15 NGÀY CẦU NGUYỆN VỚI CÔNG ĐỒNG VATICAN II

André Dupleix

  

15 NGÀY CẦU NGUYỆN VỚI

CÔNG ĐỒNG VATICAN II

 

Nhà xuất bản Nouvelle Cité

2012

 

Lưu hành nội bộ

 

Lời tựa

Trong tinh thần đào sâu, cử hành và sống đức tin, được đức Bênêđictô XVI kêu gọi trong Năm Đức Tin, chúng tôi, dưới sự hướng dẫn của cha đồng hành Phêrô Võ Xuân Tiến, đã mạn phép dịch sang tiếng Việt cuốn “ Prier 15 jours avec le Concile Vatican II  của tác giả André Dupleix, thuộc bộ sưu tập “ Prier 15 jours ”, do Nhà xuất bản Nouvelle Cité ấn hành năm 2012. Qua tập sách nhỏ này, tác giả làm nổi bật lên một số chủ đề và những nét chính yếu của giáo huấn Công đồng qua 4 Hiến chế, 9 Sắc lệnh và 3 Tuyên ngôn và, đồng thời qua đó và dưới ánh sáng của Lời Chúa, khơi lên tâm tình cầu nguyện nơi độc giả.

Nỗ lực chuyển ngữ này nhằm đáp lại lời mời gọi của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI trong việc  đọc các văn kiện ấy như những văn bản có giá trị và có tính chất quy phạm của Huấn quyền của Giáo Hội, giữa lòng truyền thống của Giáo Hội ”. Các văn kiện này là “ một địa bàn chắc chắn để định hướng trên con đường của thế kỷ đang mở ra ” (Porta Fidei, số 5).

Hơn nữa, nỗ lực học hỏi này nằm trong đường hướng của “Ratio” về Đào Tạo Linh Mục của HĐGM Việt Nam, năm 2012. Nó nhấn mạnh rằng  “các chủng sinh cần được huấn luyện để biết hiệp thông với Giáo Hội : – Trong đức tin, trong giáo lý, trong đường hướng mục vụ được diễn tả qua việc học biết những giáo huấn, những văn kiện của Giáo Hội […]; – Trong việc làm, bằng cách hợp nhất trong cùng hành động theo những hướng dẫn của Giáo Hội […]” (số 365).

Vả lại, tựa đề “15 ngày cầu nguyện…” còn mời gọi vượt lên chiều kích trí thức để sáp nhập vào chiều kích thiêng liêng, điều mà tác giả mời gọi đến một “lối tiếp cận” các văn kiện Công đồng Vatican II cách “thiêng liêng hơn là giáo thuyết ”. Đó quả là cơ hội nội tâm hóa sứ điệp và giáo huấn của Công đồng và đặc biệt là cơ hội cho Chúa Thánh Thần, Đấng là nguồn canh tân và đổi mới của Công đồng xưa, tiếp tục hoán cải và biến đổi chúng ta hôm nay.

Chúng tôi chân thành cám ơn những ai đã cộng tác vào việc hình thành tập sách nhỏ này.

Lễ Đức Mẹ Dâng Mình 21.11.2012

Lớp Thần I (Khóa VIII), Đại Chủng Viện Huế

 

 


 

LỜI NÓI ĐẦU

Cầu Nguyện Với Vatican II

Công đồng Vatican II, Công đồng chung thứ XXI, đã nhóm họp tại Rôma, từ 11.10.1962 đến 8.12.1965, có khoảng 2400 giám mục đến từ khắp thế giới, chừng một trăm quan sát viên không Công giáo, các chuyên viên, các thính giả giáo dân và các cố vấn. Năm mươi năm sau ngày khai mạc Công đồng, thật hay khi nhà xuất bản Nouvelle Cité một lần nữa đưa biến cố này vào bộ sưu tập “ 15 ngày cầu nguyện với…”. Một sáng kiến tương tự đã từng được đưa ra vào năm 1972, từ số thứ hai của bộ sưu tập này. Lúc đó, việc biên soạn đã được giao phó cho đức Hồng y Gabriel-Marie Garrone. Cuốn sách hiện nay rõ ràng nằm trong đường hướng thiêng liêng của nó, dầu vẫn phải được diễn đạt cách khác.

Nếu có một câu hỏi đầu tiên mà người ta có thể tự đặt ra, trong khuôn khổ của một bộ sưu tập như thế, thì đó là : làm thế nào cầu nguyện với một Công đồng ? Không phải chỉ từ một Công đồng nhưng còn với… Việc người ta có thể cầu nguyện với các đại chứng nhân của đức tin Kitô giáo, với các nhà thần bí, các đấng sáng lập dòng, những người nam hay nữ mà cuộc sống và những trách nhiệm khác nhau của họ đã làm nên những môn đệ của Chúa Kitô, thì điều đó xem ra rõ ràng… Nhưng với một Công đồng?

Rõ ràng có điều gì đó do dự nếu người ta chỉ xem một Công đồng dưới phương diện các văn kiện được đưa ra, dưới nhiều cuộc tranh luận được gây nên hay những quyết định khác nhau mà đã có thể được thực hiện. Tuy nhiên, trong trường hợp này, đó là bỏ sót hai khía cạnh chủ yếu :

–                       Trước tiên, sự kiện, trong suốt lịch sử Giáo Hội, các công nghị giám mục này, dù chiều kích hay tên gọi của chúng là gì – đại kết (chung), tỉnh, vùng hay địa phương – đã được đi kèm cách thiêng liêng bằng phụng vụ và kinh nguyện của các tham dự viên, và được cưu mang bởi sự nhiệt huyết của các tín hữu. Chúng ta không do dự nói điều này : cho đến trong những hoàn cảnh khó khăn nhất – những đối lập trực diện, những căng thẳng ý thức hệ, những lèo lái chính trị hay những xung đột quyền lợi – sự hiệp nhất của Giáo Hội mà các Công đồng đóng góp đã được duy trì bởi việc cử hành và ý thức tông đồng của đa số các giám mục.

–                       Khía cạnh quan trọng thứ hai, đó là nhiều Công đồng trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến phụng vụ của Giáo Hội. Tôi chỉ nêu ra đây ba Công đồng : Công đồng Nicée năm 325 và Công đồng Constantinople năm 381, mà những khẳng định của chúng cấu trúc hóa lời tuyên xưng đức tin Kitô giáo; Công đồng Nicée II năm 787 đã dứt khoát chính thức hóa chỗ đứng và việc tôn kính các ảnh tượng trong Phụng Vụ.

Phải chăng chúng ta cũng không nhắc lại rằng Công đồng Vatican II đã được khai mạc, kết thúc và được đánh dấu bởi những cử hành long trọng, chứng thực rằng những tranh luận, những nhóm họp và những quyết định của các Nghị Phụ đã được đặt dưới sự bảo trợ của Chúa và được mở ra cho hơi thở, thường không thể dự kiến, của Chúa Thánh Thần?

Chủ định của cuốn sách này là khơi lên việc cầu nguyện của chúng ta với sự trợ giúp của những lời có ý nghĩa nhất, thậm chí là mạnh mẽ nhất, của toàn bộ các văn kiện Công đồng. Chúng tôi đã cân nhắc chọn lựa không bỏ sót bất kỳ văn kiện nào, dầu vẫn biết tầm quan trọng và chỗ đứng to lớn của bốn đại Hiến chế.

Do đó, chính ở một lối tiếp cận khác về Công đồng, thiêng liêng hơn là giáo thuyết, mà chúng tôi mời đọc tập sách này. Trước tiên, nó không hệ tại một lối tiếp cận kỹ thuật nội dung hay khung cảnh của các văn kiện. Đã có nhiều cuộc xuất bản về kế hoạch này và sẽ không thiếu được tiếp sức. Mục tiêu của chúng tôi là nhận thức cách rõ ràng, trong sự đa dạng của các bản văn – ngay cả các văn phong – , sự hiện diện và ánh sáng của Đấng đảm nhận từ bên trong sự mạch lạc của chúng và khả năng của chúng khơi lên việc cầu nguyện của chúng ta.

Toàn bộ tựa như một tiến hành phụng vụ. Mỗi ngày tương ứng với một văn kiện, được làm nổi bật bằng một từ khóa, thể hiện viễn ảnh toàn bộ. Nó được kết thúc bằng việc đề nghị một bản văn Thánh Kinh giúp suy niệm và một lời cầu nguyện. Mười lăm ngày đề ra được phân chia thành bốn trục lớn:

+ Những nền tảng (bốn Hiến chế) : Hiện Diện – Tỏ Mình – Hiệp Thông – Cử Hành

+ Những dấu chỉ của ân sủng : Thừa Tác Vụ – Tiếng Gọi – Dâng Hiến – Trách Nhiệm – Tính Đa Dạng

+ Những phương tiện : Phúc Âm Hóa – Đào Tạo – Truyền Thông

+ Sự cởi mở : Tự Do – Hiệp Nhất – Đối Thoại

Phần kết luận, chúng tôi nghĩ rằng bảy sứ điệp của Công đồng, và không được giảm thiểu tầm quan trọng và ảnh hưởng của chúng, có thể được tập hợp và đề nghị dưới hình thức một lời cầu nguyện chung.


DẪN NHẬP

Một Biến Cố Quan Trọng

Để chuẩn bị tương hợp lời cầu nguyện của chúng ta với những định hướng lớn của Công đồng, cần thiết phải gợi lại, xuyên qua một số suy tư mào đầu, những lý do mà Công đồng này, được gắn liền với toàn bộ Truyền thống Kitô giáo, tạo nên một biến cố quan trọng và cần thiết trong đời sống hiện nay của Giáo Hội Công Giáo và của các tín hữu.

Trong đường hướng Công đồng

Dù, về mặt con số, là công nghị quan trọng nhất trong lịch sử của Giáo Hội, nhưng Công đồng Vatican II hoàn toàn nằm trong sự tiếp nối các công nghị các giám mục khác đánh dấu sự mở rộng của Kitô giáo. Những biến cố này, cho dầu tính độc đáo về thể chế của chúng và khung cảnh văn hóa và chính trị của chúng là gì, chứng thực chiều kích lịch sử của đức tin Kitô giáo, sự trường tồn của tập thể tính và của sự hiệp thông như là những cấu trúc căn bản của Giáo Hội, và thực tại của sự phát triển của tín điều.

Nhưng, xét cho cùng,  thế nào là một Công đồng ? Đó là cuộc hội nghị của các giám mục, được triệu tập cách đều đặn hay theo đúng thời gian, với chiều kích hoặc là phổ quát (tất cả các giám mục trên thế giới ở Công đồng chung) hoặc là địa phương, trên bình diện cùng một quốc gia. Chắc chắn, lịch sử của Giáo Hội và sự mở rộng của Tin Mừng của Chúa Kitô cho đến tận cùng thế giới không thể bị giảm thiểu thành chỉ sự liên tiếp của các Công đồng. Nhưng các Công đồng này thể hiện, cách riêng biệt và mạnh mẽ, trách nhiệm tông đồ của các giám mục để duy trì, trong mối liên hệ với Đức Giáo Hoàng, sự hiệp nhất của Giáo Hội phổ quát và của các Giáo Hội địa phương cũng như sự mạch lạc của đức tin và của học thuyết Kitô giáo.

Nếu có một sự độc đáo của Công đồng Vatican II, thì nó đã được đức Gioan XXIII chỉ ra vào lúc triệu tập nó. Nó hệ tại đối với Giáo Hội hướng “ đến thời gian hiện tại ”, mà không mất đi “ cái nhìn của mình về gia sản chân lý thánh thiêng được lãnh nhận từ các tiền nhân ”;  đào sâu và trình bày học thuyết bất biến của Giáo Hội “ theo cách đáp ứng những đòi hỏi của thời đại chúng ta ”, mà không bằng lòng bận tâm về quá khứ. Định hướng đã rõ : nếu phải có cải cách, thì nó sẽ chỉ được thực hiện dựa trên Truyền Thống vững bền.

Công đồng tín lý hay mục vụ ?

Vấn đề không  lợi ích gì khi được đặt ra bằng những từ ngữ này. Chắc chắn, đức Gioan XXIII đã nói rõ : “ Chúng ta không có mục đích đầu tiên là thảo luận một số chương nền tảng của học thuyết Kitô giáo. ” Nhưng suy tư thần học – như vai trò quan trọng của các chuyên viên làm chứng – sẽ nằm ở trung tâm của mọi cuộc tranh luận. Vả lại làm sao có thể làm khác hơn, vì nó đã hệ tại tái khẳng định bản chất và sứ mạng của Giáo Hội trong giai đoạn phát triển mới của thế giới ?

Sự đối lập, thậm chí là tách ly, giữa thần học và mục vụ đã luôn là một thái độ cằn cỗi dẫn đến bế tắc. Rất may mắn, Công đồng Vatican II, về điểm này và cách nào đó, là một khuôn mẫu : Chính nền tảng thần học và thiêng liêng được tái khẳng định và tái đào sâu thường xuyên đã cho phép không chỉ sự triển khai và việc bàn về những hồ sơ liên quan đến đời sống nội tại của Giáo Hội, nhưng còn lưu tâm đến những vấn đề mới, thiết yếu cho tính khả tín của Kitô giáo, tính hữu hình của Giáo Hội và sứ mạng Phúc Âm hóa, trong một xã hội đã được đánh dấu bởi những biến chuyển to lớn.

Trong trường hợp bốn Hiến chế – những văn kiện mà cách hữu lý mở ra toàn bộ các bản văn Công đồng –, chúng ta phải ghi nhận rằng hai Hiến chế đầu tiên được đích danh giới thiệu như là “ tín lý ” và Hiến chế thứ tư được giới thiệu như là “ mục vụ ”. Hiến chế thứ ba, liên quan đến phụng vụ thánh, là sự liên kết chính đáng và thường kỳ của tín lý và mục vụ.

Xem ra rõ ràng rằng – cho dầu có những căng thẳng mãnh liệt và những bất đồng do một số Sắc lệnh và Tuyên ngôn gây nên – Công đồng này đã cho phép vừa giữ điều bất khả xâm phạm và sự đổi mới, vừa sự bén rễ và sự chuyển động, vừa lòng trung tín và sự tự do. Những gì mà ĐHY Garrone đã nói : “ Không có gì mới mẻ, mọi sự mới mẻ. Không có gì mới mẻ, hoàn toàn mới, những gì thực sự là dấu chỉ của đức tin. ”

Nhiều văn kiện mà những vấn đề của chúng đã có thể xem ra mới mẻ trên thực tế chỉ là sự diễn tả một sự trung tín với nguồn mạch Tin Mừng và với những nền tảng của học thuyết Kitô giáo. Không gì khác hơn là một sự tương tác và là một sự tương quan bền bỉ giữa các yếu tố ổn định và những vấn đề còn bỏ ngỏ.

Việc tiếp nhận Công đồng

Thành ngữ đã trở thành không tránh khỏi… chắc chắn đối với toàn bộ các Công đồng, nhưng cách còn sâu sắc hơn nữa, trong khung cảnh hiện nay, đối với Vatican II. Người ta càng có thể hiểu điều đó hơn thế nữa vì, nói đúng ra, một Công đồng vẫn là vô hiệu lực nếu nó không “được tiếp nhận” bởi Dân Thiên Chúa và toàn thể các cộng đồng kitô hữu. Một Dân Thiên Chúa đón nhận những gì các giám mục đã trình bày và quyết định. Một Dân Thiên Chúa ý thức về chiều kích tư tế và trách nhiệm của mình trong sứ mạng Phúc Âm hóa.

Nhưng thực tại của việc tiếp nhận này, mà mọi người theo những trách nhiệm khác nhau của mình phải đóng góp, có thể lâu dài và phức tạp. Nó không phải là kém quan trọng. Năm mươi năm sau ngày khai mạc Công đồng Vatican II, ngươi ta có thể nói gì ?

Nhiều điều đã được thực hiện và đang tiếp tục được thực hiện, ở mọi cấp của Giáo Hội, trong các giáo phận, các cộng đoàn tu trì, các hội đoàn tín hữu, các phong trào và nhiều nơi khác nhau trong Giáo Hội, để sự năng động thiêng liêng, thần học và mục vụ của Công đồng được thực sự nhận thức như là một sự khích lệ và là một chỗ dựa trong sứ mạng hiện nay của mọi người chịu phép Rửa. Bên cạnh đó chúng ta còn phải nói thêm sự đóng góp cần thiết của các đại học Công giáo và các phân khoa thần học. Phương thức tiến hành là không thể đảo ngược. Nhiều điều đã nảy sinh và chín mùi. Chúng ta sẽ không trở lại đằng sau.

Các cuộc tranh luận được tiếp tục, những minh giải cần thiết liên quan đến việc giải thích các bản văn Công đồng, việc ghi nhận một số chênh lệch hay giới hạn – với điều kiện tránh một lối đọc lỗi thời các văn kiện – và thậm chí việc lưu tâm hợp lý đến những phản đối đến từ bên trong Giáo Hội, tất cả điều đó chỉ có thể mang lại lợi ích cho một sự hiểu biết đào sâu và một sự tiếp nhận tốt hơn sự đóng góp của Công đồng Vatican II, không chỉ đối với các tín hữu Công giáo nhưng còn trên thế giới.

Một “kho tàng trong những bình sành”

Kiểu nói của thánh Phaolô (2Cr 4,7) xem ra, đối với chúng ta, thích hợp nhất với những gì chúng ta có thể nói về gia sản hiện nay của Công đồng chung Vatican II. Ở ngưỡng cửa của nền văn minh mà hậu bán thế kỷ XX biểu thị, ý nghĩa và tác động của công nghị này, mà không có tương đương trong tính biểu thị phổ quát của nó, đã và vẫn là đáng kể. Sứ điệp mà Công đồng để lại cho chúng ta, cách đây năm mươi năm, là hoàn toàn đơn giản, nhưng với một tầm quan trọng vô hạn, sứ điệp của một niềm hy vọng nổi lên từ tính mỏng giòn, đồng thời là ánh sáng cho toàn nhân loại, một nhân loại cũng đang đương đầu với những tương phản của nó, những tiến bộ và những đoạn tuyệt, những giấc mơ và những hy vọng của nó.

Kho tàng, đó dĩ nhiên là Mạc khải của Thiên Chúa và việc loan báo Tin Mừng, nhưng còn là một lời tin tưởng vào nhân loại, một sứ điệp sáng suốt và hiện thực nối kết với mỗi người nơi họ là, từ đâu họ đến và những xác tín thiêng liêng của họ là gì, để chỉ ra cho họ một con đường tình yêu và hòa bình. Kho tàng này như thế có thể mang lại cho những chiếc bình sành một sức bền vô tận…

 


 

NHỮNG NỀN TẢNG

 

Bằng sự hiện diện của mình trong thế giới, Giáo Hội, vừa là dân Thiên Chúa vừa là sự hiệp thông của các kitô hữu, chuyển trao lời mạc khải và cử hành sự phục sinh của Chúa Kitô trong mỗi cử hành phụng  vụ.

GS       Gaudium et Spes

            Hiến chế mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay.

DV      Dei Verbum

            Hiến chế tín lý về Mạc Khải của Thiên Chúa.

LG       Lumen Gentium

            Hiến chế tín lý về Giáo Hội.

SC       Sacrosanctum Concilium

            Hiến chế về Phụng Vụ Thánh.


Ngày thứ nhất

HIỆN DIỆN

Giáo Hội Trong Thế Giới Hôm Nay

 

“Vì thế, khi minh chứng và trình bày Ðức Tin của toàn thể dân Chúa đã được Chúa Kitô đoàn tụ, để diễn tả thật hùng hồn mối tình liên đới, sự tôn trọng và quí mến của dân Chúa đối với gia đình nhân loại mà mình là một thành phần, Công Ðồng thấy hay hơn hết là phải thiết lập cuộc đối thoại về những vấn đề ấy, phải lấy ánh sáng Phúc Âm mà soi dẫn, và phải cho nhân loại những năng lực cứu rỗi mà chính Giáo Hội đã nhận được nơi Ðấng Sáng Lập, nhờ Chúa Thánh Thần hướng dẫn […]. Do đó, con người – dĩ nhiên là con người duy nhất và toàn diện với thể xác và linh hồn, tình cảm và lương tri, trí khôn và ý chí – sẽ là then chốt tất cả phần trình bày của chúng tôi[1](Gaudium et Spes, số 3).

 

Qua việc thông truyền sứ điệp Tin Mừng và qua sự hiện diện hữu hình của mình trong thế giới, Giáo Hội tiếp tục công trình mà Chúa Kitô đã trao phó: chỉ ra con đường đến với Thiên Chúa và cho phép những biến đổi thực sự, cả bề trong lẫn bề ngoài, để phục vụ công ích, tình thương, công bằng và hòa bình.

Nếu Giáo Hội là một cơ cấu như trong số các cơ cấu khác trong thế giới hôm nay, thì thế nhưng Giáo Hội vẫn luôn ý thức mình có một trách nhiệm tinh thần và luân lý đặc thù.Chúa Kitô không ngừng sai Giáo Hội đi truyền giáo và sứ mạng truyền giáo này quan tâm đến những vấn đề chính yếu có liên quan đến ý nghĩa của cuộc sống, sự phát triển và tương lai của nhân loại. Giáo Hội hoàn toàn dấn thân vào thế giới như Chúa Kitô đã làm:

Tôi đã đến thế gian để làm chứng cho sự thật”         (Ga 18,37).

 “Tin Mừng về Nước Thiên Chúa này sẽ được loan báo trên khắp thế giới” (Mt 24,14)

Ở đây, bài suy niệm của chúng tôi sẽ tập trung vào sứ mạng và sự đóng góp của Giáo Hội trong xã hội hôm nay.

Mục đích của Giáo Hội là đảm bảo sự hiện diện của Thiên Chúa trong thế giới hôm nay : “Dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, Giáo Hội tiếp tục công cuộc của chính Chúa Kitô, Ðấng đã đến thế gian để làm chứng cho chân lý, để cứu rỗi chứ không luận phạt, để phục vụ chứ không để được phục vụ” (số 3)

Công đồng ghi nhận những biến đổi và thay đổi đáng kể mà không phải là không có ảnh hưởng trên thân phận con người, nhưng nó không làm thay đổi gì “những khát vọng ngày càng phổ biến và những vấn nạn sâu xa của con người […] qua mọi thay đổi, có nhiều điều vẫn không đổi thay vì nền tảng cuối cùng của những điều không thay đổi này là Chúa Kitô, Ðấng hôm qua, hôm nay và mãi mãi” (số 10).

 Vấn đề trước hết là phải xem xét vị trí trung tâm của con người và nhân phẩm, khi càng có nhiều ngưỡng cửa mới được các xã hội bước qua. Được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, con người, cả nam lẫn nữ, “nhờ có nội giới, vượt trên mọi vật. Khi con người quay về với lòng mình tức là họ trở về với nội giới thâm sâu này, ở đó Thiên Chúa, Ðấng thấu suốt tâm hồn, đang chờ đợi họ, và cũng nơi đó chính con người tự định đoạt về vận mệnh riêng của mình dưới con mắt của Thiên Chúa” (số 14).

Chúng ta biết sinh hoạt của con người ngày nay đang ngày càng trải rộng trên khắp thế giới như thế nào. Nó không thể thoát khỏi một quy luật cơ bản : “mọi hoạt động của con người phải phù hợp với lợi ích đích thực của nhân loại theo như ý định và ý muốn của Thiên Chúa, lại phải giúp con người, cá nhân cũng như tập thể, trau dồi và thực hiện ơn gọi toàn diện của mình” (số 35).

Chính trong bối cảnh đó mà có thể được đặt ra vấn đề về quyền độc lập chính đáng của các thực tại trần thế. Nhiều người thời nay lo ngại, đôi khi chính đáng, rằng tôn giáo áp đặt cách nhìn của mình và những chuẩn mực luân lý mà không xem xét đủ sự tự do được gắn liền với con người, với những chọn lựa và sáng kiến của họ. Tuy nhiên : “nếu sự độc lập của các thực tại trần thế có nghĩa là các tạo vật và các xã hội đều có những định luật và những giá trị riêng mà con người phải khám phá dần dần, xử dụng và điều hòa, thì đòi hỏi một sự độc lập như thế là một việc hoàn toàn chính đáng : đó là điều không những người đương thời đòi hỏi mà còn phù hợp với ý muốn của Tạo Hóa” (số 36).

Nhân danh Tin Mừng và bằng hành động cùng với sự dấn thân của các tín hữu, Giáo Hội có thể góp phần vào sự phát triển của sinh hoạt nhân loại. Ngày nay, cách cấp bách hơn, có nhiều lĩnh vực là đối tượng của sự quan tâm ưu tiên của các môn đệ của Chúa Kitô.

Chúng ta phải nhắc lại phẩm giá bất khả giảm thiểu của hôn nhân và gia đình.Chính tình yêu của Thiên Chúa là nguồn gốc và nguồn mạch của bản chất thiêng liêng của hôn nhân.

Trong một xã hội đang bị nhiều đổ vỡ và chia ly ảnh hưởng, gia đình Kitô giáo có thể biểu lộ ý nghĩa tối hậu của tình yêu vợ chồng : “Bởi một ơn huệ đặc biệt của ơn sủng và của tình thương, Chúa đã đoái thương chữa trị, cải thiện và nâng cao tình yêu ấy” (số 49).

Vấn đề đó không thể tách khỏi bối cảnh văn hóa mà chúng ta đang sống. Sự phát triển của văn hóa, được xem xét dưới góc độ lớn lao nhất của nó và trong những cách thế thể hiện rất đa dạng của nó, đã luôn được gắn liền, về mặt cơ cấu, với sự phát triển của Kitô Giáo : “Giữa sứ điệp cứu độ và văn hóa nhân loại có nhiều mối liên hệ. Thực vậy, khi tự mạc khải cùng dân Ngài cho tới khi tỏ mình đầy đủ trong Chúa Con nhập thể, Thiên Chúa đã nói theo văn hóa riêng của từng thời đại” (số 58).

Sứ điệp của Chúa Kitô được ghi khắc như nhau trong mọi phạm vi của đời sống kinh tế và xã hội. Đời sống này nhằm phục vụ con người và công ích. Truyền thống Giáo Hội,“qua bao thế hệ, dưới ánh sáng Phúc Âm, đã nỗ lực minh dẫn những nguyên tắc về công bằng và công minh trong đời sống cá nhân, xã hội và quốc tế”(số 63).

Không phụ thuộc vào bất kỳ hệ thống hay ý thức hệ riêng biệt nào, nhưng Giáo Hội vẫn luôn quan tâm đến đời sống của cộng đồng chính trị và sự tham gia của mọi người vào đời sống chung. Trong mọi hoàn cảnh, Giáo Hội luôn giữ khả năng phân định của mình. “Khi rao giảng chân lý Phúc Âm và lấy giáo lý và chứng tá của cuộc sống các Kitô hữu soi sáng mọi lãnh vực của sinh hoạt con người, Giáo Hội cũng tôn trọng và cổ võ tự do chính trị cũng như trách nhiệm của các công dân” (số 76).

Nếu ngày nay có một lĩnh vực nào ưu tiên nào, thì đó chính là việc gìn giữ hòa bình và việc xây dựng cộng đồng các quốc gia. “Phát sinh từ tình yêu tha nhân, hòa bình trần gian là hình ảnh và là kết quả của hòa bình Chúa Kitô, hòa bình do Ðức Chúa Cha mà đến” (số 78). Qua những thể chế trung gian khác nhau của mình, Giáo Hội duy trì hoạt động của mình để cho một sự hợp tác quốc tế đích thực được theo đuổi nhằm thực hiện, giữa những điều khác, một trật tự kinh tế toàn cầu.

“Nhớ lại Lời Chúa : “Nếu các con thương yêu nhau, thiên hạ sẽ cứ dấu ấy mà nhận biết chúng con là môn đệ Thầy” (Ga 13,35), người Kitô hữu không thể tha thiết mong ước gì hơn là luôn được phục vụ con người trong thế giới ngày nay cách quảng đại và hữu hiệu hơn” (số 93).

Ngày nay, đâu là suy tư và những định hướng của Công đồng trong thế giới hiện tại, mà chúng ta biết được những phát triển và những thay đổi đáng kể, đặc trưng của nó ? Bối cảnh chắc chắn không còn giống nhau nữa, nhưng trong sứ mạng hiện nay của Giáo Hội và trong “sự hiện diện giữa lòng thế giới hôm nay”, có những yếu tố bền vững và một hình thức trường tồn trong những nguyên tắc suy tư và hành động, chúng là dấu ấn của Kitô Giáo trong lịch sử.

Vào cuối thế kỷ thứ II, Thư gởi cho Diognète đã nhắc lại rằng, bất chấp những khó khăn hay những hiểu lầm đối với Giáo Hội non trẻ, thì sự hiện diện của các tín hữu, ở mọi cấp độ của đời sống của thành đô, đã là một dấu chỉ hùng hồn về khả năng đức tin của họ đảm nhận trọn vẹn sứ mạng của mình : “Trách nhiệm mà Thiên Chúa trao phó cho họ quan trọng đến nỗi họ không được phép bỏ. Tóm lại, như linh hồn trong thân xác thế nào, thì các kitô hữu cũng vậy trong thế giới.”

Đối diện với những tình hình mới, rõ ràng có một căn tính kitô và một tính hữu hình của Giáo Hội, có khả năng đáp lại, do tính thích đáng của Tin Mừng, nhiều thách đố được thế giới chúng ta đặt ra, trên mọi bình diện văn hóa, đạo đức và chính trị, nhưng cả tinh thần và tôn giáo. Cho dù sự tục hóa hay sự dửng dưng đang gia tăng, Tin Mừng mà dẫn bước chúng ta đi, ngày nay, vẫn là một thứ men mạnh mẽ của tự do, tình thương và hy vọng. Tin Mừng được như thế nhờ đức tin của chúng ta vào Thiên Chúa, nhờ vào sự hiện diện của Đấng Phục Sinh và hơi thở của Chúa Thánh Thần.

Ngước mắt lên mà xem, đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái…. ” (Ga 4,35).

Bản văn suy niệm : 1Cr 2,1-16

Lạy Chúa Giêsu, Chúa là Đấng đã sống trong thế giới này bằng việc biểu lộ ở đó tình yêu của Thiên Chúa. Xin giúp chúng con, cùng với Chúa, trở thành những chứng nhân cho sự hiện diện của Chúa và cho niềm hy vọng mà Tin Mừng của Chúa khơi lên.

Ngày thứ hai

TỎ MÌNH

Thiên Chúa Mạc Khải

 

“Thiên Chúa nhân lành và khôn ngoan đã muốn mạc khải chính mình và tỏ cho mọi người biết mầu nhiệm thánh ý Ngài. Nhờ đó, loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể trong Chúa Thánh Thần, và được thông phần bản tính của Thiên Chúa […]. Nhờ mạc khải này, chân lý thâm sâu về Thiên Chúa cũng như về phần rỗi con người, được sáng tỏ nơi Chúa Kitô, Ðấng trung gian, đồng thời là sự viên mãn của toàn thể mạc khải” (Dei Verbum, số 2).

Thiên Chúa không phải là người xa lạ, kẻ xa cách, người bất khả liên lạc.Ngài đã nói với chúng ta, Ngài đã tỏ mình ra. Tất cả các giai đoạn của Mạc Khải trong lịch sử nhân loại giống như một sự tỏ mình của Thiên Chúa, được thực hiện một cách quyết định trong Chúa Giêsu thành Nazareth. Chính toàn bộ những biến cố này tạo nên sự mới mẻ và tính độc đáo triệt để của Kitô giáo.

Mạc khải là lịch sử bởi vì Thiên Chúa đã tỏ mình ra vào những thời gian và địa điểm xác định.Nó thể hiện ý định của Thiên Chúa đối với công trình tạo dựng của Ngài. Thiên Chúa đến với con người. Ngài đưa ra sáng kiến và là người đầu tiên lên tiếng. Ngài dấn thân đối với một dân tộc, và qua dân đó đối với nhân loại bằng một giao ước và một lời hứa. Và lời hứa này đạt được một tầm mức vượt quá khuôn khổ của các biến cố đặc thù.

Đó là những gì mà Thánh Kinh cho chúng ta tiếp cận,  mà không chỉ là trình thuật về lịch sử Thánh Kinh nhưng còn là kinh nghiệm về một cuộc gặp gỡ với Đấng đã nói trong suốt chiều dài của lịch sử này, cho đến ngày nay. Do đó có một mối liên hệ giữa Thiên Chúa với lịch sử, được cụ thể hóa trong con người của Chúa Giêsu Kitô. Lịch sử mặc lấy một ý nghĩa mới. Trong một thế giới được đánh dấu bởi sự gián đoạn và tính bất liên tục, Thiên Chúa tỏ mình như là Đấng trao ban những điểm mốc vững bền và mở ra cho nhân loại môt chân trời tự do và hòa bình.

“ Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ ” (Dt 1,1-2).

Ở đây, bài suy niệm của chúng tôi tập trung vào tầm quan trọng của Thánh Kinh như một diễn tả quan trọng của Mạc Khải.

Nếu Mạc Khải, như là sự biểu lộ và sự thông truyền của Thiên Chúa, diễn ra trong suốt lịch sử Thánh Kinh, thì nó được hoàn tất một cách dứt khoát trong và bởi Chúa Kitô.

“Vì thế, chính Ngài, […], bằng tất cả sự hiện diện và tỏ mình qua lời nói cũng như việc làm, dấu chỉ và phép lạ, nhất là qua cái chết và sự sống lại vinh quang từ kẻ chết, sau cùng bằng việc sai phái Thần Chân Lý, đã đến bổ túc và hoàn tất Mạc Khải, và còn xác nhận Mạc Khải này bằng cách chứng thực rằng Thiên Chúa hằng ở với chúng ta…” (số 4).

Phần lịch sử và sứ điệp, làm nên toàn bộ Thánh Kinh, và đặc biệt là Tân Ước, đã là đối tượng của một sự truyền đạt và một sự suy tư mà dần dần đã tạo nên những gì chúng ta gọi là Truyền Thống. Một “Truyền Thống đến từ các tông đồ và được tiếp tục trong Giáo Hội dưới sự trợ giúp của Thánh Thần” (số 8). Vậy đâu là mối tương quan giữa Thánh Kinh và Truyền Thống? Công đồng, khi đề nghị một chìa khóa giải thích, đã đề cập vấn đề này mà từ lâu đã là một chủ đề của các cuộc tranh luận và những bất đồng trên bình diện đại kết :

“Bởi vậy Thánh Truyền và Thánh Kinh liên kết, phối hiệp mật thiết với nhau vì cả hai phát xuất từ một nguồn mạch là Thiên Chúa, có thể nói kết hợp làm một duy nhất và cùng hướng về một mục đích (số 9)… Thánh Truyền và Thánh Kinh họp thành một kho tàng thánh thiện duy nhất chứa đựng lời Thiên Chúa và được ủy thác cho Giáo Hội” (số 10).

Giáo Hội xem Thánh Kinh như được Chúa Thánh Thần linh hứng và do đó chứa đựng chân lý mà Thiên Chúa mạc khải cho chúng ta để mang lại ý nghĩa cho cuộc sống của chúng ta và hướng nó tới sự thiện. Nhưng điều đó không cản trở gì đến công việc giải thích Thánh Kinh này qua đó “Thiên Chúa đã nói qua những con người theo cách thức của con người”. Bởi thế, qua những nghiên cứu Thánh Kinh của mình, và “dưới ánh sáng chính Thánh Thần đã làm cho Thánh Kinh được viết ra” (số 12), các nhà chú giải Thánh Kinh cần thực hiện một sự phân định, trong Giáo Hội, nhằm có một sự hiểu biết tốt hơn về Lời Thiên Chúa.

Việc đọc Thánh Kinh của chúng ta, Thánh Kinh và Lời Thiên Chúa, sáp nhập Cựu Ước và Tân Ước. Công Đồng ghi nhận tầm quan trọng của Thánh Kinh Cựu Ước đối với các kitô hữu. “Các sách ấy minh chứng khoa sư phạm đích thực của Thiên Chúa […]. chứng nhân thật sự của đào tạo thiêng liêng […]. Chúng diễn tả một cảm thức sâu sắc về Thiên Chúa, tàng trữ những lời giáo huấn cao siêu về Ngài, những tư tưởng khôn ngoan và hữu ích về đời sống con người, những kho tàng kinh nguyện tuyệt diệu…” (số15).

Nhưng chính trong Tân Ước mà Lời Chúa mới hiện diện với một sức mạnh đặc biệt. “Các sách Phúc Âm xứng đáng chiếm địa vị ưu đẳng, vì Phúc Âm là chứng tá chính yếu về đời sống và giáo lý của Ngôi Lời Nhập Thể, Ðấng Cứu Chuộc chúng ta” (số 18).

Những bút tích khác của các Tông đồ, trong đó có các thư của Thánh Phaolô tông đồ, hết thảy được gắn liền với con người và sứ điệp của Chúa Kitô, xác nhận toàn bộ các trình thuật Tin Mừng, đồng thời nêu rõ giáo huấn của Ngài. Chúng cho phép đào sâu công trình của Chúa Kitô “với sức mạnh cứu độ của Ngài, kể lại những bước đầu, sự bành trướng kỳ diệu cùng tiên báo sự kết thúc vinh hiển của Giáo Hội”(số 20).

Hiến Chế kết thúc bằng việc nhắc lại tầm quan trọng của Thánh Kinh trong đời sống Giáo Hội : “Lời Chúa còn có một sức mạnh và quyền năng có thể nâng đỡ và tăng cường Giáo Hội, ban sức mạnh đức tin cho con cái Giáo Hội, là lương thực linh hồn, nguồn sống thiêng liêng, tinh tuyền và trường cửu cho con cái Giáo Hội” (số 21).

Điều cần thiết là mọi kitô hữu đều có thể tiếp cận Thánh Kinh cách rộng rãi hết sức và có được các phiên bản và các bản dịch khác nhau, và cả công việc của các thần học gia, những người cống hiến cho khoa học Thánh Kinh. Thần học dựa trên Lời Chúa, được chứa đựng trong Thánh Kinh như là “linh hồn của thần học” (số 24).

Tiếp cận mà thôi thì chưa đủ, còn phải lưu ý rằng nếu việc đọc Thánh Kinh cho phép nhận biết bản chất và nội dung của Mạc Khải của Thiên Chúa, thì nó cũng phải dội lại từ bên trong, bằng việc gắn liền với cử hành và cầu nguyện. Các kitô hữu “cũng hãy nhớ rằng cầu nguyện phải đi đôi với việc đọc Thánh Kinh, để cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và con người được xây dựng…” (số 25).

Nói gì về Thiên Chúa cho thế giới hiện tại của chúng ta ? Làm thế nào các kitô hữu, giữa những người khác và giữa nhiều đề nghị về tâm linh hoặc những tiếp cận khác nhau về cuộc sống và lịch sử, có thể trình bày đức tin của mình ? Ngày nay, khi nói về “ Mạc Khải của Thiên Chúa ”, chúng ta hơi giống như thánh Phaolô đứng trước hội đồng ở Athènes (Cv 17,16-34), thỉnh thoảng khơi lên một phản ứng gần với phản ứng của những người ở Athènes : “ Ông có đem đến cho chúng tôi một số điều lạ tai, vậy chúng tôi muốn biết những điều đó nghĩa là gì ” (Cv 17,20).

Để được hiểu, những lời nói và lời rao giảng của chúng ta phải phản ánh những gì chúng ta đang sống từ nội tâm. Chính khi đón nhận và suy niệm Thánh Kinh mà chúng ta, với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, chuẩn bị làm chứng cho Chúa Giêsu Kitô, và nhờ Ngài, cho phép tiến đến Thiên Chúa, Đấng đang tỏ mình và tự hiến cho thế giới. Vì Thánh Kinh là Lời Thiên  Chúa sống động. Thánh Kinh nuôi dưỡng đức tin và việc thực hành của các cộng đoàn kitô hữu và của từng thành viên trong cộng đoàn. Thánh Kinh nằm ở trung tâm của việc rao giảng Tin Mừng và của sứ mạng của Giáo Hội.

Đức Giáo Hoàng Bênêdictô XVI nhắc lại điều đó trong Tông huấn Verbum Domini : ” Chính Lời Chúa sai chúng ta đi đến với anh chị em chúng ta : chính Lời soi sáng, thanh tẩy và hoán cải; còn chúng ta, chúng ta chỉ là những tôi tớ. Vì thế, phải liên tục tái khám phá hơn nữa tính cấp bách và vẻ đẹp của việc rao giảng Lời Chúa, để cho Nước Thiên Chúa mà chính Chúa Kitô đã rao giảng, được ngự đến ” (VD, số 93).

Với tư cách là môn đệ Chúa Kitô, chúng ta có trách nhiệm về Lời này. Lời đó được giao phó cho chúng ta để chúng ta thông truyền lại, với điều kiện là chúng ta phải sống Lời ấy trước tiên và chúng ta cử hành Lời này, trong Giáo Hội của Chúa Kitô mà Lời ấy đã tạc thành và hướng dẫn toàn bộ Truyền Thống của Giáo Hội.

“ Và Ngôi Lời đã làm người, và ở giữa chúng ta, và chúng ta đã thấy vinh quang của Người, vinh quang này, chính Con Một duy nhất đầy ân sủng và sự thật, Ngài ở trong Chúa Cha.[…] Không một ai đã từng thấy Thiên Chúa. Người Con Một, trong cung lòng Chúa Cha, đã tỏ cho chúng ta thấy Người. ” (Ga 1,14.18)

Bản văn suy niệm : Ga 1,1-18

Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con, Chúa là Đấng mà Lời hằng sống của Chúa không ngừng mạc khải Chúa và sai phái chúng con trong sứ vụ, xin cho chúng con khi lắng nghe Lời hằng sống này, chúng con nhận lãnh được sức mạnh và ánh sáng từ đó.

Ngày thứ ba

HIỆP THÔNG

Giáo Hội

 

“Vì Giáo Hội ở trong Chúa Kitô như bí tích hoặc dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại, nên, dựa trên giáo huấn của các Công Ðồng trước, Giáo Hội muốn làm sáng tỏ bản tính và sứ mệnh phổ quát của mình cho tín hữu và toàn thế giới. Những hoàn cảnh hiện tại làm cho nhiệm vụ của Giáo Hội thêm khẩn thiết hơn, để ngày nay mọi người liên hệ chặt chẽ hơn bởi nhiều ràng buộc xã hội, kỹ thuật, văn hóa, cũng được hiệp nhất trọn vẹn trong Chúa Kitô” (Lumen Gentium, số 1)

Chúng ta sẽ là gì khi ở bên ngoài Giáo Hội ? là sự quy tụ phổ quát, nhưng cả trong mỗi cộng đoàn, của mọi tín hữu đã được rửa tội, là sự hiện diện của Chúa Kitô phục sinh, Giáo Hội thể hiện rõ sự hiệp thông của các kitô hữu trong cùng một thân thể mà Chúa Kitô là đầu : “ Ngài là đầu của một thân thể là Giáo Hội ” (Cl 1, 18). Giáo Hội chỉ có thể được hiểu nhờ Chúa Kitô. Chính Ngài là “ ánh sáng muôn dân ” – tựa đề của Hiến chế này – và chỉ từ Ngài mà Giáo Hội và toàn thể các tín hữu mới có thể nhận lãnh các lời nói vạch ra trách nhiệm của mình này : “ Các con là ánh sáng thế gian ” (Mt 5,14).

Kitô giáo, từ khởi đầu cho tới ngày nay, và cho đến những xâu xé nội bộ của nó, đã không thể được hiểu mà không quy chiếu đến một Giáo Hội, được Chúa Kitô muốn và đã nên hữu hình, ở các quy mô khác nhau, bởi thừa tác vụ tông đồ và các cộng đoàn tín hữu.

Giữa việc thành lập các Giáo Hội đầu tiên mà sách Công Vụ Tông Đồ kể lại và công nghị của Công đồng Vatican II, giữa những cử hành thầm kín và những cuộc phụng vụ trọng thể khắp nơi trên thế giới, cho đến sự khác biệt cuả các hình thức và con số của tất cả các cộng đoàn kitô hữu, chỉ có cùng một chứng từ và cùng một đức tin được biểu lộ và thông truyền, cùng một sự hiệp thông hữu hình hay vô hình, cùng một công việc phục vụ nhân loại. Đó chính là những gì Giáo Hội là, những gì Giáo Hội sống và những gì Giáo Hội cho phép.

“ Vì không ai có thể đặt nền móng nào khác ngoài nền móng đã đặt sẵn là Chúa Giêsu Kitô “ (1Cr 3,11).

Ở đây, bài suy niệm của chúng tôi tập trung vào những khía cạnh chính yếu của Giáo Hội, mà phần nhiều sẽ được khai triển trong những ngày tiếp theo.

Bản chất Ba Ngôi của Thiên Chúa nằm ở trung tâm của mầu nhiệm Giáo Hội. Bởi thực tại lịch sử của nó, Giáo Hội được ghi khắc trong kế hoạch của Thiên Chúa: Giáo Hội, “là vương quốc của Thiên Chúa đã hiện diện một cách mầu nhiệm, đang phát triển cách hữu hình trong thế giới, nhờ quyền năng của Thiên Chúa…” Giáo Hội cụ thể hóa sứ mệnh của Chúa Con :“Mọi người đều được mời gọi kết hiệp cùng Chúa Kitô như vậy. Người là ánh sáng thế gian. Chúng ta phát xuất từ Người, sống nhờ Người và hướng về Người” (số 3). Giáo Hội được thánh hóa bởi Chúa Thánh Thần: “Chúa Thánh Thần ở trong Giáo Hội và trong tâm hồn các tín hữu […]. Như thế Giáo Hội phổ quát xuất hiện như một dân tộc hiệp nhất do sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”   (số 4).

Chính hình ảnh “ dân tộc ” này mà Công đồng gán cho Giáo Hội, trong cả một chương của Hiến chế. Bổ sung cho hình ảnh “ Nhiệm Thể Chúa Kitô ”, xuất phát từ giáo huấn của thánh Phaolô – “Như thế, chúng ta trở thành những chi thể của thân thể này (x. 1Cr 12,27)” (số 7) – hình ảnh “ dân Thiên Chúa ” là nổi bật :

“Ðịa vị dân này là được vinh dự và tự do làm Con Thiên Chúa, và Thánh Thần ngự trong tâm hồn họ như trong đền thờ […]. Thiên Chúa triệu tập tất cả những người tin kính và mong đợi Chúa Kitô, Ðấng ban ơn cứu độ và hiệp nhất, nguyên lý của sự hòa bình; Ngài thiết lập họ thành Giáo Hội để Giáo Hội trở nên bí tích hữu hình của sự hiệp nhất cứu độ ấy cho toàn thể và cho mỗi người” (số 9).

Trong dân tộc này, tất cả những người được rửa tội được kết hợp bởi một chức tư tế chung : “Chức tư tế chung của các tín hữu và chức tư tế thừa tác hay phẩm trật, tuy khác nhau không chỉ về cấp bậc mà còn về bản chất, song cả hai bổ túc cho nhau. Thực vậy, cả hai đều tham dự vào chức tư tế duy nhất của Chúa Kitô theo cách thức riêng của mình” (số 10).

Tập thể các tín hữu có một chiều kích ngôn sứ và không thể nhầm lẫn “nhờ cảm thức siêu nhiên về đức tin của toàn thể dân Chúa, khi “từ các giám mục cho đến người giáo dân rốt hết” đều đồng ý về những điều liên quan đến đức tin và phong hóa” (số 12). Chính với tư cách dân Thiên Chúa, người mang Tin Mừng nhân danh Chúa Kitô, trong sự hiệp thông của tất cả các thành phần tín hữu, nhưng cả trong mối liên hệ với những người không công giáo hoặc những người không chia sẻ đức tin Kitô giáo, mà Giáo Hội có một trách nhiệm phổ quát.

Công đồng nhắc lại tầm quan trọng của những thừa tác vụ khác nhau trong việc phục vụ các tín hữu để “đảm bảo cho dân Thiên Chúa các phương tiện cho sự tăng trưởng của nó”(số 18). Ở đây, hàng giám mục – mà chúng ta sẽ trở lại nhiều hơn, cũng như về hàng linh mục và giáo dân, trong những ngày tiếp theo – là đối tượng của một sự khai triển dài. Nó hệ tại đặt hàng giám mục, trong chiều kích bí tích và ba chức năng giảng dạy, thánh hóa và quản trị của nó, ở bên trong dân Thiên Chúa : “Nhờ thế, các Giám mục đã nhận lãnh việc phục vụ cộng đoàn với sự giúp đỡ của các linh mục và phó tế” (số 20). Bởi thế, Công đồng quyết định rằng “trong tương lai, chức phó tế có thể được tái lập như một bậc riêng và vĩnh viễn thuộc phẩm trật” (số 29).

Chỗ đứng đặc thù của giáo dân trong Giáo Hội – trọn một chương của Hiến chế dành cho họ – đã được tái khẳng định, “giáo dân có thể và phải có một hoạt động cao qúy là truyền bá Phúc Âm cho thế giới, cả lúc họ bận tâm lo lắng những việc trần thế”(số 35).

Chính toàn thể dân Thiên Chúa, mà Chúa Kitô quy tụ trong Giáo Hội, được mời gọi nên thánh. Các hình thức thì đa dạng nhưng không có ai được ưu đãi trên con đường này :

“Vì thế, mọi người đều thấy rõ ràng tất cả các Kitô hữu, bất cứ theo bậc sống hay địa vị nào, đều được kêu gọi tiến đến sự viên mãn của đời sống Kitô giáo và đến sự trọn lành của Ðức Ái. Ngay trong xã hội trần thế sự thánh thiện này cũng giúp người ta sống nhân đạo hơn” (số 40).

Cách lô-gíc, chính khi hướng về sự thánh thiện của Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, mà suy tư này về Giáo Hội được hoàn tất. Chính Mẹ, khi chấp nhận thánh ý của Thiên Chúa, đã để cho được thực hiện, bởi Chúa Giêsu, mối liên hệ quyết định giữa Đấng Tạo Hóa và Lịch Sử. “Trong mầu nhiệm Giáo Hội […] Đức Maria giữ vị trí hàng đầu” (số 63).Qua đức tin của Mẹ, sự tin tưởng của Mẹ vào Lời Chúa, sự cởi mở cho hơi thở của Thánh Thần và tình yêu hiền mẫu của Mẹ, Mẹ là một mẫu gương đích thực cho Giáo Hội. Mẹ không ngừng định hướng và dẫn dắt chúng ta đến với Chúa Kitô.Những lời của Công đồng liên quan đến Đức Maria, cách nào đó, hoàn thành tất cả những gì nói trên đây. Gợi lên Đức Maria, đó là nói với Giáo Hội và về Giáo Hội với một ngôn ngữ tin tưởng và Tình Yêu. “Mẹ chiếu sáng như dấu chỉ lòng cậy trông vững vàng và niềm an ủi cho dân Chúa đang lữ hành” (số 68).

Giáo Hội đã trải qua tất cả những náo động của lịch sử để ngày nay, qua chúng ta, trở thành một dấu chỉ hy vọng vững chắc cho thế giới. Chúng ta biết rõ những lời của Chúa Giêsu: ” Thầy nói cho anh biết, anh là Đá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng được “ (Mt 16,18).

Chúng ta tin vào sức bền bỉ và sự vững chắc của đá tảng mà Giáo Hội nương tựa. Một Giáo Hội cao cả và mỏng giòn, cao cả nhờ Chúa Kitô, mỏng giòn bởi chúng ta! Một Giáo Hội chiếu sáng và đau khổ theo đuổi nhiệm vụ mạc khải của mình giữa những thử thách và khước từ! Bất chấp sự khiếm khuyết của những chi thể của mình và những giới hạn nhân loại của chúng ta, Giáo Hội vẫn là, nhờ sức mạnh của Đấng Phục Sinh, một dấu chỉ Tình Yêu, hòa giải và hòa bình, trước mặt thế giới.

Yêu mến Giáo Hội, “ bí tích cứu rỗi ”, chính là chọn lựa hiểu Giáo Hội từ bên trong và lắng nghe, trên chính mảnh đất của những đoạn tuyệt của chúng ta, của những xét lại của chúng ta, của những xung đột hoặc những phản đối của chúng ta, một lời nói với chúng ta sự trường tồn và sự vững chắc mà chính chúng cũng thuộc về Thiên Chúa, ngay cả trong thử thách và cho đến trong cái chết. Một Thiên Chúa mà không có một câu trả lời nào có thể gò bó được, không có sự từ chối nào có thể làm cho thất vọng. Một Thiên Chúa mãi mãi đang đến.

“ Xin tôn vinh Đấng có quyền năng đang hoạt động nơi chúng ta, mà làm gấp ngàn lần điều chúng ta dám cầu xin hay  nghĩ tới, xin tôn vinh Người trong Hội Thánh và nơi Đức Kitô Giê su đến muôn thuở muôn đời. Amen “ (Ep 3,20-21).

Bản văn suy niệm : 1Pr 2,4-10

Lạy Ba Ngôi chí thánh, Chúa là nguồn mạch của sự hiệp thông của toàn thể Giáo Hội, xin suy tụ chúng con thành một dân tộc là dấu chỉ hiệp nhất và bình an cho toàn thể nhân loại.


Ngày thứ tư

CỬ HÀNH

Phụng Vụ Thánh

“Phụng Vụ là tột đỉnh qui hướng mọi hoạt động của Giáo Hội, đồng thời là nguồn mạch tuôn trào mọi năng lực của Giáo Hội. Thực vậy, các công lao khó nhọc trong việc tông đồ đều nhằm làm cho mọi người, nhờ đức tin và phép rửa, trở nên con cái Thiên Chúa, cùng nhau qui tụ ngợi khen Chúa giữa lòng Giáo Hội, thông phần Hiến Tế và ăn tiệc của Chúa. […] Vì thế, chính Phụng Vụ, nhất là Lễ Tạ Ơn, như là nguồn mạch chảy tràn ân sủng vào trong chúng ta và làm cho con người được thánh hóa trong Chúa Kitô một cách hữu hiệu đồng thời Thiên Chúa được vô cùng tôn vinh; đó là điều mà mọi công việc khác của Giáo Hội đều qui hướng về như là cứu cánh” (Sacrosanctum Concilium, số 10).

Giáo Hội được sinh ra trong hơi thổi của sự phục sinh và được cơ cấu hóa xung quanh việc cử hành đều đặn lễ Vượt Qua. Phụng Vụ, dưới những hình thức khác nhau của nó và lưu tâm đến sự tiến triển của nó trong lịch sử, nằm ở trung tâm của đời sống Giáo Hội. Không có loan báo, không có rao giảng, không có sai đi mà không được liên kết cách nền tảng với việc cử hành bí tích. Nếu Phụng Vụ không phải là toàn bộ của hoạt động truyền giáo của Giáo Hội, thì nó không thể bị tách rời khỏi đó. Cần thiết cho cộng đoàn kitô hữu, Phụng Vụ là nguồn suối thiêng liêng của nó và mang lại cho nó, cũng như cho mỗi thành viên, sự tin tưởng và sức mạnh đủ để làm chứng cho sự hiện diện của Đấng Phục Sinh và Tin Mừng của Ngài.

Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng” (Cv 2,42). Cộng đoàn Giêrusalem được mô tả cho chúng ta như thế. Sự mô tả của thánh Luca lý tưởng hóa đôi chút cộng đoàn này, nhưng chiều kích Phụng Vụ không phải là kém rõ rang : Lời Thiên Chúa và việc giảng dạy, sự hiệp thông, biểu tượng của bánh, việc cầu nguyện. Những yếu tố này, hoặc được tập hợp trong Lễ Tạ Ơn, hoặc được xem tách rời, chính là những khía cạnh khác nhau của cấu trúc biểu tượng và nghi lễ và của nền tảng Phụng Vụ của Giáo Hội sơ khai.

Kêrygma, hay việc rao giảng Tin Mừng, không thể tách rời với kinh nghiệm về sự hiện diện của Đấng Phục Sinh.Tông đồ Phaolô là chứng nhân đầu tiên về điều đó (1Cr 15,1-11). Như vậy, việc cử hành Phụng Vụ chẳng phải nằm ở nguồn mạch của việc thông truyền đức tin sao ?

Này là mình Thầy được trao hiến cho các con. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Lc 22,19).

Bài suy niệm của chúng tôi tập trung trước tiên vào những lý do thần học và thiêng liêng biến Phụng Vụ thành con tim sinh động của toàn thể Giáo Hội.

Hiến chế của Công đồng làm rõ ngay rằng nó hệ tại một sự phục hồi Phụng Vụ, trong sự trung tín với truyền thống của Giáo Hội và việc nhìn nhận sự bình đẳng “về pháp lý và phẩm giá của mọi nghi lễ được nhìn nhận cách hợp pháp”. Thế nhưng, “Công đồng cũng ước mong rằng, nơi nào cần, các nghi lễ ấy phải được cẩn thận tu chỉnh cho toàn vẹn theo tinh thần của truyền thống lành mạnh và được bổ sung một sinh khí mới mẻ hầu phù hợp với hoàn cảnh và nhu cầu hiện tại” (số 4).

Nhưng không có bất kỳ sự khôi phục hay tu chỉnh nào là khả thi mà không xem xét những nguyên tắc tổng quát hay những gì chúng ta có thể gọi là những yếu tố bền vững của Phụng Vụ đến từ bản chất thần học của nó. Thật thích hợp để phân biệt rõ hai bình diện. Quả thế, “Phụng Vụ gồm phần bất biến, do Thiên Chúa thiết lập, và những phần có thể thay đổi. Phần này có thể hoặc cũng phải sửa đổi theo dòng thời gian, nếu tình cờ có len lỏi vào những yếu tố rất ít đáp ứng hoặc ít phù hợp với bản tính thâm sâu của Phụng Vụ” (số 21).

Phần bất biến thuộc về sự kiện rằng Phụng Vụ cho phép việc thực hiện, trong cộng đoàn đang tập hợp, trong Giáo Hội và trong tâm hồn của mỗi tín hữu, công trình sự sống và cứu độ của Chúa Kitô. Ta có thể nói rằng tất cả các biểu tượng và nghi lễ, cũng như toàn bộ các bí tích, trong tính đa dạng của chúng, đều đồng quy vào cùng một ý nghĩa : sự hiện diện hữu hiệu của Chúa Kitô, hiệu quả giải thoát và đổi mới của cái chết và sự phục sinh của Ngài, và sự chiến thắng chung cuộc của Ngài trên tội lỗi và các sức mạnh của sự dữ.

“Người hiện diện thực sự trong Hy Lễ […]. Người hiện diện thiết thực trong các Bí Tích nhờ quyền năng của Người […]. Người hiện diện thiết thực trong lời của Người […] Phụng Vụ đáng được xem là việc thực thi chức vụ tư tế của chính Chúa Giêsu Kitô, trong đó công cuộc thánh hóa con người được biểu tượng nhờ những dấu chỉ khả giác và được thể hiện hữu hiệu cách khác nhau theo từng dấu chỉ […]” (số 7).

Điều gì đó được tỏ lộ cho chúng ta về chính đời sống và sự thánh thiện của Thiên Chúa và về mầu nhiệm Ba Ngôi, từ đó phát xuất kiểu nói “Phụng Vụ Thánh”. Ta có thể nói rằng toàn bộ những tu chỉnh được Công đồng đề nghị chỉ có mục đích giúp tiếp cận mầu nhiệm và những hệ quả của Mạc Khải và giúp cho toàn thể Dân Thiên Chúa hiểu tốt hơn bản chất sâu xa của Phụng Vụ. Từ đó chiều kích mục vụ của kế hoạch này:

“Lòng nhiệt thành cổ xúy và canh tân Phụng Vụ Thánh đáng được xem như một dấu chỉ của các ý định quan phòng của Thiên Chúa trên thời đại chúng ta, và như cuộc viếng thăm của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội; sự kiện này còn là một đặc điểm nổi bật của đời sống Giáo Hội, cũng như của mọi cách thế suy tư và hoạt động đầy tinh thần đạo giáo của thời đại chúng ta” (số 43).

Ý muốn của Công đồng là đặt các đề nghị cụ thể của mình – mà làm nên phần lớn nhất của Công đồng – ở trung tâm của đời sống Giáo Hội của các cộng đoàn kitô hữu, trong các giáo phận và các giáo xứ. Quả thế, Phụng Vụ, do chiều ngang của nó, là nguồn mạch thường hằng của sự hiệp thông trong Chúa Kitô và của chiều kích truyền giáo của đức tin. Do đó, khi nhắc lại vị trí trung tâm của Lễ Tạ Ơn, điều cần thiết là lắng nghe Lời Thiên Chúa và việc đọc Lời Chúa trong tâm thế cầu nguyện và được cầu nguyện (“Lectio Divina”), cho phép một sự tham dự chủ động của các tín hữu vào các cử hành cũng như một sự hiểu biết tốt hơn về bản chất và các nghi thức bí tích.

“Các hoạt động phụng vụ không phải là những hoạt động riêng tư, nhưng là những cử hành của Giáo Hội, là “bí tích hiệp nhất”, nghĩa là dân thánh được qui tụ và hướng dẫn dưới quyền của Giám Mục. Vì vậy, các hoạt động đó thuộc về Thân Thể phổ quát của Giáo Hội, diễn tả và ảnh hưởng trên Giáo Hội; tuy nhiên còn có liên quan khác nhau với từng chi thể riêng biệt của Thân Thể, tùy theo khác biệt về phẩm trật, phận vụ, và sự tham dự hiện thực” (số 26).

Công đồng mời gọi các tín hữu sáp nhập tốt hơn, trong tiến trình đức tin của họ, ý nghĩa của Năm Phụng Vụ “biểu thị toàn thể mầu nhiệm của Chúa Kitô” (số 102), cũng như phục hồi giá trị của ngày Chúa Nhật, ngày cử hành đặc biệt mầu nhiệm Vượt Qua, “theo Truyền thống tông đồ bắt nguồn từ chính ngày Chúa Kitô sống lại” (số 106). Hai thành tố quan trọng khác của Phụng Vụ được nhắc lại, chúng cũng ghi khắc các cử hành của Giáo Hội trong phạm vi văn hóa của các xã hội của chúng ta :

Thánh nhạc, “truyền thống âm nhạc của Giáo Hội phổ quát đã kiến tạo nên một kho tàng vô giá” (số 112), và nghệ thuật thánh, đỉnh cao của nghệ thuật tôn giáo, cả hai nhằm “diễn tả cách nào đó qua các công trình nhân loại vẻ đẹp vô tận của Thiên Chúa” (số 122).

Là những người kế thừa Công đồng Vatican II, chúng ta không thể quên con đường được mở ra, cho đến trong những khó khăn gặp phải do việc áp dụng nó, bởi Hiến chế về Phụng Vụ Thánh. Một số yếu tố thực nghiệm đã có sự mỏng giòn của chúng, không phải là không thiếu một ưu tư mục vụ hiện thực nào đó. Sự phân định của Giáo Hội phải được duy trì, nhưng biết bao những cử hành lớn lao và đẹp đẽ của Giáo Hội phổ quát đã và đang trở nên khả thi, cách riêng bởi khả năng sáp nhập ngôn ngữ hay một số nghi lễ riêng của một số nước khác nhau và các nền văn hóa của các cộng đồng kitô hữu trên thế giới.

Ngày nay cũng như luôn mãi, tất cả Phụng Vụ được sống trong hơi thở của lễ Hiện Xuống, hơi thở của Chúa Thánh Thần mà những hệ quả đã rõ ràng được Chúa Giêsu loan báo cho các Tông đồ : “Các con sẽ là chứng nhân của Thầy ở Giêrusalem, trong toàn thể miền Giuđêa và Samari, và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8).

Phụng Vụ gắn liền mật thiết với sứ mạng của Giáo Hội.Nó là cử hành của Đấng sai đi. Qua kinh nghiệm về sự hiện diện của Chúa Kitô, Giáo Hội sẵn sàng phục vụ và làm chứng. Cử hành, phục vụ, loan báo không thể tách rời nhau.Suy tư trong Giáo Hội về việc dạy giáo lý đã lặp lại vị trí chính yếu của Phụng Vụ trong các cấu trúc đào tạo và trong việc thông truyền đức tin.

Trước hết, tôi khuyên ai nấy dâng lời cầu xin, khẩn nguyện, nài van, tạ ơn cho tất cả mọi người…” (1Tm 2,1).

Bản văn suy niệm : Lc 22,14-20.

Lạy Chúa Thánh Thần, hơi thở của Chúa đổi mới con tim của Giáo Hội khi Giáo Hội cử hành mầu nhiệm Vượt Qua, xin giúp chúng con cầu nguyện và gia tăng đức tin của chúng con vào Chúa Kitô, Đấng hiến mình vì yêu thương.

NHỮNG DẤU CHỈ CỦA ÂN SỦNG

Sự đa dạng trong Giáo Hội về các đặc sủng, các trách nhiệm và chọn lựa sống, cũng như các truyền thống tâm linh, chứng thực sự phong phú của ân sủng thần linh và sự trao hiến, vì tình yêu, mà các tín hữu chịu phép Rửa biến con người của họ thành.

CD      Christus Dominus

            Sắc lệnh về trách nhiệm mục tử của các giám mục.

PO       Presbyterorum Ordinis

            Sắc lệnh về thừa tác vụ và đời sống linh mục.

PC       Perfectae Caritatis

            Sắc lệnh về việc canh tân và thích nghi đời sống tu trì.

AA      Apostolicam Actuositatem

            Sắc lệnh về tông đồ giáo dân.

OE       Orientalium Ecclesiarum

            Sắc lệnh về các Giáo Hội Đông Phương Công Giáo.

Ngày thứ năm

THỪA TÁC VỤ

Trách Nhiệm Mục Tử Của Các Giám Mục

“Các Giám Mục, được Chúa Thánh Thần đặt lên kế vị các Tông Ðồ như chủ chăn các linh hồn (số 2). Các Giám Mục, là những người chia sẻ nỗi lo âu của tất cả các Giáo Hội, thi hành nhiệm vụ giám mục […], trong sự hiệp thông và dưới quyền Ðức Giáo Hoàng, đối với những gì thuộc quyền giáo huấn cũng như quyền cai quản mục vụ; tất cả các ngài họp thành Cộng Ðoàn Giám Mục hay Giám Mục Ðoàn đối với toàn thể Giáo Hội Chúa” (Christus Dominus, số 3).

“Giáo phận là một phần Dân Thiên Chúa được giao phó cho một Giám Mục chăm sóc, với sự cộng tác của linh mục đoàn, để nhờ liên kết với vị chủ chăn của mình và qua ngài, giáo phận được tập trung trong Chúa Thánh Thần nhờ Phúc Âm và Thánh Thể, làm thành một Giáo Hội riêng biệt, trong đó Giáo Hội Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền của Chúa Kitô hiện diện và hành động thực sự” (số 11).

Trách nhiệm của các cộng đoàn kitô hữu đầu tiên đã được các Tông đồ giao phó – thánh Phaolô đã đóng một vai trò chủ chốt trên bình diện này – cho những người nam mà trách vụ của họ đã dần dần được cơ cấu hóa. Theo khuôn mẫu của thánh Phaolô, nó hệ tại một thừa tác vụ (có thể dịch từ ngữ Hy-Lạp ‘diakonia’) : “vì Thiên Chúa đoái thương giao cho chúng tôi thừa tác vụ này (công việc phục vụ này), nên chúng tôi không sờn lòng nản chí” (2 Cr 4,1).

Trong Thư gởi giáo đoàn Êphêsô được viết khoảng năm 110, Inhaxiô Antiôkia đã là chứng nhân cho việc tổ chức cộng đoàn xung quanh thừa tác vụ của giám mục và của các linh mục. Sử dụng những hình ảnh rất được biết đến về đàn thập lục và khúc ca, ngài viết: “Bởi đó, nên bước đi hòa hợp với tư tưởng của giám mục của anh chị em, với những gì anh chị em làm. Hàng linh mục thật nổi tiếng của anh chị em, xứng đáng với Thiên Chúa, được so dây điều chỉnh với giám mục như là những dây đàn thập lục; như thế, trong sự đồng thuận những tâm tình của anh chị em và sự hài hòa của đức ái của anh chị em, anh chị em ca ngợi Chúa Giêsu Kitô.”

Thừa tác vụ của các giám mục – được Sắc lệnh này diễn tả bằng từ ngữ “trách nhiệm mục tử” – được tiếp tục, không ngừng từ khởi thủy Kitô giáo, với sự cộng tác của các linh mục và phó tế, để loan báo Tin Mừng và xây dựng các cộng đoàn và Giáo Hội (Ep 4,1-16).

(Mầu nhiệm này của Chúa Kitô) “tôi đã trở nên người phục vụ Tin Mừng đó, nhờ ân sủng đặc biệt Thiên Chúa ban cho tôi, khi Người thi thố quyền năng của Người” (Ep 3,7).

Công đồng đã rõ ràng đặt chức giám mục trong Dân Thiên Chúa là Giáo Hội (LG 18-29) và đối với trách nhiệm của mọi tín hữu, nên ở đây bài suy niệm của chúng tôi tập trung vào chiều kích tập thể (collégiale) và giáo phận của trách nhiệm mục tử.

Không có giám mục nào là người duy nhất chịu trách nhiệm về sứ mạng mà Giáo Hội giao phó cho ngài, ngài là thành viên của giám mục đoàn. Có một chiều kích phổ quát của trách vụ : “là thành viên của giám mục đoàn (số 4), các giám mục phải luôn cảm thấy hiệp nhất với nhau và tỏ ra ưu tư đối với tất cả các Giáo Hội”. Sự liên đới này, trước tiên là dấu chỉ hiệp thông, được thể hiện qua mối liên hệ với Tông Tòa Rôma cũng như với các Giáo Hội địa phương khác trên toàn thế giới : “Các Giám Mục phải quan tâm đến không những các nhu cầu của giáo phận mình, mà còn của các Giáo Hội địa phương khác vì các Giáo Hội này là thành phần Giáo Hội duy nhất của Chúa Kitô” (số 6).

Chính giáo phận là nơi trực tiếp của trách nhiệm mục tử.Giáo Hội có trách nhiệm đảm bảo sự hiệp thông của Giáo Hội địa phương được giao phó cho mình, “thực thi trách vụ giảng dạy, thánh hóa và quản trị” đối với giáo phận (số 11). Trong sự tự do và độc lập mà sứ mạng của ngài trao cho ngài, cách riêng đối với chính quyền (số 19), ngài phối hợp toàn bộ các cơ cấu để phục vụ sứ mạng của Giáo Hội, các hội đồng và các ban trong giáo phận, nhưng còn và nhất là công việc của các linh mục, những người cộng tác gần gũi nhất với thừa tác vụ của ngài :

“Những liên hện giữa Giám Mục và các linh mục giáo phận phải dựa trên những mối dây bác ái hoàn toàn siêu nhiên, để sự đồng tâm nhất trí giữa hàng linh mục và Giám Mục làm cho hành động mục vụ của mình được phong phú hơn. Vì thế, để cổ võ việc phục vụ các linh hồn mỗi ngày một hơn, Giám Mục nên mời gọi các linh mục đối thoại riêng và chung với những người khác nữa” (số 28).

Một khía cạnh quan trọng khác của tính tập thể là khía cạnh được sống giữa các hội đồng giám mục. Các hội đồng này đã mang lại, ở đâu chúng hữu hiệu, “những bằng chứng sáng ngời về sự phong nhiêu tông đồ”. Công đồng nhấn mạnh lợi ích thiêng liêng và giáo hội của chúng : “thật là hữu ích nếu khắp nơi trên thế giới, các Giám Mục cùng một quốc gia hay cùng một giáo miền quy tụ thành một Hội đồng, nhóm họp trong những kỳ hạn nhất định để một khi trao đổi những sáng kiến khôn ngoan và kinh nghiệm, cũng như cùng góp ý kiến, các ngài thực hiện được sự hòa hiệp thánh giữa các năng lực và mưu cầu công ích cho các Giáo Hội” (số 37).

Từ nguyên thủy Kitô giáo, tính khả tín của trách vụ đặc thù của các giám mục, với tư cách đứng đầu các cộng đoàn kitô hữu, được đảm bảo bằng khả năng của các ngài đối chất các sứ điệp của Tin Mừng, mà các ngài là những người được ký thác, với những nhu cầu và những tìm kiếm của mọi trật tự của thế giới trong đó các ngài đang sống. Chứng tá cho điều đó là chuỗi dài các Công đồng và các Thượng hội đồng đánh dấu lịch sử của Giáo Hội và nhiều tuyên bố hay công việc bàn về những vấn đề quan trọng liên quan đến đời sống cụ thể của những người nam và người nữ của thời đại họ, bao gồm cả những người không chia sẻ hay không thừa nhận đức tin Kitô giáo. Toàn bộ các văn kiện của Công đồng Vatican II là một ví dụ rõ ràng cho điều đó.

Nhiệm vụ không phải là không khó khăn nhưng với sự giúp đỡ của Thiên Chúa và hơi thở – dù không thể dự kiến – của Chúa Thánh Thần, nó có thể được hoàn thành. Thánh Phaolô đã chẳng viết cho tín hữu Côrintô : “Chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng…” (2Cr 4,8). Còn về khuyến cáo của ngài dành cho Timôthê, nó không cần đến giải thích :

Hãy rao giảng lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ […] hãy làm công việc của người loan báo Tin Mừng và chu toàn thừa tác vụ của anh” (2Tm 4,1-5).

Bản văn suy niệm: Ga 21,15-19.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa không ngừng kêu gọi bước theo Chúa những mục tử cho Giáo Hội của Chúa, xin ban cho các giám mục ân sủng thần linh, sức mạnh thiêng liêng và sự phân định để, qua thừa tác vụ của các ngài, các ngài dẫn dắt các tín hữu trong sứ mạng của họ.


Ngày thứ sáu

TIẾNG GỌI

Thừa Tác Vụ Và Đời Sống Của Các Linh Mục

“Chức vụ Linh Mục liên kết với chức Giám Mục, nên cũng được tham dự vào quyền bính mà chính Chúa Kitô đã dùng để kiến tạo, thánh hóa và cai quản Thân Thể Người” (Presbyterorum Ordinis, số 2).

“Các Linh Mục Tân Ước, do ơn gọi và chức thánh, một cách nào đó được tuyển chọn ngay giữa Dân Chúa, nhưng không phải để tách biệt khỏi họ hoặc bất cứ một người nào, mà để tận hiến làm công việc Chúa đã chọn họ làm. Các ngài không thể là thừa tác viên của Chúa Kitô nếu không là chứng nhân và là người ban phát một đời sống khác đời sống thế tục; tuy nhiên các ngài không thể phục vụ nhân loại nếu lại sống xa cuộc sống và những hoàn cảnh của nhân loại” (số 3).

Thừa tác vụ của các linh mục, không thể tách rời với thừa tác vụ của các giám mục và của các phó tế, nhưng cũng với trách nhiệm riêng của các tín hữu giáo dân, thuộc về cơ cấu nền tảng của Giáo Hội. Chắc chắn, lúc đầu, nó không hệ tại một tiếng gọi cộng tác với thừa tác vụ tông đồ của giám mục. Nhưng tiếng gọi này, đến từ chính Chúa Kitô và được Giáo Hội tiếp sức, trực tiếp đặt trách vụ linh mục trong viễn ảnh của việc sai đi truyền giáo : “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con” (Ga 20,21). “Này Thầy sai các con đi” (Lc 10,3).

Trách vụ được các giám mục giao phó cho hàng linh mục, do đó hoàn toàn nằm trong sứ mạng Tin Mừng và tông đồ của Giáo Hội. Tin Mừng, bởi vì trước tiên nó hệ tại Chúa Kitô, Đấng kêu gọi và sai đi. Tông đồ, bởi vì trách vụ này nằm trong một sự liên tục và một truyền thống không gián đoạn từ khi các Tông đồ thành lập các cộng đoàn đầu tiên. Thừa tác vụ chức thánh là sống còn đối với Giáo Hội hoàn vũ, các Giáo Hội địa phương và tất cả các cộng đoàn kitô hữu. Từ ban đầu cho đến ngày nay, trên bình diện này, không có bất kỳ thay đổi nào.

Đừng thờ ơ với đặc sủng đang có nơi anh, đặc sủng Thiên Chúa đã ban cho anh nhờ lời ngôn sứ, khi hàng kỳ mục đặt tay trên anh” (1Tm 4,14).

Ở đây, bài suy niệm của chúng tôi tập trung vào những yếu tố bền vững – bản chất và cứu cánh thiêng liêng và mục vụ – của thừa tác vụ linh mục.

“Nếu hàng linh mục, trong việc canh tân Giáo Hội của Chúa Kitô, đóng một vai trò chính yếu, nhưng càng ngày càng khó khăn hơn” (số 1), thì đó là do mục tiêu của sứ mạng của các ngài là đóng góp vào việc “vừa làm cho vinh danh Thiên Chúa hơn vừa giúp con người tiến tới trong đời sống thiêng liêng” (số 2).Thừa tác vụ của các linh mục, được lãnh nhận từ Chúa Kitô, cũng được hướng về Thiên Chúa và hướng về con người.

Ba khía cạnh được giữ lại – có thể nói là ba cột trụ – của thừa tác vụ linh mục, mà trực tiếp nối kết các ngài với ba trách vụ đặc thù của thừa tác vụ giám mục, được gợi lên trước đây : giảng dạy, thánh hóa và quản trị.

Khía cạnh đầu tiên là rao giảng Tin Mừng hay trách nhiệm Tin Mừng và truyền giáo. “Các ngài là những thừa tác viên của Lời Thiên Chúa: nhưng trong tình trạng thế giới ngày nay, lời giảng thuyết của Linh Mục thường gặp rất nhiều khó khăn. […] Giảng thuyết không phải chỉ là trình bày lời Chúa một cách tổng quát và trừu tượng, nhưng phải áp dụng chân lý ngàn đời của Phúc Âm vào các hoàn cảnh cụ thể của đời sống” (số 4).

Khía cạnh thứ hai là trách nhiệm thiêng liêng và bí tích. Các linh mục đảm bảo sự hiện diện của Chúa Kitô trong các cộng đoàn kitô hữu.Trong số các bí tích, Lễ Tạ Ơn là “kho tàng thiêng liêng của Giáo Hội […] nguồn mạch và đỉnh cao của toàn bộ công cuộc Phúc Âm hóa” (số 5).

Khía cạnh thứ ba là trách nhiệm mục vụ hay việc xây dựng thân thể giáo hội. Các linh mục “mắc nợ với hết mọi người […] Trong việc kiến thiết cộng đoàn kitô hữu, các linh mục không bao giờ phục vụ cho một ý thức hệ hay một đảng phái nhân loại nào, nhưng vì là những vị rao giảng Phúc Âm và là chủ chăn của Giáo Hội, các ngài lo lắng theo đuổi việc phát triển thiêng liêng của Thân Thể Chúa Kitô” (số 6).

Một khía cạnh quan trọng khác của Sắc lệnh là việc nhìn nhận sự cần thiết của hàng linh mục – sự hiệp thông và hiệp nhất huynh đệ của tất cả các linh mục xung quanh giám mục. Việc phục hoạt thể chế này, mà lên tới chính nguồn gốc của Giáo Hội, là một dấu chỉ khách quan của sự hợp tác cần thiết giữa thừa tác vụ tông đồ : “Vì ơn Chúa Thánh Thần ban cho các linh mục khi lãnh nhận Chức Thánh, các giám mục phải coi các ngài như những trợ tá và cố vấn cần thiết trong thừa tác vụ, cũng như trong chức vụ dạy dỗ, thánh hóa và chăn dắt dân Chúa” (số 7).

Ngày nay, các linh mục đương đầu “với những điều kiện sống mới mẻ hiện tại…với những biến đổi của đời sống kinh tế và xã hội, và ngay cả các phong tục…với sự đảo ngược phẩm trật các giá trị trong sự phán đoán của con người…” Đang nổi lên “những trở ngại mới cho đời sống đức tin, những việc làm bề ngoài xem ra vô ích”, và, đối với các linh mục, “sự thử thách gay go của sự cô đơn”. Nhưng các ngài không bao giờ cô độc trong thừa tác vụ của mình. Mối liên hệ của các ngài với Chúa Kitô và sự hiệp thông huynh đệ của toàn thể linh mục đoàn là những bằng chứng của lòng tin tưởng, của sự bình an nội tâm và của sự phong nhiêu truyền giáo.

“Vả lại, chính Chúa Thánh Thần thúc đẩy Giáo Hội mở những con đường mới dẫn đến thế giới ngày nay, chính Ngài cũng khởi xướng và khuyến khích những cải tổ thích hợp cho chức vụ Linh Mục” (số 22).

Trong khung cảnh của chúng ta, được ghi dấu bởi sự giảm sút con số linh mục giáo phận, điều cần thiết không chỉ là cầu nguyện để Thiên Chúa khơi lên những ơn gọi linh mục đặc thù, nhưng còn tái khẳng định tầm quan trọng của thừa tác vụ này, của sự dấn thân toàn diện này, của sự sai đi này, để ưu tiên phục vụ các cộng đoàn kitô hữu, nhưng cả xã hội trong nhiều thành tố của nó nữa. Các thử thách được trải qua, thông thường được truyền thông hóa cách rộng rãi, không thể làm tổn thương tình cảm tin tưởng và hy vọng trỗi vượt mà không ngừng đánh động những ai đang dấn thân hay đã dấn thân, hôm nay, trong thừa tác vụ linh mục.

Nhưng kho tàng này chúng tôi mang nó trong những bình sành, để sức mạnh bất khả sánh này là của Thiên Chúa chứ không phải của chúng tôi” (2Cr 4,7).

Bản văn suy niệm : Ga 13,1-17

Lạy Chúa Giêsu, Chúa không ngừng sai đi khắp thế giới những người Chúa đã chọn để rao giảng Tin Mừng của Chúa, xin ban cho các linh mục trung thành với tiếng gọi của Chúa, tin tưởng vào sự nâng đỡ của Chúa, kiên trì trong thử thách và là những người truyền ban niềm hy vọng.


Ngày thứ bảy

DÂNG HIẾN

Canh Tân Và Thích Nghi Đời Sống Tu Trì

“Những ai khấn giữ các lời khuyên Phúc Âm đều phải tìm kiếm và yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự, vì người đã yêu chúng ta trước (x.1Ga 4,10); trong mọi hoàn cảnh, họ phải cố gắng phát triển đời sống ẩn dật cùng Chúa Kitô trong Thiên Chúa (x.Cl 3,3), vì đó là nguồn mạch và động lực phát sinh tình yêu tha nhân nhằm cứu rỗi nhân loại và xây dựng Giáo Hội. Cũng chính đức ái này làm linh động và hướng dẫn việc thực hành các lời khuyên Phúc Âm” (Perfectae Caritatis, số 6).

Đời sống tu trì dưới những hình thức khác nhau của nó, đan tu và chiêm niệm, tông đồ hay giáo dân, ngày nay là một dấu chỉ mạnh mẽ về sự dâng hiến trọn vẹn cho Thiên Chúavì tình yêu. Qua kinh nghiệm thiêng liêng về mối liên hệ với Chúa Kitô, qua chứng tá về đời sống nội tâm, về đời sống cầu nguyện và về sự tiếp đón, nhưng còn cả về một sự hiện diện đặc biệt ở thế gian, một lời được nói về Thiên Chúa, một sứ điệp được thông truyền mà không gì khác hơn là Tin Mừng của Chúa Kitô.

Bên cạnh biết bao người nam và người nữ mà có thể được chất vấn bởi chiều kích này của Kitô giáo và của Giáo Hội, đời sống tu trì diễn tả sự hiện diện và hơi thở mạc khải của Thánh Thần, trong chúng ta và cho thế giới. Làm sao không nghĩ đến những lời mạnh mẽ này của thánh Phaolô gởi cho tín hữu Côrintô :

Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người.Còn chúng ta, chúng ta đã được Thiên Chúa mặc khải cho, nhờ Thần Khí.Thật vậy, Thần Khí thấu suốt mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa” (1Cr 2,9-10).

Ở đây, bài suy niệm của chúng tôi tập trung vào tất cả những gì mà đời sống tu trì có thể mang lại cho Giáo Hội phổ quát.

Hiến chế tín lý về Giáo Hội đã nhắc lại tầm quan trọng của đời sống tu trì: Nó “thực là một dấu chỉ có thể và phải lôi cuốn hữu hiệu tất cả mọi chi thể của Giáo Hội đến việc can đảm chu toàn ơn gọi làm Kitô hữu […], bậc sống được thiết lập do việc tuyên khấn các lời khuyên của Phúc Âm, tuy không liên quan đến cơ cấu phẩm trật của Giáo Hội, nhưng dĩ nhiên cũng gắn chặt với đời sống và sự thánh thiện của Giáo Hội” (LG, số 44).

Trong Sắc lệnh này, nếu nó hệ tại sự canh tân và việc thích nghi, thì những nền tảng không phải vì thế mà ít được gợi lên. Trước tiên, cần phải lưu tâm đến đặc tính riêng và tinh thần sáng lập của mỗi dòng tu đồng thời đảm bảo “sự thích ứng của chúng với những hoàn cảnh sống mới” (số 2). Sự nhanh chóng và tính phức tạp của những biến chuyển hiện nay không tác động gì đến cứu cánh thiêng liêng và truyền giáo của đời sống tu trì. “Chính vì thế, các thành viên của mọi dòng tu,trong lúc chỉ đi tìm một mình Thiên Chúa trên hết mọi sự, đều phải liên kết việc chiêm niệm với nhiệt tâm truyền giáo: vì nhờ chiêm niệm, họ kết hợp lòng trí với Thiên Chúa, và nhờ nhiệt tâm truyền giáo, họ tham gia công cuộc Cứu Thế và mở rộng Nước Chúa” (số 5).

Các dòng chiêm niệm, qua sự thinh lặng, cô tịch và cầu nguyện, hoàn toàn có chỗ đứng trong Giáo Hội, dân Thiên Chúa. “Họ làm vẻ vang dân Thiên Chúa bằng những hoa trái thánh thiện dồi dào, lấy gương lành lôi cuốn và làm cho dân ấy thêm lớn mạnh bằng việc tông đồ tuy âm thầm nhưng phong phú” (số 7).

Các dòng trực tiếp tận hiến cho đời sống tông đồ có nhiều hình thức và được phú ban những ân huệ khác nhau. Hoạt động của họ được ghi khắc như nhau trong sứ mạng và việc mục vụ của Giáo Hội. “Hoạt động tông đồ của các tu sĩ phải được phát sinh từ cuộc sống kết hiệp mật thiết với chính Chúa Kitô, nhờ đó, chính đức mến Chúa yêu người được triển nở” (số 8).

Đời sống tu trì giáo dân, “rất ích lợi cho trách nhiệm mục vụ của Giáo Hội”, rất được quý trọng, và những ai chọn lựa ơn gọi này, trong khi tuyên khấn các lời khuyên Phúc Âm, cần được khuyến khích “thích nghi đời sống của họ với những đòi hỏi của thế giới hiện tại” (số 10).

Về phần các tu hội đời, mà không phải là các dòng tu nhưng các thành viên của chúng, đang sống trong thế giới, cũng khấn giữ các lời khuyên Phúc Âm, sứ mạng đặc thù của họ, được Giáo Hội nhìn nhận, là thực thi “khắp nơi và cách hiệu quả sứ vụ tông đồ […] theo như tu hội đã chủ trương khi thành lập” (số 11).

Chúng ta đã nói về các lời khuyên Phúc Âm. Chúng là gì ? Đó là ba nhân đức khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục. Công đồng nhắc lại giá trị của chúng, như là sự diễn tả sự dâng hiến trọn vẹn cho Chúa Kitô. Chúng chỉ có thể được hiểu và được sống cách tích cực, trong viễn ảnh tự do thiêng liêng và thanh tẩy tâm hồn vì tình yêu.

Đức khiết tịnh đặc biệt giải thoát tâm hồn con người để nó cháy lửa yêu mến Thiên Chúa và mọi người (số 12). “Đức nghèo khó tự nguyện để bước theo Chúa Kitô” (số 13), và những hình thức của nó có thể được đổi mới, là dấu chỉ của một sự ứng trực hoàn toàn cho tiếng gọi của Giáo Hội. “Đức vâng phục tu trì, không hề giảm thiểu phẩm giá nhân vị, dẫn đưa nó đến sự trưởng thành bằng việc làm cho tự do của con cái của Thiên Chúa lớn lên”(số 14).

Trong xã hội hiện nay, chứng tá đặc biệt của đời sống tu trì có thể là một dấu chỉ của đức tin sâu xa và của chiều kích siêu việt của cuộc sống. Đời sống này có thể, đang khi vẫn giữ những đặc sủng đặc trưng riêng của nó và theo sự phân định của Giáo Hội, có thể mang lấy những hình thức mới thích nghi với những nhu cầu của thế giới. Nhưng sự dâng hiến vẫn là hàng đầu. Và trước tiên nó là một hành vi tình yêu, bởi vì nó đến từ Thiên Chúa Tình Yêu.

Có một tính muôn thuở của đời sống tu trì trong lịch sử. Tính thời sự của nó là rõ ràng và thuộc về sự trung tín của Thiên Chúa.

Như thế, tôi muốn rằng họ được phấn khởi trong tâm hồn, và nhờ được liên kết chặt chẽ với nhau trong tình thương, họ đạt tới sự thông hiểu phong phú và đầy đủ, khiến họ nhận biết mầu nhiệm của Thiên Chúa, tức là Đức Ki-tô, trong Người có cất giấu mọi kho tàng của sự khôn ngoan và hiểu biết”     (Cl 2,2-3).

Bản văn suy niệm : 1Ga 4,7-21

Lạy Rất Thánh Trinh Nữ Maria, Mẹ đã thưa xin vâng hoàn toàn theo thánh ý của Thiên Chúa và tiếp tục dẫn dắt chúng con đến với Chúa Kitô, xin giúp những ai đã hiến dâng trọn vẹn cuộc đời cho Người chiếu sáng khắp nơi bằng sự hiện diện và tình yêu của Người.


Ngày thứ tám

TRÁCH NHIỆM

Tông Đồ Giáo Dân

“Còn phần giáo dân, vì họ tham dự thực sự vào nhiệm vụ tư tế, tiên tri và vương đế của Chúa Kitô, nên họ đảm nhận, trong Giáo Hội, phần việc của mình trong sứ mệnh của toàn dân Thiên Chúa. Giáo dân thực sự thi hành việc tông đồ bằng công việc của mình để rao giảng Phúc Âm và thánh hóa nhân loại, đem tinh thần Phúc Âm thấm nhuần và hoàn hảo hóa những việc thuộc phạm vi trần thế, sao cho công việc của họ thuộc lãnh vực này làm chứng tỏ tường về Chúa Kitô và góp phần vào việc cứu độ nhân loại” (Apostolicam Actuositatem, số 2).

Trong một Giáo Hội hiệp thông, nơi mỗi người, nhờ phép Rửa và bằng vào những đặc sủng riêng của mình, tham gia vào việc loan báo Tin Mừng, chúng ta phải nhắc lại trách nhiệm đặc thù của tín hữu giáo dân. Để lấy lại những lời của thánh Phaolô, chúng ta biết rằng trong cùng một thân thể “chúng ta có những ân huệ khác nhau, theo ân sủng được ban cho chúng ta” (Rm 12,6).

Nhưng, trước tiên, điều cần thiết là chấp nhận cách cụ thể tính bổ túc các chức năng này trong sự dấn thân chúng của chúng ta cho việc phục vụ sứ mạng của Giáo Hội và trong việc tổ chức hoạt động mục vụ của Giáo Hội. Khả năng duy nhất để:

Toàn thân lớn lên theo vai trò của mỗi bộ phận”      (Ep 4,16).

Ở đây, bài suy niệm của chúng tôi tập trung vào chỗ đứng đặc thù của tín hữu giáo dân trong sự quân bình và hiệp thông của thân thể Giáo Hội.

Sắc lệnh này của Công đồng hoàn toàn nằm trong, đồng thời bổ túc, viễn ảnh của Hiến chế về Giáo Hội, trong đó được nhắc nhớ rằng “giáo dân được Thiên Chúa kêu gọi, để dưới sự hướng dẫn của tinh thần Phúc Âm, như men từ bên trong, họ thánh hóa thế giới bằng việc thi hành những nhiệm vụ của mình; và như thế, với lòng tin cậy mến sáng ngời, và nhất là với bằng chứng đời sống, họ tỏ lộ Chúa Kitô cho kẻ khác” (LG, số 31).

Do sự hiệp nhất sứ mạng trong Chúa Kitô, đặc điểm của dân Thiên Chúa, chúng ta có thể nói rằng danh xưng “tông đồ” cũng được áp dụng cho tất cả các tín hữu giáo dân : “Giáo dân có bổn phận và quyền làm tông đồ do chính việc kết hợp với Chúa Kitô là Ðầu. Họ được chính Chúa chỉ định làm việc tông đồ, vì phép Rửa Tội sát nhập họ vào Nhiệm Thể Chúa Kitô, phép Thêm Sức làm cho họ nên mạnh mẽ nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần” (AA, số 3).

Nếu, trong sự tham dự vào việc Phúc Âm hóa, việc chứng tá đời sống là quan trọng, thì cũng có việc loan báo trực tiếp Chúa Kitô bằng lời nói, bằng sự hiện diện bên cạnh những người không tin và bởi tất cả những ai, bằng nhiều cách thức, tìm cách mang lại một ý nghĩa cho cuộc sống của họ. Phạm vi rộng lớn nhất của việc tông đồ giáo dân là thế giới trong toàn bộ của nó :

Giáo dân phải đảm nhận việc canh tân trật tự trần thế như là nhiệm vụ riêng, và trong nhiệm vụ đó, nhờ được ánh sáng Phúc Âm soi chiếu tinh thần của Giáo Hội hướng dẫn, và bác ái Kitô giáo thúc đẩy, họ phải trực tiếp và cương quyết hành động. Với tư cách là công dân, họ phải đem khả năng chuyên môn cùng tinh thần trách nhiệm để cộng tác với các công dân khác” (số 3).

Vì thế, các lãnh vực trong đó sứ mạng tông đồ đặc thù của giáo dân được thực thi là rất nhiều: các cộng đoàn của Giáo Hội, gia đình, giới trẻ, môi trường xã hội và cả phạm vi quốc gia và quốc tế. Do đó, thật lô-gíc khi các hình thức của sứ mạng tông đồ là rất khác nhau. Công đồng phân biệt sứ mạng tông đồ cá nhân và có tổ chức.

Trong sứ mạng tông đồ cá nhân – sứ mạng có thể thích ứng và khả thi duy nhất trong một số hoàn cảnh – cần phải ghi nhận nhiều trường hợp trong đó người Công giáo ít ỏi và tản mác : “Trong những hoàn cảnh này […] giáo dân hợp lại cách hữu ích thành từng tổ nhỏ không cần đến hình thức tổ chức hay hệ thống chặt chẽ, miễn sao người khác thấy được dấu hiệu của cộng đoàn Giáo Hội như bằng chứng đích thực của tình thương” (số 17).

Sứ mạng tông đồ có tổ chức được thực thi trong sự đa dạng các hội đoàn và các tổ chức mà “tự nó không phải là cứu cánh, nhưng phải nhằm giúp Giáo Hội chu toàn sứ mệnh đối với trần gian. Các hội đoàn chỉ có giá trị tông đồ nhờ ở chỗ phù hợp với các mục tiêu của Giáo Hội, ở phẩm giá kitô hữu của chứng tá của họ và ở tinh thần Tin Mừng của mỗi hội viên và của cả hội đoàn” (số 19). Cho đến đây, Giáo Hội đã biết đến và khuyến khích nhiều tổ chức, trong nhiều trường hợp được tập hợp dưới từ ngữ “Công giáo tiến hành” và được nổi bật bởi sự cộng tác giữa giáo dân và các vị hữu trách của hàng giáo phẩm. Những hình thức tông đồ này, dù danh xưng là gì, đã và vẫn là phong nhiêu đối với sứ mạng của Giáo Hội.

Thế nhưng, không có khuôn mẫu nào là tự túc tự đủ cho chính nó và sự tiến triển của xã hội hiện nay có thể dẫn đến chỗ phải hình dung những cơ cấu mới, dù vẫn duy trì các cơ cấu hiện tại : “Giáo dân có quyền lập hội đoàn, điều khiển hội đoàn và ghi tên vào các hội đoàn đã có sẵn, miễn là phải giữ mối liên lạc cần thiết với giáo quyền” (số 19).

Công đồng nhấn mạnh đến sự nâng đỡ mà các giám mục phải mang lại cho sứ mạng tông đồ giáo dân, bằng việc nhìn nhận và tạo điều kiện cho hoạt động của họ:“Như thế, khi tổ chức công việc tông đồ tùy theo cách thức khác cho hợp với hoàn cảnh, hàng giáo phẩm liên kết chặt chẽ hơn một hình thức tông đồ giáo dân nào đó với phận vụ tông đồ của mình, tuy nhiên vẫn giữ nguyên vẹn bản chất và sự khác biệt giữa hai bên. Giáo dân do đấy vẫn còn khả năng cần thiết để được tự do hành động theo sáng kiến riêng của họ” (số 24).

Những thập niên tiếp theo Công đồng đã cho phép một sự nhìn nhận tốt hơn trách nhiệm thực sự của các tín hữu giáo dân. Độc lập với mọi khung cảnh khó khăn về thể chế, đơn giản do chính bản chất của Giáo Hội.

Thành ngữ “tông đồ giáo dân” trước tiên đã ứng dụng cho các phong trào tông đồ hay hoạt động Công giáo hơn. Ngày nay, nó có thể và phải cho thấy không chỉ sự phát triển của các phong trào và các cộng đoàn mới, nhưng còn sự dấn thân tông đồ của giáo dân trong sự đa dạng các hội đoàn và nơi chốn: các giáo xứ, các cơ sở tuyên úy hay nhiều cơ cấu khác của Giáo Hội. Chính tổng thể này diễn tả, cách bổ túc và hiệp thông, đời sống và sứ mạng của Giáo Hội ở trung tâm của các giáo phận của chúng ta.

Anh em là thân thể của Đức Ki-tô, và anh em, mỗi người về phần mình, là những chi thể của Người” (1Cr 12,27).

Bản văn suy niệm: 1Cr 12,1-31.

Lạy Chúa Thánh Thần, Chúa là Đấng phân phát các ân huệ và các đặc sủng trong Giáo Hội, xin giúp đỡ mọi tín hữu giáo dân tìm được chỗ đứng của mình trong các cộng đoàn kitô hữu và đảm nhận cách trọn vẹn trách nhiệm phép Rửa của mình.


Ngày thứ chín

TÍNH ĐA DẠNG

Các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương

 

“Giáo hội Công Giáo rất mực tôn trọng những quy chế, nghi lễ phụng vụ, truyền thống Giáo hội và quy luật của đời sống Kitô giáo nơi các Giáo hội Công Giáo Đông Phương. Thật vậy, truyền thống từ các Tông Đồ qua các Giáo Phụ vẫn được sáng tỏ nơi các Giáo Hội vốn nổi danh nhờ sự cổ kính đáng mộ mến ấy. Chính Truyền Thống này tạo nên một phần Mạc Khải của Thiên Chúa và một phần gia sản nguyên tuyền của toàn thể Giáo Hội. Vì thế, trong niềm ưu ái đối với các Giáo Hội Đông Phương là những chứng tá sống động của Truyền Thống trên, Thánh Công Đồng này ước mong các Giáo Hội ấy được thịnh vượng và biết chu toàn phận vụ đã được trao phó với tinh thần tông đồ hăng say mới mẻ.” (Orientalium Ecclesiarum, số 1)

Có nguồn gốc từ Đông Phương, Kitô giáo được sinh ra tại đó. Từ những thế kỷ đầu, trong sự đa dạng của các truyền thống và các nghi lễ, việc mở rộng Giáo Hội dần dần được thực hiện mà không đe dọa đến sự hiệp nhất. Sự bổ túc giữa các Giáo Phụ Hy Lạp và La Tinh về việc này là một dấu chỉ hùng hồn. Nếu đã có một cuộc xung đột giữa Rôma và Constantinople năm 1054 dẫn đến một cuộc ly khai thực sự giữa Chính Thống Giáo và Công Giáo – hiện nay cả hai đã cùng dấn bước vào tiến trìnhđại kết thật sự – thì ngày nay luôn có các Giáo Hội Đông Phương hiệp nhất với Rôma. Trung thành với các truyền thống lâu đời của mình, họ cũng cho phép chúng ta đón nhận được những hoa trái tinh thần và được thừa hưởng sự phong phú phụng vụ và thần bí của các truyền thống ấy cũng như ý thức rất mạnh mẽ của họ về mầu nhiệm Kitô giáo.

Như thánh Phaolô đã từng nói với các tín hữu Rôma từ Đông Phương và nhắc lại sự hiệp nhất đức tin với họ, thì ngày nay, Rôma và Tây Phương có thể đối thoại với Giáo Hội Đông Phương, biết rằng nước của hai dòng sông lớn chảy tràn trên hai miền đất khác nhau là cùng một nguồn.

“Tôi rất ước ao được gặp anh em, để chia sẻ với anh em phần nào ân huệ của Thánh Thần, nhờ đó anh em vững mạnh, nghĩa là để chúng ta cùng khích lệ nhau, bởi vì cả anh em cùng tôi, chúng ta đều chung một niềm tin.” (Rm 1,11-12).

Từ Sắc lệnh ngắn này, bài suy niệm của chúng tôi tập trung vào những sự phong phú của Giáo Hội Đông Phương và sự đa dạng của các truyền thống trong sự hiệp thông của Giáo Hội hoàn vũ.

Đó chính là điều mà Công đồng chỉ rõ khi nhắc đến, trước hết, vị thế và vai trò của các Giáo Hội địa phương trong Giáo Hội hoàn vũ : “Các Giáo Hội này thông hiệp với nhau một cách lạ lùng đến nỗi những sắc thái khác biệt trong Giáo Hội không những không phương hại mà còn làm sáng tỏ thêm sự hiệp nhất. Thật ra, Giáo Hội Công Giáo muốn bảo toàn các truyền thống của từng Giáo Hội riêng biệt hay các nghi lễ” (số 2). “Xét theo phẩm giá, các Giáo Hội này đều ngang hàng với nhau, đến nỗi trên bình diện lễ chế không một Giáo Hội nào trổi vượt trên các Giáo Hội khác” (số 3).

Việc biểu lộ rõ ràng ý muốn tôn trọng và đón nhận khắp nơi những nghi lễ đặc thù của các Giáo Hội Đông Phươngđến từ việc công nhận di sản tinh thần của họ và sự đóng góp của họ cho toàn thể Giáo Hội :

“Lịch sử, các truyền thống, và rất nhiều thể chế trong Giáo Hội đều chứng minh rõ ràng rằng các Giáo Hội Đông Phương có công biết bao đối với toàn thể Giáo Hội. Vì vậy, Công đồng không những hết lòng yêu mến và ca ngợi đúng mức gia sản tinh thần của các Giáo Hội này, mà còn xác quyết đó là sản nghiệp của toàn thể Giáo Hội Chúa Kitô” (số 5).

Công đồng xác định cương vị và vai trò của các Thượng Phụ Đông Phương, những Giám mục có quyền trên các Giám mục khác, các linh mục và các tín hữu trong địa hạt hay thuộc nghi lễ của họ. Quy chế này có nguồn gốc từ những thời xa xưa nhất của Giáo Hội. “Các ngài cai quản địa hạt của mình như những người cha và thủ lãnh” (số 9).

Việc cử hành phụng thờ Thiên Chúa phải chú ý đến các truyền thống cũng như các nghi lễ riêng biệt của các Giáo Hội và, trong các Bí tích mà các linh mục có thể ban, Công đồng đã phục hồi – khi nại đến một truyền thống rất cổ xưa – Bí tích Dầu Thánh[2] (Giáo Hội Tây Phương gọi là Bí tích Thêm Sức) : “Tất cả các linh mục Đông Phương có thể ban Bí tích này thành sự cùng một trật với phép Rửa Tội, hoặc riêng rẽ, cho mọi tín hữu thuộc bất cứ nghi lễ nào, kể cả nghi lễ La Tinh” (số 14).

Nhắc nhở cho người Công giáo Đông Phương sự cần thiết của việc họ tham gia vào tiến trình đại kết “bằng việc tìm hiểu lẫn nhau sau xa hơn, cộng tác và quý trọng con người cùng sự vật trong tình huynh đệ” (số 24), Công đồng đề cập đến vần đề quan trọng về mối quan hệ với các anh em Đông Phương ly khai với Rôma. Về vấn đề này, một yếu tố, thường không được nhận thức rõ nơi các tín hữu Công giáo, phải được nhắc lại : tính hợp pháp của linh mục trong Giáo Hội Chính Thống. Cũng thế :

“Có thể ban các Bí tích Cáo Giải, Thánh Thể và Xức Dầu Bệnh Nhân cho những tín hữu Đông Phương vì ý ngay lành đã ly khai với Giáo Hội Công Giáo, nếu tự ý họ xin và đã chuẩn bị tâm hồn một cách thích đáng. Hơn nữa người Công giáo cũng được quyền xin chịu những Bí tích này nơi các thừa tác viên ngoài Công giáo thuộc những Giáo Hội có những Bí tích ấy thành sự, mỗi khi cần thiết hay ích lợi thiêng liêng đòi hỏi, trong trường hợp ngăn trở thể lý cũng như luân lý, không thể tìm tới linh mục Công giáo được” (số 27).

“Ánh sáng của Đông Phương đã chiếu sáng Giáo Hội hoàn vũ”, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II viết trong phần mở đầu Tông thư Ánh sáng Đông Phương (Orientale Lumen). Hai truyền thống lớn Đông Phương và Tây Phương – mà vị Giáo Hoàng này thích sánh với “hai lá phổi” làm cho Giáo Hội thở – bổ túc và cần đến nhau.

“Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống”. (Ga 8,12)

Bản văn suy niệm : Rm 1,1-15

Lạy Chúa Thánh Thần, thần khí Chúa lan tỏa khắp cùng thế giới, xin cho chúng con hiểu được sự phong phú, trong lòng Giáo Hội, của tất cả các truyền thống tinh thần trong tính đa dạng của chúng.

 

 


 

NHỮNG PHƯƠNG TIỆN

Trong sứ mệnh rao truyền Tin Mừng của mình, Giáo Hội cũng đảm nhận trách nhiệm giáo dục và đưa ra những phương tiện để phổ biến sứ điệp của Chúa Kitô.

AG      Ad Gentes

            Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo của Giáo Hội.

GE       Gravissimum Educationis

            Tuyên ngôn về giáo dục Kitô giáo.

IM       Inter Mirifica

            Sắc lệnh về các phương tiện truyền thông xã hội.

Ngày thứ mười

PHÚC ÂM HÓA

Hoạt Động Truyền Giáo Của Giáo Hội

 

“Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28,19-20). […] Vì thế, sứ mệnh của Giáo Hội được hoàn tất do việc Giáo Hội vâng lệnh Chúa Kitô, được ân sủng và tình thương Chúa Thánh Thần thúc đẩy, đã trở nên hoàn toàn thực sự có mặt nơi mọi người hay mọi dân tộc, để nhờ gương mẫu đời sống, lời giảng dạy, các Bí tích và những phương tiện ban ân sủng khác, Giáo Hội sẽ dẫn họ đến đức tin, tự do và hòa bình của Chúa Kitô: nhờ đó họ thấy con đường tự do và vững chắc để tham dự trọn vẹn mầu nhiệm Chúa Kitô (Ad Gentes, số 5).

Đối với tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là lý do để tự hào, mà đó là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9,16). Lời thốt lên này của thánh Phaolô Tông đồ diễn tả rõ trong tính hiện thực của nó những gì mà, từ nguyên thủy Kitô giáo,nêu bật việc Phúc Âm Hóa : thông truyền những lời nói và giáo huấn của Chúa Giêsu Kitô và làm chứng cho sự hiện diện của Ngài. Không ai có thể tự nhận mình là môn đệ Chúa Giêsu mà lại không nói về Ngài và không tuyên xưng đức tin của mình.

Cũng thế, ơn gọi của Giáo Hội không phải là tự loan báo chính mình hay là tự làm chứng cho mình nhưng là mạc khải Thiên Chúa cho nhân loại, dẫn đến với Chúa Kitô và thông truyền hơi thở của Thánh Thần nơi mình cũng như sứ điệp căn bản của Tin Mừng mà cấu thành Giáo Hội. Cùng đích của Giáo Hội trước tiên không hệ tại bởi sự cân bằng mang tính thể chế nội tại, tuy rằng điều đó là quan trọng, nhưng là bởi sứ mệnh được đón nhận liên lỉ từ Chúa Kitô: loan báo Tin Mừng cho thế giới, với những hệ quả thiêng liêng, văn hóa và luân lý của nó.

Sự sống đời đời là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giêsu Kitô” (Ga 17,3).

Ở đây, bài suy niệm của chúng tôi tập trung vào sự trung thành của Giáo Hội với ý muốn của Chúa Kitô : mọi người được đón nhận Tin Mừng và khám phá ra Thiên Chúa.

Trước tiên, Công Đồng nhắc lại chiều kích Ba Ngôi của sứ mạng. Kế hoạch của Chúa Cha là “mời gọi mọi người tham dự vào sự sống của Ngài, không những chỉ từng cá nhân không liên lạc gì với nhau, mà Ngài còn liên kết họ thành một dân duy nhất, trong đó đoàn tụ mọi con cái đã tản mác khắp nơi”      (số 2). Sứ mạng của Chúa Con, Đấng đảm nhận nhân tính, là “làm trung gian đích thực giữa Thiên Chúa và nhân loại và làm cho loài người thông phần vào bản tính Thiên Chúa, là củng cố hòa bình và xây dựng tình huynh đệ giữa con người” (số 3). Sứ mạng của Chúa Thánh Thần là tạo sự hiệp nhất và ban sự sống cho Giáo Hội. “Đôi khi Chúa Thánh Thần can thiệp một cách hữu hình trước hoạt động truyền giáo, cũng như không ngừng dùng những phương thế khác nhau để theo sát và hướng dẫn” (số 4).

Mọi hoạt động truyền giáo đều khởi từ sự kiện Giáo Hội được Chúa Kitô sai đến với toàn thế giới để bày tỏ đức tin và trở nên dấu chỉ của niềm hy vọng. Nếu mục đích đầu tiên của sứ mạng là “rao giảng Tin Mừng và vun trồng Giáo Hội nơi các dân tộc, cũng như những nhóm người chưa tin Chúa Kitô”(số 6),thì điều này không phải là không liên quan đến những nhu cầu căn bản của nhân loại :

“Hoạt động truyền giáo cũng liên kết chặt chẽ với chính bản tính nhân loại và những ước vọng của con người. Thực vậy, khi biểu dương Chúa Kitô, chính là Giáo Hội mạc khải cho con người biết chân lý đích thực về hoàn cảnh và ơn gọi toàn diện của họ, vì Chúa Kitô là nguyên lý và mẫu mực của nhân loại đổi mới, một nhân loại thấm nhuần tình thương huynh đệ, sự thành thật và tinh thần hòa bình mà mọi người đều ước nguyện” (số 8).

Công đồng nhận thức rằng công việc truyền giáo vẫn còn bao la so với con số ngày càng gia tăng những người còn chưa nghe biết, hoặc chỉ mới nghe sơ qua về sứ điệp Tin Mừng. “Để có thể trình bày cho mọi người mầu nhiệm cứu rỗi và sự sống đã được Chúa thông ban, Giáo Hội phải thấm nhập vào tất cả những nhóm người đó theo cùng một chiều hướng như chính Chúa Kitô, Đấng đã nhờ việc nhập thể để liên kết mình với những hoàn cảnh nhất định về xã hội và văn hóa của những người Chúa cùng chung sống” (số 10).

Công cuộc truyền giáo dựa trên đời sống chứng tá, việc rao giảng Tin Mừng, lời mời gọi hoán cải và thành lập các cộng đoàn kitô hữu : cộng đoàn tín hữu, thiết lập hàng giáo sĩ bản xứ, đào tạo giảng viên giáo lý và cổ võ đời sống tu trì. Chính trong khuôn khổ này mà Công Đồng đã quyết định thiết lập lại chức phó tế vĩnh viễn, theo nhận định của các Hội Đồng Giám Mục (x. số 16).

Như vậy, sứ mạng còn phải ngang qua sự tiến triển và hoạt động của các Giáo Hội trẻ biết cảm thông, sống với và củng cố mối liên hệ với Giáo Hội hoàn vũ. “Các Giáo Hội trẻ phải liên kết những yếu tố của truyền thống Giáo Hội với nền văn hóa riêng. (…) Do đó, phải trau dồi những yếu tố thần học, tâm lý và nhân bản có thể góp phần vào việc cổ võ cảm thức hiệp thông cùng toàn thể Giáo Hội” (số 19).

Thế nhưng, việc Phúc Âm Hóa không chỉ liên hệ đến những nhà truyền giáo “đủ tư cách” tuy rằng linh đạo và sự dấn thân mục vụ của họ là cần thiết. Chính toàn thể Giáo Hội là nhà truyền giáo :

“Vì dân Chúa sống trong các cộng đoàn, nhất là các cộng đoàn giáo phận và giáo xứ và tỏ ra hữu hình một cách nào đó trong các cộng đoàn trên, nên các cộng đoàn đó cũng phải minh chứng về Chúa Kitô trước mặt muôn dân”(số 37).

Nếu chúng ta nói về một cuộc “Tân Phúc Âm Hóa”, thì nó hoàn toàn thuộc phạm vi của hoạt động truyền giáo liên lỉ của Giáo Hội. Cho đến nay, Giáo Hội không hề có ý định làm giảm giá trị hoặc muốn thay thế những phương tiện mà nhờ đó, Giáo Hội đã làm tròn sứ mạng của mình. Hơn thế nữa, nhờ những phương tiện vốn cắm rễ sâu trong truyền thống vững chắc nhất nhưng vẫn mở ra trước làn gió mới của Thánh Thần, Giáo Hội còn tiến bước trên những con đường mới để làm cho nhân loại nhận biết Tin Mừng.

Ngày nay, hơn bao giờ hết, Chúa Kitô mời gọi chúng ta nhìn lên phía trước với niềm trông cậy và đi theo Ngài trong sứ mệnh mà Ngài giao phó cho chúng ta.

Tôi đến để cho trần gian được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).

Bản văn suy niệm : Mc 6,6-13

Lạy Chúa Giêsu, Chúa muốn mọi người đều được cứu độ và nhận biết chân lý, xin giúp chúng con biết tham gia vào sứ mệnh Phúc Âm Hóa của Giáo Hội nơi chúng con sinh sống.


Ngày thứ mười một

ĐÀO TẠO

Giáo Dục Kitô Giáo

 

“Vai trò vô cùng quan trọng của việc giáo dục trong đời sống con người và ảnh hưởng của nó luôn gia tăng trên đà tiến triển của xã hội hiện nay đã được Công đồng đặc biệt lưu ý. Quả thực hoàn cảnh của thời đại chúng ta làm cho việc giáo dục thanh thiếu niên, ngay cả việc tiếp tục huấn luyện giới trưởng thành, trở nên ngày một dễ dàng và khẩn cấp hơn. Vì ý thức đầy đủ hơn về phẩm giá và bổn phận của mình, nên con người ao ước được tham dự tích cực vào đời sống xã hội, nhất là đời sống kinh tế và chính trị” (Lời mở đầu Tuyên Ngôn về Giáo Dục Kitô Giáo (Gravissimum Educationis)).

Trong số các phương tiện mà Giáo Hội đưa ra, vì trách nhiệm nhân bản và tâm linh của Giáo Hội, việc đào tạo chiếm một vị trí chính yếu. Vả lại, trong lĩnh vực này, những người kitô hữu, nhân danh đức tin của mình, liên đới với những nỗ lực mà các xã hội chúng ta phải làm để cho phép nhiều bạn trẻ và người lớn hết sức có thể có được những điểm tựa cần thiết cho việc thể hiện trọn vẹn cuộc đời của mình. Ngày nay, giáo dục nhân vị là gì, xét vì nhiều mạng lưới và những pha trộn các thông tin, những kiến thức và các cuộc tranh luận tạo nên môi trường của nó ?

Giáo hội nhắc nhở rằng Mạc Khải đã biểu lộ những gì người ta có thể gọi là một nền sư phạm thực sự của Thiên Chúa. Nền sư phạm này thể hiện qua việc giảng dạy của Chúa Giêsu, “Nhà Sư Phạm”, như Clêmentê thành Alexandria đã gọi, khi chứng minh, trong tác phẩm mang tựa đề này, rằng Ngôi Lời Thiên Chúa là nhà giáo dục con người. Qua những dụ ngôn, những cuộc đối thoại và mối ưu tư thường xuyên đào tạo các môn đệ của mình (Mc 4,1-34), Chúa Giêsu đã cư xử với tư cách là nhà giáo dục lương tâm đích thực, không chỉ cho các môn đệ của Ngài nhưng còn cho đám đông mà Ngài đang nói.

 “Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư” (Mc 1,22).

Ở đây, bài suy niệm của chúng tôi tập trung vào sự quan tâm của Giáo hội đến chiều kích chính yếu này của việc phát triển cá nhân và xã hội.

Việc giáo dục, cần thiết cho sự quân bình của con người, không phân biệt sắc tộc, tuổi tác hoặc thân phận, “là một quyền bất khả nhượng”. Và điều đó còn hơn thế nữa vì  mục đích mà nền giáo dục đích thực theo đuổi là đào tạo con người, nhằm đạt tới cùng đích của mình cũng như lợi ích của các đoàn thể mà họ là đoàn viên, và họ sẽ tham gia phục vụ khi đến tuổi trưởng thành” (GE, số 1).

Đối với Công đồng, một khi khuôn khổ rộng lớn nhất của giáo dục được đặt ra, thì vấn đề là đề cập nó trong viễn ảnh Kitô giáo, nhưng cùng những nền tảng như nhau. “Nhờ việc tái sinh bởi nước và Thánh Thần, đã trở nên những tạo vật mới, được gọi là con Thiên Chúa và quả thực như thế, nên mọi kitô hữu đều có quyền hưởng một nền giáo dục Kitô giáo” (số 2). Việc đao tạo được tiếp nhận phải cho phép hiểu biết rõ hơn về mầu nhiệm đức tin và có khả năng tham dự vào đời sống Giáo Hội.

Hơn nữa, vì ý thức được ơn kêu gọi của mình, chính họ phải tập thói quen minh chứng niềm cậy trông của mình (x.1Pr 3,15) cũng như phải giúp cải tạo thế giới theo tinh thần Kitô giáo. Nhờ đó những giá trị tự nhiên sẽ góp phần vào lợi ích của toàn thể xã hội, khi được hòa hợp vào viễn ảnh toàn vẹn của con người được Chúa Kitô cứu chuộc” (số 2).

 Giữa nhưng phương thế đào tạo khác nhau, và cũng quan tâm đến những khả năng khác nhau thuộc về di sản chung của nhân loại, “trước hết có việc giảng dạy giáo lý nhằm soi sáng và củng cố đức tin, nuôi dưỡng đời sống theo tinh thần Chúa Kitô, đưa đến việc ý thức và tham dự linh động vào mầu nhiệm phụng vụ, khuyến khích hoạt động tông đồ” (số 4).

Nhưng, tất nhiên, những nơi giáo dục đầu tiên là trường học và toàn bộ những cơ cấu của hệ thống trường học. Công đồng nhắc lại sứ mạng quan trọng của chúng như là những nơi phát triển trí tuệ và tiếp cận di sản văn hóa. “Hơn nữa học đường còn trở nên như một trung tâm hoạt động và tiến bộ, tại đây cần đến sự tham dự của gia đình, thầy dạy, mọi đoàn thể có mục đích phát triển đời sống văn hóa, đời sống công dân và tôn giáo, cả chính quyền cũng như toàn thể cộng đoàn nhân loại” (số 5).

Chính trong khuôn khổ rộng lớn hơn này mà vấn đề giảng dạy tôn giáo được đặt ra trong các trường công. Các tranh luận không tránh khỏi về điểm này, do các trình độ trường học khác nhau, không thể cản trở một sự hòa hợp nền tảng và sự liên kết tốt hơn của các mạng lưới đào tạo và giáo dục. “Giáo Hội còn ca ngợi những cơ quan cũng như các đoàn thể dân sự nào chủ trương thuyết đa dạng trong xã hội hiện nay và chú tâm đến quyền tự do tôn giáo, giúp đỡ các gia đình để việc giáo dục con cái nơi học đường được phù hợp với các nguyên tắc luân lý và tôn giáo riêng của gia đình họ” (số 7).

Giáo Hội cũng đảm nhận và nhìn nhận sứ mạng và công việc của nhiều trường Công giáo. Trong sự đa dạng và tính riêng biệt của chúng, chúng có một vai trò phục vụ xã hội thực sự.

“Trường công giáo còn giữ một vai trò rất quan trọng trong hoàn cảnh chúng ta đang sống, vì có khả năng góp phần lớn lao trong việc chu toàn sứ mệnh của dân Thiên Chúa và giúp cuộc đối thoại giữa Giáo Hội và cộng đoàn nhân loại nhằm đạt tới lợi ích cho cả đôi bên” (số 8).

Ở đây, làm sao không nhắc lại sự đóng góp quan trọng của nền giáo dục cao học Công giáo? Các trường đại học công giáo, có mặt trên toàn thế giới, qua khả năng của mình, đem lại vinh dự cho việc suy tư và tìm kiếm ở mức độ cao nhất. Đặc biệt qua các phân khoa thần học của mình, chúng là những liên kết giữa sứ điệp Kitô giáo và thế giới đương đại.

Công đồng khuyến khích tất cả những nơi giảng dạy và giáo dục Kitô giáo phải tỏ ra trổi vượt qua mối ưu tư của mình trong việc truyền cảm “tinh thần Chúa Kitô, qua giá trị sư phạm của mình và qua việc nghiên cứu các khoa học, để chúng không những đẩy mạnh cuộc canh tân bên trong Giáo Hội mà còn duy trì và phát huy thêm sự hiện diện hữu ích của Giáo Hội trong thế giới ngày nay, nhất là trong lãnh vực văn hóa” (Kết luận).

Việc đào tạo, khởi đầu hoặc thường xuyên, phải vẫn là đối tượng của một sự quan tâm và một sự đầu tư liên lỉ của Giáo Hội, trong sứ mạng giáo dục của mình. Qua toàn bộ các trường học của mình,  Giáo Hội có thể thúc đẩy những sự hợp tác đích thực với những cơ cấu sư phạm và đào tạo khác nhau của xã hội. Là người thừa hưởng một truyền thống suy tư và nghiên cứu lâu đời, Giáo Hội tiếp tục múc lấy trong sự phong phú và trong sự đóng góp của Mạc khải và Lời Thiên Chúa.

“ Tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng, và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính” (2Tm 3,6).

 Bản văn suy niệm : Ga 3,1-21.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã biết đào tạo và chuẩn bị các môn đệ của Chúa cho việc loan báo Tin Mừng, xin ban cho Giáo Hội chu toàn sứ mạng giáo dục lương tâm, trên thế giới và nơi mỗi người.

Ngày thứ mười hai

TRUYỀN THÔNG

Các Phương Tiện Truyền Thông Xã Hội

“ Trong những phát minh kỳ diệu về kỹ thuật, mà, nhờ ơn Chúa, tài năng con người đã từng khai thác từ tạo vật, nhất là trong thời đại chúng ta, thì Giáo Hội là Mẹ, đặc biệt ân cần tiếp đón và theo dõi, từ những phát minh liên quan đặc biệt tới tinh thần con người, đến những phát minh mở nhiều con đường mới để truyền thông một cách hết sức dễ dàng đủ các loại tin tức, tư tưởng và mệnh lệnh. Tuy nhiên giữa những phát minh này, trổi vượt hơn cả là những phương tiện tự bản tính không những có liên hệ và ảnh hưởng đến từng người, mà còn đến chính đại chúng và toàn thể xã hội nhân loại […]. Do đó những phương tiện này đáng được gọi là những phương tiện truyền thông xã hội ” (Inter Mirifica, số 1).

Ngày nay, những lời này của Công đồng đang ở đâu, năm mươi năm sau ngày ban hành Sắc lệnh và trong khung cảnh hiện tại của sự phát triển liên tục các công nghệ kỹ thuật thông tin mới và của truyền thông ? Phải chăng chúng trở nên lạc lõng ? Có lẽ không như người ta nghĩ. Vì dù hoàn toàn chỉ quy chiếu đến các phương tiện đã được phát triển trong thập niên 60 (báo chí, điện ảnh, phát thanh, truyền hình), thế nhưng, Giáo Hội, về sứ mạng Phúc Âm hóa của mình, đã nhìn nhận cách rõ ràng tầm quan trọng của tất cả các mạng lưới truyền thông.

Ngày nay, các kitô hữu ý thức hơn về trách nhiệm của mình, trong nền văn hóa truyền thông và kỹ thuật số mới mẻ đang mở ra trên mọi bình diện của đời sống công cộng và của kinh nghiệm xã hội.

Thế nhưng làm sao họ kêu cầu Đấng họ không tin? Làm sao họ tin Đấng họ không được nghe? Làm sao mà nghe, nếu không có ai rao giảng? ” (Rm 10,14).

Ở đây, bài suy niệm của chúng tôi tập trung vào sự cần thiết của các phương tiện tiếp sức cho phép Tin Mừng được thông truyền khắp nơi và cho mọi người.

Đối với Công đồng, các công cụ truyền thông có thể đóng góp, “ cách hữu hiệu, vào việc giải trí, huấn luyện tinh thần cũng như việc mở rộng và củng cố Nước Chúa ”          (IM, số 2).

Vì thế, việc loan báo sứ điệp Tin Mừngtrên phạm vi toàn cầu không thể được thực hiện nếu không có sự hỗ trợ truyền thông, màdù tạo được ảnh hưởng đáng kể, nhưng theo đà phát triển của mình, chúng vẫn đặt ra những vấn đề mới về đạo đức.

Trong khi nhắc lại quyền tiếp cận thông tin của mỗi người, Công đồng vẫn chỉ ra một vài đòi hỏi thuộc trật tự luân lý, trong phương thức hoạt động của các phương tiện truyền thông. “ Sức mạnh tác động của chúng, sức mạnh đó có thể hùng hậu đến nỗi con người – nhất là nếu không được chuẩn bị – khó có thể nhận thức ” (số 4). Thế mà, cách riêng trong lãnh vực nghệ thuật, “ trật tự luân lý khách quan bó buộc hết mọi người ”, vì “ chỉ có trật tự luân lý mới đạt đến toàn diện bản tính con người, một tạo vật có lý trí mà Thiên Chúa đã tạo dựng và mời gọi vào đời sống siêu nhiên ” (số 6).

Tuy nhiên, có thể xảy ra rằng “ việc tường thuật, mô tả hay trình bày điều xấu về phương diện luân lý, ngay cả bằng những phương tiện truyền thông xã hội, chắc chắn có thể giúp nhận biết và khám phá con người một cách sâu rộng hơn, giúp bày tỏ và biểu dương vẻ huy hoàng của điều Chân, điều Thiện, nếu người ta sắp xếp các các tác động kịch nghệ thích hợp ” (số 7).

Do ảnh hưởng của dư luận trên đời sống của các công dân, Công đồng nhắc lại không chỉ các quyền của người dùng, của giới trẻ và các bậc cha mẹ mà còn của các nhà sản xuất và chính quyền nữa. Quả thế, chính quyền có trách nhiệm bảo vệ “ sự tự do đích thực và chính đáng của việc thông tin, sự tự do mà xã hội ngày nay rất cần để tiến bộ, nhất là những gì thuộc về báo chí; chính quyền cũng có bổn phận nâng đỡ tôn giáo, văn hóa, những nghệ thuật chân chính, và phải bảo đảm cho những người xử dụng có thể tự do hưởng thụ quyền lợi chính đáng ” (số 12).

Giáo Hội kiên quyết dấn thân trong việc khích lệ các mục tử, giám mục và linh mục, và cách riêng giáo dân, “ qua nghề nghiệp, tham gia vào việc sử dụng những phương tiện này cũng phải cố gắng làm chứng về Chúa Kitô: trước hết bằng cách hoàn tất mọi công tác cho thành thạo với tinh thần tông đồ, rồi tùy khả năng kỹ thuật, kinh tế, văn hóa và nghệ thuật mà trực tiếp trợ giúp hoạt động mục vụ của Giáo Hội theo khả năng của mỗi người ” (số 13).

Khi sử dụng các phương tiện truyền thông một cách biện phân, các kitô hữu được khuyến khích trở nên “ như muối và ánh sáng. Họ ướp trái đất và soi sáng trần gian […]. Nhờ vậy, cũng như xưa Danh Chúa đã được tôn vinh qua những công trình nghệ thuật cổ kính, thì nay Người cũng được vinh danh qua những phát minh mới, đúng như lời của thánh Tông Ðồ : “Chúa Giêsu Kitô hôm qua cũng chính là Chúa Giêsu Kitô hôm nay và cho đến muôn đời” (Dt 13,8) ” (số 24).

Nhiều khía cạnh nơi Sắc lệnh này của công đồng, chắc chắn rất tùy thuộc vào thời đại của chúng, đã được thay thế bằng một sự khảo cứu hữu hiệu trong phạm vi rộng lớn của truyền thông. Ngày nay, điều quan trọng là đảm bảo và duy trì ở đó sự hiện diện của Giáo Hội, dĩ nhiên bằng việc chứng tỏ sự phân định luân lý, nhưng còn sự canh tân và tính sáng tạo nữa. Điều đó có liên hệ đến trách nhiệm chung của người kitô hữu, cách riêng được làm nổi bật bởi sự phát triển mạng lưới Internet vàcác mạng lưới thông tin.

Một bước tiến quan trọng đã được thực hiện bởi quyền mà Giáo Hội nhìn nhận, đó là quyền sử dụng và sở hữu vô hạn định mọi phương tiện và công cụ, không chỉ có ích cho việc đào tạo người kitô hữu và hoạt động mục vụ mà còn cho phép tiếp cận di sản tinh thần của Kitô giáo, hầu mưu ích cho con người.

Trong khả năng và hoàn cảnh sống của mình, thánh Luca, tác giả cuốn Tin Mừng thứ ba và sách Công Vụ, đã tỏ ra tha thiết với sự thông truyền hiệu quả đời sống và thông điệp của Đức Kitô :

Thưa ngài Thê-ô-phi-lô đáng kính, có nhiều người đã ra công soạn bản tường thuật những sự việc đã được thực hiện giữa chúng ta. Họ viết theo những điều mà các người đã được chứng kiến ngay từ đầu và đã phục vụ Lời Chúa truyền lại cho chúng ta. Tôi cũng vậy, sau khi đã cẩn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự, thì thiết tưởng cũng nên tuần tự viết ra để kính tặng ngài, mong ngài sẽ nhận thức được rằng giáo huấn ngài đã học hỏi thật vững chắc” (Lc 1,1-4).

Bản văn suy niệm : Mt 5,1-16.

Lạy Ba Ngôi Chí Thánh, Chúa tự mạc khải trong sự hiệp nhất và hành động khác biệt của từng ngôi vị suốt dòng lịch sử, xin giúp chúng con chuyển giao và loan truyền sứ điệp Tin Mừng đến khắp cùng cõi đất.

SỰ CỞI MỞ

Giáo Hội, bởi sứ mạng của mình trong thế giới, muốn trở thành dấu chỉ của sự tự do được xây dựng nền tảng trong Chúa Kitô, của sự duy trì, nếu không phải là của sự thường xuyên tìm kiếm, sự hiệp nhất giữa các kitô hữu và sự đối thoại với các tôn giáo khác nhân danh sự thật.

DH                  Dignitatis Humanae

                        Tuyên ngôn về tự do tôn giáo.

UR                  Unitatis Redintegratio

                        Sắc lệnh về đại kết

NA                  Nostra Aetate

                        Tuyên ngôn về mối quan hệ của Giáo Hội với các tôn giáo ngoài Kitô giáo.

Ngày thứ mười ba

TỰ DO

Tự Do Tôn Giáo

 

“Quyền tự do tôn giáo được xây dựng trên phẩm giá con người, một phẩm giá đúng như lời Thiên Chúa mạc khải và chính lý trí cho biết được. Quyền tự do tôn giáo của con người trong cơ cấu pháp lý của xã hội phải được chấp nhận là một quyền lợi dân sự. Xét theo phẩm giá, mọi người, vì là những nhân vị, nghĩa là có trí khôn và ý chí tự do, nên phải chịu trách nhiệm về cá nhân mình. Vì thế, do bản tính tự nhiên thúc đẩy, cũng như do bổn phận luân lý đòi buộc, con người phải tìm kiếm chân lý, nhất là chân lý liên quan đến tôn giáo” (Dignitatis Humanae, số 2).

Dù nó được hy vọng, được yêu sách, được bo bo giữ lấy hoặc được ca tụng, thì sự tự do hẳn nhiên là thực tại thân thiết nhất nơi tâm hồn con người. Nếu việc tìm kiếm lâu dài sự tự do này trải qua lịch sử của các nền văn minh, thì nó cũng là một trong những yếu tố thiết yếu của Mạc Khải, của sự sống và sứ điệp của Chúa Kitô và của đức tin của Giáo Hội. Sự tự do Kitô giáo được khuôn đúc bởi Lời Chúa và không ngừng được đổi mới bằng hành động và hơi thở của Chúa Thánh Thần.

Nơi nào có Thánh Thần của Thiên Chúa, thì nơi đó có tự do” (2Cr 3,17). “Thưa anh em, anh em đã được gọi để hưởng tự do” (Gl 5,13).

Ở đây, bài suy niệm của chúng tôi tập trung vào các nền tảng Tin Mừng của tự do và những hệ quả của chúng trong sứ mạng thường hằng của Giáo Hội.

Dĩ nhiên, ở đây, trong ý hướng của Công đồng, nó hệ tại sự tự do tôn giáo. Nhưng sự tự do này nằm trong một khuôn khổ rộng lớn hơn phải cho phép mọi người bày tỏ, mà không bị cưỡng ép, niềm tin vào Thiên Chúa, khi nó không làm tổn hại đến trật tự công cộng : “Theo bản chất, những hành vi tôn giáo nào còn giúp con người tự ý hướng tới Thiên Chúa một cách riêng tư hay công khai đều vượt trên trật tự trần thế và thời gian của sự vật” (số 3).

Chúng ta biết tầm quan trọng ngày càng tăng, trong xã hội, của các cuộc quy tụ, của đời sống hội đoàn hay cộng đoàn. Chiều kích này làm rõ nét tôn giáo trong những biểu hiện khác nhau của nó, và cách riêng Kitô giáo từ nguyên thủy của nó. Do đó, tự do tôn giáo đòi hỏi “các cộng đoàn tôn giáo không bị ngăn cản trong việc tự do biểu lộ các hiệu năng riêng của giáo thuyết mình trong việc tổ chức xã hội và làm cho toàn thể sinh hoạt nhân loại được sống động” (số 4). Điều đó cũng có giá trị cho gia đình, “với tư cách là xã hội được hưởng quyền lợi riêng biệt và tiên quyết, có quyền tự do tổ chức đời sống tôn giáo trong gia đình mình, dưới sự hướng dẫn của cha mẹ”    (số 5).

Không chối bỏ sự kiện rằng xã hội dân sự có quyền tự bảo vệ chống lại các lạm dụng vi phạm dưới chiêu bài tự do tôn giáo, nhưng quy tắc chung phải được tuân thủ – trong sự quan tâm đến công ích – “theo đó, con người phải được tự do đến mức tối đa và chỉ bị hạn chế khi cần thiết và trong chừng mực cần thiết mà thôi” (số 7).

Đối với các kitô hữu, lý do của đòi hỏi tự do này tìm thấy nguồn mạch của nó trong Mạc Khải được hoàn tất trọn vẹn trong Chúa Kitô, trong sự gắn bó với lời Ngài và trong sự liên kết với con người của Ngài : “Nếu anh em ở lại trong Lời của Thầy, anh em thật sự là môn đệ Thầy. Anh em sẽ biết được sự thật, và sự thật sẽ làm cho anhem thành những con người tự do” (Ga 8, 32). Nhưng sự thật này không bao giờ được áp đặt. Hành vi đức tin vào Thiên Chúa và Chúa Kitô đã luôn luôn là và phải vẫn là một hành vi ưng thuận tự do :

“Một trong những điểm chính yếu của học thuyết công giáo, được chứa đựng trong Lời Chúa và hằng được các Giáo Phụ giảng dạy, là con người phải tự ý đáp lại Lời Chúa trong đời sống đức tin. Do đó, không ai bị cưỡng bách phải chấp nhận đức tin trái với ý muốn” (số 10).

Lý do chính của sự xác tín này xuất phát từ thái độ và gương mẫu của Chúa Kitô. Dù bối cảnh Tin Mừng không thể so sánh với bối cảnh chúng ta, nhưng chúng ta biết rằng Chúa Giêsu đã không bao giờ áp đặt giáo huấn của Ngài hoặc việc chọn lựa đi theo Ngài : “Quả thật, người đã trợ giúp và chứng thực lời giảng thuyết của Người bằng những phép lạ để khơi dậy và củng cố lòng tin của những thính giả chứ không phải tạo áp lực cưỡng ép họ[…]. Người đã làm chứng cho chân lý, nhưng Người không muốn dùng sức mạnh để bắt buộc những kẻ đối lập phải tin theo” (số 11).

Giáo huấn của thánh Phaolô và thực hành của các Tông đồ đã trung thành với mẫu gương của Thầy mình. Không phủ nhận tính chất hợp pháp của thẩm quyền dân sự và cũng không sợ chống lại nó, nếu cần thiết, “noi gương hiền lành và khiêm nhượng của Chúa Kitô, các ngài đã rao giảng Lời Chúa với tất cả lòng tin tưởng vào sức mạnh thần linh của Lời ấy, để phá tan mọi quyền lực chống lại Thiên Chúa, giúp mọi người trở về đức tin và vâng phục Chúa Kitô” (số 11).

Ngày nay, Giáo Hội, trong sự thông truyền và đề nghị đức tin, không thể có một viễn ảnh khác :

“Trung thành với chân lý Phúc Âm, Giáo Hội noi theo con đường của Chúa Kitô và của các Tông Ðồ, khi nhìn nhận nguyên tắc tự do tôn giáo như phù hợp với phẩm giá con người và Mạc Khải của Thiên Chúa, và Giáo Hội khuyến khích một sự tự do như thế.…” (số 12).

Nhưng phải nghĩ gì về những thời gian khó khăn mà các kitô hữu đã có thể sử dụng sự cưỡng ép bạo lực để áp đặt đức tin của mình ? Công Đồng chỉ rõ rằng : “mặc dầu đời sống của Dân Thiên Chúa, trải qua những cuộc thăng trầm của lịch sử nhân loại lữ thứ, một đôi khi cũng có những phương cách hành động ít thích hợp, hay hơn nữa trái với tinh thần Phúc Âm, tuy nhiên giáo lý Giáo Hội luôn dạy rằng không ai có thể bị cưỡng ép phải tin” (số 12).

Dưới tất cả mọi hình thức của nó, ngay cả trong những lệch hướng và chưa bao giờ được đạt tới một cách dứt khoát, sự tự do diễn đạt một ước muốn bất khả giảm thiểu của mỗi con người : đảm nhận và dẫn dắt đời sống của mình, được thực hiện cách trọn vẹn, đồng thời đấu tranh chống lại những gì bóp nghẹt nó, làm tha hóa hay phá vỡ nghị lực tinh thần và ý chí đạt đến mục đích mong muốn.

Vì viễn ảnh rộng lớn này đã được công nhận, nên “tự do tôn giáo” phải được hiểu trong một ý nghĩa kép: sự tự do, được đòi hỏi bởi một tôn giáo, thể hiện sứ điệp và việc thờ phượng của mình mà không bị cưỡng ép bên ngoài. Nhưng cũng là khả năng của tôn giáo đó trước tiên biểu lộ sự tự do này trong nội bộ và trong những cấu trúc riêng của mình. Thật khó đòi hỏi những gì mà chính bản thân chúng ta không thực hành.

Đối với các kitô hữu, chính qua mối liên hệ cá nhân với Chúa Kitô và sự gắn kết với lời của Người mà tự do tìm thấy được ý nghĩa toàn vẹn của nó. Và chính khi quy chiếu đến mẫu gương của Chúa Kitô mà, dù không áp đặt niềm tin của họ cho bất kỳ ai, nhưng không phải vì thế họ có thể câm lặng : “Thật vậy, về phần chúng tôi, chúng tôi không thể câm lặng về những gì đã thấy và đã nghe….” (Cv 4,20)

Bản văn suy niệm : Cv 2,1-47

Lạy Chúa Thánh Thần, Chúa là Đấng mở ra cho mỗi người chúng con và cho nhân loại một không gian tự do vô biên, xin ban cho Giáo Hội biểu lộ, nơi Giáo Hội và xung quanh Giáo Hội, sự tự do mà sự phục sinh của Chúa Kitô là nguồn mạch thường hằng.

Ngày thứ mười bốn

HIỆP NHẤT

Phong Trào Đại Kết

 

“Dự phần vào chuyển động hướng đến sự hiệp nhất này, cũng được mệnh danh là phong trào hiệp nhất, là những người cầu khẩn Chúa Ba Ngôi và tuyên xưng Chúa Giêsu là Chúa và là Ðấng Cứu Thế, không những từng cá nhân riêng rẽ, mà còn tụ họp lại nơi những cộng đoàn trong đó họ đã được nghe Phúc Âm, và mỗi người gọi các cộng đoàn ấy là Giáo Hội của họ và của Thiên Chúa. Tuy nhiên hầu như tất cả, dầu mỗi người mỗi cách, đều ngưỡng vọng một Giáo Hội duy nhất và hữu hình của Thiên Chúa, một Giáo Hội thực sự phổ quát và được sai đến với toàn thể thế giới, để thế giới trở về với Phúc Âm và nhờ vậy, được cứu rỗi hầu làm vinh danh Thiên Chúa” (Unitatis Redintegratio, số 1).

 

Ỏ đây, làm sao không đề cập đến, trong việc cầu nguyện của chúng ta được Công đồng nuôi dưỡng, vấn đề thiết yếu về việc khôi phục lại sự hiệp nhất giữa tất cả các kitô hữu? Không thể không đề cập điều này khi chúng ta biết rằng phong trào đại kết – cho dù sự đa dạng về những hình thức thể chế của nó thế nào – trước tiên là một tiến trình thiêng liêng. Vả lại, phong trào đại kết này không thể được hiểu bên ngoài lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trong Tin Mừng theo thánh Gioan : “Xin cho tất cả nên một, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha; xin cho họ cũng được nên một trong chúng ta, để thế gian tin rằng Cha đã sai con” (Ga 17,21).

Công đồng đã ghi nhận phong trào đại kết bắt đầu từ đầu thế kỷ XX, cũng như sự cần thiết được ghi sâu trong đức tin Kitô giáo: giữ vững sự hiệp nhất trong Chúa Kitô và tìm lại nó khi nó bị ảnh hưởng hoặc bị đánh mất. Việc tìm kiếm sự hiệp thông không ngừng này là một dữ kiện quan trọng của đời sống Giáo Hội Công Giáo, không chỉ trong những cơ cấu mục vụ và truyền giáo khác nhau của nó, nhưng còn trong mối quan hệ của nó với các Giáo Hội và các cộng đoàn khác mà đã dần dần xa lìa nhau trong suốt dòng lịch sử.

Anh em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn vẹn, là hãy có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng như nhau….” (Pl 2,2)

Ở đây, bài suy niệm của chúng tôi tập trung vào ý muốn phải có của chúng ta để vượt qua tất cả những trở ngại cho sự hiệp nhất hữu hiệu của các môn đệ Chúa Kitô.

Chúa Thánh Thần không ngừng hành động, bất chấp những chia rẽ của chúng ta, Ngài là Đấng “ngự trong lòng các tín hữu, đổ đầy ơn và cai trị Giáo Hội, Ngài thực hiện sự hiệp thông kỳ diệu ấy nơi các tín hữu, và liên kết tất cả trong Chúa Kitô cách mật thiết đến nỗi Ngài chính là nNguyên Lý Hiệp Nhất Giáo Hội” (số 2).

Nếu những trở ngại vẫn còn giữa các kitô hữu, những người đã được kết hiệp bởi cùng một phép Rửa và do đó đã được sáp nhập vào Chúa Kitô, thì chắc chắn rằng những cam kết tìm kiếm và những sáng kiến đưa ra có khuynh hướng vượt lên trên những trở ngại đó. Làm thế nào tìm lại được sự hiệp thông chưa hoàn thành này ? Bằng cách dựa vào những gì vẫn là vững chắc và có thể đã cho phép một chứng từ chung trước mặt thế giới. Quả vậy,

“Các anh em ly khai với chúng ta cũng cử hành nhiều lễ nghi phụng vụ của Kitô giáo. Những lễ nghi ấy, chắc chắn có thể thực sự phát sinh đời sống ơn thánh và phải được công nhận là đường đưa đến sự thông hiệp vào ơn cứu rỗi, tuy cách thức có khác nhau tùy hoàn cảnh của mỗi Giáo Hội hay cộng đoàn” (số 3).

Trong tiến trình đại kết đang diễn ra một cách chậm rãi nhưng bất khả đảo ngược này, “nhờ ơn Chúa Thánh Thần thúc đẩy, rất nhiều cố gắng nhằm tiến tới hiệp nhất đầy đủ theo ý muốn của Chúa Giêsu Kitô đang được thực hiện bằng kinh nguyện, lời nói, việc làm”(số 4).Thế nhưng, Giáo Hội Công Giáo không chối bỏ căn tính của mình và niềm xác tín rằng sự hiệp nhất mà Chúa Kitô ban cho từ ban đầu “vẫn tồn tại” nơi Giáo Hội. Lời khẳng định này đã và vẫn còn là đối tượng của những cuộc tranh luận thần học đôi khi gay go, nhưng không ngăn cản gì đến sự theo đuổi một cuộc nghiên cứu chung với các niềm tin Kitô khác.

“Công đồng sung sướng nhận thấy sự tham gia hoạt động cổ võ việc hiệp nhất của các tín hữu Công giáo đang ngày càng phát triển và giao phó công việc ấy cho các Giám mục ở khắp nơi trên toàn thế giới để các ngài khéo léo cổ võ và khôn ngoan hướng dẫn công cuộc này” (số 4).

Cách cụ thể, làm thế nào để cùng nhau tiến tới ? Chúng ta có thể tiến tới bằng việc tham chiếu đến nền tảng thiêng liêng và phụng vụ của bí tích Rửa tội, và bằng việc đảm nhận các lối tiếp cận thần học khác nhau mà không làm thay đổi trách nhiệm Kitô giáo của chúng ta trước nhiều thách đố được đặt ra do sự tiến triển của các xã hội của chúng ta. Nhiều viễn ảnh được mở ra :

Việc canh tân Giáo Hội, mà không thể thoát khỏi một sự cải cách thường xuyên.Các hình thức khác nhau của sự canh tân này“phải được coi như là những đảm bảo và là những dấu chỉ loan báo những tiến bộ tương lai của phong trào hiệp nhất” (số 6).

Sự hoán cải tâm hồn.Nó là điều cần thiết trong sự tiến triển của sự hiệp nhất : “Vì thế, phải nguyện xin Chúa Thánh Thần, ban cho chúng ta ơn thành thật quên mình, khiêm nhượng và hiền hòa trong khi phục vụ, quảng đại trong tình huynh đệ đối với tha nhân” (số 7).

Việc cầu nguyện chung, hoặc phong trào đại kết thiêng liêng. Việc thực hành này may mắn đã được phát triển và sự đều đặn của “tuần lễ cầu nguyện cho sự hiệp nhất kitô hữu” là một dấu chỉ mạnh mẽ. “Những kinh nguyện chung như thế là một phương tiện hữu hiệu để xin ơn hiệp nhất và tiêu biểu thực sự mối dây còn đang liên kết người Công giáo với anh em ly khai” (số 8).

Việc huấn luyện và phương thức diễn tả đức tin, hoặc phong trào đại kết thần học. Phong trào đại kết thần học này đã tiến bộ một cách đáng kể. Việc thành lập nhiều nhóm đối thoại  chứng thực điều đó. “Hơn nữa, trong cuộc đối thoại đại kết, các nhà thần học Công giáo […] phải tiến hành với lòng yêu mến chân lý, bác ái và khiêm nhường. Khi so sánh các giáo lý với nhau, phải nhớ rằng có một “phẩm trật” trong các chân lý của giáo lý Công giáo, do mối quan hệ khác nhau của chúng với những nền tảng của đức tin Kitô giáo”(số 11).

Tiến trình đại kết, bất chấp một vài khó khăn tồn đọng, vẫn kiên quyết dấn thân trên một con đường đã cho phép các Giáo Hội ly khai, nhưng các tín hữu được hiệp nhất bởi cùng một phép Rửa, nhận ra mình trong chiều kích sâu xa nhất của họ. Cho đến trong những khác biệt của họ, họ vẫn cử hành và loan báo Chúa Giêsu Kitô. Họ rao giảng Lời Chúa. Một Lời bình an, công bằng và tình yêu cho nhân loại.

Phải chăng những gì đối lập chúng ta trước mặt người đời thì mạnh mẽ hơn những gì hiệp nhất chúng ta trước mặt Thiên Chúa ? Chúng ta biết rõ rằng nếu sự hiệp nhất được thực hiện cách trọn vẹn một ngày nào đó, thì chúng ta sẽ không phải làm điều đó với sức riêng của mình nhưng với tình yêu của Chúa Kitô, Đấng sẽ đánh bại hoàn toàn những kháng cự và những phong tỏa của chúng ta.

Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo đã thể hiện rõ ngưỡng cửa được Công đồng vượt qua, khi nêu rõ (số 819) : “Hơn nữa, “nhiều yếu tố của sự thánh hóa và của chân lý” (LG, số 8) vẫn tồn tại bên ngoài những giới hạn hữu hình của Giáo Hội Công Giáo : “Lời Chúa trong Thánh Kinh, sự sống trong ân sủng, đức tin, đức cậy và đức mến, những ơn nội tâm khác của Chúa Thánh Thần và những yếu tố hữu hình khác” (UR, số 3)”.

Với ân sủng của Thiên Chúa và hơi thở của Thánh Thần, hành trình đến hiệp nhất sẽ không bị gián đoạn. Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Athénagoras đã nói : “ Những bức tường chia rẽ chúng ta không cao tới thấu trời đâu”….

Thật vậy, chính Ngài là bình an của chúng ta, những gì chia rẽ, Ngài đã liên kết thành một. Ngài đã hy sinh thân mình để phá đổ bức tường ngăn cách đó là sự thù ghét”       (Ep 2,14).

Bản văn suy niệm: Ga 17,1-26

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã đến qui tụ những gì bị tản mác, xin ban cho tất cả các kitô hữu còn đang chia rẽ, mặc dù đã lãnh nhận cùng một phép Rửa, nhờ Chúa cuối cùng đạt đến sự hiệp nhất mà Chúa đòi hỏi.


Ngày thứ mười lăm

ĐỐI THOẠI

Tương Quan Giữa Giáo Hội Với

Các Tôn Giáo Ngoài Kitô Giáo

 

“Con người mong đợi các tôn giáo giải đáp về những bí nhiệm tiềm ẩn trong thân phận con người, những bí nhiệm xưa nay vẫn làm tâm hồn họ phải xao xuyến sâu xa : con người là gì ? Ðời người có mục đích và ý nghĩa nào ? Sự thiện và tội ác là chi ? Ðâu là nguyên nhân và mục đích của đau khổ ? Ðâu là con đường dẫn tới hạnh phúc thật sự ? Cái chết, sự phán xét, và thưởng phạt sau khi chết là gì ? Sau cùng, cái huyền nhiệm tối hậu khôn tả vẫn bao trùm cuộc sống chúng ta là chi, chúng ta phát xuất từ đâu và chúng ta hướng về đâu ?” (Nostra Aetate, số1).

Ngày nay, những vấn đề này, ngang qua tất cả các nền văn hóa và các tôn giáo mà chúng gắn liền, nằm ở nền tảng của cuộc đối thoại cần thiết giữa Giáo Hội Công giáo và các truyền thống tâm linh khác nhau. Điều quan trọng là lời cầu nguyện của ngày cuối cùng này đã trân trọng chiều kích này. Mối quan hệ giữa các tín hữu chỉ có thể được đánh dấu bởi một ý muốn cương quyết cùng nhau đạt đến chân lý tối hậu này, một chân lý đã được ghi khắc trong cuộc sống của chúng ta và trong sự tiếp cận với nó mà mỗi người, nơi tôn giáo của mình, có phần trách nhiệm riêng.

Nhưng việc đối thoại này không phải là thuyết hỗn hợp cũng không phải là thuyết tương đối. Nó chỉ được thực hiện với sự tôn trọng tuyệt đối người khác, điều này không có nghĩa là không có sự đối chất khó khăn giữa các quan điểm hoặc giữa các truyền thống tâm linh khác nhau. Trái lại, tính cấp bách, ngày nay hơn bao giờ hết, đó là có một lời hoặc những dấn thân chung, nhân danh chiều kích tâm linh bất khả giảm thiểu của con người.

Nhưng kẻ sống theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ : các việc của người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa” (Ga 3,21).

Ở đây, bài suy niệm của chúng tôi tập trung vào những yếu tố cần thiết trong cách cư xử các mối tương quan với tất cả những người có niềm tin tôn giáo khác.

Hiến chế về Giáo Hội trong thế giới hôm nay đã phác họa ở một góc độ lớn : “Tất cả những gì chúng ta đã trình bày về phẩm giá con người, về cộng đoàn nhân loại, về ý nghĩa sâu xa của hoạt động nhân loại tạo thành căn bản cho sự tương quan giữa Giáo Hội và thế giới cũng như nền tảng cho cuộc đối thoại giữa đôi bên. Bởi vậy, dựa trên tất cả những gì về mầu nhiệm Giáo Hội mà Công Ðồng này đã tuyên bố, trong chương này sẽ phải đề cập đến cũng chính Giáo Hội, xét như thực tại hiện diện ở thế giới này, cùng sống và cùng hoạt động với thế giới ấy.” (GS, số 40)

Qua đường lối mà Công đồng khai mở, chúng ta có thể nói rằng những gì mà từ nay chúng ta gọi là đối thoại liên tôn, gắn liền với chiều kích văn hóa, đã tạo nên một bước quyết định và là một sự dấn thân luôn mãi. Tất cả các tôn giáo, cho đến trong những điểm khác biệt rõ nét nhất của chúng, đều được mời gọi ra sức cố gắng và đối chất các sứ điệp của mình với các vấn đề cấp bách nhất được đặt ra bởi sự biến đổi nhanh chóng của xã hội.

“Giáo Hội Công Giáo không hề phủ nhận những gì là chân thật và thánh thiện nơi các tôn giáo đó. Với lòng kính trọng chân thành, Giáo Hội xét thấy những phương thức hành động và lối sống, những huấn giới và giáo thuyết kia, tuy rằng có nhiều điểm khác nhau với chủ trương mà Giáo Hội duy trì, nhưng cũng thường đem lại ánh sáng của Chân Lý, Chân Lý chiếu soi cho hết mọi người” (NA, số 2).

Đâu là những lý do của cuộc đối thoại này, đặc biệt đối với anh em Do Thái giáo và Hồi giáo ? Công đồng đã nhắc lại “di sản tinh thần chung vĩ đại giữa người kitô hữu và người Do Thái”, phi bác và lấy làm tiếc “những sự ghen ghét, đàn áp, những hành động của chủ nghĩa bài Do Thái trong bất cứ thời nào và do bất cứ ai đối với người Do Thái”. Công đồng khích lệ “sự hiểu biết và kính trọng nhau, nhất là bằng việc học hỏi Thánh Kinh, thần học và đối thoại trong tinh thần huynh đệ” (số 4).

Khi nhắc lại sự kính trọng của Giáo Hội đối với người Hồi giáo “vì họ cùng thờ phượng một Thiên Chúa duy nhất, hằng sống và hằng hữu, từ bi và toàn năng”, Công đồng, ý thức về “những mối bất hòa và hiềm thù đã từng xảy ra trong quá khứ”, khuyến khích các kitô hữu và người Hồi giáo “cố gắng thành thật tìm hiểu nhau, cùng nhau bảo vệ và cổ võ công bằng xã hội, những giá trị luân lý, hòa bình và tự do cho hết mọi người” (số 3).

Vì mối tương quan và việc đối thoại của Kitô giáo với các tôn giáo khác có thể là dấu chỉ của một tình huynh đệ đại đồng do “mối tương quan của con người với Thiên Chúa là Cha và giữa con người với anh em mình ”, nên Giáo Hội “phi bác mọi sự kỳ thị hoặc đàn áp chủng tộc hay màu da, giai cấp hay tôn giáo, vì thái độ ấy đối nghịch với tinh thần Chúa Kitô” (số 5).

Ngày nay, cuộc đối thoại này được xác định cách đặc biệt bởi một ý muốn cùng nhau phục vụ hòa bình, một trong những khát vọng lớn nhất của thời đại chúng ta. Không đánh giá thấp công trình học thuyết khả thể mà các cấp suy tư và nghiên cứu thần học chung có thể đưa đến, vấn đề là nhắc lại những gì đã từng có thể thực hiện, cùng nhau và nơi mỗi một truyền thống tôn giáo và tâm linh : cầu nguyện cho hòa bình trên thế giới. Như thế, đối thoại và cầu nguyện không thể tách rời nhau.

Đó là sứ điệp chung được truyền lại từ cuộc gặp gỡ đầu tiên ở Assise, vào năm 1986, do đề xướng của đức Gioan-Phaolô II, và ngày kỷ niệm 25 năm cuộc gặp gỡ này đã được đánh dấu, vào năm 2011, bằng một cuộc gặp gỡ mới giữa các vị hữu trách tôn giáo chính yếu, theo sáng kiến của đức Bênêđíctô XVI.

Không có bất kỳ sự lờ mờ nào trong cuộc gặp gỡ này, nhưng có cùng một ý muốn khẳng định, vào đầu thiên niên kỷ mới này, ý hướng quyết tâm cùng nhau làm việc vì công ích và hòa bình thế giới, bằng cách vượt qua mọi ngăn cách hay thiếu hiểu biết lẫn nhau.

Đối thoại liên tôn thuộc về sứ mạng rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội, nhưng những gì được cam kết từ nay sẽ không thể được tiếp tục nữa nếu cũng không thể hiện một cách sâu xa trách nhiệm tinh thần của các tôn giáo.

Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (Mt 5,9).

Bản văn suy niệm : Thánh vịnh 8.

Lạy Thiên Chúa vô cùng cao cả, nhân từ và gần gũi, Chúa là Đấng mà Thánh vịnh này khi được gẫm suy đã nhắc nhở cho chúng con sự cao cả của chúng con trước nhan Chúa và sự hiện diện của Chúa nơi tâm hồn mỗi người, xin cho chúng con cởi mở với mọi nền văn hóa và truyền thống tâm linh của thế giới, bằng một tinh thần đối thoại đích thực.


 

ĐỂ KẾT LUẬN

Dưới Hình Thức Lời Cầu Nguyện Chung

Nếu chúng ta đã có thể đặt từng chặng lời cầu nguyện của chúng ta bằng cách xem xét những thời điểm lớn của biến cố Công đồng, thì không có kết thúc nào tốt hơn về tiến trình thiêng liêng này là lưu tâm đến và đưa vào những sứ điệp của Công đồng gởi cho thế giới. Có một sự trùng hợp đáng mừng là có bảy sứ điệp… Như bảy ngày đầu tiên của nhân loại… Hoàn tất và bắt đầu… Chúng tôi đã nghĩ rằng các sứ điệp này có thể hợp thành một lời cầu nguyện chung.

“Sau cùng, tương lai : với tiếng gọi khẩn cấp của các dân tộc đang mong mỏi công bình, với ý chí muốn xây dựng hòa bình và với khát vọng ý thức hay vô ý thức về một đời sống cao đẹp hơn, đời sống mà chính Giáo Hội Chúa Kitô hiện có thể và đang muốn mang lại cho họ […]. Từ cuộc suy niệm lâu dài của chúng ta về Chúa Kitô và về Giáo Hội Người, giờ đây phải thốt lên tiếng nói đầu tiên, loan báo nền hòa bình và sự cứu độ cho bao đám đông đang mong đợi” (Phaolô VI, 8.12.1965).

Cầu cho các nhà cầm quyền. Chính họ “có nhiệm vụ phải cổ võ cho nền trật tự và hòa bình giữa mọi người trên trái đất”. Với ân sủng của Thiên Chúa và sự trợ lực của Chúa Thánh Thần, ước gì chúng ta giúp đỡ họ chu toàn sứ mạng phục vụ thế giới, trong việc tôn trọng nhân phẩm, nhân quyền và tự do.

Cầu cho giới trí thức và khoa học. Họ là “những nhà thám hiểu con người, vũ trụ và lịch sử, là những người lữ hành đang tiến về ánh sáng”. Với ân sủng của Thiên Chúa và sự trợ lực của Chúa Thánh Thần, ước gì chúng ta khích lệ họ tiếp tục nghiên cứu và ý thức trách nhiệm của họ về mặt thiêng liêng và đạo đức trong công cuộc tìm kiếm chân lý.

Cầu cho giới văn nghệ sĩ. Họ là “những người say mê và phục vụ cái đẹp : những thi sĩ, văn sĩ, họa sĩ, điêu khắc gia, kiến trúc sư, nhạc sĩ, diễn viên cũng như chuyên viên kịch nghệ và điện ảnh…”  Với ân sủng của Thiên Chúa và sự trợ lực của Chúa Thánh Thần, ước gì chúng ta bày tỏ sự nâng đỡ của mình qua việc thừa nhận đóng góp của họ cho sự mở rộng văn hóa, nghệ thuật và vẻ đẹp.

Cầu cho nữ giới. Giáo Hội thừa nhận địa vị “bình đẳng căn bản của họ với người nam” và cầu chúc cho họ, trong xã hội, “có một ảnh hưởng, một sự phát huy và một quyền lực từ trước đến nay chưa từng có trong xã hội”. Với ân sủng của Thiên Chúa và sự trợ lực của Chúa Thánh Thần, ước gì trong tình yêu, lòng tin tưởng và trách nhiệm chia sẻ, chúng ta hãy cùng nhau là những chứng nhân cho Lời hằng sống mà Tin Mừng Chúa Kitô đã thông truyền cho thế giới.

Cầu cho giới lao động. Trong một khung cảnh mà những vấn đề càng ngày càng phức tạp của giới lao động càng nhân rộng, “Giáo Hội nhìn nhận đầy đủ những sự phục vụ lớn lao mà họ đã mang lại cho xã hội khi mỗi người ở địa vị mình”. Với ân sủng của Thiên Chúa và sự trợ lực của Chúa Thánh Thần, ước gì, chúng ta dự phần, cách riêng trong những hoàn cảnh khó khăn, vào việc thiết lập những điều kiện sống và lao động luôn luôn công bằng hơn.

Cầu cho những người nghèo, các bệnh nhân và tất cả những người đau khổ. Đây là chọn lựa ưu tiên của Giáo Hội. “Chúa Kitô đã không loại trừ đau khổ”, và mối liên kết giữa Đấng chịu đóng đinh và những người đau khổ là họ “không cô độc, không bị loại trừ, không bị bỏ rơi…” Với ân sủng của Thiên Chúa và sự trợ lực của Chúa Thánh Thần, ước gì chúng ta bày tỏ cho họ, cách trọn vẹn và theo chính mẫu gương Đức Kitô, sự gần gũi của chúng ta và sự ân cần thường xuyên của Giáo Hội.

Cầu cho giới trẻ. Họ “sẽ sống trong thế giới vào lúc diễn ra những biến đổi vĩ đại nhất của lịch sử”. Giáo Hội cần đến niềm tin của họ vào cuộc sống và vào những gì làm cho cuộc sống có ý nghĩa. Với ân sủng của Thiên Chúa và sự trợ lực của Chúa Thánh Thần, ước gì chúng ta giúp đỡ họ tin tưởng đảm nhận chỗ đứng của mình trong việc thực hiện thế giới.

Lời cầu nguyện này kết thúc toàn bộ tiến trình làm việc của chúng tôi. Nhưng lời cầu nguyện ấy sẽ được tiếp tục trên con đường mà Công đồng Vatican II đã nhắc đến. Nhờ thế, theo mức độ của mình và trong sự hiệp thông với toàn dân Thiên Chúa, chúng ta liên kết với ý thức của các Giám Mục và của các nhà thần học làm việc vì lợi ích của các tín hữu và để canh tân Giáo Hội hoàn vũ. Nhân danh Chúa Kitô và dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần.

Ông đừng ngạc nhiên vì tôi nói: ông phải sinh lại bởi ơn trên. Gió muốn thổi đâu thì thổi, ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và đi đâu.Những ai sinh lại bởi Thánh Thần cũng như vậy” (Ga 3,7-8).

MỤC LỤC

Lời tựa …………….………………………………….tr.  2

Lời nói đầu …………………………………………………………… tr. 4

Dẫn nhập: Một biến cố quan trọng …………………………. tr. 8

Những nền tảng……………………………………………………. tr. 13

1. Hiện diện: Giáo Hội trong thế giới hôm nay ………….. tr. 14

2. Tỏ mình: Thiên Chúa mạc khải…………………………….. tr. 20

3. Hiệp thông: Giáo Hội …………………………………………. tr. 26

4 . Cử hành: Phụng Vụ thánh ………………………………….. tr. 32

Những dấu chỉ của ân sủng ………………………………….. tr. 38

5. Thừa tác vụ: Trách nhiệm mục tử …………………………. tr. 39

6. Tiếng gọi: Thừa tác vụ và đời sống linh mục ………….. tr. 44

7. Dâng hiến: Canh tân và thích nghi đời sống tu trì……. tr. 49

8. Trách nhiệm: Tông đồ giáo dân…………………………….. tr. 54

9. Tính đa dạng: Các Giáo Hội CG Đông Phương……… tr. 59

Những phương tiện ……………………………………………… tr. 64

10. Phúc Âm hóa: Hoạt động truyền giáo của GH……… tr. 65

11. Đào tạo: Giáo dục Kitô giáo ………………………………. tr. 70

12. Truyền thông: Các phương tiện truyền thông………… tr. 75

Sự cởi mở …………………………………………………………….. tr. 80

13. Tự do: Tự do tôn giáo ……………………………………….. tr. 81

14. Hiệp nhất: Phong trào đại kết …………………………….. tr. 86

15. Đối thoại: Tương quan của GH với các tôn giáo…… tr. 92

Để kết luận: Dưới hình thức lời cầu nguyện chung……. tr. 97


[1]Trong tập sách này,các trích dẫn các văn kiện Công đồng được chúng tôi lấy lại từ bản dịch của Giáo Hoàng Học Viện Piô X ; còn các trích dẫn Thánh Kinh, chúng tôi lấy lại từ bản dịch của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ.

[2]Bí tích Dầu thánh (Chrismation), trong các Giáo hội Đông Phương, là việc xức bằng dầu myron, nghĩa là Dầu thánh, bởi vì nghi thức chính yếu của Bí tích này là việc xức dầu (ctnd).

Một phản hồi

  1. […] tri, trí khôn và ý chí – sẽ là then chốt tất cả phần trình bày của chúng tôi[1]”(Gaudium et Spes, số […]

Bình luận đã được đóng.

%d bloggers like this: