MỘT KHOA SƯ PHẠM THĂNG TIẾN TỰ DO

Ban Học Vụ và Nghiên Cứu

Tỉnh Hội Xuân Bích Pháp

MỘT

KHOA SƯ PHẠM

thăng tiến TỰ DO

supham

những ghi chú sư phạm về việc

đào tạo linh mục ngày nay

bản dịch của

Ban tu thư XBVN

2012

Nguyên bản tiếng Pháp:

Une Pédagogie de la Liberté

Notes pédagogiques sur la formation

des prêtres aujourd’hui

của

Compagnie des Prêtres de Saint-Sulpice

Province de France

Bureau d’Etudes et de Recherches, 2009

(ấn bản thứ 2)

dịch Việt ngữ:

Lm. Antôn Trần Minh Hiển, pss.

biên tập bản dịch:

Lm. Phêrô Phan Tấn Khánh, pss.

Lm. Giuse Lê Công Đức

Lời Giới Thiệu

Bốn ghi chú sau đây là lời giải thích cập nhật “những điểm nền tảng thực hành sư phạm” của Hội Linh Mục Xuân Bích trong việc đào tạo các linh mục, như đã được tóm trong khoản 14 của Hiến Pháp.[1] Những ghi chú này đã được soạn thảo giữa năm 1980 và 1989, do Ban Học Vụ và Nghiên Cứu của Tỉnh Hội Pháp, trong cộng tác với các chủng viện được trao phó cho Hội Xuân Bích hoặc có liên hệ với Hội. Những ghi chú này được Hội đồng Tỉnh hội xuất bản, lúc đầu từng phần, nhưng sau gom lại thành một tập.

Việc thực hành sư phạm Xuân Bích ngay từ đầu đã được gợi lên, nơi Cha Jean-Jacques Olier và các bạn của ngài, một phần từ một kinh nghiệm thiêng liêng và một nhãn quan thần học về sứ vụ linh mục, phần khác do tình trạng thiếu gương sáng nơi phần đông giáo sĩ. Từ khi thành lập Chủng viện Xuân Bích tại Paris năm 1641-1642 và các chủng viện khác ngoài Paris, đã có rất nhiều thay đổi trong xã hội và trong Giáo hội. Những thay đổi này làm cho các linh mục Xuân Bích phải thay đổi, không phải là thay đổi mục tiêu của khoa sư phạm – vốn luôn là nhằm chuẩn bị những mục tử mà Giáo hội và sứ mạng của Giáo hội cần, và đây cũng là mục tiêu mà Giáo hội nhận lãnh từ Chúa,[2] nhưng là thay đổi những phương thức của việc đào tạo này.

Một vài thay đổi đã có từ lâu và do đó ít được biết tới, ngay cả dù chúng đụng tới những cách thực hành được coi là cổ truyền. Hai thí dụ đáng chú ý là qui định rằng thông thường thì vị giám đốc được miễn giải tội cho các chủng sinh, nghĩa là cũng không làm linh hướng cho họ, và qui định rằng vị linh hướng phải giữ bí mật tuyệt đối về tất cả những gì liên hệ tới việc linh hướng này. Điều trước là một quyết nghị của Hội Xuân Bích đã được đưa vào trong luật chung của Giáo hội Công Giáo.[3] Điều sau chỉ trở nên sáng tỏ cách từ từ, đồng thời với vai trò của Hội Đồng tại chủng viện trong việc giới thiệu các chủng sinh để Đức Giám Mục gọi họ tiến chức và những tương quan giữa chiều kích cá nhân và chiều kích Giáo hội của ơn gọi, mà Hội đồng và vị linh hướng đều lưu tâm, nhưng bằng những cách khác nhau.

Có những thay đổi mới đây hơn, được các ghi chú này đề cập, là những thay đổi đến từ Công đồng Vatican II và từ cuộc cải cách những mối quan hệ đối nội và đối ngoại của Giáo hội Công Giáo mà Công đồng đã cổ võ, không phải theo kiểu cách mạng vốn không thích hợp với Giáo hội, nhưng bằng cách đón nhận những đổi thay về mặt học thuyết đang diễn ra, và thường bằng cách ít dựa vào một truyền thống mới hơn và hạn hẹp hơn – nhưng là dựa vào một truyền thống cựu trào và rộng lớn hơn. Đối với Xuân Bích, một trong những thay đổi quan trọng nhất và rõ nhất đó là sự mở rộng “cộng đoàn giáo dục.” Cộng đoàn này không còn giới hạn trong cộng đoàn chủng viện và trong trách nhiệm của Hội đồng, nơi đón nhận những phúc trình của các Cha sở về chủng sinh trong những ngày nghỉ hè. Cộng đoàn này liên hệ với giáo phận nhiều hơn, qua giáo xứ hoặc qua các cộng đoàn khác là những nơi mà chủng sinh được “cài vào.” Một cách chính thức hơn và bảo đảm hợp với định chế hơn, cộng đoàn này nhìn nhận trách nhiệm đầu tiên của các giám mục trong việc huấn luyện các thừa tác viên của Giáo hội. Thật vậy, chỉ mình các ngài mới có quyền kêu gọi, theo sự giới thiệu của giáo phận và để phục vụ giáo phận. Sự mở rộng “cộng đoàn giáo dục” này không chỉ cho phép sự tham gia cụ thể hơn nữa của giáo phận vào việc chọn lựa các thừa tác viên của mình. Cộng đoàn này cũng tạo điều kiện cho các linh mục tương lai học tập để biết làm và biết sống mục vụ, điều này bao hàm – thời nay hơn trước đây – niềm xác tín và sự đồng trách nhiệm cách tốt đẹp với giáo dân, chắc chắn là “phân biệt,” nhưng rất thực, và một sự cộng tác hữu hiệu với một số người trong đó. Đó là một đòi hỏi của việc cải cách theo Công Đồng đối với mọi Giáo hội địa phương, vừa cũng là một đòi hỏi đặt ra bởi sự giảm thiểu mất cân xứng về con số linh mục ở một số nơi, trong đó có Giáo hội Pháp.

Nhân dịp kỷ niệm 400 năm ngày sinh của Cha Jean-Jacques Olier, Hội Đồng tỉnh hội Pháp đã yêu cầu Ban Học Vụ và Nghiên Cứu mới duyệt lại những ghi chú của những năm 1980 và thích ứng với những đổi thay mới xuất hiện từ đó, cũng như với những văn kiện chính thức mới đây hơn về việc đào tạo linh mục. Những hiệu chỉnh và bổ túc mà chúng tôi tin rằng phải đưa vào không đáng kể lắm, vì những biến chuyển mà chúng tôi đã lưu ý cũng thế, dẫu sao cũng ít quan trọng hơn là những biến chuyển của thời gian ngay sau Công Đồng.

Qua bao biến thiên của lịch sử, ta sẽ nhận ra đâu là những điểm trường tồn của sư phạm Xuân Bích và sự phù hợp của chúng đối với việc đào tạo linh mục ngày nay? Từ “thiêng liêng” hay “tu đức” xuất hiện lập tức trong tâm trí và dưới ngòi bút. Nó xuất hiện 5 lần ở khoản 14 của Hiến Pháp, là khoản tóm tắt sư phạm này, và khoản 18 nhắc lại rất đúng rằng “đào tạo thiêng liêng chiếm hàng đầu trong truyền thống Xuân Bích”. Đó là điều Cha Jean-Jacques Olier đã muốn cho các linh mục thời ngài và các linh mục tương lai, ngay cả khi ngài dùng một từ mà ngày nay đã mất ý nghĩa: đào tạo “tinh thần giáo sĩ.” Các chủng viện Xuân Bích đã cách này hay cách khác giữ điểm ưu tiên này của vị sáng lập. Điều quan trọng là các nhà đào tạo phải là những vị “hướng dẫn” thiêng liêng, được huấn luyện cho điều đó và được tự do để làm điều đó, ngay cả khi họ cũng đảm trách việc dạy học, chấp nhận nguy cơ bị chỉ trích rằng Xuân Bích thường không coi trọng đủ trách nhiệm dạy học.

Từ “thiêng liêng” đã bị dùng sai, cần phải xác định lại. Điều xác định thứ nhất vốn quá rõ, nhưng cần nói lại. Trong thể chế Kitô giáo, việc đào tạo, hướng dẫn thiêng liêng và đời sống thiêng liêng chỉ xứng với tên đó khi nhận suối nguồn của chúng nơi Thánh Thần, Đấng sáng tạo của thế giới, của con người, của “trái tim tinh tuyền” và của Giáo hội. Đó là Thánh Thần của ngày lễ Hiện Xuống, Thánh Thần Tông Đồ. Cha Jean-Jacques Olier khi được Thánh Thần khơi gợi nhiệt tình thừa sai, tại Pháp và Canada, đã muốn rằng: Chủng viện Xuân Bích phải cầu xin Ngài mỗi ngày. Không phải tình cờ mà nhiều linh mục giáo phận tại Pháp đã được Xuân Bích huấn luyện, đã quan tâm và có sáng kiến đặc biệt về sứ vụ thừa sai, được Đức Gioan-Phaolô II ca ngợi hôm 30.5.1980 tại nhà thờ Đức Bà (Notre-Dame) ở Paris.

Một xác định cốt yếu thứ hai, đó là đời sống thiêng liêng mà chủng viện muốn khai tâm cho các linh mục tương lai vốn không phải là đời sống dành riêng cho giáo sĩ, càng không phải dành riêng cho Hội Xuân Bích. Nếu đối với Cha Jean-Jacques Olier “mục đích đầu tiên và cuối cùng”của chủng viện là “sống hết mình cho Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô”,[4] thì thật rõ ràng là lý tưởng này, được lấy từ Thư Rôma 6,11, là lý tưởng của mọi Kitô hữu, và mọi người có thể đạt được nhờ đức tin và các bí tích của đức tin.

Như nhiều nhà cải cách khác trong Giáo hội, Cha Jean-Jacques Olier đã xác tín rằng sự cải tổ này theo Tin Mừng, phải bắt đầu từ hàng giáo sĩ, từ chính đầu của thân thể Giáo hội, “và từ đó tràn đến đám đông dân chúng”.[5] Ở đây người ta thấy một dấu hiệu và một yếu tố của giáo sĩ thuyết. Nhưng trước hết, tầm quan trọng hiển nhiên này mà hàng giáo sĩ đảm nhận phát xuất chính từ trong thâm sâu của Kitô giáo, và các nhà cải cách Tin lành là những người đối lập với giáo sĩ thuyết Công Giáo không phải là không dựa vào đó để thiết lập các chủng viện, ngay cả trước khi có sắc lệnh của Công đồng Trentô, để bảo đảm cho Giáo hội và cho việc cải cách cần thiết có đủ số mục sư giảng thuyết. Dù sao, những nguồn mà Xuân Bích dùng để huấn luyện thiêng liêng các giáo sĩ và giáo dân là Thánh Phaolô và Thánh Gioan, nói rộng hơn thì đó là Tân Ước – vì thế trước đây, trong các chủng viện Xuân Bích, hằng ngày vào lúc xét mình riêng, người ta quỳ gối đọc Tân Ước, trước tất cả các tác giả gọi là “thiêng liêng” khác, ngay cả các tác giả thuộc trường phái Pháp. Điều ưu tiên này, tiếc thay không luôn được trân trọng tại Xuân Bích.

Đáng ghi nhận rằng khoản 14 của Hiến Pháp, nói nhiều về “thiêng liêng”, cũng đồng thời định nghĩa cơ chế chủng viện như là “cộng đoàn giáo dục” và nhắc lại tính cách tập đoàn của việc thực thi các trách nhiệm, cũng như những “luật lệ Xuân Bích” về tương quan giữa trách nhiệm của Hội đồng và trách nhiệm của vị linh hướng. Điều này không gây ngạc nhiên cho những ai biết vai trò đặt định của Thánh Thần. Chủng viện, trong những khác biệt về con người và về các vai trò tạo nên nó, phải hoạt động theo hướng ưu tiên tạo điều kiện cho “sự tự do thiêng liêng” không chỉ của các ứng sinh, vốn được nhấn mạnh cách riêng, nhưng cũng cho sự tự do của các tác nhân và các cộng tác viên khác trong tiến trình đưa tới chức thánh, tiến trình này làm cho người này hay người khác, bắt đầu từ chính ứng sinh, biết khước từ chiếm hữu cho mình hồng ân của Thiên Chúa là tác vụ thánh. Sự tự do thiêng liêng này trước những sự lựa chọn phải làm – đối với các ứng viên thì đó là về sự dấn thân hoàn toàn của họ và về đời sống hằng ngày của họ, cũng như đối với các nhà đào tạo thì đó là về các phương thế phải đưa ra thực hành và về những quyết định phải lấy – đều đòi hỏi một đời sống thiêng liêng đích thực của cá nhân trong sự ngoan ngoãn luôn được canh tân đối với Chúa Thánh Thần.

Ở đây ta thấy tính nhất quán của những điểm nền tảng trong sư phạm Xuân Bích. “Cộng đoàn giáo dục”, được mở ra tới giáo xứ nơi thực tập và tới đời sống giáo phận, nhờ tính đa dạng nó cho phép có “những đối chiếu cần thiết và một phân định ơn gọi tốt hơn”, kể cả trong lòng Hội đồng, nhờ tính tập đoàn của Hội đồng.[6] Đồng thời, cộng đoàn này ưu tiên thúc đẩy – tuy không phải luôn thành công như mong muốn – một sự chia sẻ đời sống và suy tư với các chủng sinh khác và với các linh mục khác nữa chứ không còn giới hạn nơi các nhà đào tạo trong chủng viện. Như thế, cộng đoàn này huấn luyện các linh mục tương lai một cách hầu như không có vẻ huấn luyện, không nhiều luật lệ, không nhiều kiểm soát. Cộng đoàn này mạo hiểm khi tin vào trách nhiệm không thể chuyển nhượng của họ trong tư cách là những “tác nhân chủ chốt” cho việc “tự huấn luyện” mình,[7] và tin vào khả năng tự định hướng và khả năng nội tâm của chính họ, như họ phải làm thế suốt đời, nhất là vì họ là linh mục giáo phận, không theo một kiểu mẫu hay một đoàn sủng duy nhất nào, nhưng theo những khuôn mặt linh mục khác nhau.

Ghi chú cuối cùng liên hệ tới “tính duy nhất của việc huấn luyện”. Truyền thống Xuân Bích đã luôn tìm kiếm điều này trong việc “không ngừng tìm kiếm sự kết hợp với Đức Kitô.”[8] Công đồng Vatican II nhìn thấy điều này trong “thực hành đức ái mục vụ”, vốn là “giềng mối của sự hoàn thiện linh mục.”[9] Thật vậy, theo Côlôsê 3,14 và theo tất cả truyền thống Kitô giáo, chính đức ái là mối kết hợp. Công Đồng gọi đức ái đó nơi các mục tử của Giáo hội là “mục vụ”, theo ơn sủng riêng của bí tích Truyền chức. Về điểm này, Thánh Augustinô và Thánh Tôma Aquinô nói hầu như giống nhau. Sự nhấn mạnh của Công Đồng về việc “thực thi” đức ái mục vụ đi ngược lại một sự lưỡng phân quá quen thuộc giữa những thực hành “thiêng liêng” là nơi nảy sinh đức ái này và sự thi hành tác vụ là nơi đức ái này thể hiện. Vì thế không được lẫn lộn việc thực thi tác vụ và việc thực thi đức ái mục vụ, vì đức ái này không xuất phát từ tác vụ, nhưng từ sự tuân phục Thánh Thần trong khi thực thi tác vụ ấy.[10] Cũng chính trong ý nghĩa này mà người ta cần tìm mối thống nhất của việc đào tạo linh mục trong những chiều kích khác nhau của nó: nhân bản, thiêng liêng, trí thức và mục vụ.

Việc thực hành hiện nay được chương trình huấn luyện của Pháp cổ võ, do các giám mục Pháp xuất bản năm 1997, đó là phải “đảm nhận cùng lúc” mọi chiều kích này, gồm cả việc gửi tới thực tập mục vụ tại giáo xứ, để bảo đảm hơn cho mối thống nhất. Dù đó không thuộc truyền thống của mình, Xuân Bích đã chấp nhận với sự mềm dẻo phải có và những điều chỉnh cần thiết trong thực hành, mà không đánh mất tầm nhìn rằng việc đào tạo thiêng liêng không chỉ là một chiều kích giữa những chiều kích khác nhưng, cũng như việc đào tạo nhân bản, nó nắm giềng mối và thống nhất toàn bộ. Thật vậy, chỉ “đảm nhận cùng lúc” thôi thì chưa đủ và có thể chẳng dẫn tới đâu đáng kể. Cần phải liệu sao để có mối thống nhất này nơi các thừa tác viên chức thánh, vốn đã được thánh hiến qua Phép Rửa để sống với Thiên Chúa, nay được thánh hiến một lần nữa cho tác vụ, nghĩa là thánh hiến “tận đáy sâu con người họ”. Chính nhờ đó mà việc lãnh chức thánh có nghĩa cho cả đời của những con người này, điều này không phải do tính liên tục của sứ vụ đòi hỏi, nhưng nó “thích đáng” cho những người kế nhiệm các Tông đồ – sứ mạng của những người này luôn vượt quá Giáo hội đang hiện hữu và “nhất là trong thời đại chúng ta, cần có nhiều chức vụ và nhiều thích nghi mới”.[11] Cũng từ đó, không chỉ các phó tế, mà ngày càng nhiều linh mục, ngay cả giám mục, phải tìm kiếm – cùng với các giáo dân – những hình thức và nơi chốn thích hợp nhất cho sứ vụ của họ.

Ở đây chúng ta chạm tới tính chất thời sự của khoa sư phạm Xuân Bích, mà vấn đề được đặt ra do chính sự thâm niên của nó. Ở thế kỷ 17, Chủng Viện do Cha Jean-Jacques Olier thành lập có mục tiêu thứ nhất là thánh hóa các linh mục và các ứng viên linh mục giáo phận theo “religion” không phải của vị sáng lập dòng này hay dòng kia, nhưng chính là của Ngôi Lời Nhập Thể. Đối với ứng sinh, điều này bao gồm sự phân định một ơn gọi “thuộc linh” và “thuộc Giáo hội”, một ơn gọi không được thúc đẩy trước hết bởi những lợi ích phàm tục cho cá nhân hay cho gia đình. Jean-Jacques Olier nói: “Linh mục được Thiên Chúa kêu gọi và được Giáo hội Ngài tuyển chọn để phụng sự Ngài”.

Thời nay, phần thượng lưu và phần hạ lưu của việc đào tạo linh mục rất khác biệt. Trước hết, phần thượng lưu: sứ vụ linh mục vốn luôn là một cuộc phiêu lưu của đức tin. Những người cải cách của thế kỷ 16 và 17 đã hoạt động để trở lại tình trạng xã hội trong đó, như B. Pascal đã nói, người ta đi vào Giáo hội “đồng thời người ta cũng đi vào thế gian.” Trong việc vun trồng ơn gọi, Công đồng Trentô chẳng đặt niềm tin bao nhiêu vào những gia đình chính thức là Kitô giáo, nên đã lập ra “vườn ươm” tức “chủng viện” để cung cấp ơn gọi, ngay từ tuổi 12! Dẫu sao, môi trường Kitô giáo đó, chẳng nhất thiết là Kitô, không chỉ là một trở ngại. Nó còn là một nâng đỡ xã hội và văn hóa, sự nâng đỡ mà các Kitô hữu ngày nay càng ngày càng bị tước đoạt do đà gia tăng sự thế tục hóa các cơ chế, các tín ngưỡng và các phong tục. Tình hình thế tục hóa này làm cho Kitô giáo trở nên xa lạ và kỳ cục về mặt văn hoá. Đó chính là “thảm kịch của thời đại chúng ta, như những thời đại khác”.[12]

Người ta không ngạc nhiên thấy rằng, trong những điều kiện như thế, các ơn gọi linh mục và tu sĩ, cũng như chính ơn gọi Kitô hữu, thường có vẻ như một sự hoán cải cá nhân trở về với Đức Kitô hơn, tách rời khỏi môi trường xung quanh. Như thế, với nhiệt tâm mới, con người hoán cải ấy lưỡng lự giữa một bên là ước muốn mãnh liệt muốn chia sẻ nhiệt tâm của mình với người khác, bắt đầu từ kinh nghiệm cá nhân cụ thể của mình, và bên kia là mối ưu tư bảo vệ nhiệt tâm đó trong cộng đoàn riêng của mình. Người ta thấy cần phải giúp làm bén rễ Lời Chúa trong đức tin cá nhân của các linh mục tương lai và giúp giải phóng họ khỏi “ưu tư chuyện đời” là cái có thể bóp nghẹt Lời Chúa.[13] Từ đó, người ta có thể hiểu thiết chế mới đây: trước khi vào chủng viện có dành một năm không phải như một năm dự bị để cập nhật kiến thức, nhưng là một năm làm “nền móng thiêng liêng” cho toàn bộ việc đào tạo các linh mục tương lai. Nhưng cũng không kém cần thiết việc phải ưu tiên rèn luyện đức ái mục vụ, tức là tham dự, trong Thánh Thần, vào tình yêu của vị Mục Tử duy nhất không chỉ của Giáo hội Ngài mà của tất cả mọi người. Đó là ý nghĩa đánh cuộc sâu xa nhất của việc gửi các chủng sinh vào môi trường thực tập mục vụ.

Phần hạ lưu: sứ vụ của các linh mục và các giám mục được xác định rõ ràng theo lý thuyết, đó là phục vụ Lời Thiên Chúa, cử hành phụng vụ nhất là phụng vụ các bí tích, và phục vụ cho sự hiệp thông Giáo hội mở ra cho những người khác qua chứng từ và lòng bác ái. Trong thực tế, như người ta thường nói, phải có những hình thức và khuôn mặt mới. Bài viết của Xuân Bích về “Các linh mục giáo phận và tương lai sứ vụ của họ tại Pháp”, đăng trong Documents Episcopat năm 1999,” nêu rõ 3 điều: 1) phân định hoạt động và các đặc sủng Thánh Thần trong việc đồng hành với cá nhân hay với các nhóm; 2) phục vụ sự hiệp thông và truyền thông; 3) ý thức lại rằng việc rao giảng Tin Mừng luôn phải được bắt đầu lại, không như một bổn phận nặng nề, nhưng như sự chia sẻ trong vui tươi và khiêm tốn về một Tin Vui. Tự căn bản, những nhiệm vụ này hệ tại ở sự lắng nghe và truyền đạt Lời Chúa. Trong một xã hội vừa bị tục hóa về mặt văn hóa vừa trải qua những trào lưu ngược dòng đạo đức theo mọi nghĩa, việc phục vụ này đòi linh mục phải có lời nói không những chỉ thấm nhuần khôn ngoan và giáo lý, nhưng còn phải có sự tự do và trực giác của một sứ ngôn có tính “xây dựng”, như Thánh Phaolô nói, qua việc biết nhận ra và làm cho người ta nhận ra – thường một cách “dò dẫm”, trong những cái thông thuộc nhất của đời sống con người hôm nay – về hồng ân Thiên Chúa, “Đấng không xa mỗi người chúng ta”.[14] Sự căng thẳng giữa việc giải thích giáo huấn của Giáo hội và việc diễn giải có tính ngôn sứ và thi vị những biến cố và đời sống con người – một sự căng thẳng vừa có ích nhưng cũng vừa khó khăn và nguy hiểm – chỉ có thể được xử lý tốt bằng một thái độ ngoan ngoãn luôn được đổi mới đối với Chúa Thánh Thần, và bằng sự tìm hiểu và suy tư thật sự với nhiều người khác. Việc đồng hành thiêng liêng, trong và sau chủng viện, có thể giúp làm điều đó, vì thường tại đó người ta nói những điều nghe có vẻ chẳng “thiêng liêng” mấy. Nhưng tất cả công cuộc đào tạo các linh mục tương lai phải giúp họ biết cách đọc được ý nghĩa thần thiêng nơi hiện sinh con người. “Sống hết mình cho Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô” không mất chút nào ý nghĩa của nó, với điều kiện là người ta phải biết sống châm ngôn đó trong “tất cả các chiều kích và thành tố vật lý, tâm lý và thiêng liêng” của một con người hôm nay,[15] một con người bám rễ sâu vào quá khứ qua truyền thống nhận được nhằm để biết mở ra, như chính truyền thống đó, đón nhận tương lai của Đức Kitô Phục sinh và của Giáo hội.

Maurice Vidal, pss.

Đặc trách Ban Học Vụ và Nghiên Cứu

MỘT HỘI ĐỒNG LIÊN ĐỚI TRÁCH NHIỆM

1. CÁCH THỰC HÀNH CỦA CHÚNG TA

1.1. Một thực hành đặc trưng

Trách nhiệm chung của các linh mục thành viên của nhóm hướng dẫn được xác định và nhìn nhận như một thực hành đặc trưng của sư phạm Xuân Bích.[16] Trách nhiệm chung này có lẽ không mới, thậm chí rất xưa rồi.[17] Từ thời Công đồng, những từ “tập đoàn tính” hay “đồng trách nhiệm” vốn thường xuyên được dùng.[18]

1.2. Sự thành lập hội đồng và trách nhiệm của Hội đồng

“Tập thể những người hướng dẫn” mà Hiến Pháp cũ nói tới, đã trở thành “Hội đồng địa phương” hoặc “Hội đồng các Cha”. Hiến Pháp hiện thời nói rõ rằng Hội đồng bao gồm những người được “chỉ định bởi thẩm quyền Tỉnh Hội hoặc ít nhất với sự chấp thuận của Tỉnh Hội”.[19] Hội đồng không được nhận thêm bổ sung. Các thành viên của Hội đồng chịu trách nhiệm tập thể về việc đào tạo các linh mục tương lai, về việc phân định và giới thiệu để giám mục gọi chịu chức.[20] Tại Xuân Bích, toàn thể Hội đồng là cố vấn của giám mục chứ không phải là cố vấn của vị giám đốc. Cách thực hành của chúng ta là cách thực hành một tập đoàn tính thực sự trong đó quyết định tập thể (do đa số phiếu) sẽ áp đặt mọi người, gồm cả vị giám đốc là người được ủy nhiệm để thông báo. Thồng thường, mỗi thành viên của Hội đồng được mời đảm nhận công việc linh hướng, trừ vị giám đốc. Vị giám đốc, nhận trách nhiệm “trên một danh nghĩa đặc biệt” về “việc điều hành” và về “mối hiệp nhất cả nhà”,[21] là người giữ một vai trò chuyên biệt giúp tập thể thực thi sứ mạng đã được trao phó cho toàn thể Hội đồng, trong đó ngài không chỉ là phát ngôn viên có thẩm quyền.[22]

1.3. Những qui định thực tiễn cho hoạt động của Hội đồng

Buổi họp thường kỳ của Hội đồng là một thời khắc đặc biệt để hoàn thành sứ vụ đã được trao phó.[23] Ở đây người ta bàn mọi việc quan trọng. Sự hoạt động tốt của Hội đồng đòi phải tôn trọng một số qui định mà người ta thấy nêu rõ trong Hiến Pháp,[24] cách riêng những qui định sau:

– vị giám đốc làm và đề nghị chương trình họp sớm hết sức;[25]

– mỗi người có thể đăng ký một vấn đề;[26]

– trong khi thảo luận mỗi người hoàn toàn tự do trình bày;[27]

– các quyết định được biểu quyết theo đa số phiếu và “một khi đã được đa số chấp thuận, mọi người phải tuân theo và thi hành, bất kể ý kiến cá nhân”;[28]

– trong trường hợp số phiếu đồng đều, vị giám đốc có thể sử dụng lá phiếu ưu thắng của ngài;[29]

– khi bàn tới một chủng sinh, vị linh hướng của anh phải thinh lặng;[30]

– vị giám đốc chuẩn bị và chủ tọa Hội đồng, chỉ một mình ngài có thể phát biểu nhân danh Hội đồng.[31]

1.4. Thực thi thường xuyên trách nhiệm chung

1.4.1. Việc thực thi trách nhiệm chung không giới hạn chỉ trong những cuộc họp của Hội đồng. Tập đoàn tính hệ tại trước hết ở sự chia sẻ thường xuyên mối ưu tư chung của toàn thể, ở cảm thức về một trách nhiệm được chia sẻ. Trách nhiệm này được thể hiện qua sự tham dự của mọi người vào sứ mạng, vào sự điều hành, và vào đời sống chung. Vì thế nó giả thiết, như điều kiện cốt yếu, sự hiện diện thường xuyên trong đời sống cộng đoàn và sự tham dự vào những sinh hoạt khác nhau, những sinh hoạt của một trung tâm đào tạo.[32] Cách riêng Hội đồng có bổn phận hoạt động cho sự hiệp nhất các phương diện khác nhau của việc đào tạo.[33]

1.4.2. Sự tham dự của nhiều người vào một công cuộc chung đòi phải có sự phân chia các công việc khác nhau. Việc này một phần do sự suy xét và quyết định của chính Hội đồng. Cách riêng vị giám đốc có trách nhiệm lưu ý[34] đến các khả năng của mỗi người. Sự phân công này dĩ nhiên cũng tùy thuộc các cấp bậc trách nhiệm, thay đổi tùy các hoàn cảnh (giám đốc, bề trên giám tỉnh, giám mục).

Việc thực thi trách nhiệm thực sự có tính tập đoàn giả thiết rằng Hội đồng luôn phải biết rõ tình hình thực hiện các công việc của mỗi thành viên.

1.4.3. Trong Giáo hội, việc thực thi trách nhiệm mang tính tập thể vừa đòi hỏi vừa tạo điều kiện cho một sự hiệp thông. Sự hiệp thông này trước hết yêu cầu một sự cộng tác trung thực. Nó triển nở nhờ sự tin tưởng lẫn nhau, nhờ chia sẻ đức tin và cầu nguyện.[35] Trong truyền thống Xuân Bích, tầm quan trọng lớn nhất luôn được gán cho chứng tá thường ngày của cộng đoàn các nhà đào tạo để dẫn bước các linh mục tương lai đi vào tinh thần linh mục và đi vào linh mục đoàn.

2. MỘT VÀI VẤN ĐỀ ĐẶC BIỆT

Ít ra, từ 25 năm nay, có nhiều thay đổi lớn trong việc thi hành sứ vụ linh mục, cũng như trong chính các chủng viện và sự tổ chức các chủng viện. Những thay đổi này có ảnh hưởng trên vấn đề trách nhiệm tập thể của Hội đồng.

2.1. Các chủng viện liên địa phận

Trong tình hình trước đây tại Pháp, đã có những chủng viện thuộc giáo phận, những chủng viện có tính cách đại học và chủng viện Xuân Bích. Một số nhà đã duy trì một thể chế đặc biệt, những nhà khác được khai sinh, nhưng rồi nói chung người ta đã đi đến cơ chế chủng viện liên giáo phận (theo giáo luật hay theo thực tế). Trong bối cảnh này, việc thành lập Hội đồng thường lệ thuộc vào nhiều giám mục và Hội đồng sẽ phải trả lời về sứ mạng của mình trước mặt các vị giám mục này, ngay cả khi một trong các vị này được ủy nhiệm đặc biệt theo dõi đời sống chủng viện.

2.2. Hội đồng

2.2.1. Thành Phần

Thường thường nhiều địa phận có đại diện. Các linh mục của giáo phận và các linh mục Xuân Bích hiện diện nơi đây theo tỉ lệ thay đổi. Việc phân chia các công tác và các trách nhiệm được thực hiện theo những phương thức khác nhau. Đôi khi chỉ một thành viên của nhóm được ủy nhiệm theo dõi một lãnh vực của việc đào tạo (tập sự mục vụ, đi giúp xứ); hoặc giả tất cả các công việc đều được chia sẻ bởi mọi người.

Hơn nữa, ngoài trách nhiệm chính, các thành viên của Hội đồng thường đảm nhận những công việc khác để phục vụ giáo phận. Lúc đó, họ liên hệ với những môi trường khác của Giáo hội ngoài chủng viện và đôi khi ít hiện diện trong đời sống chung. Từ đó, có thể nảy sinh một khác biệt đáng kể giữa các thành viên của Hội đồng. Họ không luôn được đặt định và nhận định cùng một thể cách. Nhưng việc họ dấn thân trong Hội đồng luôn phải là trách nhiệm hàng đầu.

2.2.2. Trợ lực của các giáo sư ngoại trú

Thường thường, các thành viên của Hội đồng không đảm nhận hết được mọi chức vụ, nên họ phải nhờ tới các giáo sư ngoại trú: linh mục, tu sĩ hoặc giáo dân. Một số có thể có vai trò và ảnh hưởng rất lớn. Đó đây, người ta cố gắng để có sự bàn bạc thống nhất đều đặn.

Để việc đào tạo được nhất quán và việc phân định được nghiêm cẩn, nhằm tránh sự phân tán có hại cho mối thống nhất hữu cơ của việc đào tạo, hoặc có hại cho tinh thần cộng đoàn, có hai đòi hỏi được thấy rõ ràng:[36]

+ các giáo sư ngoại trú cần can dự tích cực vào sự bàn bạc thống nhất với Hội đồng, và Hội đồng phải liệu để thúc đẩy điều này. “Vị giám đốc giữ trách nhiệm cuối cùng về việc chọn lựa giáo sư này.”[37]

+ chính Hội đồng phải đủ vững chắc. Điều này bao hàm một nhóm ổn định, một sự chia sẻ đời sống thường xuyên với các chủng sinh, và một sự dấn thân ưu tiên của các thành viên trong công việc này.

2.3. Đồng trách nhiệm biệt hóa –

Sự tham gia của chủng sinh[38]

Hội đồng tự tìm những phương thức để suy xét sâu xa về vấn đề này. Sự suy xét này và những lựa chọn thực hành phải lưu ý tới những điều có liên hệ ở đây: việc rèn luyện cho các linh mục tương lai về một tác vụ được đảm nhận trong sự cộng tác với những người khác (giáo dân, thừa tác viên có chức thánh và những người thánh hiến); việc thực hành đồng trách nhiệm như dấu chỉ và phương thế của sự hiệp thông Giáo hội; trách nhiệm của các ứng sinh vào tác vụ đối với sự đào tạo của chính họ.

Trong khi bảo tồn trách nhiệm chuyên biệt của Hội đồng (sứ mạng đào tạo và phân định), thì các chủng sinh vẫn được đưa vào thông dự một cách thường xuyên với việc đào tạo của chính họ.[39] Những phương thức của việc tham dự này thay đổi tùy theo giai đoạn đào tạo (chu kỳ 1, 2, 3) và tùy theo tầm quan trọng của các cộng đoàn. Để linh hoạt đời sống chung, ngoài vai trò đặc biệt của Hội đồng, người ta sẽ khuyến khích những thỉnh nguyện và những thủ tục cho phép có những quyết định chung, để thu thập và nêu rõ các ý kiến, cảm xúc và nhận xét của mỗi người.

Để chuẩn bị giới thiệu cho giám mục kêu gọi, cách làm thông dụng là tiến hành một cuộc tham khảo chính các chủng sinh. Việc tham khảo này có những hình thức khác nhau. Đôi khi người ta chỉ yêu cầu những ai có điều gì cần nói. Hoặc cách khác, mỗi người đều được mời cho ý kiến bằng cách viết ra trên giấy về các ứng sinh sắp được gọi chịu chức (hoặc sắp được gọi vào Nghi thức Đón Nhận hay lãnh các Tác Vụ).

2.4. Tập sự mục vụ

Tập sự mục vụ đã trở nên một yếu tố quan trọng trong việc đào tạo, và chính Công đồng đã nhắc rõ mục đích mục vụ của công cuộc đào tạo này.[40]

Hội đồng của chủng viện không thể làm như một mình có thể đảm nhận trách nhiệm đào tạo và phân định. Hội đồng phải khuyến khích trách nhiệm và cảm thức trách nhiệm của các đối tác. Hiển nhiên, Hội đồng không được thoái thác trách nhiệm riêng và phó thác cho duy chỉ sự phân định của nhóm mục vụ đã đón tiếp chủng sinh đến thực tập.[41] Hội đồng càng phải lưu ý điều đó trong những trường hợp khó khăn và ở những nơi mà người ta không biết gì nhiều về các ứng sinh. Sẽ hữu ích khi soạn ra một văn bản xác định các trách nhiệm của mỗi bên, nêu rõ những gì được mong đợi nơi các nhóm mục vụ cả về việc đồng hành lẫn về việc đào tạo, về sự trợ giúp phân định, và về những cách thức can thiệp trong tiến trình giới thiệu để giám mục kêu gọi. Về vấn đề này, khi nhóm mục vụ được mời cho ý kiến liên quan đến một khả năng chịu chức, nên liệu sao để họ có thể hoàn toàn tự do phát biểu và tất nhiên trong lúc ứng sinh vắng mặt.

Phẩm chất của các mối liên hệ giữa một nhóm chuyên biệt như nhóm của chủng viện và những nhóm mục vụ đòi phải có sự tin tưởng lẫn nhau và, trên nguyên tắc, phải có sự gắn bó với toàn bộ chương trình đào tạo. Để được như vậy, nên liệu sao để có những cuộc gặp gỡ khá thường xuyên với người phụ trách hoặc một trong các thành viên của Hội đồng, và thỉnh thoảng với toàn thể Hội đồng. Những mối liên hệ này với các nhóm mục vụ được thấy là một điều kiện không thể thiếu cho một chương trình đào tạo thống nhất và cho sự phân định các khả năng phù hợp với các nhu cầu của giáo phận.

Thông thường, các tín hữu thuộc các cộng đoàn nơi thực tập không chỉ đóng vai trò tích cực trong việc đào tạo linh mục, nhưng họ còn được mời góp ý về khả năng của các ứng viên đối với tác vụ. Chỉ cần lưu ý rằng sự can thiệp này phải được làm với trách nhiệm về mặt con người và với sự xác đáng về mặt Giáo hội. Một cách cụ thể, điều này có nghĩa là nếu Hội đồng thấy hữu ích, thì mời những người biết khá rõ về các ứng viên, để họ góp ý kiến. Điều này cũng có nghĩa là phải nêu rõ rằng việc tham khảo này nhằm soi sáng cho những người hữu trách và cuối cùng cho chính giám mục là người quyết định.

Trong thực tế, Hội đồng không luôn liên hệ trực tiếp với những người có liên quan. Thường thường, chính với các linh mục của nhóm mục vụ mà tất cả phải được cứu xét và xác định. Các chủng sinh có thể đề nghị nên tham khảo người này người khác, cả những người không phải là Kitô hữu.

2.5. Các đại diện giáo phận

Hội đồng cộng tác với các linh mục “đại diện giáo phận”, các vị này được giám mục chỉ định và hầu như ở đâu cũng có. Vị đại diện giáo phận luôn được ủy nhiệm để đảm nhận mối liên hệ giữa giáo phận và chủng viện.

Đâu là vai trò chính xác của linh mục đại diện giáo phận và làm sao để hòa hợp trách nhiệm của vị này với trách nhiệm của Hội đồng? Tầm quan trọng của vị đại diện giáo phận đòi hỏi rằng vai trò mà giám mục trao phó cho vị này phải được xác định rõ ràng trong đối chiếu với trách nhiệm riêng của Hội đồng.

Vị đại diện giáo phận can thiệp vào những gì liên quan trực tiếp hơn tới mối liên hệ của chủng sinh với giáo phận của họ (như thực tập mục vụ, triển khai thực tập, những liên hệ với các giáo xứ tiếp đón, thời gian nghỉ, những vấn đề vật chất khác). Ngài có vai trò thông tin, tham khảo và đôi khi quyết định. Ngài được thông tin cách cốt yếu về những biến chuyển nơi các chủng sinh thuộc giáo phận ngài. Khi có liên quan đến việc giới thiệu chịu chức, ngài phải được tham khảo ý kiến nhân danh trách nhiệm riêng của ngài. Nếu sự tham khảo này xảy ra trong khuôn khổ của Hội đồng, thực tế cho thấy không nên để vị đại diện này tham dự cuộc bỏ phiếu về việc giới thiệu chịu chức.

Vả lại, sự tồn tại của một đại diện giáo phận không ngăn cản những mối liên hệ trực tiếp giữa giám mục với vị giám đốc và Hội đồng. Để làm tốt vai trò của ngài, vị đại diện giáo phận cần gặp gỡ đều đặn vị giám dốc và toàn thể Hội đồng. Rất hữu ích nếu có thể tiên liệu mỗi năm một hay hai cuộc gặp gỡ toàn bộ các đại diện giáo phận với cả Hội đồng.

Sự phân chia rõ rệt và xác đáng các vai trò sẽ tạo nên sự cộng tác và các mối liên hệ tốt đẹp. Ngoài ra, sự phân chia này còn là một điều kiện không thể thiếu:

– để chủng viện có thể chu toàn sứ mạng đào tạo các ứng sinh và phục vụ mỗi địa phận có sự hiện diện trong chủng viện.

– để mỗi giám mục và nói chung các thành viên của địa phận coi chủng viện như chủng viện của mình.

2.6. Sứ mạng của Hội đồng và

thẩm quyền của các giám mục [42]

Hội đồng chủng viện nhận sứ mạng từ thẩm quyền giám mục. Trong trường hợp một chủng viện liên địa phận, một vị trong số các giám mục này được ủy nhiệm thực thi hữu hiệu trách nhiệm liên đới của các ngài, nhất là trong những gì liên hệ tới:

– sự thành lập Hội đồng;

– sự xác lập chương trình đào tạo phù hợp với các tiêu chuẩn của Giáo hội, và sự kiểm tra việc thực hiện;

– những điều kiện vật chất và tài chính.

Vị giám mục này còn có bổn phận phải thúc đẩy các đồng nghiệp mình quan tâm đến đời sống trong chủng viện của các ngài.

2.7. Trách nhiệm riêng của Hội đồng trong việc

giới thiệu các ứng sinh để giám mục kêu gọi

Bản văn Ratio Institutionis năm 1997 phát biểu nguyên tắc căn bản về vấn đề này:

“Việc đào tạo các ứng sinh vào tác vụ linh mục đòi hỏi những sự cộng tác vừa nhiều vừa rất khác biệt. Nằm ngay ở giao điểm của những can thiệp này, nhóm điều hành được vị giám mục hữu trách lập nên – vị này thảo luận với các giám mục liên hệ trong trường hợp chủng viện liên giáo phận, để cắt đặt các thành viên (……) Nhóm điều hành này đảm nhận trách nhiệm đào tạo và phân định ơn gọi.”[43]

Vì thế, Hội đồng chủng viện nhận trách nhiệm riêng của mình đối với giám mục khi đặt mình trong toàn cục vốn bao gồm những trách nhiệm rất nhiều và khác biệt. Hội đồng có bổn phận thâu thập các ý kiến khác nhau, cân nhắc chúng dựa theo nguồn gốc của chúng và tổng hợp chúng lại. Hội đồng có tiếng nói của chính mình qua một cuộc biểu quyết với đa số phiếu,[44] khởi đi từ một sự hiểu biết trực tiếp các ứng sinh, và chỉ một mình Hội đồng mang trách nhiệm trước giám mục về việc giới thiệu xin gọi chịu chức.[45] Một cách cụ thể, chính vị giám đốc thông tri cho giám mục biết kết quả biểu quyết và ý kiến của Hội đồng, bằng cách cung cấp cho ngài những yếu tố để thẩm định mà mình có được.[46] Cũng chính vị giám dốc chuyển cho ứng viên câu trả lời của giám mục.

Giám mục có thể thông tin cho hội đồng tư vấn giám mục của ngài về đời sống của chủng viện, nhất là những dự kiến truyền chức và ý kiến của chủng viện liên quan tới các ứng viên của giáo phận, ít là đối với những gì liên hệ tới những bổ nhiệm phải dự kiến.

Trách nhiệm sau cùng của Hội đồng nằm trong một toàn bộ như thế tạo nên mối bảo đảm về sự tự do của các ứng sinh và về phẩm chất Giáo hội của việc phân định. Thật vậy, Hội đồng này dựa trên sự hiểu biết về các ứng viên và về sự biến chuyển mà họ đạt được qua thời gian. Hội đồng có được khoảng cách tương đối đối với những hoàn cảnh riêng của các giáo phận và đối với những sự đánh giá tức thời. Hội đồng được thành lập gồm các linh mục có phẩm cách để phân định do sự kiện rằng các ngài đồng thời đảm nhận tác vụ cố vấn thiêng liêng bên các chủng sinh.[47] Sau cùng Hội đồng thực thi trách nhiệm này một cách tập thể.

3. KẾT LUẬN

Nguyên tắc về trách nhiệm tập thể của Hội đồng được đặt trong một toàn bộ. Hình thức thực thi trách nhiệm này đi đôi với việc thực hành khoa sư phạm trong đó sự nhấn mạnh được gắn kết với đời sống chung và với việc đối chiếu những sự khác biệt. Hình thức này nhằm giúp cho sự tự do thiêng liêng của các ứng sinh vào tác vụ.

Việc thực hành này có thể cho phép các Hội đồng góp phần làm cho tính đồng trách nhiệm trong Giáo hội nên hữu hiệu hơn. Thật vậy, chính việc thực hành này là một cách cùng chịu trách nhiệm và cung ứng một tham chiếu. Như thế nó có thể giúp đào tạo các linh mục có khả năng hơn để sống những khác biệt, cũng như sống chiều kích tập thể của sứ vụ, và được chuẩn bị tốt hơn để thực thi sứ vụ này như một sự phục vụ cho mối hiệp thông Giáo hội.[48]

CỘNG ĐOÀN GIÁO DỤC

Trong việc đào tạo linh mục, một trong những điểm nền tảng của thực hành Xuân Bích là:

“Một đời sống cộng đoàn thực sự giữa các nhà đào tạo và các ứng sinh để làm nên một ‘cộng đoàn giáo dục’, cộng đoàn này vun xới tinh thần đồng trách nhiệm và cho phép có những đối chiếu cần thiết và có một sự phân định ơn gọi tốt hơn.”[49]

Phần này sẽ gồm các nội dung sau đây:

– thâu thập các yếu tố thiết yếu và tinh thần của thực hành truyền thống này;

– phân tích những thay đổi xảy ra trong những năm mới đây liên hệ tới việc thực hành truyền thống ấy;

– đề ra một vài tiêu chuẩn để xử lý những vấn đề hiện thời trong khi vẫn trung thành với truyền thống.

1. TINH THẦN CỦA MỘT THỰC HÀNH TRUYỀN

THỐNG THUỘC XUÂN BÍCH

1.1. Nguyên thủy của cộng đoàn giáo dục

1.1.1. Thành ngữ “cộng đoàn giáo dục” chỉ xuất hiện sau này, nhưng thực tại thì phải ngược lên tới cội nguồn của Chủng Viện Xuân Bích. Cha Jean-Jacques Olier, được gọi cùng với “Hội bé nhỏ” của ngài để “quảng bá tinh thần linh mục trong Giáo hội”,[50] đã thành lập Hội với tham chiếu đến Tông đồ đoàn ngay từ khởi thủy.[51] Ngay khi cùng với một vài bạn hữu đón nhận các ứng sinh vào hội để chuẩn bị cho tiến chức, ngài đã muốn biến họ thành một “cộng đoàn giáo dục” đích thực.

1.1.2. Mục đích chung được đề ra cho mọi thành viên là “sống hết mình cho Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô”[52] theo Thánh Thần được trao ban cho các Tông đồ. Nơi đây là nguồn của mối hiệp nhất huynh đệ giữa các linh mục, nguồn của sự cộng tác giữa họ với nhau để phục vụ Giáo hội, và nguồn của sứ mạng Phúc âm của họ.

1.2 Một cộng đoàn theo cách sống của các Tông đồ

1.2.1. Việc thực hành “cộng đoàn giáo dục” muốn dựa trên thực hành của chính Đức Giêsu Kitô, Đấng đã mời gọi, qui tụ, huấn luyện các Tông đồ và sai họ đi.[53] Vẫn chính là tiếng gọi này thiết lập cộng đoàn chủng viện ngày nay: “Bản tính sâu xa của chủng viện, đó là – theo cách của mình – tiếp tục trong Giáo hội cộng đoàn Tông đồ được qui tụ chung quanh Đức Giêsu”.[54]

1.2.2. Trong Giáo hội, tiếng gọi này của Đức Kitô được biểu hiện rõ rệt qua sứ vụ giám mục. Là thừa tác viên của bí tích truyền chức, giám mục cũng phụ trách cơ chế đào tạo linh mục. Truyền thống Xuân Bích vốn coi ngài như vị “giám đốc thứ nhất” của chủng viện.

1.2.3. Chính để đáp trả tiếng gọi của Đức Kitô mà bản thân mình đã nghe thấy, các ứng sinh gia nhập cộng đoàn phân định và đào tạo này. Được đón nhận nhân danh giám mục của họ, họ ý thức rằng tiếng gọi ấy, dù có tính riêng tư đến mấy, đã ghi tên họ vào một ơn gọi tông đồ chung, và qua chủng viện, sẽ thành ơn gọi của tất cả hàng linh mục.

Tại trường học của Đức Kitô, nhờ Thánh Thần của Ngài, họ cùng nhau học sống Phúc Âm và học phục vụ Giáo hội trong sự đa dạng của ân huệ và trách nhiệm.

1.2.4. Các linh mục được giám mục chọn để đồng thời là nhà giáo dục và là thành viên của cộng đoàn ơn gọi này thực thi sứ vụ của mình nơi đây, trước hết bằng đời sống chung giữa họ và với các chủng sinh, theo gương Đức Giêsu Kitô đã thường xuyên sống với các môn đệ của Ngài. Động lực của một sự đào tạo như thế nằm trong tinh thần tranh đua thiêng liêng thúc đẩy mọi người hiệp thông với Ngôi Lời nhập thể trong tình yêu Giáo hội và trong tinh thần sứ mạng.

1.2.5. Một thực hành cộng đoàn đào tạo như thế phát xuất tự một xác tín đúng hơn là do cưỡng bức. Dựa vào động lực nội tâm của ơn gọi nơi các ứng sinh, việc thực hành này nại tới sự tự do của họ trong khi khích lệ sự cộng tác và sáng kiến nơi họ. Như thế việc thực hành này chuẩn bị cho các linh mục tương lai đảm nhận các trách nhiệm của họ trong lòng linh mục đoàn.

1.3. Một cộng đoàn sống bằng “tinh thần tông đồ”

1.3.1. Theo cảm hứng nguyên khởi, “đời sống Tông đồ” là đời sống phúc âm mà Đức Kitô đã khai tâm cho các môn đệ của Ngài, trước hết bằng hành động và lời nói của Ngài, sau đó bằng ân huệ của Thánh Thần của Ngài, Đấng đã đưa họ vào mầu nhiệm Phục sinh vì ơn cứu độ của thế giới và cho vinh danh Chúa Cha. “Đời sống tông đồ” này là hình thức tiên khởi của sự sống mới mà Thiên Chúa mở ra cho mọi người. Nó đã nhận được hình ảnh gương mẫu trong đời sống Giáo hội sơ khai, chung quanh các Tông đồ tại Giêrusalem.[55]

1.3.2. Cộng đoàn chủng viện rèn luyện lối sống phúc âm này, là lối sống họ khao khát. Cộng đoàn làm điều này bằng việc tìm hiểu và suy niệm Mầu nhiệm Kitô giáo; bằng sự tham dự được cung ứng cho họ trong phụng vụ, nhất là trong Bí tích Thánh Thể; bằng sự thúc đẩy nhau sống đức ái và trao chứng tá bằng nhiều hình thức mà sự tham dự này kêu gọi và cổ võ. Với sự thi đua thiêng liêng này, thi đua không hề có tính chất hơn thua, Thánh Thần của Chúa Giêsu xây dựng cộng đoàn từ bên trong, giữa lòng những trao đổi đa dạng, và từ việc đặt làm của chung những ơn riêng của mọi thành viên.

1.3.3. Hội đồng các nhà đào tạo can dự chính mình trước hết vào đời sống hiệp thông này do Thánh Thần khơi gợi. Sự nhất trí thiêng liêng và sự gắn kết năng động, trong sự khác biệt giữa các thành viên của Hội đồng, tạo nên một chứng tá có tầm quan trọng hàng đầu. Cùng với nhau, Hội đồng phân định hoạt động của Thánh Thần nơi các ứng sinh, không chỉ để cộng tác, mà còn để đào tạo chính các ứng sinh biết làm công việc phân định và hợp tác này. Cũng thế, các linh mục và các chủng sinh tiếp nhận nhau. Điều này được thấy rõ trong khung cảnh nổi bật tính cá nhân của việc linh hướng, cũng như trong những loại trao đổi khác nhau phù hợp với những phương diện đào tạo khác nhau.

1.3.4. Được hợp nhất và được làm cho năng động do ơn gọi tông đồ, cộng đoàn đào tạo không thể khép kín trong chính mình. Nhờ học hỏi và cầu nguyện, cộng đoàn đi sâu vào lịch sử mà Thánh Kinh và Truyền Thống sống động của Giáo hội chứng thực. Nhờ những tương quan đa diện và nhờ thành phần xuất thân khác nhau của các thành viên, cộng đoàn mở vào đời sống hiện đại của Giáo hội trong thế giới ngày nay. Như thế các chủng sinh học hiểu một cách cụ thể về Giáo hội, với những sức sống năng động cũng như với những sự nặng nề của Giáo hội. Họ được khuyến khích phục vụ Giáo hội bằng cách hiến mình cho Giáo hội cùng với Đức Kitô.

1.3.5. Ta hiểu tại sao cộng đoàn đào tạo, do tính chặt chẽ, tính bền vững và tính đa diện của mình, là một lò tôi luyện đời sống Kitô hữu và tính chất Công giáo. Chính từ một vận hành duy nhất mà cộng đoàn đào tạo này đem lại cho các thành viên của mình một kinh nghiệm thiêng liêng nền tảng và một kinh nghiệm đắt giá và thực tiễn về cộng đoàn Giáo hội. Kinh nghiệm này có tính chất đào tạo cách riêng cho các mục tử tương lai của các cộng đoàn và cho tính hợp nhất của linh mục đoàn.

1.4. Một cộng đoàn khai tâm bí tích

cho sứ vụ của Giáo hội

1.4.1. Trong mầu nhiệm Phục Sinh và ngay trong sứ vụ của Ngài, Đức Kitô đã đưa các Tông đồ tham dự vào sứ mạng của Ngài. Ngày nay, Ngài tiếp tục công việc này với những người được Ngài hội nhập vào sứ vụ tông đồ qua bí tích truyền chức thánh. Chính vì thế, cộng đoàn chủng viện, một cộng đoàn ơn gọi và đời sống tông đồ, cũng là một cộng đoàn khai tâm bí tích.

Sự khai tâm này vào các chức thánh bao gồm sự tiệm tiến, sự hoán cải và sự thao luyện đặc biệt, được thực hiện chung. Từ quan điểm này, người ta có thể so sánh nó với sự khai tâm Kitô giáo mà nó vốn đòi hỏi.

1.4.2. Sự tiệm tiến, theo những giai đoạn do giáo quyền ấn định, cung ứng cho mỗi người các phương tiện chung của cộng đoàn, để nhận ra ngày càng rõ hơn ý nghĩa của tác vụ chức thánh, và chấn chỉnh các động lực và các khả năng của mình. Việc sống sự tiệm tiến này trong loại cộng đoàn được mô tả trên đây là một yếu tố quyết định về tính trong sáng và về sự tự do thiêng liêng cho các ứng viên.

1.4.3. Sống chung với nhau và cùng hướng tới tác vụ thánh chức, các ứng viên tiến triển khác nhau, giúp nhau với sự chân thành và cảm thông huynh đệ để đạt được sự hoán cải mà tác vụ này đòi hỏi. Trong đức tin, họ chuẩn bị và cử hành cùng nhau những giai đoạn tiến triển của họ và kết dệt giữa họ những mối liên lạc của tình huynh đệ có tính bí tích mà việc truyền chức tạo lập giữa các linh mục.

1.4.4. Sau cùng, sự khai tâm vào bí tích truyền chức bao gồm việc tập tành thực thi tác vụ mà bí tích này thiết lập và khai mở. Điều quan trọng là nhân danh Đức Kitô, cùng với giám mục kết hợp với Tông đồ đoàn, họ học mang trách nhiệm một cách thực tiễn đối với Tin Mừng, đối với các bí tích và đức ái, là những yếu tố làm nên Giáo hội Ngài, làm thành Thân Thể Ngài và nên dụng cụ cho sứ mạng của Ngài trước con người và trong lịch sử của họ.

Nhằm mục đích này, chủng viện luôn bố trí để các chủng sinh liên hệ với các giáo xứ và các môi trường làm việc tông đồ khác nhau, ít ra tại một giai đoạn đào tạo nào đó. Kể từ Công đồng Vatican II, thực hành này được phổ biến luôn trong chiều hướng tiệm tiến.[56] Như thế, cộng đoàn chủng viện liên kết với các cộng đoàn Giáo hội khác nhau, giữa lòng những cộng đoàn này các linh mục, cách riêng, có khả năng khai tâm cho các chủng sinh thực thi tác vụ thánh chức, trong khi vẫn kính trọng và còn khích lệ những tính mới mẻ mà Thánh Thần không ngừng gợi lên.

Hội đồng phải giúp các ứng viên suy nghĩ về những kinh nghiệm thực hành khác nhau, giúp họ nhận định giá trị và các giới hạn của chúng. Từ đó họ rút ra những bài học về các khả năng, về các nhu cầu đào tạo của họ, về việc thi hành sứ vụ trong tương lai ở những lãnh vực khác, trong những điều kiện khác, với những linh mục và đối tác khác. Họ sẽ thấy rõ hơn điều mà họ được đòi hỏi để có thể phục vụ Giáo hội của Đức Kitô, nhân danh Ngài.[57]

2. BỐI CẢNH MỚI VÀ NHỮNG HỆ QUẢ CỦA NÓ

“Cộng đoàn giáo dục” cần phải sống nương theo lịch sử Giáo hội và những biến chuyển văn hóa ảnh hưởng tới Giáo hội. Từ Công đồng Vatican II, với việc Giáo hội biểu lộ ý thức mới mẻ về mầu nhiệm của mình[58] và về mối tương quan giữa mình với xã hội[59] thích nghi theo những thay đổi nhanh chóng trong xã hội, việc tìm kiếm những cách thế cho một cuộc “tân Phúc âm hóa”[60] đã gợi ra một mối quan tâm mới mẻ về đời sống cộng đoàn và tinh thần đồng trách nhiệm trong Giáo hội.

Đời sống các chủng viện rõ ràng được tạo dấu ấn như thế, cách riêng là dấu ấn về một “cộng đoàn giáo dục”.

2.1. Các chủng sinh ngày nay sống trong một xã hội với những đổi thay dồn dập trong đó tất cả các cơ chế đều trở nên mong manh và ngay cả thường bị đặt vấn đề nữa. Đó cũng là một xã hội mà người ta ngày càng bị giằng co giữa một đàng là cá nhân chủ nghĩa mà họ ưa thích và đàng khác là những câu thúc mà đời sống xã hội áp đặt lên họ. Những tiêu chuẩn nhân bản đơn giản nhất cho đời sống chung đôi khi thiếu nơi chủng sinh. Một bối cảnh như thế đặt ra nhu cầu – nhu cầu này không tự nhiên lắm mà rất khẩn thiết – đó là cần đề ra những đòi hỏi cho một “cộng đoàn giáo dục” đích thực, trong đó định rõ vai trò của quyền bính.

2.2. Từ ảnh hưởng của Công đồng, việc đề cao chiều kích Giáo hội trong đời sống Kitô giáo đã góp phần gợi lên những kỳ vọng và đòi hỏi đối với cộng đoàn chủng viện, được nhìn nhận như tế bào của Giáo hội. Theo đó mẫu thức cộng đoàn là mẫu thức của một đời sống Giáo hội hệ tại ở sự hiệp thông giữa các cá nhân và các nhóm khác nhau. Ngoài việc hội nhập vào một khuôn khổ thống nhất xét theo mặt ngoài, mỗi người được đòi hỏi phải dấn thân một cách cá nhân, bằng cách đảm nhận những trách nhiệm riêng của mình, để cộng đoàn được xây dựng từ sự đóng góp của mọi người ở mọi bình diện. Không ai được co cụm với riêng mình. Ở đây không có ý nói rằng người ta phải sống bên cạnh nhau, nhưng là người ta phải gặp gỡ nhau. Những dạng đòi hỏi mới xuất hiện: cần một hệ thống các cơ cấu mới có tính thúc bách mỗi người đầu tư bản thân cách mạnh mẽ (những nhóm sống, nhóm làm việc, những cơ cấu đồng trách nhiệm, những nhóm thực tập, những cuộc họp hằng năm…). Như thế mỗi người được mời gọi đi vào sự chia sẻ huynh đệ.

Về phần mình, quyền bính không thể hiện theo cách tiên liệu mọi xung khắc bao nhiêu có thể. Nó không tìm cách đạt được sự đồng nhất. Điều nó kiếm tìm là sự hiệp thông do tinh thần huynh đệ và sự hợp nhất trong khác biệt.

2.3. Các cộng đoàn chủng viện là thành phần của một Giáo hội muốn quan tâm tới đời sống của thế giới và những vấn đề xã hội. Chúng ta không nghĩ đến một sự đào tạo trong bốn bức tường khép kín. Chủng viện không thể chỉ là một thời tĩnh tâm và “sa mạc.” Nó được nối kết với những cộng đoàn Kitô hữu ở đó các chủng sinh đã tham dự vào sứ mạng cách này hay cách khác. Thậm chí hiện nay chủng viện có thể được coi như một môi trường giữa các môi trường khác, nếu không muốn nói đó là môi trường quan trọng nhất. Sự mở ra này tác động sâu xa đến đời sống thiêng liêng cũng như những chia sẻ đời sống cộng đoàn. Nếu cộng đoàn chủng viện tương đối có được những điều đó, đời sống chủng viện sẽ nên phong phú và việc chuẩn bị các ứng viên cho tác vụ sẽ được đẩy mạnh hơn.

2.4. Từ nay, những chủng viện nơi Xuân Bích đảm trách, theo luật hay theo thực tại, là chủng viện liên địa phận. Tuy nhiên, động lực hiện nay thiên về hướng đề cao Giáo hội địa phương và vận động những nguồn lực sống động của Giáo hội địa phương chung quanh đức giám mục. Những cộng đoàn đào tạo liên địa phận có khả năng đáp ứng cho những đòi hỏi này. Các nhóm chủng sinh của mỗi giáo phận khẳng định hơn về căn tính của họ. Các mối tương quan của chủng viện với mỗi giáo phận sẽ rất đa dạng và củng cố cho nhau. Một vài giai đoạn của tiến trình đào tạo được nối kết chặt chẽ với giáo phận của mỗi đương sự. Những mối dây liên hệ được hình thành rất sớm giữa các chủng sinh và linh mục đoàn thuộc giáo phận của họ.

2.5. Bộ mặt của các cộng đoàn chủng viện còn phụ thuộc vào hoàn cảnh của một Giáo hội “thiểu số” trong một xã hội quá tục hóa. Sự giảm sút nhân số là khía cạnh dễ thấy nhất. Chính sự giảm sút này đã dẫn tới việc gộp thành nhóm liên giáo phận. Cần lưu tâm đến điểm này. Thật vậy, trong một cộng đoàn có kích thước nhỏ, những tương quan liên vị có nguy cơ lấn lướt các mối liên hệ có tính cơ chế làm tổn hại cho sự tự do đích thực của các cá nhân và cho việc tập sự cần thiết để sống đời sống và tác vụ linh mục, vốn là những điều cũng có chiều kích cơ chế.

2.6. Đặc biệt, bên ngoài chủng viện xuất hiện một thay đổi quan trọng trong các điều kiện thực thi tác vụ và đời sống linh mục. Các chủng sinh và các linh mục trẻ thường rất rõ về tính tất yếu của chuyển biến này. Đa số họ tự chuẩn bị để hợp tác cách rộng rãi với các phó tế, các nữ tu, và với giáo dân… Một số khác lại nhấn mạnh hơn đến sự cần thiết phải có một cộng đoàn sống chung, cầu nguyện, và chia sẻ giữa các linh mục như điều kiện để nâng đỡ nhau, để có sức sống thiêng liêng để việc mục vụ có được hoa trái trong một bối cảnh khó khăn.

Điều này tác động đến các kỳ vọng của họ về đời sống trong “cộng đoàn giáo dục.” Vì thế trong khi người này ước mong mở đời sống đó ra hết sức hướng về việc mục vụ trong giáo phận của mình, sẽ có khuynh hướng tương đối hóa nó, thì người khác ngày càng tìm cách đề cao nó trong một loại viễn tượng “đạo đức” hơn.

3. NGÀY NAY PHẢI ĐI VỀ HƯỚNG NÀO?

Truyền thống được nhắc tới trong phần đầu trên kia cung cấp cho ta những tiêu chuẩn. Nhưng chúng ta vận dụng các tiêu chuẩn ấy trong một hoàn cảnh khác hẳn. Những phong trào cộng đoàn hiện nay có thể là một kích thích, chúng mời ta có một biện phân. Thật vậy, cộng đoàn chủng viện không phải là không biệt hóa. Khuôn mặt của chủng viện được xác định bởi mục đích của nó, đó là đào tạo các linh mục giáo phận, để phục vụ một giáo phận nhất định, trong lòng một xã hội cần được Phúc âm hoá. Những mục tiêu đó được thiết định rõ ràng trong Ratio Institutionis, với sự vận dụng các bản văn của Công đồng Vativan II.[61]

3.1. Khẳng định lại nhu cầu và đặc tính của một đời sống cộng đoàn cho các linh mục tương lai

3.1.1. Đời sống cộng đoàn này được Giáo hội yêu cầu như một môi trường và một thời gian để trưởng thành và để phân định ơn gọi hướng tới tác vụ linh mục, ơn gọi này vốn cắm rễ trong ơn gọi Phép Rửa.

Chính vì thế cộng đoàn chủng viện đóng một vai trò quan trọng trong cộng đoàn Giáo hội, nơi mà đời sống Phép Rửa ấy được đào sâu. Đối với các thành viên, cộng đoàn chủng viện là một tế bào của Giáo hội, ở đó họ được hiệp thông với toàn thể Giáo hội, và giữa lòng cộng đoàn ấy họ đón nhận lời Chúa, cử hành các bí tích, lớn lên trong đức tin và trong đời sống Kitô hữu. Đó cũng là nơi họ gắn bó với giáo phận, vì giám mục muốn họ phục vụ giáo phận thông qua nơi đó.

Trước khi đi vào cái kinh nghiệm vững chắc và liên tục này – tức kinh nghiệm đời sống cộng đoàn được cuộc đào tạo định hướng trực tiếp nhắm đến sứ vụ – một số ứng sinh ngày nay cần có một năm “tập sự” đời sống thiêng liêng . Những gì họ đạt được trong giai đoạn “nền móng” này – một giai đoạn được khuyến khích diễn ra tại nơi khác hơn là tại chủng viện – được “phối kết” với các đề xuất của chủng viện trong khuôn khổ của “cộng đoàn giáo dục.”

Đời sống này trong Giáo hội này là một sự nâng đỡ và một tiêu chuẩn không thể thiếu của ơn gọi.

3.1.2. Thật vậy, đời sống cộng đoàn này được coi như nhằm để chuẩn bị cho các linh mục tương lai đi vào đời sống mà họ phải sống sau này. Nó muốn khai tâm họ để cùng với nhau họ phục vụ sứ mạng tông đồ của Giáo hội.[62] Vì thế nó lưu ý đến tất cả những gì rèn luyện cho việc cộng tác và việc cùng đảm nhiệm sứ vụ của các linh mục giáo phận, là những người sống xen giữa dân chúng, là mục tử của các cộng đoàn và là những người thúc đẩy mối hiệp thông Giáo hội. Chính vì thế, tại chủng viện người ta nhấn mạnh sự chia sẻ và đối chiếu, nghĩa là học biết kính trọng và phối hợp những khác biệt để phục vụ cho duy chỉ một Tin Mừng phải loan báo, duy chỉ một Giáo hội phải xây dựng.[63]

Chính đây là điều trao cho cộng đoàn chủng viện lý do hiện hữu và khuôn mặt riêng của nó, khác với một cộng đoàn chuẩn bị cho đời sống của các tu sĩ. Trong khi sống đời sống chung mức nào đó, người ta cũng phải bảo đảm phần cô tịch vốn cần thiết cho sứ vụ mục vụ.

3.1.3. Cộng đoàn chủng viện không chỉ dạy “làm” mà còn dạy “sống”. Nó là một yếu tố nhận diện trong mức độ nó mà, với sự hiện hữu của mình, nó biểu trưng tình trạng gốc của các linh mục giữa lòng Giáo hội: nếu họ được “đặt riêng ra” thì đấy không phải như những người “bị tách biệt” nhưng như những người “được cung hiến” để phục vụ con người, những con người mà họ sẽ không còn “xa lạ”.[64] Tất nhiên, chủng viện có bao gồm một khía cạnh tách biệt và “sa mạc”, nhưng chủng viện cũng là một trường gặp gỡ, cởi mở và hiệp thông với “những vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người thời nay, nhất là những người nghèo”.[65] Những hình thức tập sự mục vụ đa dạng, giữa những hình thức khác, đem lại cho cộng đoàn chủng viện bộ mặt của một cộng đoàn cởi mở. Sự cởi mở này cũng là một đặc tính chuyên biệt của cộng đoàn.

3.2. Bảo đảm những điều kiện căn bản cho một cộng đoàn đào tạo đích thực cho sứ vụ linh mục

Nơi này nơi khác, cộng đoàn chủng viện có thể theo những kiểu thức hơi khác nhau: theo con số ứng sinh được qui tụ, theo các giai đoạn đào tạo, hoặc tùy theo chủng viện có hay không có đặc tính của một trường đại học. Tùy theo các trường hợp, vai trò của cộng đoàn sẽ không có cùng một kiểu mẫu, cũng không cùng một cường độ. Nhưng dù với bất cứ hình thức nào, luôn có một số điều kiện không thể thiếu cần phải được tôn trọng trong việc thành lập cộng đoàn, để cộng đoàn có thể đóng vai trò của mình.

3.2.1. Một cộng đoàn được cấu trúc bởi một Hội đồng

Đó là điều kiện tiên khởi. Bộ mặt của cộng đoàn càng đa dạng, thì Hội đồng càng cần được cấu tạo bởi những thành viên hoàn toàn liên kết với nhau, và cùng chịu trách nhiệm về việc thực thi mọi khía cạnh của việc đào tạo. Các thành viên của Hội đồng này đôi khi có thể nhân danh chính vai trò huấn luyện của mình mà đảm nhận những việc bên ngoài. Càng quan trọng việc nhấn mạnh rằng cộng đoàn chủng viện phải là nơi chính yếu để họ gắn bó và là đối tượng đầu tiên cho sứ vụ của họ. Họ phải có thể sống với và sống trong cộng đoàn và không trao ấn tượng rằng nơi này chỉ là nơi họ qua lại. Sự khác biệt giữa các thành viên trong Hội đồng này, trong khi biểu lộ sự tự do của các ân huệ Thánh Thần, sẽ giúp các chủng sinh tự phân định tốt hơn.

3.2.2. Một cộng đoàn “được thiết lập”, được đón nhận mà không được chọn lựa

Điều quan trọng là thiết chế của cộng đoàn chủng viện phải được nhận thức rõ ràng bởi những người được đón nhận vào đây. Một chủng viện không qui tụ những người được tuyển lựa cho một dự án do họ khởi xướng và chính họ là những chủ dự án. Người ta vào đây vì được giám mục gởi đến, chủng viện phải liên hệ với giám mục theo qui chế thiết định, và người ta vào đây để sống một đời sống với những định hướng căn bản do quyền bính giám mục định đoạt. Các ứng viên qui tụ nơi đây để cùng nhau chuẩn bị cho cùng một sứ mạng phục vụ Dân Thiên Chúa.

3.2.3. Một cộng đoàn ưu tiên hướng đến việc đào tạo cho tác vụ linh mục

Cộng đoàn này phải là một cộng đoàn chuyên biệt khai tâm cho bí tích truyền chức, chính vì mục đích này mà nó được quyền bính giám mục thiết lập và trang bị (nhằm phục vụ cho việc phân định, linh hướng, đào tạo…). Và ngay từ Chu kì một (có hay không có một năm “nền tảng thiêng liêng” dẫn trước), cộng đoàn này không chỉ là một trường học đức tin, mà đã bao gồm việc phân định và đào tạo cho tác vụ linh mục.

Nếu một phần quan trọng của tiến trình đào tạo được đón nhận với những người khác là những người không nhắm tới tác vụ linh mục, người ta phải sắp xếp để có một không gian cộng đoàn rõ rệt, nơi chỉ qui tụ các ứng sinh hướng tới tác vụ và các nhà đào tạo của họ. Vấn đề thường được đặt ra liên quan tới việc học hành, hoặc chủng viện tiếp nhận những sinh viên khác (giáo dân, tu sĩ nam nữ), hoặc chủng sinh lui tới những học viện khác bên ngoài chủng viện. Những tương giao này thường rất hữu ích. Nhưng cũng nên lưu ý một số điểm then chốt:

– Cộng đoàn các chủng sinh phải giữ bản sắc riêng của mình, và không để mình bị mất hút giữa một nhóm sinh viên hay giữa những nhóm mục vụ.

– Việc học, việc khai tâm cho cầu nguyện và tác vụ, những cuộc gặp gỡ chung… cần có sự quân bình và tương xứng. Không được coi chúng chỉ là những cái đặt kế cận nhau, chúng cũng không thể tùy thuộc vào sở thích riêng của mỗi người.

3.2.4. Một cộng đoàn tương đối đủ lớn

Thật vậy, cộng đoàn cần bao gồm các ứng viên khá đông, với những khác biệt, để họ có thể sống ở đây một kinh nghiệm chân thực về Giáo hội. Trong thực tế sĩ số hiện nay thường kém hơn trước đây, các vị hữu trách cần lưu ý về điểm này. Nghĩa là phải liệu sao để các điều kiện được kết hợp với nhau hầu cho phép cơ sở đào tạo thể hiện vai trò của mình, trong một cộng đoàn đích thực, nơi mà người ta có thể tương giao và sự tự do thiêng liêng của mỗi người được bảo đảm, nơi mà hoạt động tòa trong và tòa ngoài được thực thi bình thường dưới sự hướng dẫn của một Hội đồng đào tạo có mặt ở đấy nhưng không gây nặng nề, và nơi mà các giai đoạn đào tạo và phân định được tôn trọng.

3.2.5. Một cộng đoàn cởi mở và linh hoạt

do tính năng động của sứ mạng

Một cộng đoàn chủng viện chỉ có thể chu toàn sứ mạng trong mức độ nó sống thông hiệp với (các) giáo phận đang ủy thác cho nó việc đào tạo linh mục. Mối liên lạc này được thể hiện nhờ những cuộc gặp gỡ theo qui định và đều đặn với các giám mục đặc trách chủng viện, những cuộc tiếp xúc thường xuyên của các chủng sinh và của chủng viện với các cộng đoàn Kitô hữu và các thừa tác viên của họ, nhất là nhờ thông qua các đợt thực tập tông đồ và mục vụ và tông đồ. Tính chất liên giáo phận của các chủng viện thay vì là một trở ngại lại có thể nêu bật giá trị của sự liên lạc và hợp tác giữa các Giáo hội địa phương ở cấp vùng hay miền.[66] Những trao đổi này nhắc cho cộng đoàn mục đích tông đồ của nó, nhờ đó cộng đoàn nhận được một sức sống và một tầm nhìn rộng mà nó sẽ không có được nếu thiếu những trao đổi này.

3.3. Nhấn mạnh những đòi hỏi cụ thể

của đời sống cộng đoàn hôm nay

3.3.1 Một cộng đoàn đức tin đích thực

Ngày nay, nhất là trong xã hội tục hóa của chúng ta, cần nhấn mạnh chiều kích thần học của “cộng đoàn giáo dục”. Mọi thành viên được mời gọi để nhìn nhận rằng chính Thiên Chúa qui tụ họ trong Đức Giêsu Kitô và do hành động của Chúa Thánh Thần tác động trong đời sống chung của họ. Đối với cộng đoàn chủng viện cũng như với toàn thể Giáo hội: khía cạnh thể chế và phẩm trật không thể tách rời sự linh hoạt bên trong do Thánh Thần của Đức Giêsu Kitô.

Việc tham dự hằng ngày vào Thánh Lễ đồng tế và cử hành kinh nguyện là những nhịp mạnh nhắc cho mọi người rằng đời sống cộng đoàn của họ là một hồng ân Thiên Chúa trao ban để mỗi người đón nhận với tinh thần trách nhiệm. Cũng quan trọng không kém, đó là những sinh hoạt đa dạng của đời sống thiêng liêng do chủng viện cung ứng: giờ nguyện gẫm và thực hành Lectio divina hằng ngày, những khoảnh khắc tôn thờ Thánh Thể, vv. Sự bén rễ thiêng liêng này trong đời sống cộng đoàn được diễn tả trong các hình thức chia sẻ huynh đệ khác nhau (trong khuôn khổ các nhóm hay các buổi họp chung).

3.3.2. Một cộng đoàn sống đích thực

Để giúp các chủng sinh không mơ mộng về cộng đoàn lý tưởng nhưng, thực tế hơn, giúp họ kinh nghiệm cộng đoàn họ sống hằng ngày, cần làm cho họ nhìn thấy và chấp nhận những đòi hỏi cụ thể, chủng viện là:

– một nơi người ta chung sống: không chỉ trong thời gian cầu nguyện và các lớp học, nhưng cả trong các bữa ăn và các buổi tối. Ý nghĩa của việc sống trong chủng viện tùy thuộc vào ý chí của người ta muốn thuộc về cộng đoàn này.

– một nơi chia sẻ, xuyên qua nhiều cơ hội: cầu nguyện, học hành, nhóm sống, nhóm làm việc, nhóm thực tập mục vụ, kể cả vô số dịp gặp gỡ ngẫu nhiên…

– một nơi tham chiếu: sự kiện chung sống trong cộng đoàn này – trong khi người ta khác biệt nhiều về nguồn gốc, môi trường xã hội, những đường hướng và những dự định – là một sự thúc đẩy thường xuyên để lắng nghe và tham chiếu. Điều này không hệ tại duy chỉ ở một thái độ bao dung, nhưng hệ tại ở một ý chí tích cực muốn quan tâm đến điều người khác sống và nói. Sự khác biệt giữa các cá nhân mà mỗi người gặp gỡ, và khả năng đón nhận những quan điểm khác nhau, đó là điều rất quan trọng.

– một nơi thực thi tinh thần đồng trách nhiệm như là cách tốt nhất để đạt được các mục tiêu của chủng viện.

– một nơi phục vụ cộng đoàn, nơi đây mỗi người được mời gọi góp phần để công việc chung được trôi chảy.

Cả những thành viên của Hội đồng cũng phải tìm thấy chỗ của mình trong đời sống chung. Điều này đòi hỏi một cố gắng hiện diện (thường với giá đắt, nếu nhìn theo thời khóa biểu của họ) để chia sẻ đời sống, giờ cầu nguyện, các bữa ăn, giờ nói chuyện và cả giờ giải trí của chủng sinh. Họ cần biết can thiệp, với sự phân định và kín đáo, để tạo điều kiện cho việc chia sẻ, vượt qua những ách tắc, khuyến khích các sáng kiến: nghĩa là tất cả những gì chỉ có thể đạt được nhờ một sự hiện diện đầy quan tâm, tuy nhiên luôn cần nhớ rằng khoa sư phạm của các chủng viện đòi hỏi một thế quân bình tinh tế giữa việc hiện diện và việc giữ khoảng cách.

3.3.3. Cộng đoàn để qui chiếu

Ngay cả dù ngày nay các ứng sinh vào tác vụ được mời gọi tự đào tạo qua việc sống trong những cộng đoàn khác với cộng đoàn chủng viện, thì chủng viện vẫn là cộng đoàn chính của họ. Thật vậy, chính tại đây họ được yêu cầu và được tạo điều kiện để sống tất cả những gì họ đã trải nghiệm ở nơi khác, chính tại đây họ có thể đào sâu việc phân định ơn gọi, chính tại đây họ lấy những quyết định về tương lai của mình.

Chủng viện có sứ mạng giúp họ dần dần thống nhất mọi khía cạnh của việc đào tạo: thiêng liêng, trí thức, mục vụ và sống cộng đoàn. Chủng viện có trách nhiệm phối kết sứ vụ đã được các giám mục ủy thác cho mình để hướng dẫn và giới thiệu tiến chức các ứng viên cho tác vụ.

4. KẾT LUẬN

Cả khi bối cảnh xã hội và Giáo hội đã thay đổi nhiều và đã dẫn tới việc canh tân kiểu thức của “cộng đoàn giáo dục”, thì một cách cốt yếu cộng đoàn này vẫn không đánh mất tính thích đáng của nó ngày nay. Đối với Xuân Bích, thực hành nguyên thủy này càng được thấy là cần thiết hơn bao giờ hết. Thực hành này diễn ra trong chia sẻ và tự do, trong qui tụ và cởi mở, trong kết hợp các linh mục đang tập sự và các ứng sinh cho tác vụ. Ngày nay chắc chắn không thể đào tạo các ứng sinh bên ngoài mạng lưới những mối tương quan đan kết giữa những cộng đoàn Giáo hội khác nhau mà các ứng sinh có mối liên hệ. Nhưng trong khi đối thoại với những môi trường khác thuộc Giáo hội, cần phải đánh giá đúng vai trò của “cộng đoàn giáo dục” của chủng viện – đây vẫn luôn là một trong những điểm nhấn của thực hành sư phạm Xuân Bích.

LINH HƯỚNG

Phần ghi chú về linh hướng trong các chủng viện được biên soạn trong sự bàn thảo với các nhóm chủng viện Pháp được trao phó cho Xuân Bích. Trong khi chờ những lối nói tốt hơn, chúng tôi duy trì những từ vựng thông dụng : “hướng dẫn,” “vị linh hướng,” và “người được hướng dẫn.”

1. THỂ CHẾ VÀ TINH THẦN

1.1. Những ứng sinh vào tác vụ phải có thể trình bày trong tự do hoàn toàn với vị linh hướng.[67] Vốn được phổ biến khắp nơi,[68] việc thực hành này có một hình thức rất đặc biệt trong chủng viện sống theo truyền thống của trường phái Pháp, cách riêng trong các chủng viện do Xuân Bích đảm nhận.

1.2. Hiến pháp hiện thời của Hội Xuân Bích xếp việc linh hướng vào những đặc tính cốt yếu của sư phạm Xuân Bích.[69] Ngoài ra, các bản văn có tính cách qui phạm thì rất kín đáo về đề tài này. Thật vậy, việc linh hướng chỉ thuộc phần rất nhỏ của qui chế, và việc ứng dụng đã rất vững chắc và thiết yếu, đến nỗi không cần phải qui định nhiều hơn. Vả lại người ta phải thấy rằng việc thực hành linh hướng này đã luôn là một mối quan tâm lớn và một suy tư thường xuyên trong lịch sử của Hội. Tài liệu Huấn Thị Thiêng Liêng (Directoire Spirituel) xuất bản năm 1985 dành một chương đáng chú ý cách riêng liên quan tới vấn đề này. Vì thế, thiết tưởng cần đính kèm bản văn ấy trong phụ lục của ghi chú này.[70]

1.3. Thật vậy, linh hướng thiết định một yếu tố huấn luyện. Có mặt trong toàn bộ thiết chế, ý nghĩa và tầm quan trọng của nó rất rõ ràng: Chủng viện không chỉ là một trường học hoặc một nơi thực tập, nó muốn giáo dục “con người nội tâm” nơi mỗi ứng viên cho tác vụ, để họ có thể nhận ra những tiếng gọi của Chúa Thánh Thần trong Đức Kitô và đáp ứng những tiếng gọi ấy, và như thế họ sẽ “đi vào chức linh mục qua cửa ơn gọi”.[71]

2. NHỮNG MỤC TIÊU

2.1. Mục đích của việc linh hướng trong thời gian ở chủng viện là giúp sống trong Thánh Thần và phát triển trong tự do mà Thánh Thần trao ban. Đối với các ứng sinh vào tác vụ linh mục, việc linh hướng phải cho phép họ:[72]

– kiểm chứng sự chân thực của tiếng gọi đã được nghe trước đó, bao gồm cả ơn gọi sống bậc độc thân, cũng như sự chân thực của việc đáp trả tiếng gọi này.[73]

– tự mình tới trình diện trước lời mời gọi của giám mục để tiến chức trong tự do, sự trong sáng và tinh thần sẵn sàng phục vụ.

– thực thi tác vụ trong sự ngoan ngoãn với Thánh Thần qua việc tự do đảm nhận những chiều kích khác nhau của tác vụ này.

– bảo đảm những điều kiện cần có cho sự trung thành và cho khả năng sinh hoa trái dồi dào trong tác vụ.

2.2. Việc thực thi tác vụ trong Giáo hội bao gồm sự dấn thân cá nhân của một người đã làm chủ đời sống nhân bản và Kitô hữu của mình.[74] Bởi đó, việc linh hướng ở chủng viện, trong khi không sao nhãng mục đích chuyên biệt của nó, phải giúp người tín hữu sống trách nhiệm làm người và sống như một Kitô hữu tích cực trong đời sống và sứ mạng của Giáo hội.

Vì thế, trong cuộc đối thoại linh hướng, việc xem xét kinh nghiệm phải hướng đến:

– sự trưởng thành tâm lý và xã hội;

– sự củng cố đời sống Kitô hữu cho tới tận trong chiều kích đối thần;

– việc bố trí các phương tiện để thực hiện sự củng cố này.

2.3. Linh hướng là một môi trường đào tạo thiêng liêng tích cực; nó bao gồm một phần giảng dạy trong đó. Nhưng trên hết, đó là nơi thống nhất con người [75] theo Thánh Thần của Đức Kitô, trong tương quan với Thiên Chúa, với anh em, với Giáo hội, và với tác vụ trong Giáo hội.

2.4. Kinh nghiệm nền tảng cho thấy rằng việc linh hướng – vốn cũng cần được tiếp tục theo đuổi trong hình thức phù hợp sau khi chịu chức[76] – phải giúp người linh mục tương lai bảo đảm rằng khi trở thành linh mục mình có khả năng lắng nghe và đối thoại cá nhân trong mục vụ.

3. THỰC HÀNH

3.1. Chọn vị linh hướng

Vị linh hướng được chọn giữa các thành viên của Hội đồng.[77] Đối với chọn lựa quan trọng này, chủng sinh cần thời gian và cần sự suy nghĩ nghiêm túc để khám phá các thành viên của Hội đồng, nhưng điều thiết yếu đối với anh, đó là trước mặt Thiên Chúa anh phải nhận ra mình cần sự giúp đỡ nào.

Sự chọn lựa này được thực hiện qua việc đối thoại với vị giám đốc, chính ngài không nhận hướng dẫn một người nào. Vị giám đốc can thiệp để điều chỉnh các nhân sự hầu phục vụ tốt hơn. Đồng thời ngài lưu tâm để có một sự phân nhiệm tương xứng giữa các thành viên của Hội đồng.

Dĩ nhiên, việc thay đổi vị linh hướng luôn là có thể và đôi khi đáng khuyến khích.

3.2. Nhịp đ của các cuộc gặp gỡ

Tần số và thời lượng của các cuộc gặp gỡ có thể thay đổi theo các cá nhân và theo các giai đoạn đào tạo, có xét đến các điều kiện cụ thể của sứ vụ tương lai. Tất cả phải được thỏa thuận giữa chủng sinh và vị linh hướng của mình. Điều quan trọng là phải đối thoại thường xuyên chứ không chỉ là một tham khảo ý kiến cách bất chợt. Điều này giả thiết một nhịp độ gặp gỡ đều đặn và khá thường xuyên.

Điều thiết yếu nữa, đó là người thụ hướng phải được tự do xin gặp vị hướng dẫn của mình khi có điều quan trọng. Điều này có nghĩa rằng các vị linh hướng phải thường xuyên hiện diện và trong tình trạng sẵn sàng đón tiếp. Việc trao đổi thư từ trong những kỳ nghỉ hè, cũng như việc liên lạc đều đặn trong thời gian thực tập, thường có ích và giúp soi sáng các vấn đề.

3.3. Những nội dung trao đổi

Sự tự do hoàn toàn là qui tắc ở đây, và khi nào muốn, người thụ hướng phải có thể đề cập tới những vấn đề và những câu hỏi làm anh bận tâm. Nhưng sự tự do này không được dùng để trốn tránh những vấn đề khó khăn hoặc từ khước nhìn thẳng vào đời sống riêng của mình.

Rõ ràng là trong lãnh vực này người ta không thể đề nghị một chương trình. Điều quan trọng nhất trong việc đồng hành, đó là không được đi lạc khỏi mục đích kiểm nghiệm và đào tạo. Nghĩa là phải đặt tất cả đời sống dưới ánh nhìn của Thiên Chúa. Một số vấn đề cần phải đề cập trong cuộc đối thoại:

– nhìn lại lịch sử bản thân, bắt rễ từ trong gia đình, và một số mốc điểm chính yếu trong lịch sử này;

– những hoàn cảnh mà người thụ hướng hiện đang gặp;

– xem xét các ước vọng và các dự tính, những lựa chọn và những quyết định (cập nhật các động lực và thanh luyện các ước muốn);

– tương quan với tha nhân và đời sống trong tương quan, kể cả những tương quan với quyền bính và với đời sống cộng đoàn;

– khả năng truyền đạt;

– đời sống cầu nguyện: việc cử hành kinh nguyện thần vụ, thực hành nguyện gẫm, thực hành Lectio divina, mối liên hệ giữa cầu nguyện với đời sống và sứ vụ;

– việc sử dụng các phương tiện của đời sống thiêng liêng và việc đọc sách thiêng liêng;

– việc thực hành cá nhân các bí tích (Thánh Thể và Giao hòa);

– đời sống tình cảm và khả năng sống độc thân, với những điều kiện để sống đời sống khiết tịnh;

– việc học hỏi nghiên cứu thần học như sự nuôi dưỡng cho đức tin của mình;

– kinh nghiệm tông đồ trong hiện tại và việc tập sự về tương quan và về các khả năng mục vụ;

– chỗ đứng của Giáo hội trong đời sống đức tin, mối liên hệ với giáo phận và với giám mục.

3.4. Bản chất của tương quan

Không hề có chuyện người được hướng dẫn phải phó thác việc dẫn dắt đời sống mình cho một người khác và trút bỏ tất cả trách nhiệm và quyết định của mình, nhưng đúng hơn anh ta đặt mình – trong suốt cuộc đời – dưới sự hướng dẫn của Thần Khí Chúa.[78] Việc thực hành linh hướng được đặt nền trên đức tin vào sự hiện diện đầy tác động này của Thánh Thần. trong đó người ta cố gắng nhận ra hành động và tiếng gọi của Ngài. Việc đối thoại trung thành và tín cẩn với một vị linh hướng sẽ giúp tránh nhầm lẫn giữa một bên là những quan điểm và ước vọng riêng mình và bên kia là ánh sáng và những thúc đẩy của Thánh Thần Đức Kitô.

Phần ngài, vị linh hướng cố gắng buông mình cho Thánh Thần, Đấng đã được trao ban cho ngài để thi hành sứ vụ giúp người thụ hướng phân định và thuận theo Thánh Thần nhờ lắng nghe và đối thoại. Như thế, tương quan trong việc linh hướng không có tính cách đối xứng, và nói cho đúng, đó không phải là tương quan bằng hữu: vì cảnh huống của đôi bên không tương đương và không hoán chuyển cho nhau được. Nếu vị linh hướng phải là một người đáng tin, nếu ngài phải tìm hiểu về người thụ hướng, trở nên gần gũi và đồng hành với anh trong cuộc tìm kiếm và trong hành trình của anh, thì đó là để giúp anh tự biết mình và nhận ra tiếng gọi của Thánh Thần trong Giáo hội và cho sứ mạng của anh. Nếu ngài phải giúp người thụ hướng tìm ra những nẻo đường để tiến lên, nếu ngài phải giúp anh – bằng những câu hỏi và những ý kiến của ngài – khám phá những ngõ cụt mà anh định đi vào, thì đó là để anh biết phó thác cho Đấng là vị hướng dẫn duy nhất.

3.5. Việc linh hướng và việc xưng tội

Chính với cha linh hướng mà chủng sinh thường xuyên cử hành “Bí tích sám hối và hòa giải”. Tuy nhiên cần phân biệt rõ ràng giữa việc linh hướng và bí tích này, thật rất tốt việc cho thấy rõ sự phân biệt này trong cách thế mà bí tích này được cử hành.

Một chủng sinh có thể nhờ tới tác vụ bí tích của một linh mục khác. Trong trường hợp này, tốt hơn là anh nên đến với người không thuộc thành viên của Hội đồng để bảo đảm tự do của mỗi bên. Nhưng hiển nhiên rằng các ý kiến của vị linh hướng, đặc biệt trong những gì liên hệ đến hướng đi tới tác vụ của anh, chỉ có giá trị khi ngài được thông tin trung thực về những gì có thể gây khó khăn cho hướng đi này.

Những điều này cũng nên được lưu ý trong trường hợp tham dự vào các cử hành cộng đồng của bí tích sám hối và hòa giải.

3.6. Cẩn mật

Việc linh hướng là nơi người ta có thể nói tất cả, ký thác tất cả, không hề sợ sệt. Sự cẩn mật là một bảo đảm thiết yếu giúp ứng sinh có tự do bộc bạch, tự do lương tâm, và cuối cùng để giúp cho sự tự do thiêng liêng của anh ta trước Thiên Chúa.

Từ khi vị linh hướng được chọn đã chấp thuận, ngài phải giữ bí mật tuyệt đối đối với vị giám đốc, giám mục và mọi người khác về tất cả những gì diễn ra trong mối quan hệ linh hướng. Ngài không can thiệp trong lúc Hội đồng bàn luận về người được ngài hướng dẫn. Ngài chỉ phải trình bày, trong tư cách giáo sư, những nhận định khách quan về việc học tập trí thức của đương sự.

Về phía người thụ hướng, trong khi anh được tự do nói với ai anh muốn, thì anh vẫn phải giữ bí mật về những trao đổi giữa anh với vị linh hướng. Anh cũng không thể tránh né trách nhiệm riêng bằng cách viện dẫn – ở khung cảnh bên ngoài – những ý kiến hoặc những lời khuyên của vị linh hướng. Những người đối thoại (trong khung cảnh thể chế) với ứng sinh rất có lý khi từ khước loại biện hộ này bằng cách nại đến chính trách nhiệm riêng của anh.[79]

4. VÀI VẤN ĐỀ THỜI SỰ HƠN

Việc linh hướng thường được thực hiện trong các chủng viện, không hề bị chống đối theo nguyên tắc. Nhưng đó đây, một số chủng sinh khó chấp nhận những điều được đề nghị và đòi hỏi, nên đã có những vấn đề được đặt ra. Vả lại, tầm quan trọng của những vấn đề này rất khác nhau tùy theo tình trạng và cảnh huống. Trong khuôn khổ của một chủng viện có kích thước lớn và trong một cộng đoàn có sĩ số khiêm tốn, một số vấn đề được đặt ra theo cách rất khác nhau.

4.1. Tự do của ứng sinh

Trong truyền thống của trường phái Pháp, vị linh hướng được chọn giữa các linh mục của Hội đồng chủng viện. Nhân danh điều gì và làm sao người ta có thể đem một đòi hỏi như vậy vào một nơi mà tự do cá nhân trước Thiên Chúa quan trọng hơn đâu hết? Người ta có lý để đặt câu hỏi ấy. Tuy nhiên, kinh nghiệm và sự suy tư trên kinh nghiệm cho thấy rõ những lợi điểm và cơ sở vững chắc của thực hành này. Thẩm quyền của các vị linh hướng trước hết đến từ sứ mạng đã được giám mục ủy thác cho các linh mục được coi là có khả năng xứng hợp với tác vụ này. Hơn nữa, sự tham gia vào Hội đồng, ở tòa ngoài, làm cho các linh mục này có khả năng hơn trong việc phân định và đồng hành cá nhân của các ứng sinh: việc chia sẻ trách nhiệm của Hội đồng làm cho họ hiểu biết hơn những thái độ cần thiết và những đòi hỏi cần được coi trọng. Mặt khác, kinh nghiệm của họ trong tư cách những vị linh hướng thường đem lại cho họ sự thuận lợi để đảm nhận tốt hơn trách nhiệm của mình trong việc phân định và giới thiệu các ứng sinh chịu chức, mặc dầu họ không phải là vị linh hướng của các ứng sinh này. Sau cùng, họ sống thường xuyên với các chủng sinh, nên họ biết được đời sống cộng đoàn này từ bên trong, cũng như được những điều kiện và những giai đoạn đào tạo.

Vì thế, việc thực hành chọn linh hướng trong Hội đồng chủng viện là nhằm để có được một sự phân định tốt hơn và một sự tự do đích thực trong việc hướng đến tác vụ. Hiển nhiên điều này giả thiết rằng các linh mục được mời gọi cho sứ vụ này phải có những khả năng cần thiết và biết phát triển chúng, họ phải đảm nhận cách hữu hiệu trách nhiệm của Hội đồng và họ phải chấp nhận chia sẻ đời sống thường xuyên với các chủng sinh. Đàng khác, chắc chắn rằng một Hội đồng quá hạn hẹp sẽ hạn chế việc chọn lựa vị linh hướng.

4.2. Một vị linh hướng duy nhất cho mỗi người

Ngày nay, ứng viên vào tác vụ có liên lạc với nhiều vị “cố vấn.” Ngay tại chủng viện, anh đã gia nhập một nhóm sống và tìm được ở đây một “người cha của nhóm.” Anh đối thoại đều đặn với vị giám đốc. Anh lui tới nhiều môi trường Giáo hội, anh gặp gỡ các linh mục (linh mục nơi thực tập mục vụ, hoặc vị linh mục đặc trách huấn luyện của giáo phận) và anh vui lòng ký thác cho các vị. Trong toàn bộ phức tạp này, làm sao việc linh hướng sẽ được thiết định và khẳng định tính chuyên biệt của nó?

Sự khác biệt của môi trường và sự đa dạng của tương giao đem lại một sự phong phú cho chủng viện. Điều này thực sự quan trọng cho việc khám phá sứ vụ và việc phân định ơn gọi. Nhưng sự đa phức của các lời khuyên mà một chủng sinh nhận được có thể làm suy giảm trách nhiệm và quyết định cá nhân của anh. Cũng có thể một chủng sinh được khuyến khích một cách bất cẩn bởi một vài cá nhân hoặc một vài nhóm quá ít hiểu biết về những vấn đề quan trọng của cá nhân và của Giáo hội.

Phải liệu cho các chủng sinh biết rằng mỗi người chỉ nhận một vị linh hướng mà thôi. Đặc tính đơn nhất của mối tương giao linh hướng này có ý nghĩa quan trọng. Đó là nơi mà mỗi người, dầu các ý kiến mà đương sự có thể nghe được từ nơi khác là thế nào đi nữa, đương sự được hướng dẫn để xem xét trách nhiệm riêng của mình và thống nhất tất cả đời sống của mình phù hợp với tác động của Thánh Thần Thiên Chúa: không để mình bị cuốn hút và phó thác cho người khác, càng không được lẫn lộn những ước muốn riêng tư với tiếng gọi của Thiên Chúa. Việc linh hướng giúp nhận ra tính độc đáo của mỗi người trước Thiên Chúa và mời gọi đảm nhận đặc tính này. Về phần vị linh hướng, khi đứng trước một tình huống khó khăn, ngài có thể tham khảo ý kiến của một đồng nghiệp ngoài Hội đồng. Thường trong trường hợp này, ngài sẽ xin sự đồng ý của người thụ hướng. Ngài cảnh giác để giữ sự cẩn mật cần thiết. Ngài phải luôn mang trách nhiệm riêng của ngài.

4.3. Tầm quan trọng của tâm lý trong việc linh hướng[80]

Trong tương quan linh hướng, tâm lý cần phải luôn nhập cuộc cho cả đôi bên. Hơn nữa trong bối cảnh hiện thời, thường có sự chú ý và cảm thức rất mạnh đối với những vấn đề thuộc lãnh vực tâm lý. Vậy làm sao có thể bảo đảm chức năng linh hướng chuyên biệt này?

Vị linh hướng không thể không biết chiều kích tâm lý. Điều đó đòi hỏi nơi ngài không phải một chuyên môn nhưng là một kiến thức và một sự huấn luyện thích đáng trong lãnh vực này, gồm cả một nhận thức rõ rệt về sự phân biệt giữa đồng hành tâm lý và linh hướng. Ngài phải chú ý đến sự phát triển nhân cách, sự trưởng thành tình cảm, giúp cho việc kiểm nghiệm khả năng tương giao và khả năng sống độc thân.[81] Vị linh hướng có thể phải đảm nhận một sự giúp đỡ nào đó về mặt tâm lý, nhưng nên nhớ rằng chính sự chân thực và phẩm tính của mối tương giao sẽ cho phép mỗi người khám phá ra sự thật của riêng mình và do đó sẽ tạo nên sự trợ giúp tâm lý sâu xa nhất. Trong những trường hợp thuận tiện, thậm chí cần thiết, vị linh hướng sẽ khuyên nên nhờ tới một sự giúp đỡ tâm lý chuyên biệt. Ngài không nên để việc linh hướng bị giảm trừ chỉ còn là một can thiệp tâm lý và quên cứu cánh có tính chuyên biệt thiêng liêng và đối thần của nó.

4.4. Việc linh hướng trong thể chế

Việc linh hướng, do sự kiện rằng một cách hữu cơ nó thuộc về thể chế đào tạo, có thể phải chịu sự mất tín nhiệm mà thể chế này mắc phải. Do sự kiện rằng nó được thiết chế, việc linh hướng có thể bị làm cách không đúng đắn và do đó sai lạc; nên chú ý đến mối nguy này.

Đối với một số chủng sinh, thay vì coi việc linh hướng như môi trường tự do, họ lại coi nó như một nơi bao che trước Hội đồng và trước các cấp khác của việc đào tạo. Vì thế, vị linh hướng sẽ lưu tâm đặt việc linh hướng trong sự đối thoại có tính thiết định, trong đó việc phân định được tiến hành. Ngài sẽ chú ý khai tâm vào đời sống theo thể chế của Giáo hội và giúp khám phá ra rằng nơi đây, cũng như trong nhiều trường hợp, thể chế là điều kiện và là phương tiện của tự do.

Cũng có một nguy cơ đối với Hội đồng. Nhất là vào lúc giới thiệu gọi chịu chức, Hội đồng không được nghĩ rằng việc linh hướng và năng lực của các đồng nghiệp có thể chuẩn chước cho Hội đồng khỏi đảm nhận những trách nhiệm riêng của mình ở tòa ngoài.

Trong thực tiễn, vị giám đốc phải cảnh giác để việc linh hướng luôn có thể đóng đúng vai trò của nó. Ngài sẽ chú ý tới từng người khi chọn một vị linh hướng. Ngay từ đầu, ngài sẽ nói rõ ý nghĩa và lý do của những gì được đề nghị và được yêu cầu, nhưng trong tiến trình đào tạo ngài cũng sẽ lặp lại nhiều lần như thế. Có những trường hợp ngài sẽ đề nghị một người tới đàm đạo với vị linh hướng của đương sự. Ngài mời gọi mọi người thực thi phương pháp này một cách đơn sơ và trung thành trong đức tin. Ngài cũng sẽ không để mối tương quan tín thác mà ngài thường có với mỗi người biến thành việc linh hướng.

5. VAI TRÒ VÀ THÁI ĐỘ CỦA VỊ LINH HƯỚNG

Ghi chú này không phải là một chuyên luận về việc linh hướng. Đoạn cuối cùng này không nhằm cung cấp tất cả những lời khuyên hữu ích. Dựa trên kinh nghiệm hiện thời của các hội đồng đào tạo, một kinh nghiệm được nuôi dưỡng bởi một truyền thống sống động, đọan này chỉ nêu một vài định hướng. Những định hướng này có thể giúp các đồng nghiệp trẻ hoặc mới đi vào sứ vụ này. Chúng cũng có thể mời gọi những người thâm niên nhất canh tân việc thực thi sứ vụ này, đây vốn là điều luôn cần thiết.

5.1. Thiết lập một tương quan chân thực

Cũng như ở nội dung của cuộc đàm thoại, vị linh hướng phải chú ý tới phẩm tính và diễn biến của mối tương quan được thiết lập giữa ngài và người thụ hướng, để ngay lập tức đặt nó vào bình diện thiêng liêng. Sự cởi mở đơn sơ và tín thác phải cho phép người thụ hướng đạt tới sự thật riêng của mình và để được như vậy, phải đưa ra ánh sáng – ngay cả phải nói ra – kinh nghiệm của mình, những lo sợ và những ước vọng của mình. Điều này giả thiết nơi vị hướng dẫn có một sư phạm kết hợp việc tiếp đón với việc đặt câu hỏi, tùy theo nhu cầu và tùy thời điểm.

Có khi sự tín thác cần thiết này không thể tạo lập được hoặc không có đủ. Lúc đó cần thay đổi vị linh hướng. Chính chủng sinh có thể chủ động việc này. Đôi khi chính vị linh hướng đề nghị chủng sinh tìm một vị khác, vì theo lương tâm ngài cho rằng ngài không thể đảm nhận trách nhiệm này được nữa. Sự thay đổi linh hướng cũng có thể xảy ra mặc dầu không có những khó khăn đặc biệt, chẳng hạn sau một thời gian dài người ta tin rằng sự thay đổi như vậy sẽ hữu ích.

Không cần phải xen vào mối liên hệ của chính việc linh hướng, vị giám đốc có thể được tham khảo ý kiến về khả năng của một thay đổi như thế. Việc chọn một vị linh hướng mới sẽ luôn diễn ra thông qua bàn hỏi với vị giám đốc.

5.2. Những cám dỗ của vị linh hướng

Trong các chủng viện nơi mà các linh mục cũng là giáo sư, hai vai trò này có thể khó phân biệt. Về phần mình, vị linh hướng phải thường xuyên chú ý về điều này.

Chính vị linh hướng được mời gọi để luôn chân thực trong tương quan của ngài. Thường khó tìm ra mức đúng đắn để vừa tránh một sự thân thiện gây hại cho tính khác biệt vừa tránh một quãng cách có thể ảnh hưởng đến sự tín thác.

Vị linh hướng không phải là người bênh đỡ hoặc trạng sư của người thụ hướng. Ngài không thể đóng một vai trò như vậy trước các bậc hữu trách, trước giám mục, giám đốc hay Hội đồng. Trước mặt người thụ hướng, ngài không được chữa tội hay dồn ép anh; ngài ở đó để nghe anh, để giúp anh khám phá ơn gọi đích thực của anh và để khích lệ anh đảm nhận những trách nhiệm của anh.

Thể chế chủng viện dành một chỗ lớn cho việc linh hướng. Vị linh hướng phải tránh tất cả những gì nguy hại cho thể chế này, là cơ chế phục vụ các ứng sinh vào tác vụ. Đặc biệt ngài tránh thay thế vị giám đốc để chuyển trao ý kiến của Hội đồng. Khi ngài có cảm tưởng rằng những ý kiến này bị nghe sai hoặc bị hiểu sai, ngài có thể mời chủng sinh tới gặp vị giám đốc, nhưng ngài không tự mình lãnh việc cải chính trong bất cứ trường hợp nào.

5.3. Về những sự chọn lựa của người thụ hướng

Chính người thụ hướng phải dấn thân theo Đức Kitô, trong lòng trung tín với Thánh Thần, nhận ra ơn gọi riêng của mình và cố gắng đáp lại. Vị linh hướng không áp đặt những chọn lựa để người hướng dẫn phải theo.

Nhất là trong liên hệ đến việc định hướng nhắm đến tác vụ và về việc nộp đơn xin chịu chức, vị linh hướng phải chú ý để đặt mình đúng chỗ. Ngài có thể và ngài phải giúp phân định giá trị của những ước vọng và những động lực, giúp đào sâu các ý nghĩa. Ngài có thể chất vấn, mời gọi nhận định rõ hơn những mạo hiểm và những may rủi. Vai trò của ngài trước hết là giúp cân nhắc và lưu ý cho người thụ hướng về những điều kiện để chọn lựa.

Ngài không được thay chỗ người thụ hướng. Ngài luôn phải nhắc cho anh rằng sự quyết định xuất phát từ trách nhiệm cá nhân của anh.

Nhưng khi vị linh hướng có sự thâm tín rằng người mình hướng dẫn đã mắc một sự thiếu khôn ngoan nghiêm trọng, hoặc sự quyết định của anh là quá vội vàng, thì theo lương tâm ngài phải nói cho anh biết.

Ngược lại, ngài có thể bảo đảm cho người thụ hướng rằng sự chọn lựa của anh tỏ ra đúng đắn và ở trong sự thật – và bằng cách thế sao cho không hề dẫm lên sự tự do cá nhân, ngài có thể cho một chuẩn y như bảo chứng bằng an dưới cái nhìn của Thiên Chúa.

5.4. Thái độ nội tâm

Trước hết vị linh hướng phải sẵn sàng giúp đỡ và quan tâm đến người thụ hướng. Những điều này thể hiện nơi tấm lòng thiết tha, chân thực, sâu xa của ngài đối với anh. Là người lắng nghe, vị linh hướng luôn sẵn sàng đón nghe tất cả, ngài có khả năng giữ bình tĩnh, không để lộ một chút khó chịu hoặc lo lắng nào. Một thái độ như thế bao gồm một tinh thần khó nghèo thật sự về phần ngài, một sự từ bỏ thật sự đối với những quan điểm và những dự định của ngài. Nhất là thái độ này đòi hỏi tôn trọng tự do cá nhân và hoạt động của Thánh Thần trong mỗi người.

Được kêu gọi để giúp anh em mình trung thành với Thánh Thần của Đức Kitô, vị linh hướng phải chú ý lắng nghe và ngoan ngoãn đối với Thánh Thần. Điều này thường có nghĩa rằng với chính mình, trong đời sống riêng của mình, ngài cần tới sự trợ giúp thiêng liêng của một người anh em linh mục mà ngài tín thác. Lời cầu nguyện mục vụ của vị linh hướng cho những người được ngài hướng dẫn sẽ diễn ra trong chiêm niệm và ngợi khen, để xin Thánh Thần của Đức Kitô tác động trong họ.

PHỤ LỤC

HUẤN THỊ 1959

[Phần 3: Các phương tiện hoạt động của chủng viện]

1. VIỆC LINH HƯỚNG

126. Trong Chủng viện Xuân Bích, việc linh hướng được coi như một yếu tố cốt yếu của việc đào tạo linh mục. Kết hợp với việc xưng tội, linh hướng là một trong những phương tiện bảo đảm bước tiến về Thiên Chúa trong sự lệ thuộc vào Giáo hội.

127. Vậy nên linh hướng không chỉ là dựa trên một sự khôn ngoan nhân loại để chấp nhận tín thác vào một người có kinh nghiệm hơn. Đó là một hợp tác giữa vị linh hướng và người thụ hướng để phân định những thúc đẩy của Thánh Thần, Đấng hướng dẫn đích thực các tâm hồn. Việc linh hướng chỉ có thể mang lại kết quả khi hàm chứa một sự cởi mở tâm hồn hoàn toàn.

128. Bổn phận đầu tiên của vị hướng dẫn là giúp chủng sinh tiến bộ trong đời sống đức tin. Ngài không bao giờ áp đặt phán đoán riêng tư của mình trên người thụ hướng, nhưng ngài đưa ra ánh sáng những yếu tố có thể soi sáng một quyết định cá nhân, được gợi lên từ lòng trung thành với ý muốn của Thiên Chúa.

129. Việc linh hướng cũng là một trong những phương tiện chính giúp chủng sinh phán đoán về ơn gọi riêng của mình. Tất nhiên chính anh phải là người cuối cùng trách nhiệm về việc nộp đơn xin được chịu chức, nhưng nếu anh tiến lên chịu chức bất chấp ý kiến rõ ràng trái ngược của vị linh hướng, anh sẽ phạm một khinh suất nặng nề. Ngoài ra anh sẽ hoàn toàn tự do bàn hỏi một vị hướng dẫn khác, nếu anh không tin tưởng vào những chỉ dẫn của người đang hướng dẫn anh.

130. Một thay đổi như thế sẽ không được tạo nên do tính thất thường, nhưng sẽ hợp lý nếu người thụ hướng thiếu sự tự do cần thiết đối với vị linh hướng của anh, hoặc nếu anh cảm thấy không được khích lệ và nâng đỡ đủ do ý kiến của ngài.

131. Thường thường chủng sinh xưng tội với vị linh hướng của mình, nhưng anh luôn có quyền tự do tới với một vị linh mục khác, nếu anh muốn. Anh chỉ phải nhớ rằng nếu vị linh hướng của anh không biết một vài lỗi lầm mà anh xưng thú với một linh mục khác, ý kiến của ngài về việc anh lãnh chức sẽ mất giá trị.

132. Ngoài việc giáo dục đức tin thông qua những biến cố lớn nhỏ của đời sống hằng ngày, vị linh hướng sẽ trao cho người thụ hướng những lời chỉ dạy tích cực về khổ hạnh và thần nhiệm, thích ứng và bổ túc những gì đã được vị giám đốc đề ra trong khi huấn đức. Để được như vậy, ngài phải quan tâm hướng dẫn việc đọc sách thiêng liêng của chủng sinh, lưu ý sao cho vào cuối giai đoạn đào tạo, anh đã tiếp xúc được với những bản văn chính yếu.

133. Liên quan tới việc linh hướng, vị linh hướng tuân thủ đúng mức tất cả những gì được đòi hỏi về việc xưng tội, trong sự tế nhị, cẩn mật. Nhất là tại Hội đồng, không bao giờ vị linh hướng lên tiếng khi Hội đồng nhận xét về một trong những hối nhân của mình, không để buộc tội cũng không để bênh vực.

134. Việc linh hướng sẽ rất hữu ích khi được bổ túc bằng đời sống của nhóm: các chủng sinh sẽ nhận được rất nhiều từ một trao đổi chân thành với nhau. Nhưng việc linh hướng vẫn luôn ở hàng đầu, vì chủng viện là một thời kỳ huấn luyện và đưa dẫn vào một truyền thống. Trong sứ vụ linh mục, đoàn nhóm là một phương tiện mạnh mẽ để nâng đỡ tinh thần: dù sao, đoàn nhóm không loại bỏ nhu cầu linh hướng. Linh mục luôn phải nhờ một chứng nhân của Giáo hội kiểm soát sự chân thành và ngay thẳng của mình trong việc hết sức riêng tư là việc tìm kiếm Thiên Chúa.

Huấn thị thiêng liêng cho các chủng viện do Hội Xuân Bích đảm nhận, 1959.

TINH THỐNG NHẤT CỦA VIỆC ĐÀO TẠO CHO TÁC VỤ LINH MỤC

Giữa những đặc tính sư phạm của Hội, Hiến Pháp của chúng ta nói: “việc thường xuyên tìm kiếm kết hợp với Đức Kitô, nơi Ngài các linh mục tìm được mối thống nhất đời sống của mình;[82] chính trong mối thống nhất này người ta cố gắng kết hợp các chiều kích khác nhau của việc đào tạo (nhân bản, thiêng liêng, trí thức và mục vụ)”.[83]

Ghi chú này đề nghị:

– hiểu biết và giải thích nguyên tắc thống nhất này trong ánh sáng của truyền thống Xuân Bích và những phát triển mới đây trong Giáo hội học của Công đồng Vatican II;

– làm sáng tỏ đồng thời tính tự lập và tính phụ thuộc hỗ tương của những khía cạnh đào tạo khác nhau, xoay quanh trục trung tâm là sự kết hợp với Đức Kitô;

– đề ra những phương thế thực hành và kiểm nghiệm một sự thống nhất như thế.

1. TRUYỀN THỐNG THIÊNG LIÊNG CỦA XUÂN

BÍCH VÀ SỰ CẬP NHẬT TRUYỀN THỐNG NÀY

DƯỚI SÁNH SÁNG VATICAN II

Bản nhận định lịch sử vắn tắt mà chúng tôi giới thiệu, lúc bắt đầu, đã không chỉ có mục đích xác định và tìm hiểu truyền thống Xuân Bích. Nó còn liên hệ tới một vấn đề lớn của thời đại chúng ta. Trong một xã hội mà các cá nhân sống một lương tâm nổ tung, phân hóa, xâu xé giữa những thái cực lợi ích khác biệt và thay đổi, họ sẽ trở nên những người thế nào? Họ sẽ kiến tạo được điều gì vững chắc? Làm sao họ có thể “kiện toàn” cuộc đời mình, mà không để nó đơn thuần diễn ra tùy theo hoàn cảnh? Vấn đề cũng được đặt ra, gai góc hơn, cho các linh mục ngụp lặn trong xã hội này và đứng trước sự khó khăn của việc phối kết những sự dấn thân và những nhiệm vụ đủ loại, để chu toàn sứ vụ của họ. Từ thế kỷ 17 bối cảnh văn hóa và Giáo hội đã thay đổi. Sẽ bất cập nếu chỉ lặp lại những công thức của quá khứ. Nhưng vẫn còn tồn tại một cảm hứng, và chỉ cần trao cho cảm hứng ấy một khuôn mặt mới.

1.1. Từ nguyên thủy của truyền thống Xuân Bích

Tại nguồn gốc truyền thống đào tạo linh mục của chúng ta, điều cần để đem lại tính thống nhất cho đời sống của linh mục, và cần gợi lên ngay từ lúc ban đầu, đó là sự kết hợp với Đức Giêsu Kitô, sự kết hợp được chiêm ngắm trong các mầu nhiệm của Ngài, thâm nhập vào tinh thần của Ngài, và đưa ra thực hành; điều này được thực hiện cách riêng qua cầu nguyện. Một sự kết hợp như thế với Ngôi Lời nhập thể, chịu đóng đinh và sống lại, Đấng là Linh Mục Thượng phẩm, sẽ dẫn người ta tới “sống hết mình cho Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô”.[84]

Sự kết hợp đó với Đức Kitô, được tìm một trật trong Kinh Thánh, chất liệu của việc nguyện gẫm, và trong Thánh Thể là sự tham dự vào hiến lễ của Đấng là Tư Tế đồng thời là Hy Lễ. Đức Giêsu Kitô là khuôn mẫu và nguyên lý thống nhất của mỗi người cũng như của cộng đoàn. Sự thống nhất kép này được thực hiện trong Ngài và bởi Ngài cho Thiên Chúa Cha nhờ Chúa Thánh Thần, vị Thầy nội tâm.

Sau cùng, hướng đích kết hợp với Đức Giêsu Kitô này, chủ yếu được nâng đỡ nhờ suy niệm các bản văn của Thánh Phaolô và Thánh Gioan, coi các Tông đồ như gương mẫu và nhằm đào tạo “những con người tông đồ” nhiệt thành cho sứ mạng:

“Chủng viện Xuân Bích (…) cung hiến cho Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, để tôn vinh Ngài không chỉ như Linh Mục Thượng Phẩm và như Tông Đồ vĩ đại của Cha Ngài, nhưng còn để kính ngưỡng Ngài vẫn đang sống động trong tập đoàn các Tông đồ, vẫn đang kêu cầu mỗi ngày Thánh Thần tông đồ xuống trên mình và trên toàn thể Giáo hội”.[85]

Vì thế truyền thống Xuân Bích góp phần độc đáo vào việc tìm kiếm sự thống nhất trong đời sống các linh mục. Truyền thống này nêu bật sự “vận hành” vốn làm linh hoạt và hợp nhất từ bên trong tất cả các hoạt động và các phương thế được sử dụng. Hợp nhất với Đức Giêsu Kitô nhờ Phép Rửa, mỗi người đi vào sự vận hành mà nhờ đó Chúa Cha đã gởi Ngài đến nói với con người để thấm nhuần họ bằng Thánh Thần của Ngài và dẫn dắt họ về với Ngài. Chính vận hành này, trong sự phát triển của nó, bảo đảm sự hiệp nhất của đời sống Kitô hữu (và của linh mục). Nền tảng của đời sống hiệp nhất này có tính Kitô học và có tính Ba Ngôi. Trong chính nó, sự hiệp nhất đời sống này là “thiêng liêng” (đến từ Thánh Thần) và thuộc nội tâm. Người Kitô hữu (và linh mục) ý thức rằng tất cả con người mình được sống lại với Đức Kitô và hoạt động trong Thánh Thần bằng năng lực phục sinh để vinh danh Chúa Cha. Một sự thống nhất đời sống như thế, khi được thực hiện đúng mức, sẽ thắng vượt được mọi sự lưỡng phân giữa sứ vụ và đời sống, giữa chiêm niệm và hành động, giữa phụng tự và sứ mạng.

1.2. Cuộc canh tân Giáo hội học của Vatican II

Công Đồng Vatican II đã canh tân Giáo hội học Công giáo và do đó đã mở rộng thần học về sứ vụ linh mục do Công Đồng Trentô đưa ra. Như thế Công Đồng cũng thúc đẩy chúng ta cập nhật truyền thống của mình sao cho bao gồm rõ hơn chiều kích Giáo hội học của sứ vụ, và sao cho truyền thống ấy đương đầu hữu hiệu với những vấn đề mới phát sinh từ tính đa diện và dị biệt của những nhiệm vụ linh mục.

Trước hết điều mà Công Đồng trình bày như mục đích duy nhất và như giềng mối thống nhất, đứng trước tính khác biệt của các thừa tác viên chức thánh cũng như tính khác biệt trong các công việc của họ, đó là họ cùng nhau xây dựng Thân Thể duy nhất của Đức Kitô.[86] Nhắm đến mục tiêu này, Công đồng đã ra sức diễn tả sự phong phú, tính độc đáo và sự cấu kết của những chức năng khác nhau của sứ vụ linh mục, bằng cách kết nối chúng vào ba tước hiệu của Đức Kitô: “Tiên Tri (hoặc Thầy), Tư Tế và Mục Tử.”

Tiếp đó, khi đề cập rõ ràng đến vấn đề hợp nhất và hòa điệu đời sống linh mục,[87] Công Đồng sử dụng đồng thời nguyên tắc Kitô học (sự kết hợp với Đức Kitô-Mục Tử, trong việc liên lỉ tìm kiếm thánh ý Chúa Cha) và nguyên tắc Giáo hội học (hiệp thông Giáo hội như môi trường phân định và như phương tiện kiểm chứng lòng trung thành với Đức Kitô).

Sau cùng, một tầm nhìn đổi mới về “vinh quang Thiên Chúa”, gợi hứng từ Thánh Irénée, loại bỏ mọi tương phản giữa cứu cánh qui thần của sứ vụ và lòng nhiệt thành của các linh mục trong việc phục vụ con người, trong những diện mạo khác nhau của việc rao giảng Tin Mừng.[88]

Vấn đề của Giáo hội hiện thời không giống với vấn đề của thế kỷ 17 nữa. Đối với Cha Jean-Jacques Olier, trước hết đó là ngài phản ứng chống lại sự phân hóa quá phổ biến nơi các linh mục thời đó, phân hóa giữa một bên là việc thi hành, ở mặt ngoài, các chức vụ của họ trong Giáo hội, và một bên là sự dấn thân nội tâm của họ để theo Đức Giêsu Kitô. Đối với Giáo hội ngày nay, việc cần hơn đó là phải chống lại sự xâu xé nội tâm hiện nay, mà các linh mục thường cảm nhận, trước sự khó khăn của việc dung hòa vô số trách nhiệm của sứ vụ, đến nỗi làm họ không còn nhìn thấy ý nghĩa và sự hợp nhất sâu xa của sứ mạng độc đáo của mình.

Ngày nay, cũng như hồi thế kỷ 17, quả vẫn đúng là “sự tìm kiếm liên lỉ kết hợp với Đức Kitô” là một đòi hỏi nền tảng cho các linh mục và các linh mục tương lai. Nhưng trong cuộc tìm kiếm sự thống nhất bên trong này, điểm nhấn mạnh đã đổi vị trí. Thời đó nơi Cha Olier, sự tìm kiếm này bắt nguồn từ mối quan tâm tiên vàn là giúp các linh mục trở thành những Kitô hữu đích thực để xứng với ơn gọi mục tử của họ. Ngày nay, Công đồng khởi đi từ tính chất chuyên biệt của mục vụ để quan tâm đề cập trước hết đến sự thống nhất đời sống của các linh mục:

“Sống chính sự sống của vị Mục Tử Tốt Lành như thế, trong khi thực thi đức ái mục vụ, họ sẽ tìm thấy giềng mối của sự hoàn thiện linh mục, chính giềng mối này sẽ đem lại sự thống nhất cho đời sống và hoạt động của họ.”[89]

Như vậy, truyền thống Xuân Bích sẽ giúp ta không coi nhẹ tất cả những gì được nhấn mạnh trong các văn kiện của Công Đồng về chiều kích thiêng liêng của sứ vụ linh mục, sự bám rễ của nó trong cầu nguyện và trong hy tế Thánh Thể .[90] Thánh chức bao gồm một sự “thánh hiến” nhắm đến sứ mạng: “được cung hiến” và “được sai đi” là hai từ chủ chốt của Công đồng khi nói về các linh mục cũng như về Đức Kitô và toàn thân Ngài là Giáo hội.

Trong lôgic này về sự thống nhất của sứ vụ và của đời sống các linh mục, Công đồng cũng yêu cầu sự thống nhất các khía cạnh cốt yếu của việc đào tạo. Ở đây, Công Đồng cũng liên kết các khía cạnh đó vào ba tước hiệu của Đức Giêsu Kitô, ba tước hiệu này kéo theo ba nghĩa vụ (tria munera) của sứ vụ thánh chức: giảng dạy, thánh hóa, cai quản. Từ đó có những quảng diễn về những khía cạnh thiêng liêng,[91] trí thức[92] và mục vụ[93] của việc đào tạo các chủng sinh. Việc đào tạo này “phải nhằm làm cho họ trở thành những mục tử thật sự của các linh hồn, theo gương Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, Đấng là Thầy, Tư Tế và Mục Tử”.[94]

Nên lưu ý rằng nguyên tắc Kitô học vẫn là nguyên tắc nền tảng. Rõ ràng điều hàm ý ở đây là người ta bắt đầu bằng cách nói về đào tạo thiêng liêng, được coi như nguyên tắc trong nguyên tắc: “Thánh chức khuôn đúc các ngài (linh mục) theo hình dạng Đức Kitô-Linh Mục, các ngài cần tập gắn bó với Đức Kitô như bạn hữu, trong mối thân tình trọn cả đời.”[95]

Đồng thời Công đồng cũng biểu lộ sự lưu tâm điều hợp việc đào tạo thiêng liêng với các khía cạnh khác của việc đào tạo: “Việc đào tạo thiêng liêng phải liên kết chặt chẽ với việc đào tạo tín lý và mục vụ.”[96]

Chúng ta không bao giờ quên rằng đây là việc đào tạo các mục tử: “Chính mối ưu tư mục vụ phải định hình cho tất cả việc đào tạo các chủng sinh.”[97] “Tất cả các khía cạnh của việc đào tạo – thiêng liêng, trí thức và kỷ luật – phải được xếp đặt cách nào để qui hướng về mục đích mục vụ này”.[98]

Hiến Pháp hiện thời của Xuân Bích mang dấu ấn của Công đồng: “Được cập nhật dưới ánh sáng của Công Đồng Vatican II, dự án của các vị sáng lập luôn mời gọi các linh mục tự hiến cho Đức Giêsu Kitô là Thầy, Tư Tế và Mục Tử”.[99]

Việc kể ra những nét tiêu biểu của thực hành sư phạm của chúng ta đạt tới chóp đỉnh với “sự tìm kiếm liên lỉ kết hợp với Đức Kitô”, như nguyên tắc thống nhất của mọi khía cạnh đào tạo, nhưng với một qui chiếu có ý nghĩa đến Presbyterorum Ordinis, số 14. Qui chiếu này cho phép chúng ta huy động tất cả sự phong phú của nguyên tắc kết hợp với Đức Giêsu Kitô, đặc biệt là kết hợp với khuôn mặt Đức Kitô-Mục Tử, “vị Tông đồ vĩ đại của Chúa Cha”, kiểu nói mà Cha Jean-Jacques Olier thường dùng. Sự thống nhất do “cứu cánh có tính mục vụ của tất cả việc đào tạo”[100] và sự thống nhất do sự tìm kiếm liên lỉ kết hợp với Đức Kitô[101] là hai điều không đối nghịch nhau: điều này nội tại trong điều kia. Cũng nên giải thích rõ hai điều này: Bí tích truyền chức không chỉ ban một chức vụ, nhưng thánh hiến và khuôn đúc theo hình dạng Đức Kitô, tuy nhiên sự thánh hiến này, đến lượt nó, chỉ nhận được tất cả sự thật của nó nơi sự đồng hình dạng và trung thành với Đức Giêsu Kitô trong sứ vụ của Ngài.

1.3. Cập nhật Vatican II và truyền thống Xuân Bích

Sau Những tiêu chuẩn nền tảng của việc đào tạo các linh mục tương lai, do Rôma xuất bản năm 1970, việc cập nhật sắc lệnh Optatam totius của Công đồng chủ yếu là công trình của Thượng Hội đồng các Giám Mục năm 1990 và của Tông huấn Pastores dabo vobis do của Đức Gioan Phaolô II ban hành năm 1992. Về phía các giám mục Pháp, các ngài đã công bố vào năm 1997 ấn bản lần thứ 3 của Ratio institutionis sacerdotalis bằng tiếng Pháp, do Tòa Thánh phê chuẩn năm 1998. Phần mình, Xuân Bích đã họp ở Bogota, tháng 7 năm 1999, các phiên khoáng đại về Linh mục giáo phận ngày nay: những điểm cốt yếu cho việc đào tạo.

Một điểm mới mẻ đáng chú ý nhất, kể từ Pastores dabo vobis (PDV), đó là sự nhấn mạnh việc đào tạo nhân bản cho các linh mục tương lai[102] và sự nhấn mạnh việc thường huấn cho các linh mục.[103] Điều được nhắc đến không ngừng, đó là “tất cả việc đào tạo các ứng viên vào chức linh mục được hoạch định để giúp họ hiệp thông cách đặc biệt vào đức ái của Đức Kitô, vị Mục Tử Tốt Lành. Chính cứu cánh có tính mục vụ này, khi được hiểu như thế, là điều “bảo đảm cho việc đào tạo nhân bản, thiêng liêng và trí thức những nội dung nhất định và những tính chất rõ rệt, để thống nhất và chuyên biệt hóa tất cả công cuộc đào tạo các linh mục tương lai.”[104]

Một điểm mới mẻ khác của Pastores dabo vobis là lời khuyên về “một giai đoạn xứng hợp để chuẩn bị cho việc đào tạo diễn ra ở chủng viện” và “được phối kết” với việc đào tạo ấy. Tuy nhiên các Nghị phụ Thượng Hội đồng biết rằng “trong khi hầu như mọi người đều xác tín về nhu cầu phải có sự chuẩn bị này, thì các quan điểm lại rất khác biệt nhau liên quan đến các nội dung và các đặc tính của nó, nghĩa là liên quan đến mục đích đầu tiên của việc chuẩn bị này”.[105] Bản Ratio tiếng Pháp, năm 1998, tuyên bố rằng năm chuẩn bị này là “đáng mong ước”, nhưng nhìn nó chủ yếu với mục đích “đặt nền cho đời sống thiêng liêng của các ứng sinh dựa trên sự gắn bó sống động và riêng tư với Đức Kitô.”[106] Vả lại, bản Ratio tiếng Pháp nêu rằng “để bảo đảm sự hợp nhất các yếu tố của việc đào tạo, phải làm cùng lúc.” Xuân Bích cũng chọn lựa như vậy. Điều này vừa thuộc truyền thống vừa mới mẻ. Thuộc truyền thống, bởi vì “truyền thống của chúng ta luôn lưu ý rằng những chiều kích khác nhau của việc đào tạo được triển khai đồng thời nhau chứ không kế tiếp nhau”.[107] Mới mẻ, bởi vì đặc biệt tại Pháp, việc đào tạo từ nay bao gồm điều đã được nhất trí gọi là “tập sự mục vụ” mà Ratio 1998 đã hiểu như sau: “một sự hiện diện thích ứng và đa diện, đúng hẹn và đều đặn, tại chỗ, giữa lòng các cộng đoàn Kitô hữu hoặc có nối kết với những cộng đoàn này”.[108] Trong nghĩa này, việc “làm cùng lúc” và hòa vào nhau những khía cạnh khác nhau của việc đào tạo làm nên một trong những đổi thay rõ ràng nhất và ý nghĩa nhất bất chợt xuất hiện tại các chủng viện trong những thập niên gần đây. “Làm cùng lúc” không có nghĩa là lẫn lộn, và việc chọn lựa khoa sư phạm này không hề đơn giản. Chắc chắn nó đáp ứng những nhu cầu có tính hoàn cảnh như sau:

– hoàn cảnh của các ứng sinh với kinh nghiệm Giáo hội thường rất hạn chế khi họ mới đến;

– sự cần thiết phải có một sự thẩm định của Giáo hội trong thực hành phân định ơn gọi;

– sự tiến hóa hiện thời của mọi sư phạm, trong đó việc thực hành là một trong những trụ cột để hình thành một tư tưởng, trong một trao đổi không ngừng giữa kinh nghiệm và suy tư;

– tình trạng đức tin Kitô giáo trong nhân loại hôm nay đòi hỏi các chứng nhân của đức tin phải đi vào cuộc đối thoại với những kẻ khác, cả với những người tin lẫn với những người không tin.

Nhưng, ngoài những lý do có tính hoàn cảnh này, việc thực hành “làm cùng lúc” những khía cạnh khác nhau của việc đào tạo là một cách thế, đặc thù nhưng căn bản, để đáp ứng đòi hỏi nền tảng về sự thống nhất của đời sống và của việc đào tạo, như đã đề cập trong các bản văn Công đồng và trong Hiến pháp của chúng ta. Cách thế đặc thù – bởi vì đây không phải là cách duy nhất có thể, và người ta không được tìm lại nó y như trong lịch sử của Hội. Cách thế căn bản – bởi vì nó được ghi khắc trong sự trung thành với truyền thống Xuân Bích, truyền thống này không cố sản xuất lại các khuôn mẫu của quá khứ, nhưng nhằm cập nhật cảm hứng vừa có tính thần nhiệm vừa có tính sứ mạng. Việc thực hành này đơn thuần đặt ra, một cách quyết liệt hơn, vấn đề nguyên lý thống nhất toàn bộ việc đào tạo vốn đã được nêu ra trước đây. Và việc thực hành này yêu cầu một sự thẩm định việc áp dụng nó.

Bản đúc kết của Rôma (ngày 27.7.1995) về các cuộc tông du thăm viếng các chủng viện tại Pháp đã nêu yêu cầu về một đánh giá như thế và về những điều chỉnh cần thiết theo tình hình, trong khi nhấn mạnh tới nguy cơ “mất cân bằng về thời gian phải được dành cho việc học hành và cho đời sống thiêng liêng.” Vả lại, sự lựa chọn “làm cùng lúc” ngày nay bị tranh cãi vì khó đề cao đặc tính của mỗi chiều kích, và đối với các chủng sinh thì đó là khó nắm giữ hết thảy cùng một lúc. Sự lựa chọn này được thấy là đi ngược với một nền đào tạo mà các giai đoạn kế tiếp nhau được đánh dấu rõ hơn bởi mục đích riêng của chúng: thiêng liêng, trí thức, mục vụ.

Vì thế, nên nhớ rằng “làm cùng lúc” không có nghĩa là ba trụ cột ấy phải luôn có cùng tầm quan trọng. Có tồn tại những giai đoạn. Sự phân chia sẽ không giống nhau ở chu kỳ I, chu kỳ II hoặc trong năm Phó tế. Ở cuối thời chủng viện, huấn luyện mục vụ sẽ chiếm một chỗ quan trọng hơn. Ở một số thời khắc nào đó trong giai đoạn chủng viện, chứ không nhất thiết chỉ là lúc đầu, có thể có những nhịp mạnh cho việc đào tạo thiêng liêng. Và những yêu cầu của việc đào tạo trí thức đôi khi có thể rút bớt thời gian dành cho các hoạt động khác. Nhưng dù phân chia thế nào, chúng không bao giờ tách rời hẳn khỏi nhau.

Cách làm như vậy rõ ràng có những khó khăn của nó. Có thể chủng sinh bị căng thẳng, bị giằng co giữa những hoạt động khác nhau, trong một thời khóa biểu mà họ không thể làm chủ được. Nhưng đây là cách đáng làm, và các kết quả nói chung có sức thuyết phục. Người ta có thể thêm rằng đó cũng như một loại tập sự sứ vụ linh mục, vốn rất thường nằm trong loại căng thẳng này. Hội nghị năm 1989 đã chú ý rất nhiều tới những điều kiện của sự thống nhất mục vụ của việc đào tạo và có những đề nghị để tránh các cạm bẫy và cải thiện thế cân bằng, trong sự tương tác của các chiều kích khác nhau.[109]

2. TÍNH TỰ LẬP VÀ SỰ LỆ THUỘC HỖ TƯƠNG

CỦA CÁC CHIỀU KÍCH ĐÀO TẠO KHÁC NHAU

2.1. Đào tạo nhân bản

Tông huấn Pastores Dabo Vobis nhìn nhận việc đào tạo nhân bản có tầm quan trọng hàng đầu, không có nó thì “toàn bộ việc đào tạo linh mục sẽ bị tước mất nền tảng thiết yếu”.[110] Đức Gioan Phaolô II đã vạch rõ các mục đích của đào tạo nhân bản:

“Không chỉ vì để đạt một sự triển nở cần thiết và đúng đắn và để thể hiện chính mình (người ta ghi nhận tính thời sự của quan điểm này) mà còn vì để thi hành sứ vụ của mình, mà các linh mục tương lai phải vun trồng toàn bộ những phẩm tính nhân bản vốn thiết yếu để xây dựng những nhân cách quân bình, vững mạnh và tự do: chính là để có khả năng đảm nhận các gánh nặng của trách nhiệm mục vụ”.

Cả ở đây nền tảng vẫn mang tính Kitô học: ơn gọi của các linh mục là trở nên “hình ảnh sống động” của Đức Giêsu Kitô, Đấng biểu lộ nhân tính của mình qua các thái độ đối với người khác. Đức Giáo Hoàng cũng nhấn mạnh rằng “mối tương quan với người khác giữ một tầm quan trọng đặc biệt”. Người ta có thể thêm rằng mối tương quan ấy càng quan trọng một cách thời sự trong sự cộng tác thiết yếu với các giáo dân. Nó đòi hỏi những phẩm chất mà bản Ratio tiếng Pháp tóm tắt trong bốn nhân đức chính yếu: công bằng, dũng cảm, khôn ngoan và tiết độ.[111] Tiếp theo sau Thượng Hội đồng giám mục, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh việc giáo dục lương tâm luân lý. Cũng rất cần thiết việc “theo gương Đức Giêsu, Đấng biết rõ những gì hàm chứa trong thân phận con người,[112] linh mục cần có khả năng hiểu biết sâu sắc tinh thần con người, có thể trực giác về những khó khăn và những vấn đề, có thể tạo điều kiện dễ dàng cho sự gặp gỡ và đối thoại, có thể đạt được sự tín nhiệm và cộng tác, có thể đưa ra những phán đoán trong sáng và khách quan.”[113]

Chính trong bối cảnh này mà Tông Huấn của Rôma và bản Ratio tiếng Pháp đề cập khá dài về việc đào tạo sự trưởng thành tình cảm và giới tính. Việc đào tạo này không chỉ cần thiết để sống bình an đời độc thân tông đồ, mà còn để có được tất cả các phẩm tính nhân bản mà sứ vụ của các linh mục đòi hỏi. Theo Đức Thánh Cha, sự trưởng thành tình cảm giả thiết rằng trong khi chia sẻ tình yêu của mình cho Giáo hội, đương sự phải

“ý thức đủ về vị trí trung tâm của tình yêu trong hiện sinh con người:… một tình yêu bao bọc toàn diện con người, trong các chiều kích và các thành tố của nó: thể lý, tâm lý và tâm linh … Để dấn thân trong bậc độc thân, sự trưởng thành tình cảm phải có thể đưa vào trong các mối tương quan nhân bản (tình bạn trong sáng và tình huynh đệ sâu xa) một tình yêu nồng cháy, mạnh mẽ, và biệt vị đối với Đức Giêsu Kitô”.[114]

Hội nghị Bogota đã suy tư, một cách rất đặc trưng Xuân Bích, về “hành động của Chúa Thánh Thần và sự biệt vị hoá việc đào tạo” bằng cách dành một nghiên cứu chuyên biệt cho việc đào tạo nhân bản.[115]

2.2. Đào tạo thiêng liêng

Trong ý nghĩa sâu xa của nó, việc đào tạo thiêng liêng cho các chủng sinh, tự nó hiển nhiên có giá trị, độc lập với những việc chuẩn bị cho tác vụ, và không bị “biến thành công cụ”. Tìm cách sống theo Thánh Thần, đi theo Đức Kitô trên các nẻo đường thánh thiện theo Tin Mừng, và ý thức về sự hiện diện của Thiên Chúa, không được coi những nỗ lực này như sự tập sự đơn thuần để biết cách chu toàn các chức năng của linh mục. Bằng chứng là người ta không cần phải trở thành thần học gia hay phải lãnh trách nhiệm mục vụ mới có thể lớn lên trong sự kết hợp với Thiên Chúa.

Ngay cả trên bình diện các phương tiện chuyên biệt hơn (bí tích, kinh nhật tụng, Lectio divina, nguyện gẫm, đọc sách thiêng liêng, tĩnh tâm, hành hương, những việc đạo đức khác), mục đích đầu tiên của việc đào tạo luôn là sự lớn lên của bản thân trong đức tin, đức cậy và đức mến, điều này luôn đúng đối với một chủng sinh cũng như đối với mọi tín hữu. Và người chủng sinh, khi đã nghe một tiếng gọi chuyên biệt để trở thành linh mục, không bao giờ được quên (và đôi khi phải khám phá) “ơn gọi chung” của mọi tín hữu.

Tuy nhiên, việc đào tạo cho đời sống thiêng liêng không thể bỏ qua một sự học hỏi nào đó về nội dung của đức tin, cũng không thể không đào sâu đời sống trong Giáo hội, hơn nữa việc đào tạo này không thể bỏ qua hoàn cảnh riêng của những con người liên hệ. Thật vậy, không thể có đời sống thiêng liêng đích thực nếu không biết đón nhận Thiên Chúa như Ngài tự trao ban và ở nơi Ngài tự trao ban. Theo đó, một đời sống thiêng liêng Kitô hữu sẽ luôn là sự đón nhận Mầu nhiệm Đức Kitô, được gặp trong sự thật của Ngài, ở giữa lòng Giáo hội, và sự thực hiện ý muốn của Thiên Chúa trên mình, một cách biệt vị, trong hoàn cảnh cụ thể riêng mà ở đó mình được mời gọi. Tất cả những gì trong thực tế được bao hàm trong ý nghĩa của ơn gọi đã nhận sẽ đem lại cho việc đào tạo thiêng liêng tính nhất quán và tính chân thực.

Như vậy không thể đào tạo thiêng liêng cho một linh mục tương lai nếu không lưu ý đến tiếng gọi riêng biệt mà Đức Kitô trao cho anh. Đối với anh, bước theo Đức Kitô sẽ chính xác có nghĩa là đảm nhận sứ vụ và đời sống của một linh mục. Trong tất cả những gì chuẩn bị anh cho điều đó – nhất là việc học hành, đời sống cộng đoàn và những sự dấn thân Giáo hội – anh khám phá dần dần đâu là hình thức cụ thể và nội dung của thánh ý Thiên Chúa trên mình.

Ngày qua ngày, trong khi tập tành làm theo thánh ý Thiên Chúa, trong khi tìm cách để có thể làm cho toàn thể hiện hữu của mình trở nên có ý nghĩa một sự dâng hiến chính mình cho Chúa Cha nhờ Đức Kitô,[116] người linh mục tương lai sống ân sủng của Phép Rửa và chức tư tế chung của các tín hữu. Nhưng đồng thời anh tự chuẩn bị cho sứ vụ của các linh mục, sứ vụ mà nhờ đó “hy tế thiêng liêng của các tín hữu được hoàn tất trong sự kết hợp với hy tế của Đức Kitô, Đấng Trung gian duy nhất.”[117] Thật vậy, sự dâng hiến chính mình cho Thiên Chúa sẽ được anh thực hiện qua các việc chuẩn bị bản thân để trở thành “thừa tác viên cho Đức Kitô linh mục.” Hơn nữa, làm sao anh có thể giúp anh em tín hữu của mình sống “hy tế thiêng liêng của họ” nếu chính anh không đi vào trong cùng một hiến lễ? Để trung thành với chức thánh của mình, anh phải nối kết với động lực mầu nhiệm Nhập Thể của Con Thiên Chúa, như Thư gửi tín hữu Do Thái đã trình bày, nghĩa là với chiều kích vâng phục và đón nhận một sứ mạng được trao ban: “Lạy Chúa, con đến để làm theo ý Chúa”.[118] Sứ mạng này yêu cầu một sự mở rộng đáng kể đời sống thiêng liêng của người sẽ trở nên mục tử. Điều quan trọng không chỉ là qua việc thực thi một chức năng, ta giúp những người khác nuôi dưỡng sự phát triển thiêng liêng của họ. Nhưng điều quan trọng là bắt đầu từ hoàn cảnh riêng này của mình, người mục tử mở ra với vô số những hoàn cảnh riêng của những người khác, và có khả năng đón nhận họ trong Đức Giêsu Kitô.

Người ta thấy rằng cũng như đối với một linh mục, ân sủng của Phép Rửa và ân sủng chức thánh kết hợp với nhau một cách sâu xa, thì cũng thế, đối với người đang chuẩn bị cho sứ vụ linh mục, việc đào tạo thiêng liêng và việc đào tạo linh mục có mối thống nhất sâu xa trong viễn tượng của một mục đích chung: sự kết hợp với Đức Giêsu Kitô.

2.3. Đào tạo trí thức

Việc đào tạo trí thức cũng phải được theo đuổi vì chính nó, với những phương tiện và những đòi hỏi riêng của nó. Người ta có lý khi nhấn mạnh những nguy hiểm của một cách giải thích Thánh Kinh trực tiếp có tính “thiêng liêng” và theo cảm tính, hay về một việc học hỏi thần học theo cách muốn lập tức đáp ứng nhu cầu mục vụ. Một cách sâu xa hơn, điều đáng quan tâm đối với con người, giáo dân hay linh mục, đó là phải vun trồng một đời sống trí thức cá nhân đích thực. Vậy những liên hệ giữa đào tạo trí thức và đào tạo thiêng liêng và mục vụ là rất quan trọng.

Học triết học và thần học mà không nhận thấy liên can trực tiếp đến bản thân mình, thì đó là chưa chạm tới cái cốt yếu. Mỗi một môn học ở chủng viện có thể và phải gợi lên những vấn nạn nền tảng và do đó phải đưa sinh viên vào hành trình riêng tư nhất của mình. Không đào sâu thiêng liêng và không bén rễ vào một kinh nghiệm Giáo hội được sống một cách cụ thể, việc học những môn này sẽ là một cái gì giả tạo và thậm chí có thể gây nguy hiểm nữa.

Những dấn thân tông đồ và viễn tượng sứ vụ góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy các chủng sinh làm việc trí thức và cung cấp cho công việc này một loại điểm tựa và điểm qui chiếu. Đời sống của Giáo hội can thiệp vào như “môi trường thần học”. Ngay trong khi học tập, người ta đã có thể nghĩ tới những cá nhân và những nhóm mà mình phải chuyển trao cho họ điều mình đã lĩnh hội. Người ta nghĩ ra cách thế làm gợi lên hứng thú, những câu hỏi và những phản biện, những câu trả lời khả dĩ. Người ta khám phá ra rằng sẽ không đủ nếu chỉ lặp lại điều mình đã học để người khác hiểu được mình.

Cũng vậy, phụng vụ và kinh nguyện phải gợi lên ước vọng học tập nghiêm chỉnh về Thánh Kinh, về nội dung đức tin và lịch sử Giáo hội.

Hơn nữa, mỗi môn học tại chủng viện, ít ra một cách gián tiếp, kiến tạo một bước tiến nào đó đến gần Mầu nhiệm Đức Kitô. Như thế, việc đào tạo trí thức tìm được một tương liên mới với những yếu tố khác của việc đào tạo. Đức Giêsu Kitô mà Thánh Kinh, thần học, lịch sử Giáo hội và ngay cả triết học[119] bằng một cách nào đó đã nói tới, đó cũng chính là Đức Chúa và Đấng Cứu Độ được đón nhận, chiêm ngắm, loan báo, được nhìn nhận hiện diện trong các bí tích, trong cầu nguyện, trong kinh nghiệm tông đồ, và trong các cộng đoàn Giáo hội.

Trong việc đào tạo trí thức của mình, người linh mục tương lai cũng gặp gỡ Đức Giêsu Kitô như Đấng mời gọi anh để “ở với Ngài và để được Ngài sai đi rao giảng”.[120] Được “trao trách nhiệm giảng dạy”,[121] đó chính là nhận lãnh ân sủng tiếp cận đặc biệt với Đức Kitô, Đấng là “Thầy” và “Ngôn Sứ”. Vì thế việc đầu tư bản thân trong việc học hành cũng sẽ là con đường để kết hợp với Đức Kitô. Giống như các yếu tố khác nhau của việc đào tạo thiêng liêng, những yếu tố của việc đào tạo trí thức tìm được ý nghĩa và sự thống nhất trong viễn tượng của mục đích này.

2.4. Đào tạo mục vụ

Cho dù toàn bộ việc đào tạo các linh mục tương lai được hợp nhất bởi cứu cánh có tính mục vụ, thì việc đào tạo mục vụ vẫn cần được nhìn nhận trong tư thế riêng của nó. Tại Pháp, bên cạnh một sự huấn luyện lý thuyết và thực hành giúp trang bị khả năng mục vụ (khả năng này thì chẳng bao giờ đủ), việc đào tạo này còn bao gồm một kỳ “thực tập mục vụ” mà mục đích của nó, theo bản Ratio Pháp ngữ, đó là ít ra nhắm “bảo đảm việc kinh qua điều kiện chung của người Kitô hữu [người linh mục đâu có rời bỏ điều kiện chung này!] và đi tới trách nhiệm linh mục và thái độ mục vụ mà việc thực tập ấy bao hàm”.[122] Vấn đề trọng yếu là việc “xây dựng con người thiêng liêng của vị mục tử tương lai.”[123] Vậy người ta không thể coi những kinh nghiệm sống trên thực địa, giữa lòng những cộng đoàn Kitô hữu khác nhau và trong tiếp xúc với những người không tin, chỉ như sự áp dụng đơn thuần của những điều mà người ta học được trong sách vở và những điều mà người ta có thể khám phá trong kinh nguyện. Những kinh nghiệm này là nhằm để tạo ra một tương tác phong phú giữa việc thực tập hữu hiệu này trong sứ vụ và đời sống các linh mục, trong cộng tác với các giáo dân, tất cả các chiều kích của công cuộc đào tạo.

Ở ngoài động lực của đức tin, việc dấn thân tông đồ sẽ mất ý nghĩa và sớm tàn lụi. Rõ ràng tất cả những gì có thể được khám phá và được sống đều mời gọi việc cầu nguyện và đáng được dâng lên Thiên Chúa: những kỳ vọng của trần thế hay sự dửng dưng của nó, những phú túc hay những sự nghèo nàn của đời sống Giáo hội, những đau khổ hay những niềm vui của những người mình gặp gỡ. Cũng vậy, thiếu đòi hỏi trí thức, người ta sẽ ở lại trong những cảm tưởng mơ hồ và mọi kinh nghiệm có thể được sống hầu như không còn giá trị đào tạo. Những môn học tại chủng viện không chỉ giúp “trả lời thế nào”, chúng còn khích lệ phân tích những cảnh huống con người và những mạo hiểm của đức tin để định hướng hoạt động mục vụ và trao cho nó một ý nghĩa.

Rõ ràng cả ở đây nữa, điểm quyết định tối hậu sẽ là sự trung tín với Đức Giêsu Kitô, Đấng mời gọi nhìn nhận Ngài hiện diện “ở đâu có hai ba người qui tụ nhân danh Ngài”[124] là Đấng kêu gọi, và sai đi cho sứ mạng. “Được ban ơn” để làm “người rao giảng Tin Mừng” và làm “mục tử”[125] có nghĩa là kết hiệp với Đức Giêsu Kitô Đấng được Chúa Cha sai đến[126] và là Mục Tử của Giáo hội Ngài.[127]

Nếu những khía cạnh khác nhau của việc đào tạo cho sứ vụ không chỉ phụ thuộc lẫn nhau, mà còn thực sự được hợp nhất sâu xa, thì sự hợp nhất này chắc chắn xảy ra chung quanh trục trung tâm là việc đón nhận và tìm kiếm liên lỉ kết hợp với Đức Giêsu Kitô, Đấng là Tư Tế, Tiên Tri và Mục Tử.

3. ÁP DỤNG VÀ KIỂM CHỨNG

Như thế, sự hợp nhất của việc đào tạo diễn ra cách thâm sâu chung quanh sự kết hợp với Đức Giêsu Kitô. Nhưng để được như vậy, sự hợp nhất này đòi hỏi một kết nối thường xuyên giữa các trụ cột khác nhau.

Sự kết nối này bao gồm nhiều yếu tố.

3.1. Một Hội đồng phụ trách toàn bộ việc đào tạo

Điều đó không có nghĩa rằng Hội đồng phải bảo đảm mọi yếu tố trong việc đào tạo. Một phần quan trọng của việc huấn luyện tông đồ sẽ ở trong tay các vị mục tử là những người đón nhận các linh mục tương lai trên thực địa. Việc đào tạo trí thức sẽ có thể được đảm nhận một phần bởi các giáo sư ngoại trú, hay bởi các phân khoa thần học và triết học ở bên ngoài chủng viện.

Nhưng chủng viện vẫn là nơi phối hợp các trục khác nhau của việc đào tạo. Vì thế Hội đồng sẽ không bao giờ có thể rời bỏ trách nhiệm toàn cục của mình. Cho dù đã ủy thác những trách nhiệm nào đó, Hội đồng vẫn phải bảo đảm mối liên kết với tất cả các môi trường đào tạo, theo dõi chất lượng của công việc được làm ở các nơi đó, và nhất là thúc đẩy sự hội nhập thống nhất các yếu tố khác nhau này.

3.2. Các phương tiện cộng đoàn phục vụ cho sự thống nhất

Sự thống nhất này cần thiết, nhưng không thể phó thác nó cho duy chỉ trách nhiệm của mỗi cá nhân hoặc chỉ được thể hiện qua những gặp gỡ cá nhân mặt đối mặt.

Chính cộng đoàn phải là giềng mối thống nhất. Để thực thi chức năng của mình, cộng đoàn cần những phương thế khác nhau mà thể chế của chủng viện cung cấp.

3.3. Những nhà đào tạo luôn mang mối quan tâm này trong các vai trò khác nhau của mình (ở tòa ngoài)

Mọi thành viên của Hội đồng đều biểu hiện ý muốn thống nhất này qua những chức vụ khác nhau mà họ được ủy thác.

3.3.1. Chức vụ linh hoạt thiêng liêng cho cộng đoàn

Trong chủ tọa phụng vụ cũng như trong việc chuẩn bị phụng vụ, trong bài giảng cũng như trong những nhiệm vụ linh hoạt thiêng liêng khác, luôn phải lưu ý sự nối kết này. Vả chăng, người ta không thể nói về cầu nguyện, không thể chú giải Lời Chúa trong Thánh Kinh, không thể mời gọi hiệp thông với Thiên Chúa… mà không liên hệ tới đời sống con người và tới tất cả những gì mà việc huấn luyện thần học có thể mang lại.

3.3.2. Chức vụ giảng dạy

Mỗi giảng viên phải xác tín rằng mình không thể tự hài lòng với một cách tiếp cận lý thuyết hay lịch sử. Trong khi vẫn giữ tính chuyên môn và tính hợp lý riêng của tiến trình trí thức, họ vẫn phải quan tâm bước theo Giáo hội hôm nay và quan tâm đến các nhu cầu của Giáo hội, cũng như quan tâm giúp người ta hiểu biết hơn về Mầu nhiệm Đức Kitô. Mỗi giáo sư luôn là một chứng nhân và sự giảng dạy của mình có thể trở thành nẻo đường chiêm niệm.

3.3.3. Chức vụ đồng hành mục vụ

Vào những dịp kiểm điểm mục vụ khác nhau, cần luôn thúc đẩy ý thức về những tương tác có thể diễn ra giữa việc tập sự mục vụ, việc cầu nguyện và những khám phá mà việc dạy học mang lại về mầu nhiệm đức tin. Việc huấn luyện tông đồ này không chỉ là một thực tập chuyên môn về những loại hoạt động khác nhau, mà đó còn là việc sử dụng động lực của đức tin và là một sự tham gia rất thực tiễn vào sự thể hiện của Nước Trời.

3.3.4. Vị giám đốc

Cách riêng vị giám đốc, người chủ tọa Hội đồng cũng như toàn thể cộng đoàn, có bổn phận thúc đẩy mục tiêu thống nhất này. Nhiệm vụ của ngài chính là điều hợp tất cả và linh hoạt toàn bộ cộng đoàn giáo dục, để việc đào tạo được thống nhất từ bên trong. Nỗi ưu tư hai mặt (về tính chuyên biệt và về sự hợp nhất) đòi hỏi cách đặc biệt việc lập ra một dự án giáo dục, trong khuôn khổ của Ratio, dự kiến những mục đích cũng như những phương tiện để đạt được các mục đích ấy và để kiểm chứng việc thực hiện.

3.4. Việc linh hướng (tòa trong)

Sự thống nhất những khía cạnh khác nhau của việc đào tạo nhờ kết hợp với Đức Giêsu Kitô, nói cho cùng, phải được thể hiện nơi mỗi người nhờ ân sủng của Thánh Thần. Việc này đòi hỏi trách nhiệm bản thân, không thể thoái thác được.

Việc linh hướng là môi trường tuyệt hảo và là phương tiện cho sự thống nhất cá nhân này. Sứ mạng riêng của vị linh hướng chính là phục vụ cho việc này. Vì thế ngài giúp chủng sinh (được giao phó cho ngài) biết dấn thân trong việc đào tạo, biết phân định trong các chiều kích khác nhau của việc đào tạo để nhận ra những con đường của Thánh Thần, và ngài cũng giúp chủng sinh biết nối kết những con đường ấy với nhau qua thái độ ngoan ngoãn đối với Thánh Thần là Đấng kết hợp anh ta với Đức Giêsu Kitô.

***

Ở cuối ghi chú này, cần nhắc lại điều Công đồng Vatican II đã nói về sự thống nhất đời sống của các linh mục:

“Sự thống nhất đời sống này không thể đạt được bằng một sự sắp xếp duy chỉ mặt ngoài về các hoạt động của sứ vụ, cũng không duy chỉ bằng những thực hành đạo đức, dù chắc chắn những thực hành ấy rất hữu ích. Điều quan trọng để các linh mục tạo lập sự thống nhất này, đó là trong khi thực thi sứ vụ của mình, các ngài theo gương Chúa Kitô – mà lương thực của Đức Kitô là làm theo ý Đấng đã sai Ngài và chu toàn công cuộc của Đấng ấy”.[128]

Điều tương tự cũng diễn ra trong thời gian ở chủng viện. Cả những phương tiện thuộc thể chế lẫn những thực hành đạo đức đều không đủ cho sự thống nhất đời sống nói trên. Điều mà ghi chú này muốn vạch rõ, trong sự trung thành với Công đồng cũng như với truyền thống Xuân Bích, đó là sự thống nhất ấy tùy thuộc vào sự kết hợp với Đức Giêsu Kitô, Đấng là Tiên Tri, Tư Tế và Mục Tử, sự kết hợp này được không ngừng tìm kiếm bởi tất cả và bởi từng người, và được chứng thực trong những hình thức chia sẻ khác nhau của cộng đoàn. “Đối với linh mục, đó sẽ là phương tiện để đạt được sự thống nhất đời sống của mình trong chính sự hiệp nhất của sứ mạng Giáo hội.”[129]

THƯ MỤC

-VATICAN II, Hiến chế tín lý về Giáo hội Lumen gentium, 21.11.1964.

-VATICAN II, Sắc lệnh về đào tạo linh mục Optatam totius, 28.10.1965.

-VATICAN II, Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới hôm nay Gaudium et spes, 7.12.1965.

-VATICAN II, Sắc lệnh về sứ vụ và đời sống linh mục Presbyterorum ordinis, 7.12.1965.

-PHAOLÔ VI, Tông huấn về loan báo Tin Mừng trong thế giới hôm nay Evangelii nuntiandi, 8.12.1975.

-GIOAN-PHAOLÔ II, Thông điệp về hiệu lực thường hằng của mệnh lệnh sứ mạng, Redemptoris missio, 7.12.1990.

-GIOAN-PHAOLÔ II, Tông huấn hậu Thượng Hội đồng Giám mục về việc đào tạo linh mục trong hoàn cảnh hiện nay, Pastores dabo vobis, 25.3.1992.

-GIOAN-PHAOLÔ II, Tông huấn hậu Thượng Hội đồng Giám mục về giám mục, người phục vụ Tin Mừng Đức Giêsu Kitô cho niềm hy vọng của thế giới, Pastores gregis, 16.10.2003.

-HỘI CÁC LINH MỤC XUÂN BÍCH, Huấn thị thiêng liêng cho việc đào tạo nhắm đến sứ vụ linh mục, 1985.

-HỘI CÁC LINH MỤC XUÂN BÍCH, Đào tạo tâm lý-tình cảm cho các chủng sinh, 1994.

-HỘI CÁC LINH MỤC XUÂN BÍCH, “Linh mục giáo phận hôm nay: những điểm trọng yếu cho việc đào tạo”, Hội nghị Bogota, tháng 7, 1999.

-HỘI CÁC LINH MỤC XUÂN BÍCH, Hiến Pháp, 2003.

-HỘI CÁC LINH MỤC XUÂN BÍCH, Vì Nước Trời – Những yếu tố để suy tư về việc đào tạo cho đời sống độc thân linh mục. Một đóng góp của Hội Xuân Bích, 2006.

-HỘI CÁC LINH MỤC XUÂN BÍCH, Tập san Saint-Sulpice (BSS).

-BỘ GIÁO LUẬT, 1983.

-OLIER, J.J., Mémoires autographes (thủ bút).

-OLIER, J.J., Huấn thị thiêng liêng cho Chủng viện Xuân Bích (Pietas Seminarii), 1.

-PITAUD, B., “Mối tương quan tòa trong – tòa ngoài. Những thực hành của trường phái Pháp”, trong BSS số 30, 2004.

Các tiêu chuẩn nền tảng cho việc đào tạo các linh mục tương lai, Rôma, 1970.

Và một số tài liệu do Hội đồng Giám mục Pháp xuất bản.

Mục Lục

– Lời giới thiệu ……………………………………….. 3

Một hội đồng liên đới trách nhiệm ………………… 14

1. Cách thực hành của chúng ta ………………….. 14

2. Một vài vấn đề đặc biệt ………………………. 18

3. Kết luận ……………………………………….. 27

Cộng đoàn giáo dục ……………………………….. 28

1. Tinh thần của một thực hành

truyền thống Xuân Bích …………………… 28

2. Bối cảnh mới và những hệ quả của nó …………. 35

3. Ngày nay phải đi về hướng nào? ………………. 38

4. Kết luận ………………………………………… 47

Linh hướng ………………………………………… 48

1. Thể chế và tinh thần ……………………………. 48

2. Những mục tiêu ………………………………… 49

3. Thực hành ………………………………………. 51

4. Vài vấn đề thời sự hơn …………………………. 56

5. Vai trò và thái độ của vị linh hướng ……………. 61

Phụ lục: Huấn thị ….. …………………………….. 65

Tính thống nhất của việc đào tạo tác vụ linh mục … 68

1. Truyền thống thiêng liêng của Xuân Bích và sự cập

nhật dưới sánh sáng Vatican II ………………….. 68

2. Tính tự lập và sự lệ thuộc hỗ tương của các chiều kích

đào tạo khác nhau ……………………………….. 80

3. Áp dụng và kiểm chứng ………………………… 88

 

moissulpicien


[1] HỘI LINH MỤC XUÂN BÍCH, Hiến Pháp, 2003.

[2] x. Ep 4,11.

[3] x. Bộ Giáo Luật, khoản 985.

[4] J.J. OLIER, Huấn thị thiêng liêng cho Chủng viện Xuân Bích (Pietas Seminarii), 1.

[5] x. Hiến Pháp, 1.

[6] x. Hiến Pháp, 14,1-2.

[7] GIOAN PHAOLÔ II, Tông huấn Pastores dabo vobis (PDV), 69.

[8] Hiến Pháp, 14,5.

[9] VATICAN II, Sắc lệnh Presbyterorum ordinis (PO), 14.

[10] x. PO, 13.

[11] PO, 8.

[12] PHAOLÔ VI, Tông huấn Evangelii nuntiandi (1975), 20.

[13] x. Mt 13,19-23.

[14] Cv 17,27.

[15] x. PDV, 44.

[16] Hiến Pháp, 14,1.

[17] x. Bulletin de Saint-Sulpice (BSS), 1, 1975 – tr. 126-127.

[18] CÁC GIÁM MỤC PHÁP, Aux éducateurs: Pour une pratique de la préparation au ministère presbytéral, Hội nghị toàn thể các giám mục Pháp – Lourdes, Centurions, 1975, tr. 166-169, nói về “nhóm điều hành có trách nhiệm liên đới”.

[19] Hiến Pháp, 129.

[20] CÁC GIÁM MỤC PHÁP, La Formation des futurs prêtres (Ratio Institutionis sacerdotalis), Cerf – Centurion, 3e édition, 1998, tr. 65: “nhóm điều hành chịu trách nhiệm trong liên đới với nhau về hoạt động của cơ chế và về các khía cạnh khác nhau của việc đào tạo”.

[21] Hiến Pháp, 138.

[22] x. Hiến Pháp, 141.

[23] x. Ratio Institutionis, 65-66: “Nhóm điều hành họp Hội đồng theo định kỳ, được chủ tọa bởi vị giám đốc, để trong liên đới với nhau bảo đảm sự hoạt động tốt của cơ chế”.

[24] x. Hiến Pháp, 128-137.

[25] x. Hiến Pháp, 130b.

[26] x. Hiến Pháp, 130b.

[27] x. Hiến Pháp, 130c.

[28] x. Hiến Pháp, 130c.

[29] x. Hiến Pháp, 130d.

[30] x. Hiến Pháp, 135.

[31] x. Hiến Pháp, 137.

[32] x. Ratio Institutionis, 65: “Các thành viên của nhóm điều hành phải tích cực tham dự vào đời sống cộng đoàn. Họ phải hiện diện đủ ở các hoạt động của cộng đoàn để làm nên một nhóm thực sự “điều hành” … họ sống tình huynh đệ với các chủng sinh, một tình huynh đệ được đánh dấu bởi sự đơn thành trong các mối tương quan, cũng như bởi lòng tôn trọng nhau.”

[33] x. PDV, 66: Sự hiệp nhất của những người huấn luyện “giúp thực hiện tốt chương trình huấn luyện, và nhất là nó trao cho các ứng viên linh mục một gương mẫu có ý nghĩa và cụ thể về mối hiệp thông Giáo hội, mối hiệp thông này là giá trị nền tảng của đời sống Kitô hữu và của sứ vụ mục vụ… Sẽ rất tốt nếu nhóm huấn luyện có được một sự ổn định nào đó và nếu họ thường trú trong cộng đoàn chủng viện.”

[34] x. Hiến Pháp, 138.

[35] x. Hiến Pháp, 39.

[36] x. Ratio Instituionis, 66c, “các giáo sư ngoại trú”.

[37] Ratio Instituionis, 66c.

[38] x. Hiến Pháp, 14.

[39] x. PDV, 42: … Tự đào tạo cho chức vụ linh mục có nghĩa là tự rèn luyện để đưa ra câu trả lời của bản thân mình cho câu hỏi nền tảng của Đức Kitô “Con có yêu mến Thầy không?”.

[40] x. PDV, 65: “…Nếu việc đào tạo cho chức linh mục cốt yếu là chuẩn bị một ‘mục tử’ tương lai theo hình ảnh Chúa Giêsu, vị Mục Tử Tốt Lành …”

x. HỘI LINH MỤC XUÂN BÍCH, Linh mục giáo phận ngày nay, những điểm trọng yếu cho việc đào tạo, Hội nghị Bogota: “Sự hiệp nhất và thế quân bình của những chiều kích khác nhau trong việc đào tạo toàn diện: mục đích mục vụ và truyền giáo của công cuộc đào tạo và các việc đào tạo trí thức, mục vụ và thiêng liêng”, tháng 7.1999, nhóm II, tr. 19-21.

[41] x. Ratio Institutionis, 67a: “các nhóm và các cộng đoàn cho việc tập sự mục vụ”.

[42] xem trên đây, số 2.1.

[43] Ratio Institutionis, 64-65.

[44] Vì việc giới thiệu một ứng viên để giám mục gọi là một hành vi quan trọng, bao hàm một quyết định tích cực, vì vậy cần phải có đa số thực sự. Trong trường hợp đồng đều về số phiếu trong cuộc biểu quyết của Hội đồng, nếu vị giám đốc không dùng số phiếu ưu thắng của mình thì sẽ không có quyết định, và do đó ứng viên không được giới thiệu (việc không giới thiệu này không mang ý nghĩa một quyết định, như thể việc truyền chức là đương nhiên, nhưng chính việc giới thiệu mới mang ý nghĩa ấy).

[45] x. Ratio Institutionis, 66: “Mục đích cuối cùng của công việc trong Hội đồng là nhận xét các ứng viên có phù hợp để giới thiệu cho giám mục kêu gọi hay không.”

[46] x. Hiến Pháp, 136 ORA.

[47] x. Ratio Institutionis, 65b, Nhóm điều hành – Chức năng và trách nhiệm: “Tất cả các thành viên của nhóm đều can dự vào các công tác khác nhau … Cách riêng, các vị linh hướng được giám mục chọn giữa các thành viên của nhóm điều hành.”

[48] x. ví dụ, PDV, 60 và Ratio Institutionis, 58 và tiếp theo: “2. Cộng đoàn đào tạo”.

[49] Hiến Pháp, 14,2.

[50] J.J. OLIER, Mémoires, 7,23: “Ý định của Thiên Chúa về Hội, đó là quảng bá tinh thần linh mục trong Giáo hội”.

[51] x. Mémoires, 14,67: “Ngôi nhà này và hội được thành lập tại đây chỉ có ước mong là làm rạng danh tập đoàn các Thánh Tông đồ”.

[52] J.J. OLIER, Pietas Seminarii, 1.

[53] x. Mc 3,14: Ngài lập nhóm Mười Hai để ở với Ngài và để sai họ đi rao giảng.”

[54] PDV, 60.

[55] x. Cv 2,42-47;4,32-35.

[56] x. PDV, 57.

[57] x. PDV, 57.

[58] x. Vatican II, Lumen gentium.

[59] x. VATICAN II, Gaudium et spes (GS).

[60] x. GIOAN PHAOLÔ II, Redemptoris missio.

[61] x. Ratio Institutionis, 23.

[62] x. PDV, 28.

[63] x. PO, 8.

[64] x. PO, 3: “Các linh mục […], một cách nào đó, đã được đặt riêng ra trong lòng dân Chúa, nhưng không để chia lìa họ với dân này, cũng không để chia lìa với một ai […], chính để hoàn toàn cung hiến họ cho công cuộc mà Thiên Chúa đã kêu mời họ […]. Họ sẽ không thể phục vụ con người nếu họ xa lạ với thực tế và những hoàn cảnh sống của con người.

[65] GS, 1.

[66] x. GIOAN PHAOLÔ II, Tông huấn Pastores gregis (2003), 48.

[67] x. Ratio Institutionis, 41, 60-61.

[68] x. Bộ Giáo Luật, khoản 239 triệt 2 và khoản 246 triệt 4.

[69] x. Hiến Pháp, 14,3 và 14,4; 17,1 ORA d,e,f,g,h; 62 ORA a; 135.

[70] x. HỘI CÁC LINH MỤC XUÂN BÍCH, Huấn thị thiêng liêng về việc đào tạo cho tác vụ linh mục, 1985, phần Ba, 68-81.

[71] J.J. OLIER, Mémoires 3,24.

[72] x. Ratio Institutionis, 60-61.

[73] x. Hiến Pháp, 11,1.

[74] x. PDV, 42.

[75] x. PDV, 72: “con đường trưởng thành không chỉ đòi hỏi người linh mục không ngừng đào sâu mọi chiều kích đào tạo, nhưng cũng còn là – và nhất là – hội nhập chúng cách hài hòa để dần dần tiến tới sự thống nhất nội tâm sẽ được bảo đảm nhờ đức ái mục vụ.”

[76] x. PDV, 81.

[77] x. Ratio Institutionis, 41 và 65.

[78] x. PDV, 69.

[79] x. PDV 66, 4. Xem thêm Pitaud (Bernard), « Tương quan tòa trong – tòa ngoài. Thực hành của trường phái Pháp », BSS 30, 2004, tr. 263-275.

[80] x. HỘI LINH MỤC XUÂN BÍCH, Đào tạo tâm lý – tình cảm cho các chủng sinh, 1994, trang 9.

[81] x. PDV, số 44: “Sự trưởng thành nhân bản và cách riêng sự trưởng thành tình cảm đòi hỏi một sự huấn luyện trong sáng và mạnh mẽ dẫn tới tự do, tự do này mang những đặc nét của một sự vâng phục đầy xác tín và gắn với “sự thật” của bản thân mình, gắn với “ý nghĩa” của hiện hữu mình, nghĩa là gắn với việc chân thành dâng hiến chính mình, như con đường và như nội dung nền tảng của sự thể hiện đích thực chính mình ».

Xem thêm PDV, số 50: “Chủng sinh phải đủ trưởng thành về tâm lý và về phái tính, cũng như phải có một đời sống cầu nguyện trung kiên và phải được một cha thiêng liêng hướng dẫn. Vị linh hướng này phải giúp chủng sinh đi tới quyết định chín chắn và tự do được đặt nền trên sự trân trọng tình bằng hữu linh mục và ý thức kỷ luật bản thân, cũng như đặt nền trên sự chấp nhận cô tịch và trên một tình trạng thể lý và tâm lý đúng đắn.”

[82] x. PO, 14.

[83] Hiến Pháp, 14,5.

[84] J.J. OLIER, Pietas Seminarii, 1.

[85] J.J. OLIER, trích lại trong Hiến Pháp, 1.

[86] x. PO, 8.

[87] x. PO, 14.

[88] x. PO, 2.

[89] PO, 14.

[90] x. PO, 14.

[91] x. VATICAN II, Optatam totius (OT), 8-12.

[92] x. OT, 13-18.

[93] x. OT, 19-21.

[94] OT, 4.

[95] OT, 8.

[96] OT, 8.

[97] OT, 19.

[98] OT, 4.

[99] Hiến Pháp, Lời mở đầu.

[100] x. OT, 4.

[101] Hiến Pháp, 14,5.

[102] x. PDV, 43-44.

[103] x. PDV, 70-81.

[104] PDV, 57.

[105] PDV, 62.

[106] Ratio Institutionis, tr. 54.

[107] Hội nghị Bogota, tr. 51.

[108] Ratio Institutionis, tr. 49.

[109] Hội nghị Bogota, tr. 19-23.

[110] PDV, 43-44.

[111] x. Ratio Institutionis, tr. 29.

[112] x. Ga 2,25.

[113] PDV, 43.

[114] PDV, 44.

[115] Mới đây Hội Đồng Trung Ương và những Hội Đồng Tỉnh đã nghiên cứu làm sao để đào sâu và hoàn chỉnh việc huấn luyện cho bậc độc thân. Kết quả của công việc đã được phố biến năm 2000 dưới nhan đề: Vì Nước Trời, những yếu tố suy tư về huấn luyện cho bậc độc thân linh mục. Một đóng góp của Hội Xuân Bích.

[116] x. PO, 2, dẫn lại Rm 15,16: “của lễ thánh thiện, đẹp lòng Chúa, nhờ Thánh Thần”.

[117] PO, 2.

[118] Dt 10,7.

[119] x. GS, 22.

[120] Mc 3,14.

[121] Ep 4,11.

[122] Ratio Institutionis, tr. 50.

[123] Hội nghị Bogota, tr. 8.

[124] Mt 18,20.

[125] Ep 4,11.

[126] x. Ga 10,36.

[127] x. Ga 15; 1 Pr 5.

[128] PO, 14.

[129] PO, 14.

%d bloggers like this: