và sự kiện kia, là do người nữ phụ tội lỗi không ghi danh tánh, đã thực hiện. Nhưng có điều chắc chắn rằng, người nữ phụ này không là Maria Mag-đa-lê-na, được Chúa hiện ra.

Đằng khác, chẳng có lý do gì đáng kể để nhận rằng Maria nguời Bê-tha-nia và Maria Mag-đa-lê-na là một, hết. Bởi, điều quan trọng hơn cả, là: Maria đầu là người từ Bê-tha-nia, thôn làng bé nhỏ cách thành Yêrusalem chừng 3 cây số, ở Giuđêa. Trong khi đó, Maria Mag-đa-lê-na lại là người từ thành Mag-đa-la, thị trấn nhỏ trên biển của Galilê, cạnh Capharnaum. Hai địa danh, hai nơi chốn hoàn toàn cách xa nhau.

Cũng thế, chẳng có vị nào lại đề nghị rằng Maria thuộc làng Bê-tha-nia từng gặp tà thần quỷ ám đã được trục xuất quỷ ấy ra khỏi con người của chị, hết. Cuối cùng, một đằng theo thánh Luca, Maria Mag-đa-lê-na là người đã từng tháp tùng Đức Giê-su trong các chuyến lữ lành Ngài giảng rao các nơi (x Lc 8: 2). Còn, Maria thuộc làng Bê-tha-nia thì xem ra lại vẫn ở nhà mình, nên mới được Chúa ghé viếng, nhiều lần.

Để kết luận, theo như sách thánh dựa trên bản dịch của tác giả Navarre có đoạn luận bình về Tin Mừng theo thánh Gio-an, đoạn 11 câu 2, có nói rằng: “Việc chú giải thông thường và có lý lẽ nhất đã do các nhà kinh sử đề nghị, thì ba vị nữ lưu được đề cập ở trên, là ba người phụ nữ hoàn toàn khác nhau. (trích bài trả lời thắc mắc của Lm John Flader, đăng trên The Catholic Weekly, ngày 07/10/2007).

Xét cho cùng, và cũng xét lại cho kỹ, thì các vị nữ phụ nói trên có là người ‘Lào’, hay nguời Do Thái, Pales-tin đi nữa, các vị cũng vẫn là những phụ nữ rất đặc biệt, đã được Tin Mừng nhắc đến. Mà một khi, các vị ấy được các thánh sử nêu danh như là các nữ lưu rất vị vọng, thì có hỏi “người là ai?”; hoặc, “Bà là ai?” vẫn là chuyện không quan trọng, bằng các bà có “đẹp như mặt dzăng, dzực dzỡ như mặt dzời, oai hùng như đạo binh sắp hàng vào trận” hay không. Đấy, mới là vấn đề.

Và, câu hỏi này đã và đang được các bô lão, các bậc vị vọng trả lời, tại các buổi giáo lý, hoặc ở các buổi suy niệm Kinh thánh. Rất lành. Và, cũng rất thánh. Ở nhiều nơi.

Trần Ngọc Mười Hai

trông chừng cũng ít hỏi: người là ai?

cho bằng: ấy ai mới là người…đạo hạnh, hôm nay?

§29 – CŨNG LÀ CHUYỆN KỂ

(Gl 844, #2)

Cũng là chuyện kể. Có khi chỉ là chuyện phiếm. Phiếm về chuyện Đạo. Phiếm chuyện đời thường. Có lúc, là chuyện chẳng đâu vào đâu. Rất tầm phào. Chẳng đụng chạm đến ai. Hoặc, liên can đến rất nhiều người. Nhưng, chẳng làm phiền ai hết. Loại chuyện nghe qua rồi bỏ. Chuyện nghe rồi, nhưng muốn người khác cũng được nghe. Dù chỉ trong chốc lát. Như chuyện lào xào ở dưới:

*Chuyện thứ nhất, ở mục rao vặt, trên báo. Tức, rêu rao những chuyện … lặt vặt, như:

“Nam, 25 tuổi. Cao 1.8m, nặng 72 kg. Còn độc thân. Thành công trên đường đời. Đẹp trai, khoẻ mạnh, thông minh. Hiện chỉ mới tậu được có hai chiết BMW, một thuyền buồm loại vừa, một biệt thự hạng trung ở Hawaii. Hai căn nhà mặt tiền ở khu thương mại. Không muốn bán. Cũng chẳng cần mua thêm. Chỉ muốn khoe thôi…”

*Chuyện thứ hai gặp thấy ở mục “Tìm bạn bốn phương”

“Tôi là thanh niên mới chỉ 26 tuổi. Độc thân vui tính, rất khoẻ mạnh. Không rượu chè, cờ bạc hoặc chích choác. Rất yêu mầu tím hoa sim. Tôn thờ sự thủy chung. Tính tình hơi lãng mạn. Có khả năng chăm sóc bản thân và bạn đồng hành. Ăn ngủ đúng giờ đúng giấc. Sống có kỷ luật. Không lang thang trên mạng. Chẳng thích vào phòng “chít chát”, hoặc chơi “game” trực tuyến. Vẫn sống theo sát thời khoá biểu hàng tuần, được 2 năm. Sẽ còn tiếp tục làm như thế đến hết cuộc đời. Thích quen biết các cô gái dịu dàng. Xinh đẹp. Nhất là người có lòng vị tha.. Ai yêu mến, xin thư về: Nguyễn Chinh Chiến, khu chung thân, trại A30 Sông Cầu, Bình Định.”

*Và, những chuyện kế tiếp thấy dài dài trên các báo đời và “báo hại”, ở mọi nơi.

Về chuyện được kể trên báo, có chuyện dài hay ngắn, hay hoặc dở, cũng tùy báo. Và, tùy thời. Có chuyện xảy ra nghe cứ như là sự thật. Có chuyện nghe kể, lại như chỉ để kể. Kể cho sướng miệng. Nghe cho vui tai, thế thôi. Như các chuyện vặt ở trên, là một trong các loại hình như thế. Có chuyện nghe qua một lần, vẫn không thể bỏ. Nhất thứ, đó lại là chuyện nhà Đạo. Hoặc, trong Kinh sách, rất Đạo.

Chuyện kể hôm nay, có liên quan đôi chút đến việc “hòa đồng tôn giáo” trên thực tế, hay còn gọi là “Đại Kết”. Tức, trong cuộc sống đời thường, ta vẫn có dịp tiếp xúc với người ngoài Đạo, khác đạo. Thậm chí , có người còn tham gia một vài sinh họat thờ phượng hoặc hiến tế của đạo khác. Và, khi tham gia như thế, có người tự mình thấy nảy sinh một vài thắc mắc, vấn đề mà bản thân không thấy dễ giải quyết.

Mới đây, một bạn trẻ ở Sydney, có thư gửi báo The Catholic Weekly nêu vấn nạn như sau:

“Là người Công giáo, có tham dự Thánh lễ tại nhà thờ thuộc đạo Chính thống, như đi dự nghi thức rửa tội, hoặc thủ tục cưới hỏi của bạn bè chẳng hạn, đến phần hiệp thông, họ có được rước Mình thánh hay không? Và, nếu đã đi lễ ở nhà thờ đạo Chính thống rồi, có được coi như đã chu toàn việc lễ lạy của Giáo hội mình, không? Hoặc ngược lại, nếu như Giáng Sinh 24/12 này, các tín hữu đạo Chính Thống tiện ghé nhà thờ Công giáo xem lễ họ lên rước bánh thánh Đạo mình, như thế có phạm tệ gì không?

Lại một lần nữa, Lm John Flader đã trả lời một cách rất “qui – mô – phạm” như sau:

“Trước nhất, xin được bắt đầu bằng một chút thông tin về quá trình lịch sử, như sau:

Giáo hội Chính Thống –ở Hy Lạp, Nga Sô, Lỗ-Má-Ni, vv- là các giáo hội đã tách rời Hội thánh Công giáo vào các thời điểm khác nhau. Đa số là vào năm 1054, nhưng giáo hội bạn vẫn có truyền thống duy trì chức thánh rất hiệu lực của các vị linh mục, bên đó. Chính vì thế, mà các bí tích như Truyền Chức thánh, Thêm Sức, Thánh Thể, vv vẫn được Giáo hội Công Giáo công nhận là có hiệu lực.

Tuy thế, điều này không có nghĩa là: người Công Giáo chúng ta có thể lĩnh nhận các phép bí tích từ Giáo hội Chính Thống, bất cứ lúc nào mình muốn, đâu. Bởi lẽ, giáo hội Chính thống không hiệp thông với Đức Thánh Cha và vì những người anh em bên ấy có nền thần học hơi khác với ta, về một số vấn đề. Vì vậy, mình cũng không nên có thói quen thường xuyên dự thánh lễ của Giáo hội họ. Đằng khác, tham dự như thế cũng không phải là đã chu toàn bổn phận ngày Chúa nhật. Bổn phận của mình, là tham dự thánh lễ theo nghi thức Công giáo, mới đúng.

Lại nữa, cũng tựa như trường hợp của một số giáo phái và tôn giáo, trong đó kể cả anh em Tin Lành, Do Thái, Hồi giáo, vv .. cũng chẳng có lý do để nói tại sao người Công Giáo mình lại không thể đôi lúc đến dự các nghi thức như: đám cưới, ma chay, rửa tội, vv.

Về vấn đề rước Mình Thánh ở nhà thờ Chính Thống, Giáo luật của ta có dạy rằng:

“Mỗi khi thấy thật sự cần thiết hoặc lòng trí thông minh cho biết làm như thế là có lợi về phần hồn, và nhất là không có gì nguy hiểm về sai lạc hoặc bị chủ nghĩa dửng dưng làm lung lạc đức tin, thì tín hữu Đức Kitô nào không có khả năng về thể lý hoặc luân lý để đến với thừa tác viên của đạo Công giáo được, thì theo luật cũng có thể lĩnh nhận các bí tích hòa giải, Thánh thể và sức dầu kẻ liệt từ các thừa tác viên nào không là người Công giáo và tại các giáo hội nào mà các phép Bí tích ấy có hiệu lực, cũng được.”

(Giáo luật số 844, câu 2).

Bổ túc thêm cho vấn đề này, huấn thị ban hành năm 1993 của tòa thánh Vatican về Đại Kết, còn nói rõ:

“Do bởi, có sự khác biệt về hành đạo giữa Công giáo với các người anh em Kitô hữu Đông Phương về việc thường xuyên rước Mình Thánh Chúa, xưng tội trước khi Rước lễ và chay tịnh để dự tiệc Thánh thể, cần phải thận trọng mà tránh những tai tiếng và nghi ngờ giữa các anh em Kitô-hữu Đông Phương xuyên qua việc người Công giáo không theo truyền thống Phương Đông. Anh chị em nào là Công giáo mà muốn có sự thông truyền đúng phép Đạo với các Kitô hữu ở Đông Phương, đều phải tuân theo kỷ luật của Phương Đông càng sát càng tốt. Mọi người phải cố gắng tự kềm chế việc thông truyền nào mà giáo hội hạn chế nhận lĩnh bí tích Hiệp thông Rước Chúa đặt ra cho thành viên của mình, ngoại trừ một số người khác.” (Gl số 124)

Còn về chuyện anh em bên Chính thống giáo muốn rước lễ theo nghi thức Công giáo thì điều kiện lại ít bị hạn chế hơn. Giáo luật số 844, câu 3 nói thêm:

Các thừa tác viên người Công giáo theo luật có thể trao các phép bí tích đền tội, Thánh thể và xức dầu thánh kẻ liệt cho thành viên của Giáo hội Đông Phương, không trọn vẹn như với Hội thánh Công giáo, nếu họ tự bộc phát yêu cầu các vị này và nếu các người này ở trong tình trạng sẵn sàng“. “Trong tình trạng sẵn sàng”, đặc biệt có nghĩa là các vị ấy phải ở trong tình trạng được ơn đặc sủng.

Chẳng hạn, người Công giáo nào có người phối ngẫu theo đạo Chính Thống mà đến dự thánh lễ tại nhà thờ Công giáo, người này vẫn được phép rước Mình Thánh như thường. Huấn thị năm 1993 của tòa thánh về Đại Kết có đưa ra một ghi chú cảnh giác nói rõ: cần thẩm định cho thích đáng khi thi hành luật của giáo hội Đông Phương đối với tín hữu của họ; và, cũng nên cẩn thận để tránh mọi đề nghị qui y nhập giáo đạo.” (s. 125)

Trong hành trình “ấy là kể chuyện”, có nhiều chuyện kể nghe qua tưởng cũng đơn giản như kể chuyện. Nhưng, có những chuyện mới nghe tưởng chừng như dễ có thái độ “nghe qua rồi bỏ”; nhưng khi nhập rồi, mới thấy không phải chuyện dễ.

Cuối cùng ở đời thường, tham gia nhập cuộc bất cứ chuyện kể nào cũng thế, không phải bao giờ cũng có thể “nghe qua rồi bỏ”, cách đơn giản. Nhưng, là: nghe rồi vẫn muốn nhập cuộc, để được kể. Và, khi kể vẫn có người muốn nghe. Vì có người nghe nên vẫn muốn kể. Vẫn muốn nhập cuộc. Nhập cuộc nào, rồi cũng thế. Vẫn, “ấy là kể chuyện”.

Trần Ngọc Mười Hai

nhiều lúc muốn thôi không kể nữa,

mà chỉ muốn nhập cuộc “ấy là kể chuyện”, thôi.

§30 – DẪU CÓ RA SAO CỨ HY VỌNG

(Mt 8: 20)

Vào những buổi liên hoan tại gia, mà có bạn còn gọi là Khi-li-khi-tô (hoặc khi thì ly khi thì tô), nhiều bạn vẫn cứ hất đầu, hỏi nhau: thế nào, đã mua được nhà mới chưa? Vì các cụ nhà ta vẫn nói: có an cư mới lạc nghiệp. Có bạn còn theo lập trường của người Tây người Mỹ chỉ muốn vui hưởng cuộc đời, mình đang sống. Chẳng tội vạ gì nai lưng ra mà cày với bừa để rồi mang nợ, suốt đời. Không kịp hưởng nhàn. Phải thế không, nhỉ ?

Mỗi lần thảo luận về công ăn việc làm, người người thường nói đến chữ “nhàn”. Chẳng hạn, như một lời hỏi han xem công việc bạn làm có nhàn lắm không? Thực tế hôm nay, kiếm được công việc nhàn hạ chưa chắc đã dễ. Nói tóm, nhàn và an cư vẫn là đề tài lớn, ở mọi thời đại. Ai đạt được cả hai thứ,chắc chắn sẽ được coi như “đã có chút gì với đời”.

Từ dạo ê a ba câu “sách phần”, bần đạo cũng nghe nhiều cụm từ, như “Do Thái lang thang”, hoặc “có an cư mới lạc nghiệp”… Xin thưa ngay, rằng: lúc ấy bần đạo còn quá nhỏ để có một ý niệm đúng thế nào là “lang thang”; và, cỡ nào thì gọi được là “an và nhàn”. Nhìn tháng ngày trôi qua, bần đạo cũng như bạn bè được diễm phúc tạm dung nơi xứ người, thấy mình tuy có khá hơn người “Do Thái lang thang”, nhưng cũng chưa gọi được là an cư, ổn định. Nói gì đến “lạc nghiệp”. Nay, xin mạn phép phiếm về chữ an và nhàn trong Đạo. Ngoài đời.

Nhớ lời Thầy Chí Thánh nhắn nhủ “Môn đệ sẽ không hơn Thầy”, bần đạo dám có nhận xét rằng: khi xưa Thầy Chí Thánh từng nói với dân con đi theo bước chân hiền của Chúa, có đôi ba thắc mắc về nơi ăn chốn ở của Thầy, thì được Thầy trả lời:

“Chồn có hang, chim trời có tổ,

chứ Con Người không có chỗ ngả đầu”

(Mt 8, 20).

Không có chỗ ngả đầu, chẳng phải là trạng huống những gọi là “đầu ôm tay ấp” của một số người nào đó. Nhưng, cụm từ này cũng nói lên phần nào tình trạng rày đây mai đó, rất ư là chưa ổn của Đức Kitô. Kinh nghiệm “rày đây mai đó” ấy, Đức Chúa đã có ngay từ buổi đầu, khi Ngài lọt lòng Mẹ:

“Đến buổi lâm bồn, và bà đã sinh con đầu lòng,

và lấy tã vấn con và đặt nằm trong máng cỏ,

bởi vì không có chỗ cho ông bà trong quán trọ” (Lc 2, 7 )

Xem như thế, rõ ràng thánh Luca đã xác định: ngay từ lúc khởi sự cuộc đời dưới thế trần của Ngài, Đấng Cứu Độ loài người đã “không có phòng để ở trọ”.

Vâng. Vấn đề là như thế. Nhà trọ, nơi tạm trú trong lúc “loạn” và “lạc” do người phàm tạo ra, mà đến Người Con của Đức Chúa, Đấng tạo mái ấm cơ ngơi cho mọi người, cũng không có tấm mái phủ trên đầu, để nghỉ. Điều này còn có nghĩa: Đức Chúa xuống thế làm người đã có kinh nghiệm từng trải về sự bất an, ngay đầu đời. Rồi khi, khởi sự cuộc đời rao giảng, Ngài cũng lại “không có chỗ ngả đầu”. Chỗ ngả đầu, không hiểu theo nghĩa vật chất, nhưng theo nghĩa siêu hình, nữa. Như, thánh Matthêu viết:

“Ai là Mẹ Ta?

Và ai là anh em Ta?

Và, giăng tay chỉ các môn đồ của Ngài, Ngài nói

Này là Mẹ Ta và anh em Ta. Phàm ai làm theo ý Cha Ta,

Đấng ngự trên trời, thì kẻ ấy là anh em và là Mẹ Ta”

(Mt 12: 48-49)

Dựa trên những điều thánh Luca ghi lại, thì: ngay từ thưở đầu đời Đức Chúa đã ở trong tình trạng tạm bợ, bất ổn. Như vậy, cuộc đời rao truyền ơn cứu độ của Đức Kitô chẳng thể là cuộc sống “an cư và lạc nghiệp”.

Và như thế, ta không tài nào hiểu được “nghiệp rao giảng” của Đức Chúa, là Đấng cứu độ loài người, theo nhận thức của người thường, là nghiệp “an bình và lạc quan”. Lại nữa, nếu quan niệm “xem quả biết cây” là đúng, thì ta thấy: cuộc đời của Ngài ở dưới thế sẽ chẳng “an lạc” như cái nhìn của thế nhân, nếu như người người không “thuận theo ý Cha, Đấng ngự trên trời”.

Thế thì, điểm khác biệt giữa quan niệm dân gian ngoài đời và ý niệm của dân con nhà Đạo, quả là rõ nét. Cứ sự thường, người đời chỉ tìm những gì nhàn hạ, dễ ăn, để rồi sẽ “an cư/lạc nghiệp, tha hồ mà thưởng lãm. Trong khi với Đức Chúa, Ngài lại chọn con đường khổ đau/bất ổn, để rồi, Ngài sẽ chuyển đổi tất cả theo thánh ý của Cha, mà thôi. Dầu gì đi nữa, Ngài chính là Đường, Sự Thật và Ánh sáng cho muôn dân.

Nhìn từ góc cạnh khác, phải nói: “an cư/lạc nghiệp” với con dân nhà Đạo, là biết đặt mình vào Đường, Sự Thật và Sự Sáng của Đấng đã dạy mình hoán cải chuyển đổi, cả ngàn năm trước. Bao lâu ta cứ đứng xa xa mà nhìn hoặc vẫn chọn đứng ở bên ngoài Con Đường, Sự Thật và Sự Sáng ấy, thì chẳng bao giờ đạt sự “an” bình – hoan “lạc”, như đã nói. Dù ở mức tối thiểu. An bình – hoan lạc, là chuyện phải đạt cho bằng được. Dù ta ở trong tình trạng tồi tệ, chưa ổn hay bất định thế nào đi nữa.

Để minh họa cho tình trạng tương đối an bình và hoan lạc thời ta sống, tưởng cũng nên kể cho nhau nghe những câu truyện trong huyện ngoài làng, có sức dẫn dụ hoặc nhắc nhở, như ở trên. Dưới đây là truyện kể ngắn gọn, như sau:

Có hai người đàn ông mang bệnh ngặt nghèo được nhập viện, để chữa trị. Họ được cho ở tạm nơi phòng hồi sức. Một trong hai bệnh nhân ấy, được bác sĩ đề nghị là mỗi ngày cứ chiều chiều phải ngồi ít nhất một tiếng đồng hồ để cho nước ở buồng phổi có thể thoát xuống phía dưới lồng ngực. Điều rất may, là: ông được chỉ định nằm sát bên cửa sổ phòng bệnh. Tức, chiếc cửa độc nhất dọc theo bờ tường. Và khi ngồi như thế, ông có thể hướng ra phía bên ngoài để thưởng lãm cảnh an lạc, nhàn hạ.

Bệnh nhân kia, bệnh tình có vẻ như bị nặng hơn, phải nằm suốt trên chiếc giường đơn độc kê bên trong, xa cửa sổ. Thành thử ông ta không thể nhìn thấy những gì xảy ra với thế giới bên ngoài.

Mỗi ngày, hai vị đồng cảnh nói chuyện với nhau hằng giờ mà không biết chán. Họ bàn với nhau về đủ mọi thứ trên đời. Từ chuyện trên trời, dưới biển, đến chuyện vợ con gia đình, nhà cửa công ăn việc làm, nghĩa vụ lẫn bổn phận công dân, tôn giáo, thôi thì đủ cả. Không đề tài nào lại không được bàn qua, hệt như hồi còn trà dư tử hậu.

Chiều chiều, người bệnh ở phía cửa sổ vẫn phải ngồi dậy hít thở làm theo lời thầy thuốc căn dặn. Ông giết thời giờ bằng cách quay đầu về phía cửa sổ. Để lòng mình “lang thang” theo trời, trăng mây nước. Rồi, kể lại cho bạn đồng cảnh, không được diễm phúc thưởng ngoạn như mình, nghe biết. Người bạn nằm cạnh, cứ thế nhắm nghiền mắt lại, lắng nghe kể từng chi tiết và từng chi tiết. Cho đến khi giọng người kể nhỏ lại vì thấm mệt.

Trong khoảnh khắc ít nhất một tiếng mỗi ngày, cả hai người bệnh được trở lại sinh hoạt với thế giới lành lặn – an lạc, bên ngoài. Qua sự miêu tả của bạn, ông bệnh nhân nằm bên trong cũng được thấy như diễn trước mắt trước mắt những gì đẹp đẽ, nên thơ trên cõi đời, vì căn phòng bệnh viện quay về công viên có hồ nước êm ắng, tọa lạc sát ngay bên. Cạnh hồ nước, còn có các chú vịt trời lặng lẽ rẽ nước, tung tăng bơi lội.

Xa xa, bày trẻ nhỏ vui chơi nô đùa chạy nhảy, thật đẹp mắt. Chúng chạy theo mấy chiếc thuyền giấy nổi trôi trên mặt hồ lặng lẽ. Lâu lâu, lại thấy điểm thêm một vài cặp tình nhân thơ thẩn thả bộ bên bờ nước ngập tràn ánh nắng chói chang, nhiều mầu sắc. Bên cạnh đó, đậm nét chấm phá là hai hàng cây cổ thụ rợp những bóng râm, làm điểm hẹn cho các bậc cao niên đang nhẹ nhàng đi đường quyền Thái Cực.

Xa hơn chút nữa, là chốn phồn hoa đô hội. Ở nơi đó, thấy chen chúc những căn nhà chọc trời sừng sững. Và, người bệnh nằm phía trong tường, chẳng bao giờ có được diễm phúc thưởng ngoạn cảnh trí thơ mộng, nhàn hạ như thế. Nhưng, ông vẫn nhắm mắt thả hồn men theo lời kể của bạn đồng cảnh với mình, tưởng tượng ra bức tranh linh động, mà ông vẫn tiếc là đã không chịu tận hưởng, vào thời còn trai trẻ.

Một hôm, được kể về đoàn người diễu hành ngang qua công viên xinh đẹp, ông bạn nằm phía trong, tuy không nghe được tiếng nhạc quân hành rộn rã, nhưng cũng mường tượng ra cảnh ồn ào sinh động bằng lỗ tai tinh thần, qua lối diễn tả rất bay bướm của người đồng cảnh tốt bụng.

Ngày tháng trôi qua. Vào buổi sáng trời buồn, người y tá mang nước ấm vào phòng cho bệnh nhân rửa ráy, mới khám phá ra rằng người bệnh nằm sát cửa sổ bấy lâu nay không thở nữa, đã ra đi từ bao giờ. Và, người chết được lẹ làng chuyển đi nơi khác. Để tranh thủ, bệnh nhân nằm giường trong bèn vội vàng xin phép dời qua phía cạnh cửa sổ, cho nhàn hạ hơn. Cô y tá trưởng bằng lòng. Mọi người làm động tác chuyển giường.

Hôm ấy, chờ đến lúc mọi người đi khỏi, một mình một phòng, bệnh nhân còn lại mới từ từ cố gắng cựa quậy, nhích lại gần khung cửa sổ. Kê vai lên thành trì của thế giới mà ông từng kết thành mộng đẹp, khi nghe kể. Ông chuẩn bị thưởng thức cảnh thần tiên lâu ngày không được chính mắt thưởng lãm. Nhưng hởi ôi! Ông nào thấy gì. Trên dưới, chỉ sừng sững bức tường trắng phếu cao vòi vọi, chắn ngang tầm nhìn qua khung cửa sổ.

Mấy bữa sau, dọ hỏi người y tá: sao bạn đồng cảnh của ông lại có thể tả được cảnh trí tuyệt với bên ngoài khung cửa ngỏ, đẹp như thế. Và, người nữ hộ tá nhẹ nhàng đáp gọn: bạn của ông mù hết hai con mắt, bức tường mầu trắng còn chẳng thấy, thấy được gì ở thế giới bên ngoài… Có chăng, chỉ là những câu truyện đẹp kể cho ông nghe để ông có được những tháng ngày an nhàn trong hoàn cảnh đau ốm bệnh tật, thế thôi. Nghe xong, người bệnh nhân còn lại: lặng người, chỉ biết nằm hồi tưởng những giây phút tuyệt vời mà ông được hưởng, qua lời kể của vị đồng cảnh tốt bụng.

o0o

Vâng. Truyện kể chỉ có thế. Nhưng, nếu chỉ là như thế, thì có lẽ cũng mang nhiều thiếu xót, từ phía người kể. Thiếu cả lời bàn “Mao Tôn Cương”, rất quan trọng. Và, lời bàn hôm nay vẫn là chuyện: người bệnh mù lòa tuy ở hoàn cảnh sức khỏe rất tồi tệ, ông vẫn cố gắng đem lại niềm vui và hy vọng cho ông bạn đồng cảnh ngộ, cùng phòng.

Thế mới biết, dù hoàn cảnh hôm nay sẽ ra sao. Có tồi tệ, bi đát đến thế nào đi nữa, thì cuộc đời con người mình, vẫn cứ như thế. Vẫn đẹp như mộng và mơ.

Và, lời cuối hôm nay, là: nếu bạn và tôi muốn thưởng lãm sự an cư rất lạc nghiệp cũng như mọi nhàn nhã khác, hãy nghĩ đến những gì mình không thể tạo được bằng tiền tài, vật chất. Bởi, an (nhàn và hoan) lạc chính là món quà tặng không, biếu không của Ơn Trên. Ngài hằng cúi xuống đoái nhìn bọn chúng ta, những người mình ở huyện.

Nói cho cùng, thì chuyện “an” và “lạc” trao ban cho dân thường ở huyện, vẫn là nhã ý gửi đến do lòng nhân từ thương xót của Đức Chúa. Nói cách khác, nếu Đức Chúa không thương yêu loài bất tài vô dụng là chúng ta, thì con dân người phàm dù có tiền rừng bạc biển, dù đang ung dung hưởng thụ với dinh thự cao sang như Tòa Bạch Ốc, Điện Cẩm Linh hoặc Lâu đài Windsor Castle… cũng chẳng thể nào có được cái nghiệp rất “lạc” để mà rong ruổi tìm kiếm, rất an cư.

Thành thử hôm nay, sau khi đã rong ruổi với câu chuyện rất “phiếm” ở trên, cũng nên trở lại với thực tế hằng ngày mà có nhận định rất chung chung, rằng: chẳng cứ gì phải “an cư mới lạc nghiệp”. Mà là, bao lâu ta không đặt mình vào chính sự “bình an” của Đức Chúa, cũng chẳng thể nào có được cái nghiệp rất “lạc”, Ngài tặng ban. Ngài vẫn tặng ban cho những kẻ ở “dưới đất mà Ngài đoái thương” (Lc 2: 14)

Trần Ngọc Mười Hai

chẳng trông mong chữ nhàn

nếu không biết lan man

tìm kiếm Chúa

§31 – NHỮNG ĐIỀU TRÔNG THẤY, CÓ ĐAU ĐỚN LÒNG?

(Lc 21: 5-36)

Văn chương người đời, tự ngàn xưa, vẫn mang một nhận định rất rõ nét:

“Trải qua một cuộc bể dâu,

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.” (Nguyễn Du- Kiều)

Ngôn ngữ nhà Đạo, bấy lâu nay, cũng còn ghi nhận về các khổ đau của con người. Nhưng, nhà Đạo không đổ lỗi ấy cuộc bể dâu, kéo dài trong cuộc sống. Dân con nhà Đạo lâu nay vẫn nghe những lời dặn dò, sau đây:

“Hãy tỉnh thức luôn,

cầu nguyện xin cho có sức tránh thoát

mọi điều sắp xảy đến,

và được đứng vững trước mặt con Người.”

(Lc 21: 36)

“Bể dâu”, “đau đớn”, “thấy việc này xảy đến”, vv.. đều là những nhận định về các sự thật đang xảy đến từng ngày, từng giây phút trong cuộc bể dâu, những một đời người. Có người gọi đó là tai ương, kẻ lại bảo ấy là sự dữ, khổ ác… Có gọi thế nào đi nữa, khi đã chịu những đớn đau nơi xác phàm, thì người người cũng đều đi tìm nguyên do; ngõ hầu đạt đến giải pháp nào đó khả dĩ giúp mình tránh xa các nguyên do ấy, hoặc làm thế nào cho nhẹ bớt những ma xát, va chạm do sữ dữ/khổ ác đã “làm đau đớn lòng”.

Đã làm người, thì hầu như ai cũng đã từng một lần có những cảm nghiệm như thế. Người bi quan cho đó là hình phạt Chúa gửi. Là bởi vì con người quá ư là tội lỗi. Cũng tựa như truyện dân thành Sô-đô-ma và Gô-mo-ra. Lạc quan hơn, người khác sẽ ghi nhận rằng đây chỉ là dấu hiệu minh chứng con người có tự do, thế thôi. Ở Pháp, từ các thế kỷ trước, văn hào Blaise Pascal đã từng sống kinh qua biết bao là trái khoáy của cuộc đời, nhưng ông vẫn quả quyết: “Ân huệ! Ân huệ! Tất cả đều ân huệ.”

Thành thử, hôm nay nếu bạn mình, tức bạn và mình mà có những màn luận phiếm loanh quanh, hoặc tài lanh “đi dăm phút đã về chốn cũ”, âu cũng để nhận rõ đâu là lý lẽ đích thực của vấn đề. Dẫn nhập lòng vòng là cốt để tỏ bày một phản ứng rất hăng của bạn bè đây đó khi gặp thấy những chuyện bất ưng giữa dọc đường, mà vui câu chuyện phiếm rất Đạo và đời, hôm nay. Không phiếm sao được, khi hôm trước cứ phải nghe và biết những giòng chảy, như ri:

“Có lẽ từ cơn hải chấn kinh khiếp nhất trong lịch sử nhân loại đổ ập những ngọn sóng thần và cuốn ra đại dương sâu hàng trăm ngàn người rạng sáng Chúa nhật 26.12.2004, Giáng Sinh năm nay đã như có một chút gì khác khác. Ruột gan như thắt lại khi nghĩ đến những người dân cùng khổ ở Sri Lanka, Aceh và những du khách ở Phuket và Maldives – những mục đồng và những Ba Vua thời đại – đã dâng chính thân xác mình, thay vì vàng, nhũ hương và mộc dược, cho Chúa Hài Nhi.

Và câu hỏi như gậm nhấm trên môi miệng và trong tim óc mỗi một người là tại sao Thiên Chúa lại có thể để cho thiên tai kinh hãi kia xảy đến chỉ sau ngày kỷ niệm Con Người giáng trần? Tại sao những kẻ cùng khốn trên phần đất rất khô cằn này của thế giới lại phải gánh chịu những ngọn sóng bạc đầu khủng khiếp nhất lịch sử con người? Tại sao? Tại sao?”

(suy niệm lời Chúa trên tờ Niềm Tin ở Úc, 01/01/06)

Và, ở trang sau, đấng bậc nói trên đi đến kết luận, như sau:

“Trong tột cùng đau đớn, con người mới biết trân quý yêu thương và sẽ chia cho nhau hạnh phúc. Qua những mất mát biển trời kia, nhân loại mới hiểu được trái đất này đã không còn biên giới nữa. Hãy bắt đầu năm mới với một tinh thần mới: tuyệt đối phó thác vào Thiên Chúa và phải luôn gắng nhìn vũ trụ qua đôi mắt của chính Đấng Tạo Thành.” (suy niệm bđd)

Trích lại lời lẽ những suy và tụng niệm này, cũng chỉ để gọi là phiếm có sách, thế thôi. Chứ chẳng vì mục đích gì khác. Phiếm về chuyện Đạo, lạo xạo chuyện đời, cũng chỉ để gọi là phiếm cho vui và để hỏi người xưa cũng như bầu bạn hôm nay xem quả quyết trên của văn hào người Pháp có nên áp dụng vào những tai ương không? Hoặc, tai ương có là ân huệ hay không, thôi.

Trước khi đi xa hơn vào chi tiết, nào bạn mình hãy cùng bạn ta lướt qua một chút ý kiến cũng của một trong các đấng bậc học giả Kinh thư, Kinh thánh như sau:

*(Chúa Yêsu) đã nghe đến những phán đoán giản lược và cổ truyền của các người đồng thời về đau khổ: họ thấy đó là một phần phạt (Yn 9: 2-34..),

*công việc của quỷ (Mc 9:17).

*Chúa Yêsu cũng có dùng kiểu nói bình dân đó: Ngài nói đến “thần câm điếc” (Mc 9:25),

*nữ tử Abraham bị Satan cột trói (Lc 13:16).

Nhưng ngài thấy sâu hơn. Ngài kháng lại kiểu hiểu quá giản lược coi mọi sự dữ như hình phạt tội này tội khác (Lc 13:1-5, Yn 9:3) đích xác nơi cá nhân. Ngài không dửng dưng trước đau khổ. Ngài dùng quyền năng mà diệt trừ đau khổ: các phép lạ chữa lành của Ngài. Khi thì (và thường là như thế), Ngài tránh làm náo nức trong dân chúng (Mc 5: 38-43; 7: 32-36; 8: 22-26). Khi thì, phép lạ không có tính cách một dấu (hiệu) cho bằng một cử chỉ kín đáo của lòng nhân từ chạnh thương, phản ứng hồn nhiên của lòng Ngài đối với những khổ cực của người xung quanh”. …

…Ngài lại kháng cự lại với đau khổ vừa đủ để dạy đừng thản nhiên lười biếng trước đau khổ của đồng loại, để lên án sư ươn ái ngại ngùng của hạng người ích kỷ. Nhưng thực sự, nỗ lực của Ngài nhắm đến một sư dữ khác: trầm trọng nguy khốn hơn đau khổ trần gian. Đó chính là tội lỗi…” (Lm Nguyễn Thế Thuấn, Sách thánh và Mặc khải cứu rỗi, tr. 137-138)

Xem như thế, đau khổ trần gian luôn đi kèm với tình trạng sai phạm, tội lỗi. Đi kèm không có nghĩa là nguyên nhân hay hậu quả. Đi kèm là thực tế xảy ra trong cuộc đời con người. Sự hiện hữu của khổ đau cũng là hiện hữu của sơ xuất, ngã phạm.

Trên đây là ý kiến của các đấng bậc.

Nay, xem thử lập trường của cựu đấng bậc được xếp vào bậc thày về tâm lý học-phân tâm của trường Đại học Sorbonne, bên Pháp, tác giả cuốn “Chủ Nhật Hồng Giữa Mùa Tím”. Trước tiên là lời đề bạt ở trang sau:

“…nội dung cuốn sách (“Chủ nhật Hồng giữa Mùa Tím”) nói về niềm vui và hy vọng nơi tình thương Chúa ngay giữa những tội lỗi và vấn đề của thân phận con người. (Trần Phong Vũ – lời bạt trên sách)”

Và, lời mở đầu của chính tác giả:

“Mùa Chay là thời gian người tín hữu được kêu gọi phải nhìn thẳng vào cái phần sự dữ mang trong mình: tội lỗi, khổ đau và nỗi chết. Đồng thời, cũng phải đối diện với tất cả sữ dự trần gian mà Chúa Yêsu đã phải gánh hết, lãnh đủ cho chính mình Ngài, vì chúng ta và thay cho chúng ta. Tóm lại, “mừng vui lên” giữa lúc người tín hữu đứng trước tất cả nỗi bất hạnh của loài người và cuộc thụ nạn của Chúa Yêsu.” (Nguyễn Ngọc Lan, Chủ Nhật Hồng Giữa Mùa Tím, Cơ Sở Hy Vọng 2002 tr.173).

Tham khảo lập trường xong, nay vấn đề đặt ra không phải là: ai nhận định đúng, ai sai. Mà là, nên quan niệm thế nào về thiên tai, khổ ải. Đau thương ở trần gian đâu là lý do để ta “trân quý, hạnh phúc”. Sở dĩ, có đau thương là vì có Đấng tạo tự do cho con người, là Đức Chúa của sự vui mừng, sung sướng cũng từng chịu cảnh khổ đau như con người. Với con người và cho con người. Ngài đã làm người như ta. Và, khi chấp nhận làm người, Ngài chấp nhận luôn cả khổ đau, tai ương cùng với “niềm vui-tuy-vậy”. Niềm vui của Nước Chúa đang ở với những người đau khổ vào mọi thời. Ở mọi nơi. Chứ không chỉ mỗi Tsunami, không chỉ ở Phuket, Maldives, Aceh, hoặc đâu đó.

Cuối cùng, cũng nên nghe thêm ý kiến của những kẻ tưởng như là không có ý kiến gì về các tai ương, đau khổ. Như giòng chảy tư tưởng, những giòng bên dưới là của một bé em 8 tuổi, em tên là Danny Dutton sống tại California, Hoa Kỳ:

“Một trong các công việc chính của Chúa là tạo đúc nên người lớn. Làm như vậy, Chúa thay thế bà con của mình đã chết mất từ bao giờ. Chúa có làm như thế, Ngài mới đủ sức chăm nom cho cả người lớn và những con thú trên trái đất. Dường như Chúa không đúc ra người lớn ngay từ đầu; mà đầu tiên mới chỉ con nít, thôi. Sở dĩ có chuyện ấy, là vì nếu đúc ra toàn là người lớn, chắc là Chúa sẽ phải thổi hết mất hơi thở của Ngài vào mấy cục đất sét Ngài đã nặn. Thổi hơi vào trẻ con ít tốn hơi hơn. Chế biến ra con người theo cách này, Chúa không tốn kém thì giờ bao nhiêu. Phần lớn thì giờ Chúa bỏ ra, là chỉ bảo cho mọi người học ăn học nói và hoặc cách đi đứng, chạy nhảy cùng nô đùa, mà thôi. Ngài chỉ có lo mỗi một việc là chỉ cách rồi trao việc ấy cho ba má mấy đứa nhỏ khi đúc ra nó là xong. Ngài khỏi lo nghĩ nhiều thứ làm chi cho mất thời gian.

Công tác thứ hai Chúa vẫn làm là: lắng tai nghe mọi người cầu xin các ơn lành Ngài vẫn ban. Về mấy vụ này, vẫn có nhiều người lớn và trẻ em còn thích làm lắm. Người lớn thì như mấy ông cha ở nhà thờ cứ leo lên bục mà giảng đạo. Còn con nít thì quý gối ở bên cạnh giường ngủ, vào mỗi đêm trước khi ngủ. mấy đứa con nít thì có nói lớn nói nhỏ gì, Chúa đều nghe thấy hết.

Dường như Chúa không có thì giờ để nghe đài hoặc xem truyền hình gì hết. Vì mấy người trên đài cứ lải nhải cầu xin hoài thôi. Mà Đức Chúa, Ngài có đôi tai rất thính. Ngài cứ nghe mãi vẫn không thấy chán. Dù tai của Chúa có đầy ứ những lời cầu nguyện với cầu kinh, thì tất cả cũng toàn là chuyện xin không à. Người lớn, người nào cũng chỉ biết có xin và xin thôi. Bởi thế, Chúa mới tìm cách tắt mấy cái đài mà lúc nào người ta cứ xin đủ thứ chuyện.

Chúa thấy hết mọi chuyện. Ngài nghe và hiểu mọi thứ tiếng. Chúa ở khắp nơi, nên Chúa có nhiều người cầu xin Ngài. Vì vậy nên Ngài rất là bận rộn. Vì vậy, đừng làm mất thì giờ của Chúa. Khi nào đến xin ba má không được, rồi hãy xin Chúa.

Người nào không tin vào Chúa thì mình gọi họ là dân ngọai đạo. Chắc là, ở California này không có nhiều người như thế. Vì cho đến hôm nay vẫn có nhiều người đi nhà thờ mà cầu xin với Chúa Yêsu là Con của Đức Chúa Cha. Chúa Yêsu tốt lắm. Chúa làm đủ mọi thứ việc nặng nhọc. Ngài biết đi trên nước này, biết làm phép lạ, Ngài còn dạy những người nào không chịu nghe lời Ngài nữa đó. Về sau, những người này bắt đầu thấy chán nghe chuyện Chúa nói, nên mới đóng đinh Chúa vào thánh giá ở trên cao mút chỉ ấy. Nhưng Chúa rất tốt bụng. Ngài rất có lòng thương người giống như Chúa Cha vậy. Chúa nói với Cha của Chúa là những người đó chán nản quá nên mới đóng đinh chân tay Chúa vào thánh giá, đó chứ. Hình như mấy người này không biết là mình đang làm những việc gì; bởi thế, Chúa mới kêu gọi Cha của Chúa bỏ qua cho họ. Thế là Cha của Chúa bảo: được, Cha sẽ tha tội cho họ.

Cha của Chúa rất bằng lòng về những việc Chúa làm cho mọi người trên trái đất. Vì thế cho nên, Chúa Cha mới bảo Chúa Giê-su thôi đừng có đi ra ngoài ấy. Cứ ở trên thiên đàng này thì không có sao. Chúa Giê-su mới vâng lời Đức Chúa Cha mà làm như vậy. Bây giờ thì Chúa Giê-su đang gặp Chúa Cha của mình. Chúa gặp Cha rồi thì Chúa mới chịu nghe lời những người đọc kinh cầu xin để xem có ai cần gì thì Chúa cho họ ngay. Chúa Giê-su không làm phiền Chúa Cha của Ngài đâu. Ngài cũng giống như người thư ký vậy. Như thế nghĩa là Chúa Cha chỉ làm những chuyện quan trọng mà thôi.

Thành ra, mình cứ cầu xin bất cứ việc gì mình muốn cầu. Chắc chắn Chúa sẽ làm ngay thôi. Vì Đức Chúa Cha và Chúa Giê-su đã chia phiên với nhau để nghe mọi người họ cầu xin rồi.

Người nào chưa được Chúa ban ơn cho, thì đừng có mà bỏ nhà thờ đi tìm chỗ vui chơi sung sướng này khác. Làm như thế là sai đó. Giống như là mặt trời chỉ hiện ra ở ngoài bãi biển cho đến trưa, mà thôi. Đúng là như thế rồi.

Ai mà không tin vào Chúa tất nhiên người đó là người ngoại rồi. Và chắc chắn là người ngoại sẽ phải cô đơn ghê lắm. Vì mỗi lần khi nào mình thấy cô đơn hay sợ điều gì, là Chúa đến với mình ngay ở bên cạnh. Chúa đến vào lúc mặt trời còn sáng một chút, Chúa cũng đến vào ban đêm khi mọi người tắt đèn đi ngủ. Nếu bạn không biết bơi cũng đừng có lo. Có lúc mình bị bọn nhóc quăng xuống chỗ nước sâu, mà có sao đâu. Chúa đến cứu ngay mà.

Tuy vậy, cũng đừng nghĩ là Chúa sẽ làm gì thêm cho mình. Chúa cứ để mình sống ở đây một thời gian; nhiều lúc cũng bị đau chỗ này một chút chỗ khác một chút, rồi cũng hết. Mai mốt Chúa sẽ lại đem mình về với Ngài. Chúa dắt mình đi đâu, đem vào lúc nào, ai mà biết. Hình như ai cũng tin là Chúa sẽ làm như thế; và Ngài cũng chẳng có báo trước đâu. Có như vậy người ta mới gọi Ngài là Chúa chứ bộ. Thôi, nếu ai buồn phiền chuyện gì thì cứ cầu xin là Chúa cho hết buồn liền.

Dĩ nhiên, câu chuyện ở trên chỉ là chuyện của con trẻ. Nhưng, con trẻ cũng có lý lẽ của chúng. Chí ít, là những người lớn con, nhưng đầu óc vẫn còn non trẻ. Trẻ theo nghĩa không chịu già. Cũng chẳng muốn làm người chững chạc, đứng đắn. Chững chạc trong nhận định. Đứng đắn trong thái độ sống. Và cả thái độ tin tưởng, yêu mến như Ngài đã yêu mến mọi người. Nên chăng, gọi các ngài là “những vị kinh …sư rất thánh” như trong Tin Mừng không?

Và, nhận định của các đấng bậc này, có đáng ta để tâm hay không?

Trần Ngọc Mười Hai

vẫn hỏi để mà hỏi.

§32 – NGHÈO VÀ CÁI EO

(Mt 5: 3)

Xưa nay, các cụ nhà ta thường có thói quen hay ví von lẩm cẩm. Lắm lúc, còn dặm chêm đôi ba câu sáo ngữ để diễn tả các tình huống khác nhau trong cuộc sống thường nhật. Một trong các câu ví mà người người thoạt nghe có vẻ xuôi tai; nhưng nghĩ lại, chẳng thấy thuận nhĩ chút nào. Đó là cụm từ “đã nghèo lại phải cái eo”.

NGHÈO và EO, quả là hai đặc thù tương đối giản đơn và hợp vận, thường được dùng để bày tỏ một nhân sinh quan không mấy hấp dẫn về hai chữ Phúc-Họa, trong đời người. Quan niệm nhân sinh này thật ra không mấy phấn khởi; nên, vẫn được mọi người kêu gọi đề cao cảnh giác mỗi khi có ai gặp điều may-vận rủi, đều được nhắn nhủ: “Phúc bất trùng lai, hoạ vô đơn chí” (tức: cái may không đến hai lần, điều rủi không hẳn chỉ có thế).

NGHÈO: với văn chương bình dân

Họa-Phúc/Phúc-Họa, vỏn vẹn chỉ hai thanh âm biệt lập nhưng gói ghém toàn bộ cả một triết-thuyết nhị-nguyên, về cuộc đời. Đây là sự thật mà bất cứ ai có chút kinh nghiệm sống đều công nhận. Tuy nhiên, có một nhận định khác, hiển nhiên không kém phần tực tế, nhưng chẳng mang tính cách lạc quan chút nào hết; đó là, nhận định của rất nhiều người: “Giàu đâu chẳng thấy, nghèo ơi là nghèo…”

Nếu đánh vần, chữ “nghèo” theo lối đương đại như e..o = eo… ngờ …eo.. huyền = nghèo, hẳn ai cũng phải công nhận, rằng: “chữ nghèo liền với chữ eo một vần”. Xét cho cùng, “nghèo” với “eo” không chỉ tương quan “hợp vận” mà thôi; nhưng thực tế, “nghèo” thường dính liền với “eo” như hai mà một. Nó chợt đến chợt đi lúc nào cũng không biết. Lắm khi không ngờ.

Nghèo và eo dính liền và ăn sâu vào thân phận con người đến độ người nghèo không tài nào bỏ được cái “eo” tai hại ấy. Cái “ngờ..eo..huyền” đã khủng khiếp là thế mà ngôn ngữ dân gian còn dặm thêm đôi ba hình dung từ đặc biệt khác cốt để làm nổi bật tình trạng tối ư cùng cực của căn bệnh này, cho mọi người sợ, như: nghèo mạt rệp, nghèo cháy túi, nghèo rớt mồng tơi, nghèo kiết xác, vv và vv.

NGHÈO: qua thi văn hiện đại

Văn chương bình dân miêu tả cái “nghèo” đại loại là như thế. Nhưng, văn chương bác học còn nhận định “nghèo” một cách khác hẳn:

Đây, này một Nguyễn Công Trứ:

“Chẳng phải rằng ngây chẳng phải đần,

bởi vì nhà khó hóa bần thần”

(NCT – Cảnh Nghèo)

Và:

“quân tử lúc cùng thêm thẹn mặt,

anh hùng khi gắp cũng khoanh tay.”

(NCT-Cảnh nghèo).

Đó, kìa một Trần Tế Xương:

“Một tuồng rách rưới con như bố,

ba chữ nghêu ngao vợ chán chồng.”

(TTX – Mùa Nực Mặc Áo Bông)

Và rồi, một đấng đạo mạo như Nguyễn Du tiên sinh cũng đến phải than:

“Bắt phong trần phải phong trần,

cho thanh cao mới được phần thanh cao.”

(ND – Truyện Kiều)

Xét cho kỹ, có lẽ chẳng phải ai ai cũng đồng ý với tác giả Truyện Kiều về quan niệm phong trần hoặc nghèo khổ; coi đó như thứ định mệnh phũ phàng, không lối thoát. Trong khi, Nguyễn Công Trứ chỉ coi “nghèo” như một cơn bĩ cực hoàn toàn có tính cách giai đoạn, nhất thời:

“Còn trời còn đất còn non nước,

có lẽ ta đâu mãi thế này.”

(NCT – Than Nghèo)

Thậm chí, chán ngấy cảnh nheo nhóc, túng bấn như Trần Tế Xương mà cũng còn biết chúc người chúc mình như sau:

“Bắt chước ai ta chúc mấy lời,

Vua, quan, sĩ , thứ, người muôn nước

Sao được cho ra cái giống người.

(TTX – Chúc Xuân)

Trên đây là những mô tả hình thái không mấy hấp dẫn của người nghèo, cảnh nghèo. Những than và vịnh; kể lể những trạng huống nghèo nàn, cơ cực. Giờ đây, ta về với.

NGHÈO: theo quan niệm thần học kinh thánh

Thần học kinh thánh không những bàn luận sâu sắc về ý nghĩa chữ “nghèo” hoặc về người nghèo; mà còn, khẳng định rằng đó chính là trạng huống của cái gọi là PHÚC, chứ chẳng phải là HỌA như cả Đông lẫn Tây đều quan niệm.

Trong cả hai Cựu ước và Tân ước, có ít nhất 179 đoạn nói đến “nghèo” và tinh thần nghèo khó. Từ ban sơ, khi có ý định nhập thế, Thiên Chúa đã không chọn cảnh giàu sang phú quý để mang thân phận làm người. Nhưng, Ngài lại mặc lấy cho mình chính cái “nghèo”, tức: thân phận cơ cực nhất của loài người:

“Và, bà đã sinh con đầu lòng

và lấy tã vấn con

và đặt nằm trong máng cỏ

vì không có chỗ cho ông bà trong quán trọ.”

(Lc 2: 7)

Rồi, khi bắt đầu rao giảng về Nước Trời, mục tiêu của chương trình cứu độ, Đức Kitô đã tuyên bố Hiến Chương Nước Trời, qui chiếu vào chuyện “nghèo”. Nói cách khác, Ngài đem Tin Vui An Bình đến với người “nghèo” và trước nhất, chỉ với người “nghèo” mà thôi:

“Phúc cho những kẻ có tinh thần khó nghèo,

vì Nước Trời là của họ.”

(Mt 5: 3)

Thậm chí, toàn bộ lời rao giảng cũng chủ yếu hướng về mỗi người “nghèo”:

“Và, người nghèo khó

được nghe báo Tin Mừng.”

( 11: 5; Lc 7:22)

Và:

“Nếu ngươi muốn được trọn lành

thì hãy đi bán những gì ngươi có mà cho kẻ khó

và ngươi sẽ có một kho tàng trên trời.”

(Mt 19: 21; Mc 10:21; Lc 11:41)

Thêm vào đó, chính thánh Phaolô đã nhiều lần khẳng định:

“Đức Giê-su Kitô:

làm sao giàu có như Ngài mà,

vì anh chị em,

Ngài đã nên nghèo khó,

ngõ hầu anh chị em được nên giàu có

nhờ sự khó nghèo của Ngài.”

(2Cr 8:9)

Mặt khác, chính vị thánh “nghèo” như Phao lô vẫn thường nhắc nhở:

“Duy có điều này

là chúng ta hãy nhớ đến

những anh chị em nghèo khó,

một điều quả tôi đã quan tâm thi hành.”

(Ga 10)

Xem như thế, theo kinh thánh thì “nghèo” tuyệt nhiên không có nghĩa là thảm cảnh hoặc tình trạng đáng chê bai, nguyền rủa. Nhưng trái lại, đấy chính là tiên cảnh, là trạng huống phản ánh Nước Trời ở trần gian, nơi mà mọi người trong đó đều được Thiên Chúa chúc phúc, cũng như kề cận.

Người nghèo, từ đấy không còn là kẻ bị hắt hủi, bỏ bê mà chính là người của Chúa, người được Chúa đoái thương. Nhìn từ góc cạnh nào đó, có thể nói: “nghèo” không còn là trạng thái “mạt rệp”, “rớt mồng tơi”, “kiết xác” hoặc gì gì đi nữa. Mà, nghèo chính là người bạn tình của Thiên Chúa. Vì chính Chúa đã hạ sinh trong cảnh túng bấn, khó nghèo. Ngài đã sống một cách “nghèo” khổ và đã chết trong cảnh cơ cực.

NGHÈO: ấy chính là Hội thánh

Nghe theo và rập khuôn với Đức Giê-su nghèo, Hội thánh (tức, cả hệ cấp thần quyền lẫn các Kitô hữu) đều vẫn xác minh rằng: bản thân mình vốn “nghèo”, luôn đặt mình về phía người “nghèo”, sống cho hạng người “nghèo” và vì người “nghèo”. Lịch sử giáo hội Công giáo luôn sáng chói về điểm này. Mỗi trang, mỗi giòng trong giáo sử đều hàm ngụ những nét chấm phá nổi bật với tính chất “nghèo” và khổ.

Xưa nay, đã là Kitô hữu, thì dù có là cha hay con, mẹ hay chị, Đức Ông hay Đức thày, nhất nhất người người đều nghèo. Phải nghèo. Vui thú vì nghèo. Hãnh diện vì nghèo. Các vị tu sĩ, giáo sĩ, trợ sĩ, nữ tu đã và đang nhất mực duy trì tinh thần “nghèo” khó; coi đó, như một trong các mục tiêu/mục đích của cuộc sống tông đồ hoặc tu trì của mình. Nghĩa là, các vị nhất quyết sống “nghèo” để mở mang Nước Trời; tức, Vương Quốc của Chúa chẳng bao giờ giàu sang, hoặc xa hoa phung phí, hết

Thản hoặc, đây đó vẫn có nhiều người thường hay thắc mắc hỏi rằng: ngày nay không biết Hội thánh có còn là Hội thánh của người “nghèo” hay không? Hoặc: các giáo sĩ, tu sĩ, Kitô…sĩ có còn sống đời nghèo túng nữa chăng? Các dòng tu khắc khổ như: dòng Tiểu Đệ, Tiểu Muội Đức Giê-su, mà mục tiêu cao cả là chuyên lo mở rộng Nước Trời cho người “nghèo” khổ, sống như người nghèo, chung đụng với người nghèo, thì sứ vụ ấy có còn được triệt để áp dụng nữa không?

Ở các nước dư ăn dư mặc, hoặc không đến nỗi “nghèo” về vật chất lẫn tinh thần, thì tìm đâu ra người “nghèo”, kẻ khó để mà rao giảng? Để truyền đạo? Nay, để gợi giải đáp cho câu hỏi trên, thiết tưởng không gì bằng trích dẫn ở đây đôi ba đoạn Tin Mừng ngắn và gọn, như:

“vì chưng kẻ khó,

các ngươi vẫn luôn có với các ngươi..”

(Yn 12: 8)

Và:

“Thầy sẽ ở lại với các con

mọi ngày cho đến tận thế…”

(Mt 28: 20)

o0o

Vậy thì, hỡi các bạn tình “nghèo” của tôi, chính các bạn là hiện thân của Đức Kitô Đệ Nhất Khó Nghèo, các bạn hãy hãnh tiến phấn khởi hơn lên; vì, vinh quang Nước Trời thuộc về các bạn. Vì, tất cả giáo sĩ, tu sĩ cũng như Kitô …sĩ vẫn đang ở về phía các bạn, đấy!

Trần Ngọc Mười Hai

và đôi lời nhắn nhủ

gửi đến các bạn “nghèo”.

§33 – CÓ CHĂNG NỀN THẦN HỌC DỤC TÌNH ?

(1 Co 4: 15)

Trên đây là câu hỏi mà, vừa rồi, một số bạn trẻ đã đặt ra khi nghe tin Tổng Giáo Phận Los Angeles thuận trả số tiền nộp phạt $500 triệu đô la để bồi thường cho nạn nhân các vụ rối loạn tình dục trong giáo hội Mỹ. Thật ra, bần đạo chẳng có tư cách đề cập đến những đề tài lớn lao như thế. Tuy nhiên, vì câu hỏi có thể đặt ra cho mọi người, nên bần đạo tự mạn phép truy tầm tìm hiểu, để có lập trường vững chắc cho chính mình, trước các vấn nạn gửi đến từ nhiều nơi.

Nhận định trước tiên, là về dục và tình. Dục và tình xuất hiện từ lâu, trên đời. Dục và tình luôn đến với các động vật có sự sống. Chí ít, là “con” người. Là người, không ai tự hào rằng mình có thể thoát được cả dục lẫn tình. Với người đời, dục luôn đi đôi với tình. Có tình là có dục. Và ngược lại, có dục tức đã có tình.

Với nhà Đạo, cũng chẳng có gì khác lạ. Có khác chăng, là khi người nhà Đạo biết hy sinh dục tình để hướng thượng. Hướng tất cả vì lý tưởng nơi thượng giới. Hy sinh dục để cứu lấy tình. Thứ tình cao cả. Rất miên trường. Và, vì chưa nắm bắt trọn vẹn ý nghĩa cao cả của tình, nên nhiều vị đã tỏ ra khinh xuất. Rất sơ hở. Và coi thường. Lẽ đáng, phải đặt tình trên dục; nhưng thực tế, các vị đã để cho dục làm mất đi cái tình cao cả ấy. Đành tự xuống cấp và xuống thấp với thứ tình rất giai đoạn. Thứ “tình mình bây giờ”, hoặc bây giờ là tình của mình.

Tình trong giai đoạn có dục chi phối, chừng như đã bắt đầu từ lúc có cặp nam thanh nữ tú đầu tiên trong đời thường. Sách khởi nguyên kể về dục và tình đầu tiên, như sau:

“Về quả cây ở giữa vườn thì Thiên Chúa đã phán:

Các ngươi không được ăn,

Không được rờ đến kẻo phải chết”

(Kn 3: 3).

Và tiếp đó, sách thánh nói đôi chút về “tình mình bấy giờ” của cặp nam nữ đầu đời ấy:

“Và mắt cả hai đứa đã mở ra.

Và chúng biết là chúng trần truồng.

Chúng đã khâu lá vả làm khố cho mình”

(Kn 3: 7).

Chú giải các đoạn Cựu Ước nói trên, cố Giáo sư Kinh thánh Nguyễn Thế Thuấn có luận về dục tình/dục vọng như sau:

“Sự xấu hổ vì dục vọng nổi lên sẽ đem đến những đổ vỡ khác. Tội kéo vào trần gian phá cảnh an hoà của tạo thành”.

( Kinh thánh, Lm Nguyễn thế Thuấn 1976, t. 8).

Thật sự, khi diễn tả đời sống có tình, có dục của cặp “người đời” tiên khởi, tác giả Sách Khởi nguyên dùng ngôn ngữ và nhãn quan thời bấy giờ để khẳng định rằng: dục và tình của cặp nam nữ đầu đời, không chỉ muốn tiếm quyền của Yavê Thiên Chúa, ngõ hầu biết điều lành điều dữ, trên thế gian. Nhưng, là khát vọng của người đời, vào mọi thời. Khát vọng về dục, chứ không phải tình. Về tình, mà họ có với nhau. Tình, mà họ dành cho Yavê Thiên Chúa.

Nói khác đi, khát vọng về dục mà không có tình, hoặc về dục mạnh hơn tình, chỉ là thứ dục đầy nhục. Nhục dục. Dục, dầu gì đi nữa, tự nó không làm nên tội. Vì được tạo dựng để cho con người. Cùng với con người. Dục chỉ thành tội và nên tội, khi vượt mức ấn định. Vượt mức có tình. Trên tình. Nhất là Tình có với người đối tác. Tình với Đấng Ở trên. Bề Trên. Nơi thượng giới.

Từ lâu, nhà Đạo khắp nơi đã và mãi mãi đề cao Tình này. Các đấng bậc trong Hội thánh, xưa nay vẫn nhấn mạnh đến Tình này. Các ngài luôn nhắc dân con nhà Đạo hãy ghi nhớ thái độ phải có đối với thân xác, cả dục lẫn tình. Vì xác có dục và có tình, vẫn là chi thể của Đức Kitô. Là đền thờ của Thần Khí Chúa (1Cr 6: 15).

Để mọi người biết quan tâm đúng mức đến dục có tình, Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô Đệ Nhị nói nhiều về điều mà ngài gọi là “Thần học về Thân xác” (xem Pauline, Books & Media, 1997). Cụ thể là, trong 129 lần triều yết khác nhau mở ra cho đủ mọi thành phần dân Chúa trong cũng như ngoài nhà Đạo, từ tháng 9/1979 đến tháng 11/1984, Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô Đệ Nhị đã đề cập đến tình dục và đạo lý Đức Kitô theo nhãn giới thần học.

Qua suy nghĩ về sự khác biệt phái tính và niềm khát vọng giao hoan dục tình với người khác phái, ta khám phá ra thực chất sâu xa của con người. Rồi từ đó, ta đi sâu vào huyền nhiệm cao cả nơi sự kết hợp giữa Ba Ngôi Đức Chúa. Nếu sống đúng với thực chất của dục và tình, ta sẽ tìm ra ý nghĩa cao cả của chính sự sống. Một cuộc sống theo đúng nghĩa tận cùng của nó.

Nói nôm na, có thể bảo rằng: điều mà Đức Gio-an Phao-lô Đệ Nhị muốn bảo, là: nếu nước là tín hiệu huyền nhiệm của phép thanh tẩy; dầu là dấu chỉ của bí tích thêm sức, thì đâu là biểu hiện của hôn nhân phối kết nam-nữ? Và, Đức Thánh Cha trả lời: Đó là sự giao hoan xác thịt. Xem như thế, mỗi lần người vợ và người chồng có động tác ăn nằm với nhau, làm chuyện giao hoan xác thịt với nhau, tức là họ tái tạo lời thề họ đã hứa khi kết duyên ăn đời ở kiếp với nhau.

Vậy, đâu là quyết tâm của người Nam và người Nữ khi ký kết thỏa hiệp sống hài hoà có dục và có tình với nhau, suốt đời người? Tình đầy sức sống bao giờ cũng mang tính trọn vẹn, chân phương, đầy ắp những kết cuộc hài hoà. Sự giao hoan xác thịt để nên một thân mình, chính là ngôn ngữ của thân xác nói về tình yêu cao cả. Đó, còn là ngôn ngữ rất tiên tri và phụng tự. Bởi, việc giao hoan phối kết ấy đã rao báo việc Thiên Chúa là Đấng đang yêu, đang trao hiến sự sống và đang diễn tả về cuộc sống cũng như tình yêu cho thế giới con người.

Nhưng, đâu là điều mới mẻ và quan trọng trong “Thần học về Thân xác” của Đức Gio-an Phao-lô II?

Thần học về Thân xác mà Đức thánh Cha Gio-an Phao-lô II nói đến là khẳng định nhằm nhấn mạnh lập trường đã có từ lâu, của Đạo Chúa. Hội thánh Chúa thẩm định sự giao hoan xác thịt giữa người Nam và người Nữ như một động tác thánh thiêng, huyền nhiệm. Với ánh sáng dẫn đường này, ta hiểu rằng Hội thánh có quan niệm rất vững khi giáo dục con dân của mình phản chống những chủ trương hỗ trợ việc ăn nằm thể xác thực hiện trước hoặc ngoài hôn nhân. Hội thánh cũng phản đối các hành động chống thai theo cách phản thiên nhiên; hoặc thụ thai qua ống nghiệm chỉ để vui hưởng những dục và tình.

Là thành viên của Hội thánh, ta không đồng thuận với những người chủ trương có hành động trái nghịch luân thường đạo lý. Làm như thế, không phải Hội thánh chống lại hành động giao hoan xác thịt, rất tự nhiên. Nhưng, là để việc sống có tình và có dục của ta, cũng như việc trao thân gửi phận ta thực hiện, sẽ mang tính trọn vẹn hơn. Hỗ tương hơn. Hành động trọn vẹn, hỗ tương này không hàm ngụ một ẩn ý nào hết. Nhưng, mang ý nghĩa trung thực nơi hôn ước giữa ngưới Nam và người Nữ.

Điều đáng buồn, là thông điệp của Sách thánh về sự tốt đẹp nơi động tác giao hoan tình và dục không được hiểu đúng cách và phổ biến rộng rãi cho dân dã, người thường. Đây có thể là một trong các điểm yếu của Giáo hội khi phản ứng chậm trước cuộc cách mạng tình dục vào thế kỷ thứ XX. Thông điệp của Giáo hội khởi từ Sách thánh lâu nay bị mây đen vần vũ khỏa lấp. Mây đen bao trùm, do có những nhận định méo mó, vặn vẹo từ những người chủ trương đưa thông tin sai lạc bằng hệ thống truyền thông, đời thường.

Qua Thần học về Thân xác, Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II gửi đến con người thời đại, nam cũng như nữ, một quan niệm đúng đắn để ta có thể truy cập thông điệp cốt tủy mà Sách thánh đưa ra. Thông điệp ấy là: Giáo hội mời gọi mọi người hãy xem lại để có được chân lý trọn vẹn về sinh hoạt giao hoan tình và dục của họ. Có như thế, mọi người mới khám phá ra thực chất của bản tính con người. Và từ đó, mọi người đi sâu vào huyền nhiệm cao cả Ba Ngôi Đức Chúa.

Câu chuyện tạo dựng vũ trụ và con người cho thấy người Nam và Nữ (tức Adong và Evà) được tạo dựng là cho người khác phái. Ở phần sâu thẳm của chính mình, hữu thể Người (gồm cả nam lẫn nữ) cảm nghiệm được khát vọng ngay tự đáy lòng muốn giao hoan dục và tình với nhau cốt trở thành thực thể duy nhất. Khát vọng ấy rộn ràng nơi cá nhân mỗi người, bằng xương bằng thịt.

Con người kéo dài sự sống cho nhau là để san sẻ thân xác với nhau; và, để người đối tác khác mình, biết rằng: là tạo vật người, ta được dựng ra là để yêu và được yêu. Cả người Nam lẫn Nữ hãy khuyến khích nhau ra khỏi chính mình mà đến với người đối tác, khác phái với mình. Sự khích động và lôi kéo dục tình không chỉ đơn thuần khêu gợi khát vọng thể xác thôi, nhưng còn bộc lộ ý hướng dẫn đưa chủ thể người đến với con tim nhân phàm. Đến với khát vọng sâu xa, là: có được sự trọn vẹn. Có được động tác giao hoan chung tình; để rồi, kết cuộc đôi bên cùng dẫn đưa nhau đi về cùng Thiên Chúa.

Mục tiêu tạo dựng con người ngay lúc ban sơ đã mang tính quan yếu là tạo nên cho người đối tác khác phái và vì người khác phái. Nam nhân được tạo dựng là để giao hoan thể xác với người nữ. Cũng thế Evà (người Nữ) được tạo thành là cho Adong (tức Nam nhân), vì Adong. Việc giao hoan dục tình tham gia hành động trao thân một cách tự do và trọn vẹn.

Trao thân cho nhau. Gửi phận vì nhau. Việc lạ thường ấy, nay thành chuyện đương nhiên ở đời. Từ nay, ở thân xác và qua động tác giao hoan phối kết thành một thân xác. Hai người khác phái đã yêu đương như Thiên Chúa đương yêu con người. Xem như thế, vinh quang của Thiên Chúa đã tỏ hiện. Và, Đức Gio-an Phao-lô II gọi đó là: “Ý nghĩa của giao hoan kết thành thân xác.”

Qua việc trao thân phối kết với người Nữ, Nam nhân (tức Adong) tìm ra bản chất “người” của mình. Cũng thế, qua việc ăn nằm với Nam nhân, người Nữ (tức Evà) khám phá ra ý nghĩa sâu sắc nơi căn tính của mình.

Theo đó, ta hiểu được rằng: trong chuyện tạo dựng trời đất, người Nam và người Nữ nhìn hai thân xác trần truồng nhưng không thấy xấu hổ, lúng túng mà chỉ thêm hưng phấn khi nhận ra sự huyền nhiệm của Tình Yêu mà Yavê Thiên Chúa tặng ban. Chính cái nhìn tinh tuyền này đã phối kết thân xác của con người. Và, sự phối kết này biểu tỏ đúng ý nghĩa của cụm từ được viết trong sách Khởi nguyên ở đọan 2, câu 25:

“Và cả hai đều trần truồng

mà chẳng thấy hổ ngươi” .

Để tóm tắt, có thể nói như thế này: Việc giao hoan phối kết thân xác giữa hai chủ thể Nam và Nữ, từ ngàn năm trước, đã mang tính thánh thiêng (chứ không trần tục) của tình yêu thương và khát vọng muốn trở nên Một. Một thân xác. Một chủ thể duy nhất và hòa hợp. Điều này chứng tỏ một cách không gượng ép nhưng mạnh dạn Tình Yêu Nên Một của Ba Ngôi Đức Chúa. Tình Yêu ấy, Thiên Chúa đã phú ban một cách nhưng-không cho con người. Để rồi, con người được hoà mình vào chính Tình Yêu bằng những hành động mang dáng dấp xác thân, phàm trần.

Thế nên, chuyện lợi dụng thân xác vì hoặc cho mục đích vị kỷ, trần thế được xem như hành động vi phạm tính thánh thiêng/linh đạo của hành vi cao cả, nói trên. Tức, sự yêu đương và đương yêu. Vô hình chung, hành động ấy vi phạm Tình Yêu Đương đích thật. Hành động ấy mang tính động vật, không thể nào hàm chứa ý nghĩa yêu đương cao cả của Ba Ngôi Đức Chúa.

Nói cho cùng, thông điệp Thần học về Thân xác của Đức Cố Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô Đệ Nhị, đủ để tóm gọn và trả lời cho những ai vẫn còn thắc mắc về các chuyện đã và đang xảy ra trong huyện, ngoài làng. Dù huyện ấy có là huyện L.A. Và, dù làng ấy có là làng mạc vùng sâu vùng xa, nơi mạn ngược. Bởi lẽ, đi đâu hoặc làm gì, nam hay nữ, ta vẫn là những Adong hoặc Evà, đầy tính người. Vấn đề còn lại, là: ta còn thủy chung với lời thề nguyền hôm trước, nữa không. Dù cho, lời ấy là lời thề với người đối tác, khác phái tính. Hoặc, là lời nguyền với Đức Chúa, Đấng yêu đương và đương yêu chúng ta.

Và, một khi đã hiểu vấn đề theo ý hướng rất đúng của Đức Gio-an Phao-lô II, thì thắc mắc ở trên không còn là vấn nạn nữa. Mà là, những câu trả lời. Của người. Và của mình.

Trần Ngọc Mười Hai

cũng đã từng hỏi

và cố tìm câu trả lờ

§34 – “TÔI XA HÀ NỘI NĂM LÊN 18, KHI VỪA BIẾT YÊU”

(Mt 26: 13 / 1Cr 6: 19)

Xa thành đô vào thập niên 50 khi lên 18, lại vừa biết yêu. Ôi! Mối tình đời quá đẹp. Đẹp như tranh vẽ. Đẹp như người dân mộc mạc trong huyện ngoài làng. Làng Việt Nam yêu dấu, rất trữ tình. Nhưng, đó là chuyện thời xưa. Còn, với thời vi tính, thì chắc là khó khó mà tìm được một thứ tình yêu lãng mạn trong trắng. Chí ít, lại là chuyện chăn gối tuổi đôi mươi, nơi nhà Đạo.

Với người nhà Đạo, yêu đương đúng phép tắc/lẽ Đạo, mới là chuyện đáng bàn. Bàn về yêu đương phải phép, cũng vẫn là chuyện gây chấn động cách đây không lâu. Ở thời không lâu về trước, tin tức hoặc truyện kể về yêu đương da diết vẫn là đề mục dấp dẫn để luận phiếm, những chuyện Đạo.

Trước hết, là truyện người nữ phụ ở Nigeria, năm 2003. Truyện kể rằng:

“Tối cao pháp viện nước này đã thừa nhận phán quyết tử hình gán cho người nữ phụ mang tên De Amina. Với phán quyết này, chị sẽ bị chôn sống đến tận cổ và bị ném đá cho đến chết; trừ phi nhà cầm quyền xét lại bản án tử hình. Hoặc, dời ngày thi hành án để chị có thể cho con bú mớm, một thời gian.”

Một truyện khác, cũng về người nữ phụ bị kết án tương tự, chỉ vì chị đã cả gan sinh con, cả vào lúc đã ly dị chồng. Cũng may, nhờ có nhiều người trên thế giới vận động ký thỉnh nguyện thư xin chính quyền sở tại xét lại phán quyết nói trên. Cuối cùng, Safia -tên của chị- nhờ đó mới thoát chết.

Xem thế, ở nước Nigêria, thân phận phụ nữ quả là quá thấp. Thấp và hèn hơn phận nam nhi. Rất nhiều. Nam giới, dù có phạm tội tày trời hoặc dữ tợn thế nào đi nữa, cũng vẫn không tệ đến nỗi phải chịu hình phạt nặng và nhục nhã, như thế.

Truyện kể tiếp theo, là một bài viết về thân phận của các phụ nữ trẻ làm cô dâu hay lao động nước ngoài, do tác giả ký tên Nguyễn thị Thanh Vân trên báo điện, bốn năm về trước. Bài có tựa đề “Chợ vợ, chợ buôn nô lệ tìnhdục” (Sàigòn báo 14/5/03).

Bài báo viết rằng:

Vài năm trước đây, các tờ báo Việt nam thường hay nhắc đến các quán bia ôm, cà phê ôm, Karaôkê ôm, đủ thứ loại quán tận cùng bằng chữ “ôm”, để nói lên những nơi hoạt động của gái mãi dâm trá hình…

Bước vào thế kỷ 21, đất nước tôi có những món hàng mới, đó là những người nô lệ tình dục, người ta mang những cô gái ra chợ bán như bán một con vật chứ không còn coi họ là con người, đi lựa vợ như đi lựa môt con heo giống hay con bò sữa. Đau đớn hơn nữa, những người khách mua vợ thường là khách ngoại quốc tới chọn hàng rồi họ dẫn đi biệt xứ không biết đời sống của họ ra sao…

Cuộc sống nghèo khổ của người dân mình bây giờ là như thế đó!!!

Xã hội Việt Nam bây giờ đồi trụy như thế đó!!!

“Như thế đó”, không có nghĩa rằng đây chính là thân phận của phụ nữ đất Việt hôm nay, hoặc của người phụ nữ xứ Nigêria, hôm nào. “Như thế đó”, là thân và phận của những người, những nhóm người, hoặc xã hội/đất nước quá thiên về thân và xác.

“Như thế đó”, còn có nghĩa: như một thông điệp vẫn có đó, đang trải dàn đi khắp nơi. Thông điệp xuất từ lời cầu kinh, ý khẩn nguyện cho đến những nhận định, xác quyết của các bậc, rất vị vọng. Và từ các phó thường dân chăm lo giữ Đạo, hoặc “hành” Đạo. Và, vẫn còn đó những người tin vào Đạo.

Thế đó, còn là thông điệp của Đức Giáo Tông gửi đến các người trẻ tuổi ở Đại Hội Thế Giới Những Người Trẻ, Toronto năm 2002, với ý chủ lực như sau:

“Hôm ở Toronto, Đức gio-an Phao-lô Đệ Nhị đã cảnh giác những người trẻ tuổi phải cẩn thận về ‘tiền tài, sự thành đạt, quyền bính, các vui thú chóng qua và những hời hợt trong hành xử xác thịt. Và, các bạn trẻ đã vỗ tán thành ĐứcTthánh Cha”. (Henri Tincq, Le Monde 26/7/02)

Thế đó, còn là thông điệp từ hai ngàn năm về trước, thánh Phaolô tông đồ, đã khẳng định với các tín hữu thành Côrinthô, trong bức thư rất tâm tình của thánh nhân, rằng:

“Anh chị em hãy nhớ rằng:

thân xác mình là đền thờ của Thiên Chúa.”

(1Cr 6: 19)

Quả quyết của thánh Phaolô chỉ phản ánh lời dặn dò của Đức Chúa, khi Ngài tuyến bố với những người đi theo Ngài, mà nghe giảng giải về Tin Mừng cứu rỗi:

“Nếu mắt của anh sinh tội,

Thì thà móc nó và quăng đi còn hơn”.

(Mt 5: 28)

Nhưng, như thế đó là những chuyện không chỉ xảy ra vào những năm gần đây thôi, nhưng dường như nó đã có, từ bao giờ. Những chuyện như Sô-đô-ma, Gô-mo-rhê trong Cựu Ước, câu truyện về tay bạo chúa Nêrô trong sử sách La Mã, hoặc truyện Hêrôđia/Hêrôđê trong Tân Ước, không chỉ mang tính thần thoại bâng quơ. Nhưng, ít nhiều đã chứa đựng chất giáo dục và đề nghị.

Và, “như thế đó” vẫn là chuyện muôn thuở đã và còn xảy đến với người trẻ, ở muôn thế hệ. Với mọi dân tộc khác nhau trên thế giới. Nhưng, vấn đề là: chúng ta hôm nay không chỉ nghe đọc tin hoặc xem đài mà ghi nhận như một sự kiện đơn lẻ. Mà, phải có phản ứng thế nào về các hiện tượng “như thế đó”?

Phiếm Đạo hôm nay, cũng nên ghi lại ý kiến của một số đấng bậc vị vọng khắp nơi, cho rộng đường dư luận về đề tài thân xác và tình dục, rất sôi động, năng nổ. Một trong các ý kiến không kém phần bức xúc, ưu tư là của giáo sư An Vân trong cuốn “,40 năm sau Vatican hai nhìn lại”. bài của giáo sư An Vân viết nhiều về việc hội nhập với thế giới gian trần, nhưng tác giả cũng đề cập đến trường hợp của chị De Amina ở đọan giữa, như sau:

“Người ta vẫn cứ làm nô lệ cho Luật lệ bất nhân, đặc biệt là đối với phụ nữ. Phụ nữ không phải là con người, chỉ là vật sở hữu của cha mẹ rồi của chồng. Đàn ông ngoại tình đâu có bị xử như thế. Để chiều theo dư luận quốc tế mà buông tha một phụ nữ ngoại tình, người ta phải bày ra chuyện “bị cưỡng hiếp chứ không phải ngoại tình”. Nhưng anh đàn ông cưỡng hiếp hay ngoại tình vẫn không bị Luật lệ và Tòa án đụng tới.” (sđd, tr. 252)

Thân phận “như thế đó” không chỉ xảy ra ở Nigiêria, Châu Phi hay ở Đài bắc, Xêul, Châu Á, nhưng vẫn ở các nơi mà người người vẫn quen gọi là nơi có nền văn minh hiện đại, ở mọi thời.

Thế giới ngàn năm văn vật, tưởng như rất quen với lối nhìn và thái độ không quân bình khi nhìn vào thân phận người phụ nữ. Hai mươi thế kỷ qua đi,con người vẫn có thói nhìn người phụ nữ theo tư thế kẻ cả, đấng bề trên. Chả thế, mà phong trào giải phóng đòi quyền sống của phụ nữ đã gán cho thế-giới-tự-cho-mình-là-văn-minh này những nhận định bảo rằng thế giới này là của nam nhân. Do nam nhân khuynh loát, thống trị.

Mãi đến ngày đầu thiên niên kỷ, Đức Gio-an Phaolô Đệ Nhị đã chính thức nhìn nhận các sai phạm của con cái Chúa trong Hội thánh về người Do Thái, về phụ nữ.. trong suốt hai ngàn năm qua. Trong bài chia sẻ thánh lễ Chủ nhật 12/3/2000, Đức Giáo Hoàng đã cùng với anh chị em giáo dân cầu nguyện những lời lẽ trầm mặc như sau:

Lạy Thiên Chúa là Cha của chúng con,

Chúa đã tạo dựng nên người nam và người nữ theo hình ảnh của Cha và giống như Cha.

Nhưng đôi khi sự bình đẳng giữa các con của Cha như người nam và nữ đã không được nhìn nhận; cả các Kitô hữu đã phạm lỗi khi có thái độ hắt hủi và kỳ thị lẫn nhau.”

Lời nguyện cầu/xưng thú của Đức thánh Cha đã xác nhận một sự thật khủng khiếp: trong chuỗi ngày dài những hai ngàn năm có lẻ, con người và người con của Đức Chúa vẫn quên đi các lời khuyên nhắn của Ngài trong Tin Vui An Bình, như sau:

“Này chị,

lòng tin của chị đã cứu chị.”

(Lc 7: 50)

Và Ngài thêm:

“Hễ ở đâu Tin Mừng được loan báo,

thì điều mà chị ta vừa làm

cũng sẽ được nhắc lại,

để nhớ đến chị.”

(Mt 26: 13)

Nhắc lại, để nhớ đến chị, không chỉ nhớ đến người nữ phụ tên Maria Magđala, hoặc Mai Đệ Liên hay De Amina, hay ai đó bị người ta (tức các nam nhân) rượt bắt, ném đá kết tội hoặc coi thường nhục mạ vì đã lỡ làm một việc mà lề luật không cho phép. Đã lỡ mang thân phận thấp hèn của người nữ, rất thấp và còn hèn hơn so với nam nhân những chễm chệ ngồi ở bục cao, những là xỉa xói, xỉ vả, bới móc hoặc tệ hơn nữa: chúc dữ, rủa xả cho đến khi chết mới thôi.

“Như thế đó”, vẫn là thái độ rất người của kẻ tự nhận là công chính, những nam nhân:

“Trong các ngươi (tức các nam nhân)

ai vô tội thì hãy ném đá chị này (tức nữ phụ)

trước đi.”

(Yn 8: 7)

Cùng lúc ấy, quay về phí chị phạm nhân biết lỗi, Đức Kitô vẫn ôn tồn dạy rằng:

“Tôi cũng không xử tội chị đâu!

Hãy đi, và từ nay đừng lỗi phạm nữa.”

(Yn 8: 11)

Của đáng tội, dù là nam nhân hay bậc nữ lưu, ai mà chẳng hơn một lần phạm lỗi. Nào được mấy ai dám vỗ ngực tự hào rằng mình cao cả hơn người phụ nữ? Và thật ra, đâu chỉ mỗi chị phụ nữ ấy hay tất cả các người phụ nữ đều là những người dễ sai trái, lỗi phạm! và cũng xin thêm: sao không lên án, ném đá nam nhân phạm lỗi, chủ mưu ngoại tình mà chỉ kết án nạn nhân của mọi bất công, nơi lề luật do nam giới đặt ra…

Nói cho cùng, là người ai mà không lỗi phạm. Ai mà chẳng chán nản vì đã sai trái. Nhưng, sao chỉ các phụ nữ mới biết run sợ, khi phạm luật? Nhất thứ, là khi luật ấy liên quan đến “tình” và “dục”.

Có bất công chăng, khi có sự liên lụy giữa “dục” và “tình”? Bởi, trên thực tế, dục luôn dẫn đến tình. Không thể có dục nếu không có tình. Và, ngược lại, không thể có tình khi chưa biết dục. Dục, chính là tình. Và, tình vẫn tồn tại. Tồn tại mãi cho đến ngày sau hết. Ngày, mọi người chấm dứt sự sống nơi đời phàm. Điểm chấm hết của thế giới ở trần gian. Của thế trần, nơi có nhiều nam nhân tội lỗi hơn nữ phụ.

Không. Thế trần có đạt tới điểm chấm hết đi nữa. “Dục” có bị vi phạm lề luật, nhưng “tình” vẫn cứ còn đó, rất buồn. “Tình” còn đó, là để cứu vớt con người đã vi phạm “dục”, quá nhiều. Con người sai phạm về “dục”, thì không chỉ mỗi người nữ phụ, rất phái yếu.

Và, lời trấn an của Đức Chúa “Lòng tin của chị đã cứu chị”, là câu nói không chỉ hướng đến phái yếu và kém (tức người bị cho là chủ mưu hay chủ động trong sai phạm về chuyện “dục”, tức ngoại tình, hay ở bên ngoài “tình” . Mà, là tất cả mọi người, cả nam lẫn nữa. Một khi người người nhận lấy xác phàm, thì đã nhận cả “dục”. Dục là đặc điểm của thân xác. Dục, hay xác phàm không là điều xấu, mà là sản phẩm rất đáng quý của Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa. Hiển nhiên, Thiên Chúa. Chẳng khi nào tạo dựng nên người xấu, sự xấu. Ngài cũng chẳng dựng nên sai trái, lỗi phạm bao giờ. Và, thân xác (trong đó có “dục”) vẫn là chi thể và là Đền thờ của Thánh Thần Chúa, như thánh Phaolô từng quả quyết:

“Anh chị em không biết sao?

Thân xác của anh chị em

là chi thể của Đức Kitô.”

(1Cr 6: 15)

Và:

“Anh chị em không biết sao?

Thân mình của anh chị em là đền thờ

Của Thánh thần ngự trong anh chị em,

Anh chị em đã chịu lấy từ Thiên Chúa

Và anh chị em

không còn thuộc về mình nữa.” (1Cr 6: 19)

“Như thế đó”, là xác quyết của các thánh nhân. Những xác quyết tuyệt nhiên không bao hàm chỉ một phái tính. Xác quyết còn mạnh bạo hơn khi thánh sử Gio-an dõng dạc tuyên bố:

“và Lời đã thành xác phàm

và ở với chúng ta.”

(Yn 1: 14)

Đức Chúa mặc lấy xác phàm giống như con người. Như thế, là Ngài cùng chung một thân phận với ta, như ta. Thân phận hèn mạt như người nữ phụ trong trình thuật vừa đọc xong. Đức Chúa cũng bị lăng mạ, nhục nhã. Ngài cũng từng chịu mọi cực hình gồm nhiếc móc, rủa xả, cho đến phỉ nhổ, ném đá, thậm chí đóng đinh trên thập tự cạnh tên tử tội. Và, cũng giống như thân phận người nữ phụ, Ngài đã được Cha giải thoát nhờ Tình của Cha. Đấng luôn có Tình. Luôn tồn tại với Tình.

Thành thử, ta cứ vui lên và hy vọng. Dù, là nam nhân hoặc bậc nữ lưu. Vì, lâu nay ta vẫn còn lại niềm tin. Và, chính niềm tin đã cứu thoát anh chị em mình. Tin vào Đức Chúa.Tin vào Tình. Hãy Tin và cứ yêu. Dù có là nam hay nữ. Hãy cứ yêu. Và cứ có Tình đi đã, như lời thánh Âu-tinh từng nói:

Hãy có Tình, và hãy yêu đi,

Sau đó muốn làm gì, tùy ý.”

Bởi Tình là tất cả. Tình mới thật đáng quý. Và, tình tồn tại như chốn vĩnh hằng. Tồn tại từ thế hệ này sang thế hệ khác. Người này sang người khác. Tình không nhất thiết của mỗi nam nhân. Không nên tước đoạt “tình” khỏi thân phận người nữ phụ.

Bao lâu con người còn “Tình”, bấy lâu nhân loại sẽ bớt khổ. Bớt cả những chuyện không lành xảy đến với mọi người phụ nữ.

o0o

Đó là tín thư ngàn đời. Là, thông điệp gửi nhắn khắp mọi nơi. Gửi tận chốn mút cùng của trái đất. Gửi cả vào nơi vĩnh hằng, có Đức Chúa.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn cứ khắc khoải

về những thiệt thòi

của thân phận phụ nữ.

§35 – ĐI ĐI MÀ KỂ LẠI

(Mt 28: 10)

Mỗi độ Phục Sinh về, dân con nhà Đạo chúng ta đều nghe Tin Mừng kể việc Chúa Sống Lại đã hiện ra với nhiều vị, trong đó có các tông đồ và các phụ nữ kề cận với Chúa. Khi thì, Chúa hiện đến với hai môn đệ rất ưu tư phiền muộn, trên đoạn đường đi Emmaus (Lc 24: 13-35; Mc 16: 12). Lúc thì, Ngài ở với các thánh tông đồ tại nơi sinh sống của các ngài, có cửa đóng then cài cẩn thận (Yn 20: 1-9; Mc 6: 14-18). Lần khác, Chúa lại hiện ra với các thánh ở cạnh bờ hồ (Yn 21: 1-14).

Nhưng, Tin Mừng Nhất Lãm đều nói Chúa đã hiện ra trước nhất với các vị nữ lưu, trước cả các nam nhân rất thánh được Ngài yêu mến nhất. Và, tên tuổi các vị nữ lưu được Chúa hiện đến mà các thánh sử ghi lại, là: Maria người Magđala và “một Maria khác” (Mt 28: 1).

Vấn đề, một số người lâu nay đặt ra, là: “Maria khác” là Maria nào? Phải đó là Đức Maria, Mẹ của Chúa, không? Mẹ vốn Đồng Công Cứu Chuộc loài người, được thiên sứ đầu tiên loan báo tin vui có Chúa Hạ sinh nơi cung lòng của Mẹ, trước nhất. Thế sao, khi Con của Mẹ Sống Lại, lúc ấy Mẹ ở đâu? Hội thánh có lời chỉ dẫn nào về thắc mắc này, không?

Vừa qua, có một thắc mắc giống như trên lại được một nữ lưu khác người Úc hỏi lại và gửi về tuần báo “The Catholic Weekly” của Tổng Giáo Phận Sydney, hôm 15/4/07. Linh mục phụ trách mục giải đáp kỳ này, là: Lm John Flader, có ý kiến tóm lược như sau:

Nhân buổi triều yết Thư Tư ngày 21/5/1997, Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô Đệ Nhị có nói: như thể là: khi sống lại, Đức Giê-Su có hiện ra với Đức Maria, Mẹ Ngài, nhưng chi tiết không thấy ghi trong sách thánh. Đức Giáo Hoàng quay về với câu hỏi: tại sao Tin Mừng không đề cập gì đến chuyện này. Đức Giáo Hoàng nói:

“Tin Mừng có nói sau khi sống lại, Chúa đã hiện nhiều lần khác nhau; nhưng, không thấy nói Chúa có hiện ra với Mẹ Ngài hay không. Việc lặng im như thế, không đưa ta đi đến kết luận, nói rằng: khi sống lại, Chúa không có hiện ra với Đức Mẹ. Mà đúng hơn, việc im lặng là để ta có cơ hội để tìm hiểu lý do tại sao các thánh sử lại không chọn lựa như thế, là: ghi lại sự việc ấy trong trình thuật?

Đức Giáo Hoàng tiếp:

“Việc các thánh im tiếng không đề cập gì đến những sự việc như thế có thể được quy ra rằng: những gì ta cần biết để hiểu ơn cứu độ, đã được giao cho các “nhân chứng được Chúa chọn” (x Cv 10: 41), tức các thánh Tông đồ, là những vị dám nói lên các chứng từ về Chúa Phục Sinh “với quyền năng lớn lao” (x Cv 4: 33).

Nhưng trước khi hiện ra với các nhân chứng này, Chúa Giê-su Phục Sinh cũng đã hiện ra với một số người khác có lòng tin, vì các vị này có vai trò phải thực hiện trong Giáo hội: “Hãy đi mà báo tin cho anh em ta là họ phải đi Galilê, và họ sẽ được thấy Ta ở đó.” (x Mt 28: 10).

Nếu các tác giả Tân Ước chẳng đả động gì đến việc Đức Mẹ đã gặp mặt Con của Mẹ sau ngày Phục Sinh, thì điều đó có thể khiến ta hiểu rằng: các bằng chứng về sự sống lại như thế sẽ bị các kẻ chối bỏ Phục Sinh của Chúa coi đó như chứng cớ có thiên kiến. Và từ đó, bảo rằng sự kiện Phục sinh không đáng tin.”

Đức Giáo Hoàng còn nhắc nhở:

“Tin mừng không nói đến các lần Chúa hiện ra với nhiều người, ghi ở một đoạn khác trong Sách Thánh. Chẳng hạn như, lần Chúa hiện ra với “hơn 500 anh em cùng một lúc” (x 1Cr 15: 6).

Từ đó, Đức Thánh Cha đi đến kết luận:

“Đây là dấu chỉ rõ ràng cho thấy có những lần khác Chúa hiện ra mà không được ghi lại. Dù sự việc ấy được gộp chung với nhiều sự kiện khác, đã diễn ra.”

Và cuối cùng, Đức Thánh Cha còn dạy:

“Làm sao Đức Mẹ là người luôn có mặt trong các buổi hội họp của các tông đồ (x Cv 1: 14), mà lại bị gạt ra không được kể vào số những người được diện kiến Con của Mẹ khi Ngài Sống lại từ cõi chết? Sao có thể như thế được? Đúng ra, nếu nghĩ rằng Đức Mẹ có thể là người đầu tiên đã có mặt khi Chúa hiện đến sau ngày sống lại, thì: có thể là, việc Đức Mẹ không cùng đi với các phụ nữ đến mộ của Chúa vào buổi sớm đã chứng tỏ cho thấy Mẹ đã gặp được Chúa rồi, cũng không chừng.

Các ám chỉ như thế, xác định qua sự kiện: nhân chứng đầu tiên thấy tận mắt Chúa sống lại, theo như thánh ý của Chúa, là các phụ nữ luôn tỏ lòng tin đến cùng; cho nên, các vị ấy mới ở lại đứng dưới chân thập giá. Và, Chúa Phục Sinh là sự thật rõ ràng đã ủy thác cho người phụ nữ có tên là Maria Magđala, có trọng trách chạy về báo tin vui cho các tông đồ (x Yn 20: 17-18).

Cũng có thể là, sự kiện này cho phép ta nghĩ rằng: Chúa đã tỏ mình cho Đức Mẹ, vốn là người trung tín nhất trong số các người theo chân Chúa. Và, Mẹ vẫn là người duy trì lòng tin không nhạt phai cả khi Mẹ chịu thử thách, nữa.”

Và, để trả lời câu hỏi: có ai trong số các nhà viết sử của Hội thánh nói về việc Chúa gặp Đức Mẹ sau ngày Ngài sống lại không, thì Đức Thánh Cha đã nói:

“Có tác giả viết lịch sử thánh vào thế kỷ thứ V, là Sedulius đã duy trì khẳng định rằng: Khi Chúa phục sinh trong vinh quang, Ngài đã tỏ mình cho Mẹ Ngài, trước nhất. Bởi, Mẹ là Người đầu hết được thiên sứ loan tin vui đi vào với thế giới, thì Mẹ càng được kêu mời loan tin vui Phục sinh của Con Mình để Mẹ trở nên người loan báo ngày quang lâm của Chúa, mai ngày nữa.“ (x Sedulius, Paschale Carmen, 5, 357-364, CSEL 10, 140f)

Trích dẫn lời khẳng định của Đức Giáo Hoàng Gio-an Phaolô Đệ Nhị về vấn đề trên, nếu chưa đủ để thuyết phục mọi người, thì đây một dẫn chứng khác.

Đã từ lâu, trong dân gian, đã có nhiều nhóm người vẫn tin rằng Chúa đã gặp Mẹ Ngài sau ngày Phục sinh. Bởi thế nên, có nhiều nơi vẫn còn giữ tập tục biểu tỏ lòng tin tưởng ấy. Như: ở Phi-líp-pin, dân chúng có thói quen tổ chức các buổi mà người địa phương gọi là tục lệ Salubong. Vào sáng sớm ngày Chúa Sống lại, người ta lập kiệu rước hai tượng lớn, tượng Chúa Sống Lại đến gặp tượng Mẹ Sầu Bi, có phủ khăn che đầu. Sau khi hai tượng gặp nhau rồi, thánh lễ chính sáng ngày Chúa Phục Sinh, mới bắt đầu. Nghi thức này được Niên Giám Tòa Thánh La Mã ghi lại như một khẳng định về sự kiện đoàn tụ đã thật sự xảy ra. Và, cũng để nói lên ý nghĩa Mẹ đã tham gia trọn vẹn vào nhiệm tích sống lại của Chúa (x sđd, số 149).

Một lần nữa, trong khi Hội thánh không có văn bản công khai nói rõ về cuộc gặp gỡ giữa Đức Mẹ và Chúa Giê-su sau ngày sống lại, nhưng Đức Giáo Hoàng vẫn quả quyết trong buổi triều ấy nói trên, rằng: đó là khả năng ít nhất cũng đã xảy ra. Đức Giáo Hoàng nói thêm:

“Vốn đã dừng chân đứng lại trên đồi Calvariô vào Thứ Sáu Tuần Thánh (x Yn 19: 25) và có mặt ở lầu trên nơi cộng đoàn tiên khởi trú ngụ, vào ngày Chúa Thánh Thần Hiện Xuống (x Cv 1: 14), có thể là Đức Trinh Nữ Maria là nhân chứng đặc biệt được ưu đãi chứng kiến việc Đức Kitô Phục sinh quang vinh. Như thế, đã hoàn thành công việc Mẹ tham gia vào các khoảnh khắc thiết yếu của mầu nhiệm Vượt Qua.”

Trở lại thắc mắc nêu trên, cũng nên có nhận xét, rằng: tuy lời lẽ của Đức Gioan Phaolô Đệ Nhị ngày hôm ấy không mang tính “vô ngộ”, bắt mọi người phải tin như là sự thật; nhưng, vài năm tới đây, nếu ngài được phong thánh, thì các quyết đoán của thánh nhân Gio-an Phaolô Đệ Nhị cũng sẽ được coi như xác chứng cho vấn nạn đặt ra.

Vả lại, cứ sự thường, có người mẹ nào lại làm ngơ trước sự kiện to lớn liên quan đến Con của mình, như thế được. Chí ít, đó lại là sự kiện có một không hai trong lịch sử Đạo Chúa. Lịch sử của Ơn Cứu Độ, nhưng không. Cuối cùng ra, vấn đề quan trọng đáng hỏi, không phải là: Chúa có hiện ra với Đức Mẹ, hay không? Mà, là: nhận thông điệp Chúa ủy thác, các phụ nữ được Chúa hiện ra, có thực thi lệnh truyền “Đi đi mà kể lại…” hay không?

Ở đây nữa, hỏi tức là đã trả lời rồi.

Và, câu trả lời đã sáng như ban ngày. Nhất thứ, lại có ánh sáng Phục sinh của Chúa phụ vào, thì: Ôi! Tuyệt vời, việc Chúa làm!

Trần Ngọc Mười Hai

chỉ dám chuyển tải câu trả lời

cho một vấn nạn, thôi.

PHỤ LỤC: THƯ CỦA CHA, MÀ CŨNG LÀ CỦA EM, NGƯỜI EM LINH MỤC HỒ QUANG LÂM, CSSR.

Bác Mười Hai kính mến,

Bác gửi cho con hai bài suy niệm và Bác nói con cho ý kiến.

Con đã đọc hai bài rồi Bác ạ. Con thấy lối diễn giải, ý tưởng và tâm tình thì vẫn “đậm đặc” chất Cứu Thế nhà mình. Con nghĩ mấy ý tưởng trong bài diễn giải của Bác chắc chắn phải là những chủ đề lớn để suy niệm trong Mùa Chay.

Chiều Chúa Nhật này con sẽ chia sẻ tĩnh tâm Mùa Chay với bà con giáo đoàn ở Wollongong. Con xin lấy mấy ý tưởng trong bài số một “Lầm lỗi thay tên bằng lãng quên” để chia sẻ với bà con dưới đó.

1. “Ăn năn … không chỉ gồm mỗi cởi bỏ những sai sót trong quá khứ …. Có những quyết tâm trong lai thời … mà phải chú tâm vào hiện tại NHUỘM THẮM TÌNH NGƯỜI nữa.

Mùa Chay, rất nhiều nơi người ta tổ chức những cuộc tĩnh tâm, nghe giảng, … kể cả đi xưng tội, gọi là “làm một cuộc sám hối triệt để trong Mùa Chay”, rất rầm rộ và hoành tráng. Nhưng quan sát kỹ, nơi cộng đoàn và mỗi cá nhân, con thấy hình như người ta chỉ (dễ) nhấn mạnh đến hai điểm trước “cởi bỏ sai sót của quá khứ và quyết tâm trong lai thời”. Còn cái thứ ba, “cái hiện tại nhuộm thắm tình người”, liên hệ thiết thân đến con người hiện tại, thì dường như người ta chưa nghĩ đến hay nghĩ đến một cách hời hợt.

Người ta không dám nghĩ đến (hay có nghĩ đến nhưng không dám hay không muốn làm) có lẽ cũng đúng thôi Bác ạ. Bởi khi đụng đến “cái thứ ba” là đụng đến chính con người, cuộc sống của người ta một cách cụ thể, đòi buộc người ta phải thay đổi theo hướng tích cực. Sự thay đổi thường bắt người ta phải hy sinh bản thân rất lớn. Mà có mấy ai thích hy sinh bản thân đâu!

Chúa lại mời gọi ai muốn theo Chúa phải biết hy sinh bản thân: “Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình vác thập giá mà theo”.

Ăn năn hối lỗi trong QUÁ KHỨ và quyết tâm trong LAI THỜI, thì có lẽ dễ hơn là thực hiện trong HIỆN TẠI. Bởi cái hiện tại đòi buộc người ta phải bắt tay vào cuộc ngay, không được chần chờ. Lời mời gọi của Chúa cách đây hơn hai ngàn năm thì vẫn luôn là lời thúc bách gấp gáp cho mỗi con người trong hiện tại cuộc sống: “Hãy sám hối vì Nước Trời đã gần bên”, (và có thể ngầm hiểu) “làm liền đi, nếu không sẽ không kịp đâu.”

Ngày con tĩnh tâm chịu chức Linh mục, Vị giảng phòng cho con một gợi ý: sự thăng tiến bản thân của mỗi người luôn có hai yếu tố, tiêu cực, thụ động: từ bỏ, sa lánh, quên … và tích cực, chủ động: yêu thương, dấn thân, chia sẻ, nhớ … Giống như khi trồng cây, nếu chỉ làm cỏ, cắt tỉa không thôi, thì vẫn không đủ mà người ta phải bón phân, tưới nước …. Khi rao giảng và dạy dỗ các môn đệ, Chúa dùng cả hai yếu tố, nhưng Chúa thường nhấn mạnh đến yếu tố thứ hai hơn: hãy yêu thương tha nhân như chính mình; hãy trọn lành như Cha anh em là Đấng trọn lành; hãy trở về …”. Cái hiện tại “NHUỘM THẮM TÌNH NGƯỜI” của Bác, là yếu tố tích cực của việc sám hối. Và con nghĩ, chính cái nhuộm thắm tình người đó sẽ làm cho việc sám hối trở nên trọn vẹn.

Quả thực, khi đọc cụm từ “NHUỘM THẮM TÌNH NGƯỜI” thấy đã lắm, Bác ơi!

2. “Thương yêu – tha thứ, đã trở thành đặc thù của Cha, ngay từ đầu. Làm Cha, tức là làm Đấng nhân hiền. Rất thương yêu, tha thứ.”

2.1. Bác có ý tứ gì không đấy? Sao đọc câu này con thấy giật nẩy mình!!! Có lẽ phải nói luôn để áp dụng: “… Còn làm cha mà không có nhân mà cũng chẳng có hiền? Khổ cả Chúa và khổ cả loài người ta.” Nếu nhìn vấn đề theo hướng này, Bác để con tĩnh tâm, xét mình riêng nhé. Nhưng xin Bác cũng cầu nguyện nhiều cho con và các linh mục, vì con người vốn yếu đuối mỏng dòn, “thể xác thì yếu đuối, tinh thần thì suy nhược”.

Để có thể trở nên nhân hiền trong lối sống thì còn phải học sống nhiều lắm.

2.2. Đúng như Bác diễn giải, khi tha thứ cho người khác, chúng ta dễ đứng ở thế đàn anh, kẻ cả, thế của người-tử-tế (như người anh cả trong dụ ngôn) để tha thứ. Nhưng khi đứng ở vị thế đó để tha thứ, chắc chắn – không nhiều thì ít – sẽ làm tổn thương người được thứ tha. Tha mà không thèm nhìn mặt, không thèm gặp thì kể như là chưa tha. Tha mà cứ xăm xoi vào quá khứ tội lỗi của người ta thì kể như cho người ta cái này mà lại lấy mất cái khác lớn hơn. Cho như thế thì đừng cho có lẽ hay hơn. Mấy năm làm linh mục, được làm việc trong môi trường truyền giáo, gần gũi những người dân tộc cô thế nghèo khổ nhất, con kinh nghiệm rõ điều này lắm: khi cho họ cái này cái kia, đâu phải chỉ cho là xong. Làm công việc đặc thù này cần phải ý thức về cái nghèo của bản thân và có sự đồng cảm với đồng loại để có thể đến và cho người ta một cách trân trọng. Bởi người cầm tiền, cầm quà đi cho (như con) dễ bị nhiễm thói cho theo kiểu ban phát, ném cho một chút của bố thí. Kết quả là gì? Một chút quà vật chất nhận được phải đổi lại lòng tự trọng bị tổn thương. Mất hơn là được. Hình ảnh Người Cha trong dụ ngôn đích thực là một khuôn mẫu của sự tha thứ. Tình yêu quá lớn, lòng bao dung quá lớn bao phủ hết cả con người hối nhân. Những tiếng kêu gia nhân lấy đồ đạc, lớn tiếng và liên tục, của Người Cha át hẳn những lời thú tội của người con. Cha không điểm lại những lỗi con đã phạm, không ra hình phạt này nọ … Không, Cha không muốn nghe nữa. Cha quên hết rồi. Cha chỉ cần con về để tha thứ thôi, bởi thực ra, Cha đã tha cho con ngày con bắt đầu bất hiếu ra đi.

Chúa tha thứ và rất tinh tế để người ta dễ dàng thay đổi. Chúa không xăm xoi vào quá khứ tội lỗi, Chúa như thể quay mặt chỗ khác để người ta có thể bình an hội nhập trở lại với đời sống bình thường. Con nhớ có một vị chia sẻ hình ảnh “Chúa cúi xuống đất viết gì đó khi bảo ai sạch tội thì ném đá người phụ nữ phạm tội ngoại tình”, đã nói: tôi không biết Chúa viết gì, nhưng tôi nghĩ Chúa cố tình cúi xuống, để đám đông dễ rút lui, bởi nếu Chúa cứ nhìn chằm chằm vào đám đông, không biết người ta –những người tội lỗi ấy – có dám rút lui không.

Có lẽ Chúa cũng muốn chúng ta TINH TẾ như vậy khi tha thứ cho anh em mình.

Khi con người ta tha thứ cho nhau -tha lỗi, tha nợ, tha những xúc phạm …- thường chỉ dừng lại ở yếu tố xóa, quên: xoá nợ, quên tội … Xóa nợ, nhưng chớ có hòng mà mượn tiếp của ta. Quên tội, nhưng từ này ta cũng chừa chơi với “bồ”.

Có lẽ còn lâu và còn khó lắm chúng ta mới có thể tha thứ được theo cung cách của Chúa.

Người Cha trong dụ ngôn khi tha thứ cho người con thứ là trả người con đó lại đúng vị trí trước đây.

Hoá ra khi Chúa tha thứ cho ai là Chúa không chỉ xoá và quên tội lỗi của người đó, mà còn tái lập lại với họ tương quan vốn có trước đây. Không những thế, Ngài mời gọi người ta cùng cộng tác và đồng hành với Ngài. Đặc biệt nhất, sự tha thứ của Chúa hệ tại nơi việc cứu độ người ta, cho người ta “được sống và sống dồi dào”.

Không biết đến khi nào Kitô hữu mới có thể tha thứ theo cung cách này!

* * *

Thưa Bác,

Những ý tưởng của Bác trong bài diễn giải vẫn còn nhiều, nhưng con chỉ mới gợi nơi đây lên hai ý ngắn gọn như thế thôi. Chắc chắn trong phần chia sẻ tĩnh tâm con sẽ gợi lên mấy ý nữa nhưng không kịp viết ra đây.

Con lấy ý của Bác nhưng không trả tiền bản quyền đâu, vì con biết Bác sẽ không đòi.

Chúc Bác khoẻ và hạnh phúc.

Con

Jb. Hồ Quang Lâm, CSsR.

 

Nghe audio Chuyện Phiếm Tập I
101. Ấy là kể chuyện
102. Nhớ mà làm …
103. Có phải là anh ngoài luồng
104. Em còn nhớ hay em đã quên
105. Vào nơi trông vắng
106. Sao cứ gọi các cụ là cha
107. Nghe cũng là quà tặng
108. Nay đồ dâng cúng có nên ăn
109. Bận lòng người con
110. Cứ chọn chỗ tốt mà ngồi sao
111. Một thoáng mạn đàm
112. Để lại cho em
113. Những huý và kỵ nơi nhà Đạo
114. Núi Sọ và Nỗi Sợ
115. Cộng Trừ Nhân Chia ..
116. Phút Nguyện Cầu …
117. Lời Nào Cho Anh …
118. Áo Anh Trắng Qúa …
119. Đúng Mẹ Là Mẹ Thiên Chúa
120. Một Thoáng Mẹ Hiền
121. Cầu Xin Hay Khấn Nguyện
122. Tình Đã Đến …
123. Cộng Đoàn Tình Thương
124. Một Thoáng Hoảng Sợ
125. Những Sự Rất Thật
126. Vô Ngộ, Giác Ngộ
127. Người Là Ai. Bà Là Ai?
128. Cũng Là Chuyện Kể
129. Dẫu Có Ra Sao
130. Những Điều Trông Thấy
131. Ngèo Và Cái Eo
132. Có Chăng Thần Học Dục Tình
133. Tôi Xa Hà Nội
134. Đi Đi Mà Kể Lại

%d bloggers like this: